Tải bản đầy đủ

Các loại máy gia tốc và ứng dụng trong y học hạt nhân

Chương 1: MÁY GIA TỐC VAN DE GRAAF
I. Sơ đồ cấu tạo và nguyên lí hoạt động của máy gia tốc Van De Graaf
Nguyên tắc chính trong việc gia tốc các hạt tích điện là cho các hạt này chuyển động giữa
hai điện cực với hiệu điện thế U. Sau khi đi qua hai điện cực này, hạt có điện tích q sẽ
nhận thêm một năng lượng:
E = qU
Tuy nhiên, máy tĩnh điện dựa trên nguyên tắc trên được biết đến từ lâu, nhưng điện thế
chỉ đạt đến vài trăm nghìn vôn. Người đầu tiên xây dựng thành công máy gia tốc tĩnh
điện có điện thế trên một triệu vôn là Van De Graaf vào năm 1929.
Sơ đồ loại thiết bị này được thể hiện ở hình 2.5.
Thành phần cấu tạo:
Biến thế T: Dùng dể tạo điện thế.
Bộ phận chỉnh lưu K: Dùng để tạo
dòng điện một chiều.

O1
O2

Tụ C giúp cân bằng điện tích.
B: Quả cầu kim loại rỗng (điện cực
điện thế cao) được nối với điện cực

điện thế thấp(đất) qua băng tải A
(băng tải được làm từ vật liệu cách
điện).
O1O2: Hai con lăn giúp băng tải A
chuyển động.
O, D hai mũi nhọn dung để truyền điện tích.
Nguyên lí:
Với sự giúp đở của biến thế T tạo ra điện thế một vài chục nghìn vôn. Qua mũi nhọn O
điện tích được truyền lên băng tải A tại đầu điện thế thấp(dất) và được truyền đến cực
kia. Để tích điện liên tục băng tải A được chuyển động liên tục trên trục P nhờ hai con lăn
O1,O2. Qua mũi nhọn D điện tích được chuyển từ băng tải A sang quả cầu B. Các điện


tích tích tụ tại bề mặt của quả cầu nâng điện thế lên cho đến khi dòng điện rò từ điện cực
ra xung quanh bằng với dòng điện do băng tải A cung cấp và được dưa vào ống gia tốc.
Năng lượng của hạt được gia tốc phụ thuộc vào điện thế của quả cầu và bản thân điện thế
này bị giới hạn bởi độ rò rỉ của điện tích từ quả cầu ra không khí.

II. Sơ lược các loại máy gia tốc Van De Graaf
Trên hình 2.6 là máy gia tốc tĩnh điện nhỏ đường kính 2 mét.

Hình 2.6. máy gia tốc tĩnh điện loại nhỏ đường
kính 2m

Loại máy này có thể gia tốc hạt đến năng lượng 1,5MeV.


Hình 2.7 là một loại máy gia tốc tĩnh điện khác
Cấu tạo:
-

Gồm hai quả cầu trong đó một điện
dương, một tích điện âm.

-

Đường kính mỗi quả cầu là khoảng
4,5m.

-



Điện thế giữa chúng lên đến 5 triệu
vôn.

Do điện thế giữa hai quả cầu lôn nên để dụng
máy gia tốc này phải đặt ống điện tử nằm
ngang(hình 2.8).

Hình 2.7. máy gia tốc tĩnh điện

Hình 2.8. ống điện tử nằm ngang với hai quả cầu


Do biết rằng khí trơ có độ bền về điện cao hơn rất nhiều so với không khí bình thường vì
vậy người ta cho máy gia tốc tĩnh điện vào trong một vỏ bọc đặt biệt chứa khí trơ dưới áp
suất đến 15 atm.
Thông thường, điện cực và ống được đặt bên trong một thùng chứa khí SF6 ở áp suất cao
để làm tăng sự cách điện giữa điện cực điện thế cao và trái đất.

Đối với sơ đồ loại máy này độ dài của chúng khoảng 9,5 mét có thế gia tốc hạt lên đến
2,5MeV.
Với các máy tĩnh điện Van De Graaf tốt nhất, thế phóng điện không vượt quá chục triệu
vôn và chùm ion điện tích một đơn vị có năng lượng không vượt quá 20MeV, thông
thường có năng lượng 2 – 5MeV. Dòng của chùm hạt khá lớn, đạt đến vài trăm µA.
Một sự hoàn thiện của máy gia tốc Van De Graaf là Tandem.
III.

Máy gia tốc tandem

Trong tandem đã sử dụng hiện tượng tái tích điện(thay đổi dấu điện tích) của các ion.


Nguyên lí: Các ion tích điện âm phát ra từ nguồn ion ở điện thế đất được gia tốc về phía
một điện cực ở điện thế dương cao tại chính giữa, tại đó chất khí hoặc một lá kim loại
mỏng tước mất hai hay nhiều electron khỏi các ion, khi đó chúng trở nên tích điện dương
và bị đẩy về phía điện cực nối đất (V = 0) và được gia tốc thêm một lần nữa.
Chẳng hạn, các ion âm của hyđrogen H- được gia tốc theo phương đến điện cực dương có
điện thế cao. Tại điện cực này các ion H- tán xạ lên một bia mỏng, một số lớn các ion bị
mất hai electron và trở thành proton tích điện dương H+ . Các proton này lại bị điện cực
dương đẩy ngược lại nghĩa là chúng bị gia tốc thêm lần nữa vả năng lượng tăng lên gấp
đôi.
Hiện nay đã có các máy tandem chuyển điện tích các ion 2 lần, do đó năng lượng của
chúng tăng lên gấp ba.
IV. Ưu và khuyết điểm của máy gia tốc Van De Graaf
Hạn chế lớn nhất của máy phát tĩnh điện Van De Graaf là năng lượng chùm hạt thấp.
nhưng máy này có nhiều ưu điểm, trong đó ưu điểm chính là độ đơn năng rất cao của
chùm hạt, có thể đạt đến 10-6 hay cao hơn nữa, và việc điều chỉnh năng lượng dể dàng.
Chính nhờ máy phát tĩnh điện Van De Graaf, người ta đã đo được tiết diện tán xạ protonproton ở vùng năng lượng thấp với độ chính xác cao và ngày nay máy gia tốc này vẫn
được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu khoa học.


12

CHƢƠNG 2
MÁY GIA TỐC TUYẾN TÍNH VÀ KỸ THUẬT XẠ TRỊ 3D-CRT
TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƢ
Việc ứng dụng của tia X vào điều trị ung thƣ nông ngày càng phong phú.
Trong đó là các máy phát tia-X 150 kV và 300 kV đƣợc sử dụng rất hiệu quả lần
lƣợt cho điều trị ung thƣ da và cho sự làm giảm bớt các triệu trứng tạm thời. Tuy
nhiên tính chất vật lý của tia này không đáp ứng đƣợc các yêu cầu điều trị các khối
u sâu bên trong. Việc nghiên cứu chùm bức xạ với mức năng lƣợng cao hơn, đồng
nghĩa với khả năng đâm xuyên lớn hơn, đã dẫn đến sự phát triển của máy xạ trị
cobalt-60. Phổ chùm tia gamma phát ra từ nguồn cobalt-60 có 2 đỉnh năng lƣợng tại
1,17 MeV và 1,33 MeV, cho năng lƣợng photon trung bình khoảng 1,25 MeV,
chùm bức xạ này có thể đƣợc dùng để điều trị tốt những khối u nằm gần bề mặt da.
Tuy nhiên tính chất vật lý của chùm tia gamma này vẫn còn có một số mặt hạn chế
việc điều trị các khối u sâu bên trong nhƣ: Liều ở bề mặt tƣơng đối lớn và điều trị
kém hiệu quả với các khối u nằm sâu trong da. Vì vậy ngƣời ta phải sử dụng máy
gia tốc trong xạ trị ung thƣ và sự ra đời máy gia tốc đã tạo ra bƣớc ngoặt lớn trong
điều trị ung thƣ. Trong chƣơng này chúng tôi trình bày những lợi thế của máy gia
tốc so với máy cobalt dẫn tới sự ra đời của máy gia tốc, sau đó đi tìm hiểu nguyên
lý cấu tạo chung của máy gia tốc. Cuối cùng là trình bày về kỹ thuật xạ trị thích ứng
ba chiều (3D-CRT).
2.1. Những hạn chế của máy xạ trị cobalt trong điều trị
Máy xạ trị cobalt là loại máy sử dụng chùm bức xạ gamma phát ra do sự phân
rã của đồng vị phóng xạ 60Co để điều trị. Nguồn 60Co đƣợc sản xuất có dạng đồng
xu (đƣờng kính 2cm) đƣợc ghép lại thành hình trụ. Hoạt độ ban đầu 6500 Ci. Thời
gian sử dụng khoảng 5 - 7 năm. Nguồn 60Co phát bức xạ gamma () với hai mức năng
lƣợng là 1,17 MeV và 1,33 MeV, năng lƣợng trung bình là 1,25 MeV, có thời gian
bán rã 5,27 năm. Các mức năng lƣợng của 60Co cố định làm cho việc điều trị trở nên
kém linh hoạt trong việc điều trị ung thƣ với các vị trí khối u khác nhau. Đối với


13

những khối u rất nông, nằm rất gần bề mằt da, khi điều trị bằng máy cobalt, liều hấp
thụ cực đại nằm ở độ sâu sâu hơn vị trí của khối u.
Nhƣ vậy, khi điều trị các khối u nông bằng máy cobalt thì liều không tập trung
vào khối u, và ảnh hƣởng lớn đến những vùng mô lành nằm sâu trong da. Để khắc
phục điều này, nếu điều trị bằng máy cobalt thì ngƣời ta phải sử dụng thêm một
dụng cụ, gọi là dụng cụ bù trừ. Dụng cụ bù trừ có tác dụng đƣa vùng liều hấp thụ
cực đại về gần bề mặt da hơn, nhƣ vậy sẽ tập trung đƣợc liều vào những khối u nằm
rất gần bề mặt da. Tuy nhiên, việc sử dụng dụng cụ bù trừ này cũng tƣơng đối bất
tiện. Để khắc phục hoàn toàn những nhƣợc điểm này, khi điều trị những khối u
nông, ngƣời ta sử dụng chùm bức xạ electron. Bởi vì các chùm tia electron mất
năng lƣợng ở gần bề mặt da và cƣờng độ chùm tia suy giảm nhanh chóng và sẽ mất
hẳn ở độ sâu 5 cm. Điều này khiến những vùng lành ít bị tổn thƣơng hơn.
Không chỉ không phù hợp cho những khối u rất nông, máy Co-60 cũng không
thể đáp ứng đƣợc với những khối u nằm sâu trong cơ thể. Ví dụ : Một khối u nằm
giữa phổi, cách bề mặt da trung bình 8 cm, liều xạ của máy cobalt khi vào đến đây
lại quá thấp bởi. Để giúp cho việc điều trị trong trƣờng hợp này đạt hiệu quả tốt hơn,
cần phải có chùm bức xạ photon có mức năng lƣợng cao, để đƣa vùng liều cực đại
sâu hơn vào cơ thể.
Nhƣ vậy, để điều trị ung thƣ linh hoạt với những khối u ở những vị trí khác
nhau trong cơ thể đòi phải có những chùm bức xạ khác nhau nhƣ electron và photon,
đồng thời với điều đó là với mỗi loại bức xạ phải có nhiều mức năng lƣợng. Sự đa
dạng và linh động này giúp cho ta có thể điều trị đƣợc tất cả các khối u ở bất cứ vị
trí nào. Máy gia tốc ra đời hoàn toàn có thể đáp ứng đƣợc những đòi hỏi này. Ngoài
ra, sử dụng máy gia tốc trong xạ trị còn có những lợi thế nổi trội: Máy gia tốc an
toàn hơn nhiều vì nó ngừng phát tia khi tắt máy, còn ở máy cobalt thì đồng vị phóng
xạ vẫn phân rã liên tục và phát tia khi không còn cần đến. Máy Co-60 đòi hỏi phải
thay nguồn định kỳ do phân rã phóng xạ. Nguồn cũ bỏ ra cần xử lý để đảm bảo an
toàn bức xạ để không gây ô nhiễm môi trƣờng. Đặc biệt suất liều bức xạ của máy
gia tốc cao hơn nguồn cobalt (thƣờng gấp 2-3 lần).


14

2.2. Tổng quan về máy gia tốc tuyến tính
Máy gia tốc đƣợc ứng dụng trong lâm sàng từ đầu những năm 1950, hoặc bằng
các chùm electron hoặc các chùm tia X và đã trở thành thiết bị chủ yếu tại nhiều
trung tâm xạ trị. Về nguyên tắc, không có giới hạn trong công nghệ chế tạo máy gia
tốc với năng lƣợng của electron, ngoại trừ bản thân cấu trúc chiều dài tăng tốc của
thiết bị. Giới hạn năng lƣợng chùm electron hiệu dụng đạt đƣợc trong thực tế lâm
sàng nằm trong phạm vi từ 4-40 MeV.

Hình 2.1: Máy gia tốc tuyến tính tại bệnh viện đa khoa Đồng Nai
Với mục đích ứng dụng trong lâm sàng, các loại máy gia tốc cần thiết kế sao
cho thỏa mãn một số những tiêu chuẩn, yêu cầu chủ yếu nhƣ sau [2]:
- Chùm tia bức xạ phải xác định đƣợc rõ năng lƣợng và thay đổi đƣợc về các kích
thƣớc chùm tia.
- Liều lƣợng bức xạ phải đồng đều bên trong chùm tia.
- Liều lƣợng của thiết bị phát ra phải ổn định không chỉ trong giai đoạn điều trị mà
phải ổn định suốt trong quá trình sử dụng.


15

- Liều lƣợng bức xạ phân bố trên bệnh nhân phải đƣợc đo đạc một cách chính xác.
- Chùm tia bức xạ phải điều chỉnh và thay đổi đƣợc hƣớng và vị trí bất kỳ trên bệnh
nhân.
- An toàn và ổn định về cơ khí cũng là một thông số hết sức quan trọng.
2.2.1. Cấu tạo máy gia tốc tuyến tính
Các bộ phận chính là súng điện tử, nguồn phát sóng cao tầng klystron, ống gia
tốc, hệ thống uốn chùm tia, bộ phận kiểm soát liều lƣợng và bia phát tia X.

Hình 2.2: Cấu tạo máy gia tốc tuyến tính
- Cần máy đứng (gantry stand): Đƣợc thiết kế để chịu tải, mặt khác có thể chứa:
Máy phát sóng, súng điện tử, và ống dẫn sóng gia tốc.
- Máy phát sóng: Gồm hai thành phần chính: Nguồn phát sóng (klystron hoặc
magnetron) và bộ điều chế xung. Magnetron và klystron: Là các nguồn phát vi
sóng hoạt động dƣới dạng xung ngắn cỡ một vài µs. Cả hai đƣợc lắp thêm bộ điều
chỉnh tần số tự động AFC (automatic frequency control) để có thể duy trì dao động
với tần số tối ƣu.
- Súng điện tử: Là thiết bị phát ra electron, nó gồm có hai loại chính là loại hai cực
và loại ba cực. Cơ chế cung cấp nhiệt cho catốt của súng điện tử có thể là trực tiếp
hoặc gián tiếp tuỳ theo nhà sản xuất.


16

- Ống dẫn sóng gia tốc: Gồm có ống dẫn sóng và ống gia tốc dùng để truyền đẫn và
tăng tốc chùm electron.
- Cần máy (gantry): Chứa hệ thống truyền tải electron, đầu máy điều trị. Cần máy
đƣợc gắn vào cần máy đứng và có thể quay đƣợc quanh trục vuông góc với nó.
- Hệ thống truyền tải electron: Để đƣa electron đến đầu máy điều trị.
- Đầu máy điều trị bao gồm: Bia tia - X đƣợc dùng để tạo ra chùm photon xạ trị nhờ
hiệu ứng bức xạ hãm khi chùm electron (đã đƣợc gia tốc) tƣơng tác với bia; Ống
chuẩn trực (gồm có các loại: Sơ cấp, xác định hình dạng chùm bức xạ, đối xứng và
độc lập) thƣờng đƣợc cấu tạo bởi hai cặp ngàm (jaw) để tạo dạng (chuẩn trực)
chùm bức xạ theo hình chữ nhật; các khối che chắn để tạo hình dạng trƣờng chiếu
thích hợp; các bộ lọc phẳng dùng để làm phẳng chùm bức xạ tạo ra tính đồng nhất;
bộ phận kiểm soát liều lƣợng (monitor).
- Giƣờng bệnh: Là nơi đặt bệnh nhân và bố trí các tƣ thế xạ trị. Nó có thể quay đƣợc
quanh trục trên mặt phẳng nằm ngang và cũng có thể nâng lên, hạ xuống để tạo
khoảng cách điều trị thích hợp.
- Bảng điều khiển: Là thiết bị điều khiển các hoạt động của máy gia tốc nhƣ: Quay,
đặt vị trí cho các ngàm trong ống chuẩn trực để định vị trƣờng điều trị.
- Nguồn cao áp: Cung cấp nguồn điện một chiều cho máy phát sóng.
2.2.2. Nguyên lý hoạt động
Các electron đƣợc sinh ra do bức xạ nhiệt từ súng điện tử, đƣợc điều chế thành
các xung và phùn vào ống gia tốc. Đó là cấu trúc dẫn sóng mà trong đó năng lƣợng
dùng cho electron đƣợc cung cấp từ nguồn sóng siêu cao tần (với tần số khoảng
3000 MHz – bƣớc sóng 100 mm). Chùm electron đƣợc gia tốc có xu hƣớng phân kỳ
khi ra khỏi ống gia tốc và đƣợc hội tụ theo một quỹ đạo thẳng nhờ hệ thống điện
trƣờng đồng trục. Sau đó chùm electron đƣợc uốn theo một góc 900 hoặc 2700.. Nếu
cần sử dụng chùm tia electron thì cho electron ra trực tiếp để sử dụng, nhƣng nếu sử
dụng tia X thì cho chùm electron sau khi gia tốc chạm vào một bia kim loại (target).
Tại đây electron bị hãm lại và phát ra tia X (theo hiệu ứng bức xạ hãm
bremstralung).


17

2.3. Kỹ thuật xạ trị 3D-CRT
Những tiến bộ trong công nghệ máy tính đã làm tăng khả năng quá độ từ lập
kế hoạch và thực thi kỹ thuật phân bố liều theo 2-D cho đến kỹ thuật phức tạp hơn,
hiện đại hơn đó là phân bố liều theo không gian 3 chiều, phù hợp với hình dạng
khối u (3D-CRT).
3D-CRT là một thuật ngữ đƣợc sử dụng để mô tả kỹ thuật phác thảo và thực
hiện một kế hoạch xạ trị đƣợc dựa trên các dữ liệu từ phim CT theo ba chiều cùng
các trƣờng chiếu đƣợc tạo theo hình dạng riêng biệt phù hợp khối u.

Hình 2.3: Kỹ thuật xạ trị thông thƣờng 2D (a) và kỹ thuật xạ trị 3D-CRT (b)
Kỹ thuật xạ trị 3D-CRT là một trong các kỹ thuật xạ trị ngoài. So với kỹ thuật
xạ trị thông thƣờng 2D trƣớc đây, các chùm tia đƣợc phát ra chỉ có dạng hình chữ
nhật hoặc hình vuông, thì kỹ thuật 3D-CRT ƣu việt hơn rất nhiều. Với sự có mặt
của các tấm che chắn chì, ống chuẩn trực đa lá MLC, chùm bức xạ phát ra có thể
đƣợc điều chỉnh với hình dạng bất kỳ để có thể bao khít khối u theo từng hƣớng
chiếu (hình 2.3b).
Mục đích của xạ trị 3D-CRT là tạo đƣợc một vùng phân bố liều hấp thụ cao tại
thể tích bia và do đó giảm liều có hại cho các tổ chức lành xung quanh, qua đó sẽ
làm giảm thiểu các hiệu ứng phụ hoặc biến chứng muộn, tăng xác suất kiểm soát
khối u và cải thiện kết quả điều trị. Để thực hiện đƣợc điều này, bệnh nhân cần phải
trải qua một quá trình mô phỏng và lập kế hạch điều trị.


18

2.3.1. Hệ thống lập kế hoạch điều trị TPS (Treatment planning system)
Mô phỏng và lập kế hoạch xạ trị thực chất là quá trình thiết kế, mô phỏng một
ca điều trị trƣớc khi tiến hành điều trị thật. Nhờ đó, các bác sỹ có thể kiểm soát
đƣợc liều lƣợng bức xạ tới khối u, tới các tổ chức lành xung quanh của bệnh nhân,
cũng nhƣ tiên lƣợng, đánh giá đƣợc khả năng đáp ứng của bệnh nhân trong quá
trình điều trị.
Cùng với sự phát triển của tin học, các hệ thống lập kế hoạch xạ trị cũng ngày
càng phát triển, lập kế hoạch nhanh chóng và chính xác hơn. Trong các hệ thống
này, cả cơ thể bệnh nhân và máy điều trị cho bệnh nhân đó đều đƣợc mô phỏng trên
phần mềm lập kế hoạch. Thông tin bệnh nhân đƣợc dùng trong quá trình mô phỏng
chính là tập hợp dữ liệu ảnh cắt lớp vi tính (ảnh theo chuẩn DICOM). Ảnh cắt lớp vi
tính không những đƣợc sử dụng để mô tả hình dáng, tƣ thế ngƣời bệnh, xác định vị
trí khối u, các cơ quan cần bảo vệ mà nó còn cung cấp thông tin chính xác về mật
độ vật chất (cụ thể là mật độ electron), giúp ích cho việc tính toán liều lƣợng bức xạ
hấp thụ. Việc mô phỏng máy điều trị trên phần mềm đƣợc thực hiện bằng cách tạo
ra một máy ảo có các thông số kỹ thuật giống hệt với máy điều trị thực. Phổ bức xạ
phát ra từ máy điều trị thực cũng đƣợc mô phỏng chính xác trên phần mềm bằng
cách nhập bộ dữ liệu đo đạc thực tế. Hiện nay trên Thế Giới có một số hệ thống lập
kế hoạch xạ trị nhƣ: Prowess, CMS, ADAC Pinacle…Tuy các hệ thống này có
những điểm khác biệt, nhƣng nhìn chung, các bƣớc trong quá trình lập kế hoạch đều
theo một quy trình.
2.3.2. Quy trình thực hành lâm sàng kỹ thuật xạ trị 3D-CRT
Phần này đề cập nội dung thực hành lâm sàng của chƣơng trình xạ trị theo 3DCRT. Có nhiều khâu kỹ thuật đòi hỏi phải thực hiện trong chƣơng trình này. Hình
2.4: Giới thiệu sơ đồ khối bao gồm các bƣớc cơ bản của quy trình kỹ thuật 3D-CRT.
Nhiều chi tiết có thể khác nhau giữa các trung tâm, trong phần dƣới đây chúng tôi
trình bày quy trình kỹ thuật xạ trị 3D-CRT tại khoa Y học Hạt nhân, bệnh viện đa
khoa Đồng Nai.


19

2.3.2.1. Đánh giá bệnh nhân và quyết định xạ trị
Bƣớc đầu trong quy trình là đánh giá và quyết định xem bệnh nhân có thể
đƣợc điều trị nhƣ thế nào. Trong quá trình đánh giá tất cả các khâu chẩn đoán, xét
nghiệm khác nhau đƣợc tiến hành để xác định tình trạng, cũng nhƣ giai đoạn bệnh.
Những yếu tố đó bao gồm chẩn đoán hình ảnh, các xét nghiệm cơ bản về sinh hóa
hay những thông tin về mô bệnh... để giúp xác định loại bệnh, giai đoạn bệnh cũng
nhƣ mức độ xâm lấn của khối u. Sau đó, tiểu ban chuyên môn đƣa ra những quyết
định điều trị cho bệnh nhân.
Đánh giá bệnh nhân
Cố định bệnh nhân
Mô phỏng
Khoanh vùng các tổ
chức chỉ định liều
Thiết lập trƣờng chiếu
Tính toán liều

Đánh giá
Không chấp nhận

kế hoạch

Chấp nhận
Điều trị
Hình 2.4: Quy trình lập kế hoạch xạ trị
2.3.2.2. Cố định tƣ thế bệnh nhân
Trƣớc khi đi đến quyết định điều trị, tiểu ban chuyên môn cần thống nhất tƣ
thế bệnh nhân có thể áp dụng cho từng trƣờng hợp và phƣơng pháp cố định tƣ thế
bệnh nhân sao cho thích hợp nhất.


20

Việc áp dụng kỹ thuật 3D-CRT thƣờng kết hợp với khả năng làm giảm các
mép đƣờng biên của thể tích khối u. Phƣơng pháp cố định hiệu quả có thể làm giảm
thiểu sai số đặt tƣ thế bệnh nhân. Do đó, việc sử dụng phƣơng tiện cố định phù hợp,
tạo sự thoải mái cho bệnh nhân và thao tác cho nhân viên kỹ thuật sẽ là một yếu tố
quan trọng ảnh hƣởng đến toàn bộ quy trình và kết quả điều trị bệnh nhân. Mỗi một
cơ sở xạ trị cần trang bị đầy đủ những phƣơng tiện, dụng cụ cố định phù hợp cho
từng vị trí, từng loại bệnh. Những dụng cụ này phải dễ dàng tái tạo chính xác tƣ thế
bệnh nhân trong quá trình điều trị.
2.3.2.3. Mô phỏng

Hình 2.5: Hệ thống máy CT mô phỏng tại bệnh viện đa khoa Đồng Nai
Hệ thống mô phỏng bao gồm máy mô phỏng và hệ thống máy tính điều khiển
máy mô phỏng cũng nhƣ lƣu trữ và xử lý dữ liệu mô phỏng. Chức năng của máy mô
phỏng là thu nhận dữ liệu ảnh phục vụ cho quá trình lập kế hoạch, đồng thời nó
cũng đƣợc sử dụng để mô phỏng, kiểm tra việc điều trị và che chắn đƣợc tạo ra từ
hệ thống lập kế trƣớc khi đƣa bệnh nhân vào điều trị chính thức trên máy điều trị.
Tại khoa Y học Hạt nhân bệnh viện đa khoa Đồng Nai, hệ thống mô phỏng là hệ
thống CT-SIM gồm 2 phần chính: Máy chụp CT có độ phân giải cao cùng máy tính
đi kèm và hệ thống laser mô phỏng.


21

Nhờ hệ thống mô phỏng CT-SIM này, việc xạ trị trở nên đơn giản và chính
xác hơn rất nhiều. Hệ thống laser mô phỏng đƣợc gắn trong phòng chụp CT để định
vị chính xác vị trí, tƣ thế và tọa độ khi chụp ảnh. Kết quả mô phỏng đƣợc gửi tới
phần mềm điều khiển chùm laser và hệ thống lập kế hoạch ảo VPS (virtual planning
systems). Trong hệ thống VPS, bác sỹ sẽ xác định vị trí, kích thƣớc khối u trong cơ
thể ngƣời bệnh. Sau đó, tọa độ tâm khối u sẽ đƣợc truyền lại về phần mềm điều
khiển của hệ thống laser. Phần mềm này tự động tính ra khoảng cách giữa tâm khối
u với tọa độ gốc trên ảnh CT của bệnh nhân. Sau đó, nó điều khiển tự động sự dịch
chuyển của giƣờng để đƣa hệ laser về tâm khối u của bệnh nhân (bệnh nhân vẫn
nằm cố định trên giƣờng CT) và kỹ thuật viên sẽ đánh dấu vị trí tâm khối u trên
bệnh nhân.
2.3.2.4. Ghi nhận và xử lý hình ảnh bệnh nhân
a. Chụp ảnh CT
Với nhiều loại vị trí khối u khác nhau, những hình ảnh chụp CT sẽ giúp cho
việc xác định chính xác các thông số nhƣ kích thƣớc cũng nhƣ vị trí của nó. Những
hình ảnh đƣợc thực hiện trên CT dùng cho quá trình lập kế hoạch điều trị phải sao
cho càng sát thực tế càng tốt, nghĩa là phải đầy đủ những gì sẽ dùng trên máy điều
trị. Chẳng hạn các dụng cụ cố định, giá đỡ chân tay, khung trợ giúp tƣ thế bệnh
nhân, hệ thống laser định vị,... phải giống hệt nhau.
b. Chụp cộng hưởng từ-MRI
Trong xạ trị ung thƣ, MRI đƣợc dùng chủ yếu trong những trƣờng hợp cần bổ
xung những thông tin giải phẫu hoặc kết hợp với các phim CT để cải thiện sự đánh
giá một cách chi tiết và rõ ràng hơn tình trạng khối u, nhất là những khối u tiền liệt
tuyến và khối u hệ thần kinh
Trong hệ thống VPS, dữ liệu ảnh của bệnh nhân có thể đƣợc xử lý để giúp các
bác sỹ quan sát khối u cũng nhƣ vùng cần bảo vệ rõ hơn. Nhờ đó, sẽ vẽ chính xác
các vùng này, nâng cao độ chính xác và kết quả của quá trình lập kế hoạch. Một số
thao tác xử lý ảnh hay đƣợc sử dụng nhƣ: Điều chỉnh độ sáng tối của dữ liệu ảnh,
điền thêm một số thông tin cá nhân khác của bệnh nhân: Tiểu sử bệnh, năm sinh,…


22

2.3.2.5. Khoanh vùng điều trị và vùng bảo vệ
Quá trình lập kế hoạch xạ trị dựa vào hình ảnh đƣợc xác định theo thể tích
khối u và các tổ chức nguy cấp liền kề. Các vùng thể tích này đƣợc vẽ theo từng lát
cắt dựa trên bộ dữ liệu của phim CT. Thể tích khối u thƣờng đƣợc vẽ chu vi bằng
thủ công mặc dù những hệ thống phần mềm hiện đại có khả năng phân biệt cấu trúc
giải phẫu khối u. Công việc này có vẻ tốn thời gian nhƣng bác sỹ xạ trị sẽ yên tâm
hơn về độ chính xác của nó. Khi vẽ các đƣờng biên xác định thể tích khối u và các
thể tích liên quan khác, bác sỹ xạ trị và kỹ sƣ vật lý cần phải tính đến những xê dịch
có thể xảy ra của bệnh nhân và của một số tổ chức. Sau đây là một số hƣớng dẫn chi
tiết giúp việc xác định các thể tích này.
Cần phải hết sức cẩn trọng để xác định chính xác các vùng thể tích liên quan
bằng kỹ thuật xạ trị 3D-CRT. Nhƣ nội dung bản báo cáo số 50 và 62 của ICRU,
hình 2.6 mô tả hƣớng dẫn việc xác định và mô tả một số vùng thể tích cũng nhƣ các
tổ chức nguy cấp liên quan.
a. Thể tích khối u thô GTV (gross tumor volume): Là phạm vi biểu hiện phát triển
tại chỗ của các tế bào ác tính mà qua đó có thể nhìn thấy, sờ nắn hoặc thăm khám
trực tiếp.
GTV thƣờng đƣợc xác định bằng các phƣơng tiện chẩn đoán hình ảnh nhƣ
CT, MRI, PET..., bằng những thông tin từ mô bệnh học hay giải phẫu bệnh do
thăm khám trực tiếp lâm sàng.
b. Thể tích bia lâm sàng CTV (clinical target volume): Là thể tích mô mà trong đó
bao gồm thể tích GTV và các tổ chức ác tính biểu hiện ở mức vi thể, khó phát
hiện bằng lâm sàng nhƣng cần phải loại bỏ. Vì vậy, thể tích này cũng phải điều
trị một cách đầy đủ về liều lƣợng cả trong trƣờng hợp xạ trị triệu chứng hay triệt
để.
Để xác định thể tích bia lâm sàng, cần phải tạo dựng một mép đƣờng biên
với sự trải rộng vi xâm lấn của các tế bào và những vùng liên quan khác đƣợc coi
là ác tính, cần phải điều trị (nghĩa là những hạch lympho dƣơng tính). Thông tin,
dữ liệu của những tổ chức này cung cấp bằng xét nghiệm mô bệnh học đƣợc lấy


23

từ một số mẫu bệnh phẩm tại vùng có nghi ngờ. Vùng thể tích bia lâm sàng sau
phẫu thuật, chẳng hạn khối u vú thƣờng đƣợc tính là toàn bộ tổ chức nguyên phát
đƣợc cắt bỏ (GTV). Theo kinh nghiêm, khi xác định đƣờng biên CTV thƣờng
đƣợc mở rộng thêm 1 cm (nghĩa là CTV=GTV+1 cm).

Hình 2.6: Các vùng thể tích khác nhau cần xác định theo ICRU
c. Thể tích bia nội tại ITV (internal target volume): Là một khái niệm mới đƣợc giới
thiệu trong bản báo cáo số 62 của ICRU. Để bù trừ cho những thay đổi về kích
thƣớc, hình dạng và vị trí của CTV. Khi xác định ITV, điều quan trọng là phải
tính đến sự bất đối xứng tự nhiên và sự thay đổi của tổ chức cụ thể. Chẳng hạn,
sự thay đổi về hai phía bên của tuyến tiền liệt sẽ khác với sự thay đổi trƣớc, sau.
Sự thay đổi bên trong nhƣ vậy là do bản chất sinh lý của cơ thể, không dễ kiểm
soát. Để khắc phục những yếu tố này, đã có nhiều công trình nghiên cứu áp dụng
kỹ thuật khống chế, kiểm soát nhịp thở hoặc sự căng đầy của bàng quang, trực
tràng.


24

d. Thể tích lập kế hoạch điều trị PTV (planning target volume): Là một khái niệm
về hình học, đƣợc xác định để lựa chọn sự phân bố các chùm tia một cách thích
hợp, trong đó có tính đến ảnh hƣởng thực tế của những thay đổi về mặt hình học
lên thể tích CTV, để đảm bảo phân bố liều lƣợng theo đúng yêu cầu trên đó.
Để đảm bảo rằng tất cả các mô bên trong thể tích bia lâm sàng nhận đƣợc
một liều lƣợng đã chỉ định, về nguyên tắc chiếu xạ, ta phải lập kế hoạch để chiếu
xạ một thể tích hình học lớn hơn thể tích bia lâm sàng. Thể tích bia lập kế hoạch
đƣợc định nghĩa là khối thể tích bao gồm thể tích bia lâm sàng với một đoạn mép
bao quanh thể tích bia lâm sàng. Đoạn mép này đƣợc xác định dựa vào sự di
chuyển khối u trong cơ thể bệnh nhân và những sai số liên quan đến sai số của
máy móc. Sự di chuyển của khối u trong cơ thể bệnh nhân có thể kể đến những
nguyên nhân nhƣ: Sự đập của tim, sự thở, sự chứa nƣớc không giống nhau của
bàng quang. Những sai số liên quan tới máy móc có thể là do sai số của giƣờng,
của hệ laser… Tuy nhiên, để xác định đƣợc đoạn mép từ CTV tới PTV, ta không
đƣợc phép cộng dồn các sai số kể trên. Đoạn mép bao quanh CTV này, bất kể về
hƣớng nào, cũng phải đủ lớn để có thể bù đắp đƣợc những sai số trên. Tức là sao
cho theo bất kì hƣớng nào, CTV luôn luôn nằm gọn trong PTV trong quá trình
điều trị. Trong thực tế lập kế hoạch, ta phải cố gắng lập kế hoạch sao cho tối
thiểu 95% thể tích bia lập kế hoạch PTV nhận 100% liều chỉ định.
e. Thể tích điều trị TV (treated volume): Thể tích điều trị thƣờng lớn hơn thể tích
bia lập kế hoạch và phụ thuộc vào kỹ thuật điều trị cụ thể. Khi lập kế hoạch, ta
mong muốn một thể tích đồng liều nào nó bao trọn PTV. Tuy nhiên, rất khó để
thể tích đồng liều đó bằng đúng thể tích PTV mà nó thƣờng lớn hơn PTV. Ngƣời
ta gọi thể tích đồng liều đó là thể tích điều trị .
f. Thể tích chiếu xạ IV (irradiated volume): Là vùng thể tích nhận một lƣợng liều
đáng kể (thƣờng là 50% liều chỉ định). Thể tích chiếu xạ lớn hơn thể tích điều trị
và cũng phụ thuộc vào kỹ thuật xạ trị đƣợc sử dụng. Với kỹ thuật xạ trị 3D-CRT,
thể tích chiếu xạ giảm khi sử dụng hệ thống máy gia tốc có ống chuẩn trực đa lá
(MLC) và thể tích chiếu xạ tăng khi số trƣờng chiếu tăng.


25

2.3.2.6. Thiết lập trƣờng chiếu và sử dụng các thiết bị hỗ trợ
Việc thiết lập trƣờng chiếu là lựa chọn các hƣớng chiếu và mức năng lƣợng
của từng chùm tia. Việc này phụ thuộc vào vị trí, kích thƣớc khối u trong từng
trƣờng hợp cụ thể và theo kinh nghiệm của từng ngƣời. Sự lựa chọn mức năng
lƣợng của từng chùm tia phụ thuộc vào bản chất của chùm tia bức xạ. Với những
khối u nằm trên da hoặc ở vị trí rất nông gần bề mặt da, ngƣời ta thƣờng sử dụng
chùm tia electron. Do liều lƣợng do chùm tia electron bỏ lại lớn nhất ở gần bề mặt
da và suy giảm rất nhanh khi đi sâu vào cơ thể bệnh nhân. Với những khối u nằm
sâu trong cơ thể, ta có thể sử dụng các chùm tia photon. Tùy thuộc vào mức độ sâu
của khối u, mà ta quyết định lựa chọn chùm tia photon năng lƣợng thấp hay cao.
Với khối u sâu hơn thì nên sử dụng chùm photon có năng lƣợng cao hơn.
Với từng trƣờng hợp cụ thể, số lƣợng chùm tia và các hƣớng chiếu chùm tia
hoàn toàn phụ thuộc vào vị trí, kích thƣớc khối u, cũng nhƣ kinh nghiệm của ngƣời
lập kế hoạch.
Song song với việc thiết lập các trƣờng chiếu, ta phải sử dụng các thiết bị phụ
trợ để tạo ra một kế hoạch tốt. Để sử dụng các thiết bị phụ trợ một cách hiệu quả
nhất, ngƣời lập kế hoạch cần phải hiểu rõ về bản chất của các thiết bị đó.
2.3.2.7. Tính toán liều lƣợng và phân bố liều
Sau khi thiết lập các trƣờng chiếu, và sử dụng các thiết bị phụ trợ cần thiết.
Ngƣời lập kế hoạch sẽ tiến hành tính toán liều. Hiện nay, trong phần mềm Prowess
panther, có hai phƣơng pháp tính liều cho kỹ thuật xạ trị 3D-CRT. Đó là: “Fast
Photon” và “fast photon effective”.
Sử dụng thuật toán “fast photon” để tính toán liều lƣợng cho những vùng điều
trị là những vùng tƣơng đối đồng nhất, hệ số mô của các vùng là tƣơng đƣơng nhau.
Trong thuật toán này không tính đến sự sai khác hệ số mô giữa các vùng điều trị.
Nhƣng khi vùng điều trị là những vùng không đồng nhất, ví dụ nhƣ vùng
ngực có nhiều không khí, hay vùng tiểu khung có nhiều xƣơng (vì giữa mô mềm,
không khí và xƣơng, hệ số mô của chúng rất khác biệt) chúng ta sử dụng thuật toán
“fast photon effective”.


26

2.3.2.8. Đánh giá kế hoạch
Sau khi tính toán liều lƣợng và xem phân bố liều, ta tiến hành đánh giá kế
hoạch. Đánh giá xem kế hoạch vừa thiết kế đã tốt và tối ƣu chƣa. Khi kế hoạch này
đƣợc chấp nhận thì nó sẽ đƣợc đƣa vào điều trị thực tế. Việc điều trị thực tế sẽ đƣợc
thiết lập giống hệt nhƣ đã thiết kế trên phần mềm. Nếu kế hoạch này chƣa đáp ứng
đƣợc các yêu cầu về phân bố liều lƣợng nhƣ bác sỹ đặt ra ban đầu, cần phải làm từ
bƣớc thiết lập trƣờng chiếu và sử dụng các thiết bị phụ trợ.

Hình 2.7: Đánh giá kế hoạc dựa trên lát cắt
Có hai tiêu chí đƣợc xét đến khi đánh giá kế hoạch, đó là liều lƣợng tới khối u
và liều lƣợng tới các tổ chức nguy cấp cần bảo vệ. Một kế hoạch tốt là kế hoạch
đảm bảo các điều kiện sau:
- Đủ liều bác sỹ chỉ định tới khối u, vùng nhận liều lớn nhất nằm trong khối u
và không vƣợt quá 107% liều chỉ định.
- Liều tới các tổ chức nguy cấp cần bảo vệ nằm trong giới hạn liều cho phép.


27

Để đánh giá một kế hoạch xạ trị trong phần mềm Prowess panther, ta có thể
quan sát các đƣờng đồng liều (isodose line) trên từng lát cắt (hình 2.7) và trên bản
đồ liều lƣợng-thể tích DVH (dose volume histogram - hình 2.8).

Hình 2.8: Đánh giá kế hoạch dựa trên biểu đồ DVH
Dựa trên lát cắt hình 2.7 ta thấy đƣờng 95% liều bao hết toàn bộ khối u
(100%), các đƣờng liều cao tránh đƣợc tủy sống, tim, phổi. Hình 2.8 mô tả liều hấp
thụ trong một quá trình điều trị của khối u và các cơ quan cần bảo vệ. Dựa vào hình
này ta có nhận xét: Các cơ quan cần bảo vệ đều nhận liều dƣới mức liều giới hạn
cho phép, và khối u nhận đƣợc 95% liều chỉ định. Vậy kế hoạch này đạt đƣợc yêu
cầu của bác sỹ đƣa ra.
2.3.2.9. Tiến hành điều trị
Sau khi kế hoạch đã đƣợc chấp nhận, các thông số liên quan đến kế hoạch điều
trị đƣợc chuyển sang phòng máy gia tốc thông qua hệ thống mạng LAN. Hệ thống
máy tính và phần mềm sẽ điều khiến máy gia tốc phát tia điều trị mỗi ngày cho
bệnh nhân.


28

Nhƣ vậy, kỹ thuật xạ trị 3D-CRT phân bố liều hấp thụ cao tại thể tích bia và
giảm liều có hại cho các tổ chức lành xung quanh nhờ việc sử dụng khối che chắn
chì (block) hoặc ống chuẩn trực đa lá (MLC). Hơn nữa, nhờ có các dụng cụ lọc nêm
(wedge), các khối bù mô (bolus) thì phân bố liều đã đƣợc tối ƣu để đạt đƣợc yêu
cầu của bác sỹ đƣa ra.
Tuy nhiên, kỹ thuật này có một vài hạn chế nhƣ sau:
- Gây hiện tƣợng cháy da cho bệnh nhận.
- Chi phí cho việc cắt xốp làm khuôn chì, đúc chì khá tốn kém và độc hại,
nguyên hiểm.
- Mất thời gian tháo lắp phụ kiện che chắn cho bệnh nhân với từng trƣờng
chiếu: Khối chì che chắn, lọc nêm.
- Với những ca ung thƣ phức tạp, khối u có hình dạng phức tạp và nằm ngày
cạnh các cơ quan nguy cấp cần bảo vệ thì với kỹ thuật 3D-CRT khó có thể
đƣa ra đƣợc một phân bố liều tối ƣu.
Để khắc phục những hạn chế trên, ngƣời ta đƣơc ra một kỹ thuật xạ trị mới.
Đó là kỹ thuật xạ trị điều biến cƣờng độ (IMRT). Những chƣơng tiếp theo, chúng
tôi sẽ trình bày cụ thể hơn về kỹ thuật xạ trị điều biến cƣờng độ và ứng dụng trong
lâm sàng.


18

CHƯƠNG 3
MÁY GIA TỐC SỬ DỤNG TRONG LĨNH VỰC XẠ TRỊ VÀ CƠ SỞ
LÝ THUYẾT VỀ CHUẨN LIỀU
3.1. Sơ lược về cấu tạo và nguyên lý hoạt động của máy gia tốc
Đối với kỹ sư vật lý làm công tác chuẩn liều cũng như QA cho máy, cần phải
hiểu rõ cấu tạo, chức năng và nguyên lí hoạt động của từng bộ phận nói riêng và của
máy nói chung để khi máy cấp liều không đạt chất lượng mong muốn ta cần phải
hiệu chỉnh thông số nào, thông số đó ảnh hưởng bởi những bộ phận nào. Để từ đó
có sự hiệu chỉnh cho phù hợp. Dưới đây sẽ giới thiệu những bộ phận chính và
nguyên lí hoạt động của máy.
3.1.1. Cấu tạo
Sơ đồ cấu tạo và sơ đồ khối chính của máy gia tốc tuyến tính thông thường, sử
dụng trong xạ trị được chỉ ra trong hình 3.1 và hình 3.2

Hình 3.1: Sơ đồ cấu tạo máy gia tốc tuyến tính.
Các bộ phận chủ yếu của máy gia tốc bao gồm:
 Cần máy đứng (Gantry Stand): được thiết kế để chịu tải, nâng đỡ cần
máy, có thể chứa: máy phát sóng, súng electron, ống dẫn sóng gia tốc.
 Máy phát sóng gồm có hai thành phần chính: nguồn phát sóng (Klystron
hoặc Magnetron) và bộ điều chế xung (Modulator). Klystron hoặc Magnetron là các


19

nguồn phát vi sóng hoạt động dưới dạng xung ngắn cỡ một vài µs. Cả hai được lắp
thêm bộ điều chỉnh tần số tự động AFC (Automatic Freqency Control) để có thể
duy trì dao động với tần số tối ưu.

Hình 3.2: Sơ đồ khối chính của một máy gia tốc thẳng thông thường.
 Magnetron: là thiết bị tạo ra dao động năng lượng cao, phát ra dao động
cao tần. Tần số của vi sóng khoảng 3000 MHz,
 Klystron: không phải là một máy phát sóng siêu cao tần mà là một máy
khuếch đại dao động sóng. Nó cần một máy phát dao động năng lượng thấp đi kèm
để cung cấp dao động ở lối vào của Klystron. Nhờ đó nó sẽ khuếch đại dao động có
năng lượng thấp này lên đến năng lượng rất cao.
 Súng electron (Electron gun): là thiết bị phát ra các electron, gồm có hai
loại chính là loại hai cực và loại ba cực (triode). Cơ chế cung cấp nhiệt cho súng
electron có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp tùy theo nhà sản xuất. Cả 2 loại súng này
đều có một sợi dây Catôt được nung nóng và cực Anôt có đục một lỗ nhỏ ở giữa,
với súng loại 3 cực còn có thêm một lưới điều khiển. Các electron phát ra từ sợi dây
Catôt được nung nóng sẽ hội tụ thành một chùm và được gia tốc xuyên qua lỗ trên
Anôt sau đó bị cuốn vào trong ống sóng gia tốc.
 Hệ thống ống dẫn sóng (Wave Guide System): gồm có ống dẫn sóng để
truyền sóng từ nguồn phát sóng tới ống gia tốc và ống dẫn sóng gia tốc.
 Cần máy (Gantry): chứa hệ thống gia tốc electron, đầu máy điều trị. Cần
máy được gắn vào cần máy đứng và có thể quay quanh trục vuông góc với nó.


20

 Hệ thống gia tốc electron: gồm có ống gia tốc, dùng để gia tốc chùm
electron tới năng lượng cao nhờ vi sóng, hệ thống từ trường hội tụ chùm electron
này khi chúng chạy trong ống.
 Ống gia tốc: được cấu tạo gồm các ống bằng đồng có bề mặt bên trong
tròn phẳng, được đặt tách biệt nhau và các hốc cộng hưởng dùng để tạo ra độ lệch
pha 180 0 với cấu trúc gia tốc bằng sóng dừng.
 Đầu máy điều trị: bao gồm
- Bia tia X: bằng kim loại có Z lớn, dùng để tạo ra chùm photon xạ trị bằng
hiệu ứng tạo bức xạ hãm khi chùm electron (đã được gia tốc) xuyên sâu vào trong
bia. Nếu điều trị bằng chùm electron thì không dùng bia.
- Bộ lọc phẳng (Flattening Filters): chùm photon được tạo ra là sự kết hợp
giữa bia và bộ lọc. Cường độ chùm photon tạo ra ở bia chủ yếu hướng về phía
trước. Vì vậy bộ lọc có tác dụng làm loe và làm phẳng chùm tia.
- Ống chuẩn trực (Collimator): thường được cấu tạo bởi hai cặp ngàm ( jaws)
để tạo hình dạng chùm bức xạ theo hình vuông hoặc hình chữ nhật. Các khối che
chắn (block) để tạo hình dạng trường chiếu thích hợp.
-

Hệ thống buồng ion hóa kiểm soát liều lượng (Monitor): đây là bộ phận quan

trọng, luôn luôn phải có trong đầu máy. Đặt nó càng gần bệnh nhân càng tốt, nhưng
vì phải đặt cố định nên được lắp ngay phía trên hệ thống collimator quay. Buồng
này có các chức năng: giúp cấp liều chiếu chính xác, theo dõi sự đồng nhất của liều
chiếu và hiệu chỉnh năng lượng. Khi sử dụng, nó phải

(1) buồng dọc

(2) buồng ngang

thỏa mãn các yêu cầu sau: theo dõi và kiểm soát việc
cấp liều cho cả chùm photon và electron.
Theo dõi suất liều cùng với cơ cấu bù (liều) tự động và
tức thời. Theo dõi sự đồng nhất (hay sự đối xứng) và độ
phẳng của chùm tia để thông báo cho hệ thống tự điều
chỉnh khi cần. Khi các yếu tố trên nằm ngoài giới hạn
cho phép, nó sẽ tự động kết thúc quá trình điều trị [16].
Hình 3.3 : Loại buồng multiplate ion chamber [31]


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×