Tải bản đầy đủ

Tiểu luận TU TUONG HCM x

1
1. Mở đầu:
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc
về những vấn đề cơ bản cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và
phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế
thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa
văn hóa nhân loại. Trong hệ thống các quan điểm đó, tư tưởng Hồ Chí Minh
về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh có một vị trí rất quan trọng. Đặc
biệt là quan điểm của Người về xây dựng Đảng Cộng sản cầm quyền.
Trong đời sống chính trị thế giới hiện đại, chế độ chính trị ở đa số các
nước liên quan đến hoạt động của các đảng chính trị, nhất là đảng cầm quyền.
Đảng cầm quyền là khái niệm gắn với quyền lực chính trị, cụ thể là việc “nắm
chính quyền”. Theo Lênin, đảng cầm quyền được hiểu là “đảng nắm chính
quyền” bằng những người đại diện của đảng trực tiếp thực hiện công việc
quản lý trong bộ máy nhà nước. Những cán bộ, đảng viên trong bộ máy nhà
nước vừa là người đại diện cho đảng, đồng thời là đại biểu của nhân dân thực
hiện công việc quản lý nhà nước, tức là hoạt động “cầm quyền”.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây dựng và củng cố
Đảng, coi đó là nhiệm vụ quan trọng của Đảng và mỗi đảng viên chân chính.
Quan điểm của Người về xây dựng một Đảng cầm quyền trong sạch, vững
mạnh thể hiện ở nhiều nội dung, từ giữ vững lập trường, tư tưởng của giai cấp

công nhân trong xây dựng đường lối, chiến lược và sách lược, đến xây dựng
tổ chức, bộ máy của Đảng và xây dựng đội ngũ cán bộ vừa hồng, vừa chuyên,
đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ trong mỗi giai đoạn cách mạng.
Nhằm mục đích nâng cao nhận thức, hiểu rõ hơn về ý nghĩa, tầm quan
trọng và những nội dung về xây dựng Đảng cộng sản cầm quyền, em lựa chọn
chủ đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng cộng sản cầm quyền” để
viết bài thu hoạch môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, chương trình hoàn chỉnh kiến
thức Cao cấp lý luận chính trị.


2
2. Nội dung:
2.1. Một số vấn đề lý luận về đảng cộng sản cầm quyền.
2.1.1. Khái niệm về đảng cộng sản cầm quyền.
Đảng cộng sản là “lãnh tụ” chính trị, là hình thức tổ chức cao nhất, bộ
phận tiên tiến nhất của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đảng cộng sản lấy chủ nghĩa
Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng;
lấy nguyên tắc tập trung dân chủ làm nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của
Đảng. Như vậy bản chất đảng cộng sản không tách rời với bản chất của giai
cấp công nhân và nhân dân lao động
Quy luật chung thì các đảng cộng sản trên thế giới được hình thành trên
cơ sở của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào công nhân.
Tuy nhiên, ở các nước thuộc địa nửa phong kiến, khi giai cấp công nhân chưa
đủ lớn mạnh thì sự ra đời của Đảng cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp giữa
chủ nghĩa Mác - Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Sự ra
đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một minh chứng rõ nét. Điều lệ Đảng đã
khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công
nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt
Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao
động và của dân tộc” và “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Như vậy, Đảng
Cộng sản Việt Nam vừa mang trong mình những đặc điểm chung của các
Đảng cộng sản trên thế giới; vừa mang những đặc điểm riêng biệt.
Theo V.I.Lênin, đảng cầm quyền được hiểu là “đảng nắm chính quyền”
bằng những người đại diện của đảng trực tiếp thực hiện công việc quản lý
trong bộ máy nhà nước và đảng đó phải có quyền lực chính trị mà cụ thể là ở
việc “nắm chính quyền” hay “nắm quyền lực nhà nước”.



3
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì đảng cầm quyền là một khái niệm gắn
với quyền lực; là đảng nắm chính quyền, nghĩa là đảng có quyền lực trong
thực tế. Tuy nhiên, Đảng ta là đội tiên phong không chỉ của giai cấp công
nhân mà là của cả dân tộc.
Như vậy có thể thấy đặc điểm chung của đảng cộng sản cầm quyền là
phải nắm được quyền lực nhà nước. Đảng phải có khả năng đề ra các mục
tiêu, thực hiện các nhiệm vụ giải pháp nhằm đem lại lợi ích cho giai cấp, lực
lượng mà đảng đại diện, đó là giai cấp công nhân và ở Việt Nam là giai cấp
công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.
2.1.2. Vấn đề đặt ra đối với đảng cộng sản cầm quyền.
Việc giành chính quyền chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ bước đầu của những
người cộng sản. Đảng phải nhận thức được những nguy cơ đe dọa tới vai trò
cầm quyền của Đảng, đó là: Sự chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế
lực thù địch; sai lầm về quan điểm, đường lối; sự suy thoái, biến chất của cán
bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo quản lý; sự mất lòng tin của quần
chúng nhân dân. Trong 4 nguy cơ trên thì nguy cơ của sự suy thoái, biến chất
của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo quản lý có vai trò quan
trọng, mang tính quyết định tới sự tồn tại của đảng. Vì “cán bộ là gốc của mọi
công việc”, mọi việc thành công hay thất bại đều do cán bộ “tốt” hay “xấu”.
Do đó cán bộ, đảng viên xấu - suy thoái, biến chất sẽ góp phần làm cho Đảng
suy thoái, biến chất, đánh mất vai trò và năng lực lãnh đạo của Đảng.
Nói về nguy cơ đối với đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ
rõ: một là, sai lầm về đường lối; hai là, sự suy thoái, biến chất của đội ngũ cán
bộ, đảng viên. Trong các văn kiện, Đảng ta đã xác định có 4 nguy cơ đối với
Đảng và cách mạng Việt Nam lúc này là: tụt hậu xa hơn về kinh tế so với
nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, do điểm xuất phát thấp; sai lầm về
đường lối, đi chệch định hướng xã hội chủ nghĩa; tệ nạn tham nhũng và tệ


4
quan liêu, lãng phí và nguy cơ “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch.
Trong 4 nguy cơ đó, thi nguy cơ sai lầm về đường lối, đi chệch định hướng xã
hội chủ nghĩa và sự suy thoái, biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên và tệ
nạn quan liêu, xa dân, tham nhũng, lãng phí có ý nghĩa rất quan trọng.
2.1.3. Bản chất và phương thức lãnh đạo của đảng.
- Về bản chất của đảng:
Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam
cho hành động của Đảng.
Mục tiêu, lý tưởng của Đảng là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp,
giải phóng con người; xây dựng xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, công
bằng, dân chủ, văn minh.
Đảng được tổ chức và xây dựng theo nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc
tập trung dân chủ. Ngoài ra còn có các nguyên tắc: tự phê bình và phê bình;
tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; kỷ luật nghiêm minh, tự giác và đoàn kết,
thống nhất trong đảng.
Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân, nhân dân lao
động và cả dân tộc Việt Nam.
- Về phương thức lãnh đạo của đảng:
Đảng lãnh đạo thông qua việc đề ra chủ trương, đường lối, được thể hiện
ở các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo của đảng như chỉ thị, nghị quyết…
Thông qua công tác cán bộ và vai trò tiền phong, gương mẫu của đảng
viên. Qua công tác cán bộ, Đảng sẽ giới thiệu những đảng viên ưu tú của
mình và bộ máy tổ chức của cơ quan, đơn vị, nhất là các vị trí lãnh đạo, quản
lý. Qua những đảng viên đó, đảng sẽ thực hiện ý chí, vai trò lãnh đạo của
mình. Sự lãnh đạo của đảng còn được thông qua sự gương mẫu của từng đảng
viên. Sự gương mẫu của đảng viên vừa là giúp đảng triển khai sự lãnh đạo
trực tiếp, vừa là sự thúc giục, hướng dẫn quần chúng nhân dân hành động theo
sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng.


5
Đảng lãnh đạo bằng phương thức kiểm tra, giám sát. Thông qua công tác
kiểm tra, giám sát đảng vừa triển khai chủ trương, đường lối, vừa kịp thời phát
hiện, chấn chỉnh những biểu hiện, hành động lệch lạc không đúng với chủ
trương, đường lối của đảng. Đảng ta luôn nhấn mạnh: “Lãnh đạo mà không
kiểm tra, giám sát thì coi như không có lãnh đạo”. Do đó cần phải luôn luôn
coi trọng và thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng.
2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đảng cầm quyền.
2.2.1. Xây dựng Đảng về tư tưởng, lý luận:
Đảng phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ
nam cho hành động của đảng. Để làm được điều này thì phải quan tâm huấn
luyện, bồi dưỡng chủ nghĩa Mác - Lênin cho đảng viên. Các cấp bộ đảng có
trách nhiệm tổ chức cho cán bộ, đảng viên học tập nâng cao nhận thức lý
luận. Phương châm của học và hiểu lý luận Mác - Lênin là học đi đôi với
hành, chống biểu hiện kém lý luận, lý luận suông; tiêu chí đánh giá mức độ
hiểu và vận dụng lý luận là sống có tình, có nghĩa.
Về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý: việc học tập chủ nghĩa Mác
- Lênin phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng. Việc vận dụng những
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin phải luôn luôn phù hợp với điều
kiện hoàn cảnh cụ thể. Chú ý học tập, kế thừa những kinh nghiệm tốt của các
đảng cộng sản khác, đồng thời phải tổng kết kinh nghiệm của mình để bổ
sung chủ nghĩa Mác - Lênin. Đảng ta phải tăng cường đấu tranh để bảo vệ sự
trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin.
2.2.2. Xây dựng đảng về chính trị:
Nội dung xây dựng đảng về chính trị bao gồm: xây dựng đường lối chính
trị, bảo vệ chính trị, xây dựng và thực hiện nghị quyết, xây dựng và phát triển
hệ tư tưởng chính trị, củng cố lập trường chính trị, nâng cao bản lĩnh chính trị...
Trong các nội dung trên, theo Hồ Chí Minh, đường lối chính trị là một vấn đề


6
cốt tử trong sự tồn tại và phát triển của đảng. Người cảnh báo nguy cơ sai lầm
về đường lối chính trị gây hậu quả nghiêm trọng đối với vận mệnh của Tổ
quốc, sinh mệnh chính trị của hàng triệu đảng viên và nhân dân lao động.
Đảng cần phải giáo dục đường lối, chính sách của đảng, thông tin thời sự
cho cán bộ, đảng viên để họ luôn luôn kiên định lập trường, giữ vững bản lĩnh
chính trị trong mọi hoàn cảnh.
2.2.3. Xây dựng đảng về tổ chức:
Về hệ thống tổ chức của đảng, Hồ Chí Minh khẳng định sức mạnh của
đảng bắt nguồn từ tổ chức. Hệ thống tổ chức của đảng từ Trung ương đến cơ
sở phải thật chặt chẽ, có tính kỷ luật cao. Sức mạnh các tổ chức liên quan chặt
chẽ với nhau; mỗi cấp độ tổ chức có chức năng, nhiệm vụ riêng.
Trong hệ thống tổ chức đảng, Hồ Chí Minh rất coi trọng vai trò của chi
bộ. Chi bộ là tổ chức hạt nhân, quyết định chất lượng lãnh đạo của đảng; là
môi trường tu dưỡng, rèn luyện và cũng là nơi giám sát đảng viên. Chi bộ có
vai trò quan trọng trong việc gắn kết giữa đảng với quần chúng nhân dân.
Về công tác cán bộ, Người luôn quan tâm xây dựng, rèn luyện đội ngũ
cán bộ, đảng viên có đức, có tài. Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ vị trí, vai trò
của người cán bộ trong sự nghiệp cách mạng. Theo Người: “Cán bộ là những
người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu
rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho
Chính phủ hiểu rõ, để đặt ra chính sách đúng. Vì vậy, cán bộ là cái gốc của
mọi công việc. Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”.
“Cất nhắc cán bộ, không nên làm như “giã gạo”. Nghĩa là trước khi cất
nhắc không xem xét kỹ. Khi cất nhắc rồi không giúp đỡ họ. Khi họ sai lầm thì
đẩy xuống, chờ lúc họ làm khá, lại cất nhắc lên”. Theo Người, “Đảng phải
nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải
trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung
của chúng ta”.


7
2.2.4. Xây dựng đảng về đạo đức:
Đảng là đạo đức, là văn minh, nhờ đó đảng mới trong sạch, vững mạnh.
Trong 12 điều xây dựng Đảng chân chính cách mạng, Người nhấn mạnh, Đảng
là một tổ chức cách mạng chứ không phải tổ chức để “làm quan phát tài”.
Không như vậy, Đảng sẽ rơi vào thoái hóa, biến dạng, tha hóa, xa dân, tự đánh
mất sức mạnh tự bảo vệ. Sức mạnh ấy từ dân mà ra, do dân gây dựng, phát
triển. Người cho rằng: Xây dựng Đảng về đạo đức là cơ hội để mỗi cán bộ,
đảng viên tự rèn luyện, giáo dục và tu dưỡng tốt hơn, hoàn thành các nhiệm vụ
mà Đảng và nhân dân giao phó, đặc biệt là giữ gìn phẩm chất đạo đức cách
mạng. Cán bộ, đảng viên không phải là thần thánh. Họ là con người, ai cũng có
hai mặt tốt - xấu, thiện - ác thường xuyên đấu tranh vối nhau. Trong điều kiện
môi trường tốt, nếu cán bộ, đảng viên nỗ lực tu dưỡng, phấn đấu, rèn luyện thì
mặt tốt, mặt thiện sẽ nổi lên, đẩy lùi mặt ác, mặt xấu và ngược lại.
Hồ Chí Minh đưa ra tiêu chí của một người cán bộ tốt, đó là người cán
bộ đó phải vừa có đức, vừa có tài. Trong đó, đạo đức là gốc, Người viết:
“Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây
phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức,
không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” .
2.3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đảng cộng sản cầm
quyền trong việc xây dựng Đảng bộ huyện Thạch Thành - Thanh Hoá.
Thạch Thành là huyện miền núi nằm ở phía Bắc của tỉnh Thanh Hóa.
Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Hòa Bình và Ninh Bình; phía Nam giáp
huyện Vĩnh Lộc; phía Đông giáp huyện Hà Trung; phía Tây và Tây Bắc giáp
huyện Cẩm Thủy, huyện Bá Thước. Huyện có diện tích đất tự nhiên là
55.811,31ha; dân số hiện nay trên 14 vạn người; có 26 xã và 02 thị trấn. Đảng
bộ huyện có 61 tổ chức cơ sở đảng, với trên 7 nghìn đảng viên. Trong những
năm qua Đảng bộ huyện đã triển khai nhiều nhiệm vụ, giải pháp nhằm xây
dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.


8
- Về công tác chính trị, tư tưởng:
Các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể thường xuyên đổi mới nội
dung, phương thức trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; các chỉ thị,
nghị quyết, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước được các
cấp ủy, chính quyền xây dựng chương trình hành động sát với thực tế để tổ
chức triển khai, quán triệt đến cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tăng cường
giáo dục Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tổ chức các hội nghị
thông tin về tình hình thời sự, tổ chức học tập các chuyên đề để định hướng tư
tưởng, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chủ chốt của huyện. Thường xuyên
tiến hành sơ kết, tổng kết các chỉ thị, nghị quyết để rút kinh nghiệm. Đổi mới,
nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ báo cáo viên từ huyện đến cơ sở.
Biên soạn, phát hành bản tin nội bộ; biên soạn lịch sử các ngành cấp huyện và
lịch sử Đảng bộ các xã, thị trấn để giáo dục truyền thống yêu nước, yêu quê
hương và ý chí tự lực, tự cường của nhân dân.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên được
quan tâm. Mở nhiều lớp bồi dưỡng kết nạp đảng và đảng viên mới; bồi dưỡng
nghiệp vụ công tác Đảng; các lớp sơ cấp, trung cấp lý luận chính trị; bồi
dưỡng về nghiệp vụ chuyên môn, quản lý nhà nước, quốc phòng - an ninh cho
cán bộ huyện và cơ sở. Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng Trung tâm
bồi dưỡng chính trị huyện đạt chuẩn. Đổi mới tuyên truyền trực quan, tích cực
xây dựng, biểu dương các mô hình mới, điển hình tiên tiến và phong trào thi
đua yêu nước trong các tầng lớp nhân dân.
- Về công tác tổ chức:
Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã ban hành Nghị quyết số 03-NQ/HU
ngày 14/7/2011 về “tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của
tổ chức cơ sở Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên huyện Thạch
Thành”; triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 04 của Ban Chấp hành


9
Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá về công tác cán bộ. Chú trọng việc sắp xếp kiện toàn
tổ chức cơ sở Đảng. Tập trung chấn chỉnh nề nếp và nâng cao chất lượng sinh
hoạt chi bộ. Duy trì việc tổ chức hội nghị bí thư chi bộ thôn, khu phố hàng
năm. Phân công cấp ủy viên các cấp về dự sinh hoạt và chỉ đạo ở các chi bộ.
Thực hiện nghiêm túc phân loại tổ chức cơ sở Đảng.
Công tác cán bộ được triển khai thực hiện tương đối đồng bộ. Chất
lượng quy hoạch cán bộ, công tác đánh giá cán bộ được nâng lên. Việc đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ đã đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ. Chất
lượng đội ngũ cán bộ được nâng lên; năm 2010, cán bộ có trình độ Đại học là
36,3%, đến năm 2015 đã đạt 95,5%.
Công tác bố trí, sắp xếp, điều động, luân chuyển cán bộ được thực hiện
đồng bộ từ huyện đến cơ sở, tổng số cán bộ điều động, luân chuyển trong
nhiệm kỳ 2010 - 2015 là 185 đồng chí, trong đó cán bộ thuộc diện Huyện ủy
quản lý là 98 đồng chí; thu hút 93 sinh viên mới tốt nghiệp Đại học chính quy
về công tác tại các xã, thị trấn. Công tác đảng viên được quan tâm chú trọng,
chất lượng đảng viên được nâng lên. Từ năm 2010 đến nay, trung bình mỗi
năm Đảng bộ huyện kết nạp được hơn 200 đảng viên mới. Công tác bảo vệ
chính trị nội bộ, công tác chính sách cán bộ được thực hiện tốt theo quy định.
- Về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bộ:
Các cấp uỷ Đảng từ huyện đến cơ sở có nhiều đổi mới; vận dụng sáng
tạo các Chủ trương, Nghị quyết của Đảng vào thực tế của địa phương để ban
hành các nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện trên các lĩnh vực. Việc triển
khai nghị quyết và xây dựng chương trình hành động được thực hiện nghiêm
túc, sáng tạo, phù hợp địa phương. Kịp thời ban hành các nghị quyết của
huyện để chỉ đạo thực hiện phù hợp với điều kiện, thời điểm trong mỗi giai
đoạn. Tăng cường kiểm tra, đôn đốc thực hiện với sơ kết, tổng kết rút kinh
nghiệm và nhân ra diện rộng những nhân tố mới, mô hình mới có hiệu quả.


10
Ban hành quy chế làm việc, xây dựng chương trình công tác toàn khoá,
hàng năm, hàng tháng đảm bảo khoa học, có trọng tâm, trọng điểm. Sắp xếp
thời gian khoa học, hợp lý giành nhiều thời gian đi cơ sở. Duy trì chế độ giao
ban giữa Thường trực Huyện ủy với Thường trực HĐND, UBND; định kỳ
làm việc với các ngành, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và cấp ủy cơ sở để
giúp cơ sở định hướng phát triển và tháo gỡ khó khăn. Lãnh đạo, chỉ đạo thực
hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở.
- Về học tập làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh:
Huyện đã triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các Chỉ thị của Bộ
Chính trị khóa XI, XII về học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh. Tập trung chỉ đạo các cơ quan, đơn vị tăng cường kiểm tra, giám sát,
giáo dục cán bộ, đảng viên. Triển khai nghiêm túc việc đăng ký học tập các chỉ
thị nghị quyết của Đảng, gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII
về công tác xây dựng Đảng và Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về học
tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Chỉ đạo người
đứng đầu cấp ủy, cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần gương mẫu.
Hàng năm, Ban Thường vụ Huyện ủy đều tổ chức học tập các chủ đề
cho cán bộ chủ chốt toàn huyện. Từ đó đã tác động tích cực đến tư tưởng,
nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân; nâng cao ý thức trách nhiệm
trong công việc của cá nhân, tập thể. Định kỳ tổ chức sơ kết chỉ thị gắn với
biểu dương điển hình tiên tiến; trong 4 năm (2011 đến 2015) đã biểu dương
2.041 tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến.
3. Kết luận:
Sau hơn 30 năm đổi mới toàn diện đất nước, bên cạnh những thành tựu
to lớn trên các lĩnh vực mà Đảng và nhân dân ta đã đạt được, xét về chủ quan,
Đảng ta cũng còn một số hạn chế, như tình trạng lạc hậu, yếu kém về lý luận;
cơ cấu tổ chức và bộ máy còn cồng kềnh, năng lực của đội ngũ cán bộ còn


11
những hạn chế trước yêu cầu của tình hình mới; tình trạng xa dân, quan liêu,
tham nhũng cũng là một vấn nạn trong Đảng.
Do vậy, để Đảng trở thành một Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh,
đáp ứng yêu cầu của cách mạng trong giai đoạn hiện nay, cần nghiên cứu, vận
dụng sâu sắc hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng; tiếp
tục hoàn thiện tổ chức bộ máy của Đảng theo nguyên tắc “tinh giảm, hiệu
quả”; bảo đảm mỗi bộ phận trong hệ thống đáp ứng đầy đủ yêu cầu, nhiệm vụ
của Đảng giao, phù hợp với tình hình thực tế; xây dựng kiện toàn đội ngũ cán
bộ theo hướng vừa “hồng” vừa “chuyên”; giỏi về lý luận, đồng thời tinh thông
nghiệp vụ, kỹ năng đối với từng chức danh, công việc cụ thể. Bổ sung, xây
dựng và hoàn thiện hệ thống quy định về cán bộ công chức, từ tuyển chọn,
đào tạo, bố trí, sử dụng, đánh giá, đãi ngộ cán bộ.
Việc xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam phải được thực hiện thường
xuyên, liên tục và lâu dài. Đảng phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh làm cơ sở, đồng thời căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, thực
tiễn của đất nước để triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ công tác xây
dựng Đảng. Đối với từng đồng chí đảng viên, nhất là đảng viên là cán bộ lãnh
đạo, quản lý thì cần phải nghiên cứu, nắm rõ và vận dụng sáng tạo tư tưởng
Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng vào trong việc thực hiện chức trách,
nhiệm vụ của mình; vận dụng vào quá trình thực hiện các nhiệm vụ chính trị
được tổ chức giao cho. Qua đó góp phần xây dựng Đảng ngày một trong sạch,
vững mạnh, giữ vững được sự tin yêu của quần chúng nhân dân./.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×