Tải bản đầy đủ

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ SẢN PHẨM TRÂU THỊT ĐIỆN BIÊN

ĐẶT VẤN ĐỀ
Phát triển nông nghiệp bền vững nhờ khai thác hiệu quả nguồn tài
nguyên, đặc biệt tài nguyên thiên nhiên là lựa chọn ưu tiên đối với sản xuất nông
nghiệp của vùng miền núi phía Bắc. Điện Biên là một trong những tỉnh nghèo
thuộc vùng núi Tây Bắc, chăn nuôi trâu, bò thịt là một phần quan trọng trong hệ
thống sản xuất của hộ nông dân nhỏ nhờ vào các lợi thế như: đất đai rộng, nguồn
lao động gia đình dồi dào, tiềm năng thức ăn sẵn có cao...
Các nghiên cứu trước đây của một số tác giả Đinh Xuân Tùng 2008 và Lê
Thị Thanh Huyền (2012) đã chỉ ra rằng chăn nuôi trâu, bò thịt tại vùng Tây Bắc
còn gặp nhiều trở ngại, hạn chế như: quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán, chất
lượng con giống chưa cao, phương thức chăn nuôi quảng canh dựa vào nguồn
thức ăn tự nhiên… Đồng thời người sản xuất chưa quan tâm đến thị trường và
nhu cầu người tiêu dùng. Vì vậy, năng suất và hiệu quả chăn nuôi trâu, bò thịt
nông hộ chưa cao như mong đợi.
Trong những năm gần đây, nhu cầu tiêu thụ thịt trâu của người dân cả
nước ngày càng tăng là một trong những cơ hội cho phát triển trâu thịt theo
hướng hàng hóa. Phương thức chăn nuôi trâu thịt quảng canh, quy mô nhỏ đang
dần dần được thay thế bằng phương thức chăn nuôi bán thâm canh và tiến tới
nuôi thâm canh để đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng và góp phần ổn
định sinh kế và giảm nghèo bền vững cho người chăn nuôi.
Trong bối cảnh cả nước đang hội nhập sâu rộng vào thị trường quốc tế,

việc phát triển, nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi trâu thịt của tỉnh Điện
Biên theo hướng hàng hóa được xem như một nhu cầu của cả hai khu vực sản
xuất và tiêu dùng. Đây là nhu cầu cần thiết đặt ra trong nghiên cứu hiện nay.
PHẦN I
HIỆN TRẠNG CHĂN NUÔI VÀ THỊ TRƯỜNG TRÂU THỊT
TẠI ĐIỆN BIÊN
I. HIỆN TRẠNG CHĂN NUÔI GIA SÚC TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN

Tổng đàn gia súc (trâu, bò, lợn) của tỉnh thống kê đến thời điểm tháng
4/2016 là 535.551 con, trong đó: 125.341 con trâu (tăng 2.254 con so với cùng
kỳ năm 2015); 50.619 con bò (tăng 2.345 con); 359.591 con lợn (tăng 18.272


con). Thực hiện chương trình cải tạo đàn bò địa phương bằng phương pháp thụ
tinh nhân tạo theo Quyết định 02 của UBND tỉnh, 5 tháng đầu năm 2016, toàn
tỉnh đã thụ tinh nhân tạo được 135 con bò, ước đạt 34% kế hoạch đề ra. Riêng
vấn đề chăn nuôi gia súc chuyên nghiệp (hay còn hiểu là chăn nuôi gia súc theo
mô hình, quy mô công nghiệp) thì hiện nay vẫn chỉ ở dạng tiềm năng. Cả tỉnh
hiện chỉ có 1 mô hình đủ tiêu chuẩn và đã được cấp giấy chứng nhận kinh tế
trang trại chăn nuôi gia súc là gia đình ông Nguyễn Đức Tài, khu C10, xã Sam
Mứn, huyện Điện Biên với mô hình nuôi lợn. Còn tại các địa phương khác trong
tỉnh, chăn nuôi gia súc, nhất là trâu, bò vẫn mang tính tự phát, chăn nuôi theo
kinh nghiệm truyền thống cũ, mà cụ thể là thả rông trong rừng, tỷ lệ trâu, bò
nuôi nhốt chỉ chiếm 1,17%.
Vẫn biết là hình thức chăn nuôi này cũng có những lợi thế nhất định là tận
dụng nguồn thức ăn tự nhiên và khi đàn gia súc vượt qua được quá trình chọn
lọc tự nhiên (sinh ra mà ốm yếu là không tồn tại được), trưởng thành thì rất
khỏe, tầm vóc tốt, cho chất lượng thịt cao. Nhưng với điều kiện hiện nay, diện
tích rừng, nguồn thức ăn ngày một thu hẹp, đất trống được tận dụng canh tác
hoặc trồng cây công nghiệp (cao su, cà phê) thì chăn nuôi theo hình thức này
khó tồn tại.
Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng
và phát triển bền vững đến 2020 trên địa bàn tỉnh Điện Biên đã xác định rõ: Đến
năm 2020, giá trị sản xuất lĩnh vực chăn nuôi đạt 2.101 tỷ đồng; trong đó, các
sản phẩm chủ lực chiếm 92,4%, gồm: Lợn 47%; gia cầm 29,5%; trâu, bò 10,2%.
Từng bước chuyển chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang phát triển theo hình thức
chăn nuôi trang trại, gia trại theo quy hoạch; chăn nuôi theo hướng an toàn sinh
học; hình thành các vùng, khu vực chăn nuôi tập trung có kiểm soát; không gian
chăn nuôi cần quản lý tốt, tổ chức lại theo hướng chuyển dịch dần từ vùng mật
độ dân số cao đến nơi có mật độ dân số thấp; áp dụng công nghệ về giống, quy


trình phòng, chống dịch, xử lý môi trường đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Nghiên cứu áp dụng công nghệ sơ chế, chế biến sản phẩm chăn nuôi nâng giá trị
sản phẩm phục vụ xuất khẩu. Riêng đàn trâu, bò, Đề án xác định mục tiêu đến
năm 2020, tổng đàn đạt 69.528 con, sản lượng thịt hơi xuất chuồng 4.985 tấn,
tổng giá trị sản xuất đạt 299.135 tỷ đồng. Cùng với đó là đẩy mạnh chương trình


Zêbu hóa đàn bò bằng thụ tinh nhân tạo, nhằm nâng cao vóc dáng, chất lượng
thịt.
Ở các địa bàn vùng cao không triển khai được thụ tinh nhân tạo thì dùng
bò đực giống F2 hoặc bò đực giống địa phương (giống bò H’mông) giao phối
trực tiếp để tạo ra con giống có năng suất, sản lượng cao hơn, đồng thời đảm bảo
được tính đề kháng, chống chọi với dịch bệnh, thời tiết bất lợi... Hiện nay, tỉnh ta
đang khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào chế biến thức ăn chăn nuôi
nhằm giảm chi phí vận chuyển, thúc đẩy chăn nuôi phát triển; mở rộng chăn
nuôi nông hộ, gia trại, hình thành hợp tác xã, tổ chăn nuôi trâu, bò thịt; khuyến
khích hình thức liên kết với doanh nghiệp sản xuất theo chuỗi giá trị; tiêu thụ
sản phẩm thông qua doanh nghiệp liên kết tư thương cung cấp tại các chợ trên
địa bàn hoặc vận chuyển tiêu thụ ở ngoại tỉnh nhằm nâng giá trị sản phẩm trâu,
bò thịt.
II. HIỆN TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÂU THỊT TẠI ĐIỆN BIÊN
1. Thực trạng chung của thị trường tiêu thụ
Thị trường nội tỉnh đóng vai trò quan trọng và chiếm trên 85% trong tiêu
thụ sản phẩm trâu thịt của Điện Biên, 15% còn lại được tiêu thụ ở thị trường
ngoại tỉnh. Tham gia vào thị trường tiêu thụ trâu thịt tại Điện Biên bao gồm
nhiều nhóm tác nhân và được tổ chức theo sơ đồ (Hình 1).

Hộ chăn nuôi

75%
25%


35%

Thu gom tỉnh

100%

Thu gom huyện

Thu gom xã

85%
65%

15%

Lò mổ ngoài vùng

Lò mổ trong vùng

Người bán lẻ

Người bán lẻ

Người tiêu dùng
Hình 1 Sơ đồ chuỗi giá trị trâu thịt Tây Bắc
Hệ thống lò mổ trong tỉnh có ảnh hưởng lớn đến sự vận hành của thị
trường, là khách hàng tiêu thụ 65% khối lượng trâu thịt của thu gom huyện và
85% của thu gom tỉnh. Có mối liên hệ chặt chẽ trong chuỗi giá trị trâu thịt của
Điện Biên, ngoài việc thu mua trâu có nguồn gốc từ trong tỉnh, các tác nhân thu
gom còn thu mua bò do người dân trên địa bàn tỉnh Lai Châu bán ra.
Thực trạng chung của chuỗi giá trị trâu thịt Điện Biên là:
`

- Thị trường cuối cùng của sản phẩm bao gồm: tại chỗ (cấp xã và huyện),

huyện khác, thành phố Điện Biên Phủ, ngoại tỉnh.
- Với các thị trường xa như Hà nội, sản phẩm được vận chuyển ở dạng thịt
sấy khô bởi các tác nhân thu gom huyện, tỉnh.
- Lượng trâu tiêu thụ ra ngoại tỉnh mới chiếm khoảng 15% tổng lượng tiêu
thụ.
2. Sự vận hành của các tác nhân trong chuỗi giá trị trâu thịt Điện Biên


+ Tác nhân sản xuất:
Hoạt động chăn nuôi chưa mang tính hàng hóa cao, chỉ có khoảng 62% số
hộ có bán trâu trong thời gian 5 năm (2007 - 2011), còn lại 38% số hộ không
bán. Hoạt động bán trâu cũng không diễn ra thường xuyên trong năm, trâu được
bán chủ yếu vào các tháng cuối năm (mùa lạnh) do nhu cầu tiêu dùng thịt giai
đoạn này tăng cao.
Thời điểm bán trâu tập trung chủ yếu trong các tháng 10, 11, 12 và tháng
1. Có 2 lý do chính để người dân bán trâu trong giai đoạn này là: Đây là các
tháng mùa đông, nguồn thức ăn khan hiếm; Nhu cầu thị trường tăng cao nên
giá bán cao hơn so với các thời điểm khác trong năm.
+ Tác nhân thu gom: Hoạt động thu gom diễn ra mạnh nhất vào các tháng
10 đến 12 âm lịch với số lượng trâu thu gom tăng hơn 20 - 30% so với các thời
điểm khác trong năm.
Hoạt động của các tác nhân thu gom như sau:
Thu gom cấp xã: Hoạt động như mạng lưới "chân rết" trong thu mua trâu
từ các hộ chăn nuôi và bán lại cho các thu gom lớn (cấp huyện, tỉnh) hoặc lò mổ
trên địa bàn huyện và tỉnh. Sau khi mua trâu từ người chăn nuôi, các thu gom
cấp xã thường tiến hành nuôi lưu trâu tại nhà trong thời gian từ 1 - 2 tuần để có
đủ số lượng cho 1 chuyến xe từ 10 - 15 con.
Thu gom cấp huyện: Hoạt động khá chuyên nghiệp, họ có nhiều vốn và
sử dụng phương tiện vận chuyển là ô tô. Do không thể tự đi thu mua bò tại các
hộ chăn nuôi nên các thu gom cấp huyện phải liên kết với các tác nhân thu gom
cấp xã. Sau khi thu gom đủ số lượng, các thu gom huyện sẽ vận chuyển bò từ
các xã đến các nơi tiêu thụ khác nhau (lò mổ, thu gom cấp tỉnh). Hình thức liên
kết này giúp giảm chi phí thu mua và chi phí vận chuyển trung gian, giảm rủi ro
trong quá trình nuôi lưu.
Thu gom cấp tỉnh: Hoạt động rất chuyên nghiệp, có nguồn cung cấp đầu
vào và mạng lưới tiêu thụ ổn định. Họ xây dựng được mối liên kết chặt chẽ với
các thu gom cấp huyện để chủ động nguồn cung đầu vào thị trường tiêu thụ
chính là các lò mổ tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng... Trong điều
kiện quy mô nuôi nhỏ như hiện nay thì các hộ nông dân chưa thể xây dựng liên
kết tiêu thụ sản phẩm trực tiếp với các thu gom cấp tỉnh.


Để bán được trâu trực tiếp cho các thu gom lớn hoặc lò mổ, các hộ chăn
nuôi cần liên kết với nhau để thống nhất bán bò ở cùng một thời điểm nhất định,
đáp ứng đúng yêu cầu về số lượng cho 1 chuyến xe. Việc bán trâu theo hình thức
này sẽ giúp nâng cao giá bán bò và hiệu quả cho người chăn nuôi.
+ Tác nhân lò mổ: Có 3 nhóm lò mổ tham gia trong chuỗi giá trị trâu thịt
Điện Biên là quy mô nhỏ, quy mô trung bình và quy mô lớn.
- Quy mô nhỏ: tập trung tại một số xã và thị trấn huyện, số lượng giết mổ
hàng tháng dưới 60 con/cơ sở giết mổ. Cơ sở vật chất không có nhà xưởng, kho
bãi và khu giết mổ riêng, thiếu hệ thống trang thiết bị bảo quản và vận chuyển
thịt trâu đảm bảo tiêu chuẩn từ nơi giết mổ đến thị trường tiêu thụ. Vì vậy, sản
phẩm thịt trâu từ các lò mổ này không thể bán cho các kênh phân phối theo
hướng chất lượng cao (siêu thị, cửa hàng an toàn thực phẩm).
- Quy mô trung bình và quy mô lớn: tập trung tại các huyện, thành phố
Điện Biên và Hà Nội. Số lượng giết mổ của quy mô trung bình là 60 - 90
con/tháng và của quy mô lớn là 90 - 300 con/tháng. Cơ sở vật chất có hệ thống
trang thiết bị phục vụ giết mổ, sơ chế, bảo quản, vận chuyển đảm bảo các tiêu
chuẩn vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm.
Bảng 1: Yêu cầu của các lò mổ ở Hà Nội đối với trâu thịt Điện Biên

Yêu cầu
Khối lượng

ĐVT

Quy mô giết mổ (con/ngày)
<5

6-9

10 - 20

>20

Kg

90 - 160

150 - 180

90 - 180

150 - 180

Năm

2-3

2- 3

Tất cả

2-5

xẻ thịt
Độ tuổi
Ngoại hình

To, khỏe, ngoại hình đẹp, ưu tiên trâu đực

Một trong những nguyên nhân dẫn đến số lượng thịt trâu Điện Biên cung
cấp cho thị trường Hà Nội chiếm tỷ lệ nhỏ là do nguồn cung cấp không ổn định
và chất lượng trâu thịt chưa đáp ứng đúng yêu cầu của các lò mổ Hà Nội.


Nhìn chung trâu thịt Điên Biên chưa đáp ứng được các yêu cầu của thị
trường Hà Nội và thị trường cao cấp. Vì vậy, để xây dựng mối liên kết tiêu thụ
trâu thịt Điện Biên đến thị trường Hà Nội thì cần ổn định nguồn sản phẩm cung
cấp cho thị trường và thực hiện các giải pháp kỹ thuật nâng cao tầm vóc, tăng
khối lượng hoặc vỗ béo trước khi bán. Ngoài ra, phải tăng cường quảng bá rộng
rãi kết hợp với hệ thống nhận diện sản phẩm để nâng cao uy tín với người tiêu
dùng.
+ Tác nhân bán lẻ:
- Người bán lẻ tại địa phương: Nguồn thịt trâu được lấy trực tiếp từ các lò
mổ cấp xã, huyện. Tần suất hoạt động thường xuyên nhưng khối lượng thịt bán
ra mỗi ngày nhỏ, trung bình khoảng 10 kg/ngày. Những người bán lẻ có mối liên
kết khá chặt chẽ với các lò mổ.
- Người bán lẻ tại các chợ dân sinh của Hà Nội: Có khoảng 40% lượng
thịt trâu ở các lò mổ Hà Nội cung cấp cho người bán lẻ, đây là khách hàng
thường xuyên của lò mổ. Khối lượng thịt bình quân bán mỗi ngày là 15 - 20 kg.
- Cửa hàng chuyên bán thực phẩm an toàn và siêu thị: Tiêu thụ khoảng
25% khối lượng thịt trâu của các lò mổ. Yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng của
nhóm bán lẻ này khá cao: chất lượng thịt tốt, được đóng gói, có nguồn gốc rõ
ràng, được kiểm dịch và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong thời gian
tới, cửa hàng thực phẩm an toàn và siêu thị là một thị trường có nhiều tiềm năng
để người nuôi trâu hướng đến xây dựng mối liên kết tiêu thụ sản phẩm ổn định.
3. Nhu cầu của người tiêu dùng đối với sản phẩm thịt trâu Điện Biên
+ Đặc điểm người tiêu dùng theo thu nhập:
Tiến hành điều tra 120 người tiêu dùng tại Hà Nội và tại Điện Biên thì
thấy rằng đặc điểm chung của người tiêu dùng có thể phân thành 4 nhóm chính
có mức thu nhập bình quân đầu người/tháng là: dưới 2 triệu đồng, từ 2 đến dưới
5 triệu đồng, từ 5 đến dưới 10 triệu đồng và trên 10 triệu đồng.
Thu nhập của người tiêu dùng thịt trâu Hà Nội có mức thu nhập bình
quân/người/tháng cao lớn hơn so với Điện Biên (5,83 triệu đồng so với 3,05
triệu đồng). Số người tiêu dùng có mức thu nhập dưới 5 triệu đồng/tháng ở
Hà Nội là 48,33% trong khi đó ở Điện Biên là 88,33%. Ngược lại, thu nhập
từ 5 đến dưới 10 triệu đồng/tháng ở Hà Nội là 35% trong khi đó ở Điện Biên


là 11,67%. Không có người nào ở Điện Biên có thu nhập từ 10 triệu
đồng/người/tháng trở lên trong khi ở Hà Nội là 16,67%.
Lượng thịt trâu tiêu thụ của người có thu nhập khác nhau: Là một loại
thực phẩm có giá bán cao so với các loại thực phẩm khác nên việc tiêu dùng
thịt trâu chịu ảnh hưởng bởi yếu tố thu nhập của người tiêu dùng. Kết quả
khảo sát cho thấy lượng tiêu thụ thịt trâu chịu ảnh hưởng lớn từ thu nhập, đặc
biệt là người tiêu dùng ở Hà Nội.
Bảng 3. Lượng thịt trâu tiêu thụ/tháng của người tiêu dùng theo
các mức thu nhập khác nhau

Chỉ tiêu

Hà Nội (KG)

Điện Biên (KG)

So sánh Hà Nôi/Điện
Biên (%)

Dưới 2 triệu

1,59

1,03

154,37

Từ 2 triệu đến 5 triệu

1,78

1,21

147,11

Từ 5 triệu đến dưới 10

2,16

1,51

143,05

triệu

Từ 10 triệu trở lên

3,14

Qua bảng 3. cho thấy người tiêu dùng ở Hà Nội tiêu thụ thịt trâu nhiều
hơn người tiêu dùng ở Điện Biên từ 43 đến 54%, điều này có thể được giải thích
là do người tiêu dùng Hà Nội có mức thu nhập bình quân cao hơn nên lượng thịt
trâu tiêu dùng hàng tháng cũng cao hơn so với vùng Tây Bắc.

PHẦN II


KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ
TRỊ SẢN PHẨM TRÂU THỊT ĐIỆN BIÊN
I. KẾT LUẬN
Để phát triển chuỗi giá trị sản phẩm trâu thịt trên dịa bàn tỉnh Điện Biên
quan tâm nghiên cứu mối liên kết giữa sản xuất với thị trường, bảo đảm có đủ
điều kiện xây dựng các mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị là
những tiềm năng để nâng cao giá trị sản phẩm trâu thịt Điện Biên.
1. Yếu tố tổ chức sản xuất
- Tổ chức sản xuất của chăn nuôi trâu thịt chủ yếu là chăn nuôi theo nông
hộ nhỏ lẻ nên không có sự thống nhất về qui trình kỹ thuật bao gồm cả các yếu
tố giống, phương thức chăm sóc và đầu tư. Với cách tổ chức như vậy, sản phẩm
trâu thịt sản xuất trong cùng một vùng khó có thể đáp ứng được nhu cầu của
khách hàng về: tính sẵn có: khi khách hàng có nhu cầu thì khó có thể cung cấp
với đầy đủ số lượng trong thời gian nhất định và về chất lượng: chất lượng sản
phẩm của từng hộ nhỏ lẻ sẽ khác nhau nên khó tạo sự ổn định và đồng đều về
chất lượng.
2. Yếu tố kinh tế và thị trường
Thị trường tiêu thụ sản phẩm là một trong các mắt xích quan trọng quyết
định sản xuất chăn nuôi trâu thịt, sự ổn định của thị trường là động lực giúp cho
chăn nuôi trâu thịt phát triển vì nó không chỉ trực tiếp liên quan tới cung, cầu,
giá cả mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của các hộ chăn nuôi. Bên cạnh
đó, việc đầu tư vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, mua con giống, cải tạo
hay trồng mới đồng cỏ chăn nuôi, thúc đẩy quá trình xúc tiến thương mại, quảng
bá hình ảnh sản phẩm là cần thiết cho phát triển thị trường trâu thịt. Hiện nay,
nông sản Việt Nam nói chung và thị trường trâu thịt nói riêng rất khó tìm đầu ra
ổn định cho sản phẩm do quy mô nhỏ lẻ phân tán và thương hiệu sản phẩm
không có nên khả năng cạnh tranh thị trường thấp.
3. Yếu tố văn hoá dân tộc
Mỗi dân tộc đều gắn liền với một hệ thống sản xuất riêng của mình, tỉnh
Điện Biên với các nhóm dân tộc gắn liền với hệ thống sản xuất như: nhóm dân
tộc Thái có hệ thống sản xuất đa dạng, chăn nuôi trâu để cày kéo và để thịt với


số lượng lớn và nhóm dân tộc H’mông thì chủ yếu là hệ thống canh tác trên
nương, nuôi trâu với số lượng ít hơn nhưng trâu to hơn, nuôi vỗ béo hiệu quả
hơn.
4. Thiết lập các mối liên kết:
Liên kết giữa người chăn nuôi với nhau và giữa những người chăn nuôi
với những tác nhân giết mổ, bán lẻ kết hợp với đưa vào sử dụng hệ thống nhận
diện, quảng bá sản phẩm tại thị trường Hà Nội đã làm giảm chi phí trung gian,
tăng giá bán và tăng giá trị gia tăng cho các nhóm tác nhân trong chuỗi giá trị,
trong đó người chăn nuôi là nhóm tác nhân nhận được tỷ lệ giá trị gia tăng cao
hơn.
II. KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ SẢN
PHẨM TRÂU THỊT ĐIỆN BIÊN
1. Để phát triển chuỗi giá trị trâu thịt Điện Biên cần thiết bộ giải pháp
tổng hợp kết hợp giữa các giải pháp kỹ thuật và giải pháp thị trường thì hiệu quả
trong chăn nuôi trâu thịt nông hộ tỉnh Điện Biên mới được cải thiện.
2. Tiếp tục nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật và thị trường khác với quy
mô lớn hơn nhằm tìm ra giải pháp thích hợp nhất nâng cao năng suất và hiệu quả
chăn nuôi trâu thịt nông hộ.
3. Thiết kế Hệ thống nhận diện và quảng bá sản phẩm thịt trâu Điện Biên.
Đây là công cụ góp phần nâng cao uy tín, tạo lòng tin và nâng cao khả năng
cạnh tranh và giá bán tại các thị trường tiềm năng. Để giúp người tiêu dùng phân
biệt và nhận biết đúng nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm so với các sản phẩm
khác, hệ thống nhận diện gồm LOGO và NHÃN MÁC sản phẩm phải được thiết
kế và đưa vào áp dụng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×