Tải bản đầy đủ

Phân tích hoạt động tín dụng thương mại ở Việt Nam

Nhập môn Tài chính - Tiền tệ Nhóm 08

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----- o0o -----

BÀI THẢO LUẬN
MÔN: NHẬP MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

Đề tài: Phân tích hoạt động tín dụng thương mại ở Việt Nam
Giáo viên hướng dẫn

:

Nhóm thực hiện

: 08

Lớp HP

: 1771EFIN2811


HÀ NỘI - 2017

MỤC LỤC
Trang

1


Nhập môn Tài chính - Tiền tệ Nhóm 08

LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại nền kinh tế thị trường trở thành một nền kinh tế của toàn cầu thì
doanh nghiệp là một chủ thể quan trọng trong nền kinh tế, là nơi quyết định về
các quá trình sản xuất được đưa ra. Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp phải
sử dụng các đầu vào để sản xuất ra đầu ra (sản phẩm, dịch vụ). Tại sao các
doanh nghiệp lại cần vay vốn trong quá trình kinh doanh? Thứ nhất, quá trình
kinh doanh đòi hỏi phải có khoảng cách thời gian từ khi mua nguyên liệu để đưa
vào sản xuất cho đến khi bán được sản phẩm và thu tiền bán hàng. Trong trường
hợp này doanh nghiệp cần vốn ngắn hạn đồ mua nguyên vật liệu và đáp ứng các
chi dùng thường ngày khác. Thứ hai, doanh nghiệp cần đầu tư mua sắm máy
móc để mở rộng qui mô sán xuất. Trong trường hợp này doanh nghiệp cần các
nguồn vốn dài hạn hơn để có thời gian thu hồi vốn. Trong trường hợp các nguồn
vốn nội tại của doanh nghiệp không đáp ứng được nhu cầu (ngắn và dài hạn) thì
doanh nghiệp cần vay vốn từ bên ngoài. Nhưng trong tình hình nền kinh tế thế
giới và trong nước vừa trải qua cuộc khủng hoảng tài chính, vấn để tiếp cận
nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng đối với doanh nghiệp bị hạn chế. Mặc dù
Nhà nước chủ trương kiềm chế lãi suất, nhưng lãi suất hiện nay vẫn ở mức cao
nên tình hình vay vốn ngân hàng của doanh nghiệp từ đầu năm 2010 tới nay rất
khó khăn. Doanh nghiệp hiện tại vẫn phải vay vốn với lãi suất từ 14%/năm trở
lên. Đây là một gánh nặng, vì các chính sách mà Chính phù đã ban hành trong
năm 2009 nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, như hỗ trợ 4% lãi suất, miễn thuế thu nhập
doanh nghiệp, giảm 50% thuế suất thuế giá trị gia tăng... đã hết hạn từ cuối năm
2009. Theo tổng kết sơ bộ 6 tháng đầu năm 2010 cho thấy, số doanh nghiệp tiếp
2


Nhập môn Tài chính - Tiền tệ Nhóm 08

cận vốn vay chưa tới 50% số hồ sơ mà các doanh nghiệp có nhu cầu vay. Do đó,
việc tiếp cận nguồn tín dụng thương mại được các nhà kinh doanh quan tâm


nhiều hơn. Quan hệ tín dụng thương mại được hình thành trong điều kiện thành
phẩm của doanh nghiệp thừa vốn là nguyên, nhiên, vật liệu của doanh nghiệp
thiếu vốn, nếu quan hệ mua bán chịu được thực hiện trong một thời hạn nhất
định thì cả hai đều có lợi. Vì có sự khác biệt về chu kỳ sàn xuất kinh doanh giữa
các doanh nghiệp, nên việc thừa vốn ở doanh nghiệp này và thiếu vốn ở doanh
nghiệp khác là hiện tượng phổ biến và có tính tất yếu.

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. KHÁI NIỆM
Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của
nền kinh tế hàng hóa. Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình
thái kinh tế - xã hội. Quan hệ tín dụng được phát sinh ngay từ
thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã. Khi chế độ
tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng là đồng thời xuất hiện
quan hệ trao đổi hàng hóa. Thời kỳ này, tín dụng được thực hiện
dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa. Xuất hiện sở
hữu tư nhân tư liệu sản xuất, làm cho xã hội có sự phân hóa:
giàu, nghèo, người nắm quyền lực, người không có gì....Khi
người nghèo gặp phải những khó khăn không thể tránh thì buộc
họ phải đi vay, mà những người giàu thì câu kết với nhau để ấn
định lãi suất cao, chính vì thế, tín dụng nặng lãi ra đời.

3


Nhập môn Tài chính - Tiền tệ Nhóm 08

Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp
dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa. Đây là quan hệ tín dụng
giữa các nhà sản xuất - kinh doanh được thực hiện dưới hình
thức mua bán, bán chịu hàng hóa. Hành vi mua bán chịu hàng
hóa được xem là hình thức tín dụng - người bán chuyển giao cho
người mua quyền sử dụng vốn tạm thời trong một thời gian nhất
định, và khi đến thời hạn đã được thỏa thuận, người mua phải
hoàn lại vốn cho người bán dưới hình thức tiền tệ và cả phần lãi
cho người bán chịu.

1.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI
- Vốn cho vay theo tín dụng thương mại là hàng hóa hay một bộ
phận của vốn sản xuất chuẩn bị chuyển hóa thành tiền, chưa
phải là tiền nhàn rỗi.
- Người cho vay (chủ nợ) và người đi vay (con nợ) đều là những
doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và lưu
thông hàng hóa.
- Khối lượng tín dụng lớn hay nhỏ phụ thuộc vào tổng giá trị
của khối lượng hàng hóa được đưa ra mua bán chịu.
- Chủ thể tham gia là các doanh nghiệp, thông qua việc trao
đổi hàng hóa dịch vụ,thông thường không có khâu trung gian
đứng giữa người sử dụng vốn và người có vốn.
- Tín dụng thương mại phát triển và vận động theo chu kỳ sản
xuất kinh doanh và góp phần làm phát triển sản xuất kinh
doanh do nó rút ngắn chu kỳ sản xuất kinh doanh, giảm chi phí
sản xuất kinh doanh  quy mô bị hạn chế và thông thường là tín
dụng ngắn hạn.
4


Nhập môn Tài chính - Tiền tệ Nhóm 08

- Tín dụng thương mại thông thường không mất chi phí sử dụng
vốn (cost of capital) do hoạt động cấp tín dụng không có lãi
trong một khoảng thời gian nhất định, một số trường hợp bên
nợ còn được hưởng lãi chiết khấu trả sớm.
Hình thức thể hiện thông thường của tín dụng thương mại là hợp
đồng trả chậm, thương phiếu (hối phiếu và lệnh phiếu). Trong
đó, hối phiếu là giấy đòi tiền vô điều kiện do người bán phát
hành, lệnh phiếu là giấy cam kết trả tiền vô điều kiện do người
mua phát hành. Một điều khoản tín dụng thương mại mà các
doanh nghiệp thường thỏa thuận khi sử dụng hình thức tín dụng
này là: “2/10 Net 30” có nghĩa là nếu trả tiền mặt trong vòng 10
ngày kể từ khi mua hàng, người mua sẽ được chiết khấu 2%
trên giá cả hàng bán, người mua sẽ phải trả toàn bộ giá bán sau
10 ngày và được trả chậm trong vòng 30 ngày.

1.3. CÔNG CỤ LƯU THÔNG CỦA TÍN DỤNG
THƯƠNG MẠI
Để đảm bảo người mua chịu trả nợ đúng hạn, bên cạnh sự tin
tưởng, người bán chịu còn đòi hỏi phải có một chứng cứ pháp lý,
đó chính là tờ giấy chứng nhận quan hệ mua bán chịu nêu trên,
tờ giấy chứng nhận này có thể do chủ nợ lập để đòi tiền, hoặc
do con nợ lập để cam kết trả tiền, nó được gọi là “kỳ phiếu
thương mại” hay “thương phiếu”. Vì vậy, thương phiếu ra đời
trên cơ sở quan hệ mua bán chịu giữa các chủ thể trong nền
kinh tế. Trong quá trình phát triển, thương phiếu dần dần biến
đổi tính chất, từ một giấy chứng nhận nợ thông thường trở
thành một công cụ lưu thông tín dụng có thể thực hiện được
5


Nhập môn Tài chính - Tiền tệ Nhóm 08

chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán
thay thế cho tiền mặt trong nền kinh tế.

1.3.1. Đặc điểm của thương phiếu:
Dựa trên cơ sở người lập: thương phiếu tồn tại dưới 2 hình
thức là hối phiếu và lệnh phiếu:
- Hối phiếu: là chứng chỉ có giá do người bán chịu lập, yêu cầu
người mua chịu trả một số tiền xác định vào một thời gian và ở
một địa điểm nhất định cho người thụ hưởng.
Nội dung hối phiếu:
+ Tiêu đề :”Lệnh phiếu “ ghi ở bề mặt của lệnh phiếu
+ Một cam kết vô điều kiện để thanh toán một số tiền nhất
định
+ Thời hạn trả tiền.
+ Địa điểm trả tiền
+ Tên người hưởng lợi hoặc tên của người ra lệnh thực hiện
việc thanh toán
+ Địa điểm,ngày ký phát lệnh phiếu
+ Chữ ký người ký phát lệnh phiếu.
- Lệnh phiếu: là chứng chỉ có giá do người mua chịu lập, cam
kết trả một số tiền xác định trong một thời gian và ở một địa
điểm nhất định cho người thụ hưởng.
Trên lệnh phiếu kì hạn được quy định rõ

6


Nhập môn Tài chính - Tiền tệ Nhóm 08

Một lệnh phiếu có thể do một hay nhiều người ký phát cam kết
thanh toán cho một hay nhiều người hưởng lợi. Lệnh phiếu cần
có sự bảo lãnh của ngân hàng hoặc công ty tài chính để đảm
bảo khả năng thanh toán của lệnh phiếu.
Nội dung lệnh phiếu:
+ Tiêu đề :”Lệnh phiếu “ ghi ở bề mặt của lệnh phiếu
+ Một cam kết vô điều kiện để thanh toán một số tiền nhất
định
+ Thời hạn trả tiền.
+ Địa điểm trả tiền
+ Tên người hưởng lợi hoặc tên của người ra lệnh thực hiện việc
thanh toán
+ Địa điểm,ngày ký phát lệnh phiếu
+ Chữ ký người ký phát lệnh phiếu.
Căn cứ vào tính chất chuyển nhượng: có thể phân chia thương
phiếu thành ba loại
- Thương phiếu vô danh:là loại thương phiếu không ghi tên
người hưởng thụ.Ai cầm thương phiếu một cách hợp pháp người
đó là người hưởng thụ.
- Thương phiếu ký danh:là loại thương phiếu có ghi tên người
hưởng thụ và người này được quyền chuyển nhượng cho người
khác.

7


Nhập môn Tài chính - Tiền tệ Nhóm 08

- Thương phiếu định danh: cũng là thương phiếu có ghi tên của
người hưởng thụ nhưng khác với thương phiếu ký danh là không
được chuyển nhượng cho người khác

1.3.2. Một số điểm khác nhau giữa hối phiếu và lệnh
phiếu:
- Hối phiếu do chủ nợ lập, còn lệnh phiếu do người thiếu nợ lập
- Hối phiếu thông thường có 3 người quan hệ với nhau: Người
phát hành hối phiếu (người phát lệnh), người trả tiền theo hối
phiếu (người thu lệnh) và người hưởng thụ.
- lệnh phiếu thường có 2 người liên hệ: người phát lệnh phiếu và
người hưởng thụ.
- Hối phiếu thường gồm hai bản, lệnh phiếu chỉ có một bản
chính do con nợ phát ra để chuyển cho người hưởng lợi lệnh
phiếu đó.

1.3.3. Tính chất của thương phiếu:
- Tính trừu tượng: Trên thương phiếu không ghi cụ thể nguyên
nhân phát sinh khoản nợ mà chỉ ghi các thông tin về số tiền
phải trả, thời hạn trả tiền và người trả tiền.
- Tính bắt buộc: Qui định người trả tiền phải thanh toán cho
người thụ hưởng đúng hạn, không được phép từ chối hoặc trì
hoãn việc trả tiền.
- Tính lưu thông: Thương phiếu được chuyển nhượng từ người
thụ hưởng sang người khác bằng phương pháp ký hậu, nó có
thể chuyển hoá ra tiền khi mang đến ngân hàng xin chiết khấu
hoặc cầm cố. tính chất này khiến thương phiếu trở thành một
8


Nhập môn Tài chính - Tiền tệ Nhóm 08

loại phương tiện thanh toán thay cho tiền trong thời gian hiệu
lực và mệnh giá thương phiếu.

1.3.4. Ích lợi của thương phiếu:
- Thứ nhất, nhờ vào tính chất lưu thông, thương phiếu đã trở
thành một công cụ lưu thông tín dụng thay thế tiền mặt, tiết
kiệm tiền mặt và góp phần ổn định tiền tệ.
- Thứ hai, nó còn là một cơ sở pháp lý trong quan hệ mua bán
chịu, bảo vệ quyền lợi của các chủ thể trong tín dụng thương
mại, loại bỏ được tình trạng nợ nần dây dưa giữa các doanh
nghiệp.
- Thứ ba, thương phiếu là loại tài sản đảm bảo chắc chắn khi
ngân hàng nhận chiết khấu hay nhận cho vay cầm cố. Hơn thế
nữa, tài sản đảm bảo này lại có tính thanh khoản cao vì ngân
hàng có thể mang đi tái chiết khấu hoặc tái cầm cố tại NHNN để
khôi phục nguồn vốn của mình.
- Thứ tư, thương phiếu bổ sung hàng hoá cho thị trường mở, tạo
điều kiện cho ngân hàng trung ương thực hiện tốt công tác điều
hoà khối tiền trong lưu thông. Thứ năm, trong trường hợp người
đi vay vốn ngân hàng nhận nợ bằng lệnh phiếu, khi cần thiết,
ngân hàng có thể bán khoản nợ này để thu nợ trước hạn bằng
cách chuyển nhượng lệnh phiếu cho ngân hàng khác. Đây là
một giải pháp chứng khoán hoá các khoản cho vay của ngân
hàng.
- Và cuối cùng, thông qua nghiệp vụ bảo lãnh và thu hộ thương
phiếu, sẽ giúp ngân hàng tăng thu nhập nhưng không tăng rủi
ro trong hoạt động kinh doanh của mình.
9


Nhập môn Tài chính - Tiền tệ Nhóm 08

1.3.5. Nhược điểm của thương phiếu
- Nhược điểm thứ nhất, do tính trừu tượng của thương phiếu, sẽ
dẫn đến tình trạng hai doanh nghiệp thông đồng nhau lập ra
thương phiếu khống (thương phiếu không phát sinh từ quan hệ
mua bán chịu) để mang đến ngân hàng xin chiết khấu hoặc
cầm cố. Chính điều này đã làm cho cơ sở đảm bảo của thương
phiếu là tín dụng hàng hoá không thể tồn tại, số tiền cho vay
được ngân hàng phát ra không có cơ sở đảm bảo.
- Nhược điểm thứ hai, với những nhược điểm sẳn có của tín
dụng thương mại, khó có thể mở rộng qui mô (khối lượng) và
thời gian mua bán chịu hàng hoá trong trường hợp nhu cầu mua
chịu quá lớn và thời gian quá lâu.
- Nhược điểm thứ ba, quan hệ mua bán chịu này chỉ có thể phát
sinh giữa những doanh nghiệp tín nhiệm, có giao dịch thường
xuyên với nhau.
- Tuy vậy, do tín dụng thương mại tồn tại song song với tín dụng
ngân hàng nên những khiếm khuyết nêu trên của tín dụng
thương mại và của sự vận dụng thương phiếu sẽ giảm đến mức
xem như không đáng kể.

1.4. VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI
- Tăng nguồn vốn kinh doanh: trong tín dụng thương mại, các
nhà sản xuất có thể tận dụng được nguồn vốn nhàn rỗi để sản
xuất, làm tăng nguồn vốn kinh doanh trong thời gian ngắn, với
chi phí thấp hoặc chi phí có thể bằng không, tùy theo mối quan
hệ giữa người cấp tín dụng và người sử dụng nguồn vốn đó.
- Tiết kiệm chi phí và lưu thông tiền tệ
10


Nhập môn Tài chính - Tiền tệ Nhóm 08

Sử dụng vốn tín dụng thương mại giúp cho các nhà sản xuất
giảm chi phí sử dụng vốn. Để đáp ứng nhu cầu vốn, thay vì đi
vay tại các ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác với mức
lãi suất cao, thủ tục phức tạp, phát sinh nhiều chi phi trung gian
từ việc vay vốn, thì nhà sản xuất có thể mua chịu nguyên vật
liệu, hay nhập hàng từ nhà cung ứng với chi phí trả sau và có
mức chiết khấu hợp lí thỏa thuận được. Việc sử dụng nguồn vốn
tín dụng không chỉ có lợi cho nhà sản xuất mà còn có lợi cho
kinh tế về mặt vĩ mô, khi không phải cung ứng thêm lượng tiền
ra lưu thông. Giúp cho ngân hàng trung ương thực hiện chính
sách tiền tệ dễ dàng hơn.
- Đẩy nhanh tốc độ chu chuyển hàng hóa
Trong nền kinh tế thị trường hiện tượng thừa thiếu vốn ở các
doanh nghiệp thường xuyên xảy ra, vì vậy hoạt động của tín
dụng thương mai một mặt đáp ứng được nhu cầu vốn của các
doanh nghiệp tạm thời thiếu đồng thời giúp cho các doanh
nghiệp tiêu thụ được hàng hóa của mình. Nguồn vốn tín dụng
thương mại giúp đáp ứng nhu cầu vốn trong thời vụ sản xuất
cao điểm, đáp ứng nhu cầu thị trường. Đồng thời dưới cơ chế
hoạt động của tín dụng thương mại, nhà sản xuất có thể bán
được hàng hóa của mình, giải quyết tình trạng tồn kho, và các
chi phí có liên quan đến trữ hàng hóa. Người sản xuất được cấp
tín dụng thương mại sẽ bắt đầu chu kì sản xuất mới mà không
cần chờ đợi đến khi có vốn mới. Như vậy, tín dụng thương mại
đã huy động được nguồn vốn nhàn rỗi vào vòng quay sản xuất,
làm sản xuất hiệu quả hơn, đồng tiền có khả năng sinh lời nhiều
hơn. Trong sản xuất kinh doanh, tín dụng thương mại là một
11


Nhập môn Tài chính - Tiền tệ Nhóm 08

phần không thể thiếu nhằm cung ứng vốn. Qua đó, còn liên kết
các nhà sản xuất với nhau, bởi mối quan hệ của nhà sản xuất
được hiểu là đầu ra của người này là đầu vào của người kia.
- Khuyến khích sản xuất kinh doanh
Tín dụng thương mại dựa trên sự tín nhiệm giữa các nhà sản
xuất với nhau, hỗ trợ nhau trong quá trình sản xuất. Thực tế,
các nhà sản xuất sử dụng vốn tín dụng vốn thương mại trong
hầu hết các trường hợp mua nguyên vật liệu, nhập hàng, tiêu
thụ sản xuất,… thay vì đi vay tại các ngân hàng với thủ tục
phức tạp, lãi suất cao. Trong những giai đoạn lạm phát, chính
sách thắt chặt tiền tệ làm cho nguồn vốn đến tay các doanh
nghiệp khó khăn hơn thì tín dụng thương mại với cam kết đơn
giản giữa các doanh nghiệp, cùng chi phí sử dụng vốn cực thấp
lại là biện pháp vốn tối ưu cho các doanh nghiệp, giúp duy trì
sản xuất kinh doanh. Tín dụng thương mại được xem là hình
thức tài trợ rẻ tiền, rất linh hoạt trong kinh doanh. Bên cạnh đó,
nó còn tạo điều kiện mở rộng mối quan hệ với đối tác lâu bền
giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế.

1.5. ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG
MẠI
1.5.1. Ưu điểm
- Tín dụng thương mại góp phần đẩy nhanh quá trình sản xuất
và lưu thông hàng hóa, làm cho chu kỳ sản xuất rút ngắn lại.

12


Nhập môn Tài chính - Tiền tệ Nhóm 08

- Tín dụng thương mại tham gia vào quá trình điều tiết vốn giữa
các doanh nghiệp một cách trực tiếp mà không thông qua bất
kỳ cơ quan trung gian nào.
- Tín dụng thương mại được cấp giữa các doanh nghiệp quen
biết, uy tín nên có lợi thế là thủ tục nhanh, gọn, đáp ứng nhu
cầu vốn ngắn hạn và góp phần đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản
phẩm của các doanh nghiệp.
- Tín dụng thương mại góp phần làm giảm khối lượng tiền mặt
trong lưu thông, làm giảm chi phí lưu thông xã hội.
- Tạo điều kiện mở rộng hoạt động của tín dụng ngân hàng
thông qua nghiệp vụ chiết khấu, bảo lãnh và thu hộ thương
phiếu, sẽ giúp ngân hàng tăng thu nhập nhưng ít rủi ro trong
hoạt động kinh doanh của mình.
- Trong trường hợp người đi vay vốn ngân hàng nhận nợ bằng
lệnh phiếu, khi cần thiết, ngân hàng có thể bán khoản nợ này
để thu nợ trước hạn bằng cách chuyển nhượng lệnh phiếu cho
ngân hàng khác. Đây là một giải pháp chứng khoán hoá các
khoản cho vay của ngân hàng.
- Tín dụng thương mại tạo ra thương phiếu bổ sung hàng hoá
cho thị trường mở, tạo điều kiện cho ngân hàng trung ương thực
hiện tốt công tác điều hoà khối tiền trong lưu thông.
- Tạo thuận lợi với doanh nghiệp có quan hệ thường xuyên với
nhà cung cấp

13


Nhập môn Tài chính - Tiền tệ Nhóm 08

1.5.2. Nhược điểm
Về quy mô: lượng giá trị cho vay bị hạn chế do tín dụng thương
mại được cấp bằng hàng hoá nên doanh nghiệp cho vay chỉ có
thể cung cấp được cho một số doanh nghiệp nhất định - những
doanh nghiệp cần đúng thứ hàng hoá đó để phục vụ Sản xuất
hoặc bán ra. Hơn nữa, Tín dụng thương mại là do các nhà
doanh nghiệp cung cấp và họ chỉ cung cấp với khả năng giới
hạn của họ. Nếu người đi vay có nhu cầu cao hơn thì người cho
vay không thể đáp ứng được.
Về phạm vi: Phạm vi hẹp, chỉ xảy ra giữa các doanh nghiệp,
hơn nữa là chỉ thực hiện được giữa các doanh nghiệp quen
biết, tín nhiệm lẫn nhau và chỉ đầu tư một chiều, không có
quan hệ cho vay ngược lại.
Về thời gian: thời hạn tín dụng ngắn thường là dưới 1 năm,
điều kiện kinh doanh và chu kỳ sản xuất của các doanh nghiệp
có thể không phù hợp nhau, do vậy khi thời gian mà doanh
nghiệp cho vay muốn cung cấp không phù hợp với nhu cầu của
doanh nghiệp cần đi vay thì tín dụng thương mại không thể
xảy ra.
- Là loại tín dụng không có đảm bảo nên rủi ro dễ phát sinh.
- Do tính trừu tượng của thương phiếu, sẽ dẫn đến tình trạng
hai doanh nghiệp thông đồng nhau lập ra thương phiếu khống
(thương phiếu không phát sinh từ quan hệ mua bán chịu) để
mang đến ngân hàng xin chiết khấu hoặc cầm cố. Chính điều
này đã làm cho cơ sở đảm bảo của thương phiếu là tín dụng
hàng hoá không thể tồn tại, số tiền cho vay được ngân hàng
phát ra không có cơ sở đảm bảo.
14


Nhập môn Tài chính - Tiền tệ Nhóm 08

- Các chủ thể tham gia vào nghiệp vụ thương phiếu (Người bán
chịu hàng hoá, người được chuyển nhượng thương phiếu, ngân
hàng bảo lãnh…) chưa thật sự có lòng tin đối với thương phiếu
và khả năng chuyển hoá ra
- Pháp lệnh thương phiếu vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng nên
tính khả thi vẫn còn kém.
Tín dụng quốc tế có rủi ro do bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của
tỷ giá hối đoái quốc tế.

1.6. HẠN CHẾ CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI
- Hạn chế về quy mô tín dụng: Tín dụng thương mại là do các
nhà doanh nghiệp cung cấp và họ chỉ cung cấp với khả năng
giới hạn của họ. Nếu người đi vay có nhu cầu cao hơn thì người
cho vay không thể đáp ứng được.
- Hạn chế về thời hạn cho vay: Điều kiện kinh doanh và chu kỳ
sản xuất của một doanh nghiệp có thể không phù hợp với nhau,
vì vậy mà khi thời hạn mà người cho vay muốn cung cấp và
người đi vay có nhu cầu không phù hợp nhau thì tín dụng này
không thể xảy ra. Nhưng nhờ phương pháp cấp tín dụng của
ngân hàng dưới hình thức chiết khấu đã giải quyết được một
phần hạn chế này.
- Hạn chế về phương hướng: Tín dụng thương mại được cung
cấp dưới hình thức hàng hoá, vì vậy mà doanh nghiệp chỉ cung
cấp được tín dụng cho một số doanh nghiệp nhất định - những
doanh nghiệp cần hàng hoá đó để sử dụng cho sản xuất hoặc
dự trữ để bán ra. Ngoài ra việc cấp tín dụng thương mại chỉ
được thực hiện trên cơ sở tín nhiệm lẫn nhau.
15


Nhập môn Tài chính - Tiền tệ Nhóm 08

II. THỰC TRẠNG TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI Ở
VIỆT NAM
2.1. Tình hình tín dụng thương mại ở Việt Nam
Do đặc điểm tuần hoàn, lưu chuyển vốn khác nhau, trong những
đơn vị sản xuất kinh doanh, nên sảy ra sự không ăn khớp giữa
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đây là tình trạng phổ biến của
doanh nghiệp kinh daonh sản xuất và tiêu thị sản phẩm đây là
tình trạng phổ biến ở Việt Nam hiện nay. Tại một thời điểm,
trong khi một số nhà sản xuất có hàng hóa muốn bán thì một só
khác lại muốn mua hàng hóa đó nhưng không có tiền. Từ đó
phát sinh việc mua bán chịu giữa các đối tượng này ngày càng
phổ biến hơn. Đây cũng chính là cơ sợ của tín dụng thương mại.
Và tín dụng thương mại đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng
trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt
Nam.
Ngay từ khi xuất hiện thương phiếu được xem là một phương
tiện thanh toán hữu hiệu, đáp ứng các nhu cầu thanh toán trong
các trường hợp có sự khác biệt về địa lý giữa nơi mua và nơi
bán. Và hiện nay, thương phiếu vẫn giữ vai trò quan trọng trong
hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện
nay.
Bên canh vai trò là một phương tiện thanh toán, thưởng phiếu
còn được xem là một công cụ dụng cụ tín dụng, sở dĩ có vai trò
này bởi vì các doanh nghiệp kinh doanh sản xuất thực hiện các
hoạt động chiết khấu trên thương phiếu. Tín dụng chiết khấu
thương phiếu được hiểu là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, mà
16


Nhập môn Tài chính - Tiền tệ Nhóm 08

thực chất của hình thức này là ngân hàng tín hành mua lại các
thương phiếu đang trong thời kỳ chưa đến hạn thanh toán và
cung ứng một khoản vốn cho các thương nhân để họ có điều
kiện tiếp tục sản xuất. Khi kết thúc thời hạn chiếu khấu, ngân
hàng sẽ đòi tiền ở người có nhiệm vụ trả tiền thương phiếu.
Tín dụng thương mại ở nước ta

chưa được thừa nhận chính

thức, hoạt động bất hợp pháp, đầy rủi ro vì quyền lợi của người
kinh doanh chưa được đảm bảo dẫn đến sự phá sản hàng loạt
khi một khâu kinh doanh đổ bể. Tín dụng thương mại ở nước ta
hiện nay chỉ dựa trên cơ sở tin tưởng lẫn nhau giữa người muangười bán dẫn đến tình trạng quỵt nợ, nợ dây dưa giữa các
doanh nghiêp.

2.2. NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN CỦA TÍN
DỤNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
• Khó khăn
- Các doanh nghiệp, các nhà sản xuất kinh doanh hiểu biết còn
rất ít hoặc còn hiểu mơ hồ về công cụ chuyển nhượng
- Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa có những thông tư hướng dẫn
cụ thể về việc thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến thương
phiếu, chưa ban hành mẫu biểu cụ thể cho thương phiếu để nó
có thể trở thành một công cụ lưu thông tín dụng pháp định có
thể thay thế cho tiền mặt trong lưu thông. Cũng như pháp luật
thương mại chưa được chú trọng. Điều này chỉ thật sự được đổi
mới và phát triển từ khi Đảng và Nhà nước chuyển hướng phát
17


Nhập môn Tài chính - Tiền tệ Nhóm 08

triển nền kinh tế nước ta theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong hoàn
cảnh đó, thương phiếu và pháp luật thương phiếu chỉ được đề
cập trong những năm gần đây: Luật Thương Mại 1997. Pháp
lệnh Thương phiếu được UBTVQH thông qua ngày 24/12/1999,
có hiệu lực từ ngày 01/07/2000, và Nghị định số 32/NĐ-CP của
Chính phủ ngày 05/07/2001 (gọi tắt là NĐ 32) hướng dẫn chi
tiết thi hành pháp lệnh thương phiếu. Tuy nhiên, những văn bản
pháp luật vừa nêu vẫn được coi là chưa đủ để có một môi
trường pháp lý thuận tiện cho thương phiếu hoạt động ích lợi
của thương phiếu.
- Pha lệnh thương phiếu vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng nên
tính khả thi vẫn. còn kém. Chính vì những khó khăn trên mà
trong thời gian qua, thương phiếu và các nghiệp vụ liên quan
đến thương phiếu vẫn chưa đi vào đời sống kinh tế ở Việt Nam.
- Chưa có hiểu biết đầy đủ về TDTM quốc tế Chúng ta tiếp cận
và sử dụng TDTM quốc tế như là một công cụ hiệu quả cho xuất
nhập khẩu mà chưa hiểu rõ bản chất của nó. Thêm vào đó,
chúng ta thiếu một hệ thống pháp luật cụ thể và hiệu quả, dẫn
đến những rủi ro cho nền kinh tế. Do ham lợi trước mắt, các
ngân hàng và doanh nghiệp làm sai quy tắc. Do thiếu kiến thức,
nhiều L/c từ chối thanh toán do bộ chứng từ không hợp lệ.
- Các chủ thể tham gia vào nghiệp vụ thương phiếu (Người bán
chịu hàng hoá, người được chuyển nhượng thương phiếu, ngân
hàng bảo lãnh…) chưa thật sự có lòng tin đối với thương phiếu
và khả năng chuyển hoá ra tiền của thương phiếu khi đến hạn.
18


Nhập môn Tài chính - Tiền tệ Nhóm 08

• Thuận lợi
- Do đặc điểm tình hình kinh tế, số lượng doanh nghiệp ở Việt
Nam tăng mở rộng qui mô.
- Gia nhập ASIAN, AFTA, APEC, WTO,…mở rộng quan hệ giao lưu
thương mại. Đòi hỏi doanh nghiệp tìm hiểu, sử dụng các phương
thức, phương tiện thanh toán phổ biến trong quan hệ thương
mại quốc tế, tín dụng thương mại quốc tế như séc, hối phiếu đòi
nợ…
Đảng Nhà nước quan tâm và có nhiều giải pháp để phát triển
hoạt động TDTM
- Việc ban hành luật mới vế công cụ chuyển nhượng ở Việt Nam
tạo cơ sở pháp lí cho hoạt động TDTM. Thúc đẩy giao lưu thương
mại thông qua công cụ thanh toán, tín dụng mới cho nền kinh
tế tăng khả năng lưu thông của các công cụ chuyển nhượng.

2.3. CÁCH KHẮC PHỤC VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN TÍN
DỤNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
2.3.1. Các giải pháp khắc phục khó khăn
- Hợp pháp hóa TDTM nên làm dần từng bước cùng với sự hoàn
thiện hệ thống luật. Cụ thể:
+ Sớm ban hành pháp luật về thương phiếu, hướng dẫn cụ
thể cho doanh nghiệp cùng các thương nhân biết rõ tính chất
của từng loại thương phiếu hay nhận diện được thương phiếu,
đưa TDTM vào quỹ đạo thanh toán sòng phẳng.

19


Nhập môn Tài chính - Tiền tệ Nhóm 08

+ Ban hành pháp lệnh chỉnh nghiệp vụ chiết khấu thương
phiếu từ điều 21 đến 24 quyết định 198 quy định chứng từ có
giá chung, việc hướng dẫn thủ tục nghiệp vụ, hạch toán kế
toán, chiết khấu chưa đầy đủ. Để thi hành điều luật 57 luật
các tổ chức tín dụng, NHNN nên tách ra xác lập riêng thể lệ
chiết khấu, cầm cố thương phiếu.
+ Chống thất thu thuế. Việc giao dịch trong TDTM không thể
hiện rõ trên thương phiếu, dẫn đến nhà nước không thu được
thuế: nên tiến hành thu thuế trên giá trị thương phiếu.
+ Thực hiện kiểm toán nội bộ giúp điều hành thanh tra, giám
sát hoạt động hối phiếu của các ngân hàng thành viên.
- Hiện đại hóa hệ thống ngân hàng
+ Nâng cao nghiệp vụ của ngân hàng nhất là các nghiệp vụ
chiết khấu, đảm bảo cho TDTM thuận lợi, đồng thời phải có cơ
chế để các doanh nghiệp không thể chiếm dụng vốn lẫn nhau.
+ Sử dụng nhiều loại cho vay để kiểm soát chặt chẽ ảnh
hưởng của TDTM. Có nhiều loại cho vay với TDTM như cho vay
chiết khấu thương cho vay theo chứng từ gửi hàng theo tàu,
cho vay động sản hóa các khoản TDTM, cho vay bao thu nợ,
cho vay nhà thầu về các khoản phải đòi ngân sách trong thời
gian chờ kinh phí, cho vay thương phiếu ghi băng từ…
Thực chất, khoản nợ phải đòi người mua là khoản có tính rủi
ro cao. Nó nằm trong phạm vi vốn lưu động của doanh
nghiệp. Cho vay bằng nhiều loại vào khoản này taho điều kiện
cho ngân hàng kiểm soát sâu các khoản TDTM để sàng lọc
những gì cho vay được và biết mục đích sử dụng vốn.
20


Nhập môn Tài chính - Tiền tệ Nhóm 08

+ Đơn giản hóa thủ tục hành chính. Ở nước ta, thủ tục hành
chính rất rườm rà, làm cho chất lượng tín dụng dụng không
bảo đảm, hơn nữa nhiều khi chúng chồng chéo lên nhau tạo
những kẽ hở đáng lo ngại. Vì vậy, phải tiến hành cải cách
hành chính sao cho việc giao dịch với khách hàng chiết khấu
đơn giản mà vẫn đảm bảo tính nguyên tắc, an toàn.
+ Đào tạo và đào tạp lại đội ngũ cán bộ ngân hàng. Hiện nay
đa số cán bộ ngân hàng không có trình tự và năng lực cần
thiết. Mặt khác, chúng ta thiếu trầm trọng những chuyên viên
am hiểu về hoạt động ngân hàng. Vì vậy cầm có kế hoạch đào
đội ngũ cán bộ mới, đủ năng lực đáp lực đáp ứng đòi hỏi ngày
càng cao của ngành ngân hàng.
+ Trong sạch hóa đội ngũ cán bộ ngân hàng. Đây là đòi hòi
bức thiết vì hàng loạt những vị tham nhũng, vay ngân hàng
không có thế chấp hoặc không có khả năng trả nợ đều do cán
bộ ngân hàng làm sai nguyên tắc, ăn hối lộ như vụ Minh
Phụng, Epco…
- Xây dựng thị trường cổ phiếu
Việc này làm tăng khả năng lưu thông và hoán chuyển của
thương phiếu giảm rủi ro cho người bán chịu. Trong trường hợp
người bán cần vốn, họ dễ dàng đem bán quyền sở hữu thương
phiếu để lấy tiền trước thời hạn. Thông qua thị trường với sự
cạnh tranh, thương phiếu được bán với giá cao nhất có thể nên
nó khuyến khích được người kinh doanh.
- Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp và báo cáo lại

21


Nhập môn Tài chính - Tiền tệ Nhóm 08

Nhờ hoạt động này, thông tin về doanh nghiệp tương đối đầy đủ
và cập nhật, giúp khách hàng tránh rủi ro, goap phần tạo ổn
định kinh tế, xã hội.

2.3.2. Hướng phát triển tín dụng thương ở Việt Nam
Hiện nay, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, tín dụng
thương mại vi vậy cũng phát triển rất mạnh mẽ. Như vậy, cần
có một sự định hướng cho sự phát triển triển của tín dụng
thương mại trong nền kinh tế thị trường.
- Cải cách triệt để và phát triển hệ thống các TCTD theo hướng
đa năng, hiện đại, đa dạng về sở hữu và loại hình tổ chức, có
quy mô lớn và hoạt động theo nguyên tắc thị trường với mục
tiêu chủ yếu là lợi nhuận, áp dụng các thông lệ và chuẩn mực
quốc tế vào hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Cơ cấu lại hệ thống NHTM, tách bạch tín dụng chính sách và tín
dụng thương mại, bảo đảm quyền kinh doanh của các tổ chức
tài chính nước ngoài thoe các cam kết song phương và đa
phương đã ký kết với các nước và các tổ chức quốc tế, gắn cải
cách ngân hàng với cải cách doanh nghiệp.
- Tăng cường năng lực tài chính, đảm bảo các doanh nghiệp có
đủ nguồn vốn, tài sản đi đôi với nâng cao chất lượng và khả
năng sinh lời, cử lý dứt điểm nợ tồn đọng.
- Tuân thủ các quy định của các Hiệp định song phương với các
nước và quy định định của WTO về mở cửa thị trường dịch vụ tín
dụng thương mại.

22


Nhập môn Tài chính - Tiền tệ Nhóm 08

Phát triển hệ thống dịch vụ tín dụng thương mại đa dạng, đa
tiện ích, được định hướng theo nhu cầu của nền kinh tế trên cơ
sở tiếp tục nâng cao chất luộng và hiệu quả của các loại hình
dịch vụ mới với hàm lượng công nghệ cao.
Trong những năm gần đây, cùng với việc gia nhập WTO, các
doanh nghiệp nước ta ngày càng mở rộng quan hệ giao lưu
thương mại đầu tư với các nước khu vực và thế giới. Trong quá
trình hội nhập và giao lưu thương mại này, đòi hỏi các doanh
nghiệp Việt Nam phải tìm hieeru và sử dụng các phương thức
phương tiện thanh toán phổ biến trong quan hệ thương mại
quốc tế, quan hệ tín dung quốc tế như thư tín dụng, séc, hối
phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ,..Mặt khác, quá trình hội nhập
cũng đòi hỏi nước ta phải ban hành một số văn bản quy phạm
pháp luật cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước phù hợp
hơn với thể chế, chuẩn mực và thông lệ quốc tế.

KẾT LUẬN
Quá trình tìm hiểu tín dụng thương mại ở Việt Nam cho thấy
tầm quan trọng của tín dụng thương mại trong nền kinh tế thị
trường. Trong nền kinh tế thị trường, hiện tượng thừa thiếu vốn
của các doanh nghiệp thường xuyên xảy ra, vì vậy hoạt động
của tín dụng thương mại là hết sức cần thiết, một mặt đáp ứng
nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hóa của
mình. Mặt khác sự tồn tại của hình thức tín dụng này sẽ giúp
cho các nhà doanh nghiệp chủ động khai thác được nguồn vốn
nhằm đáp ứng kịp thời cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Tín
23


Nhập môn Tài chính - Tiền tệ Nhóm 08

dụng thương mại còn góp phần làm cho hoạt động của các tổ
chức tín dụng thêm tính đa dạng và phong phú thúc đẩy sự
phát triển cho hệ thống ngân hàng và quan trọng là đóng góp
vào sự phát triển của nền kinh tể, mở rộng quan hệ kinh tế
không những trong nước mà còn ở thị trường quốc tế. Bên cạnh
những mặt tích cực mà tín dụng thương mại mang lại vẫn tồn
tại song song những mặt tiêu cực, hạn chế. Về mặt tiêu cực gây
ra công nợ dây chuyền nếu một doanh nghiệp bị vỡ nợ có thề
làm ảnh hướng xấu cho hàng loạt các bên có liên quan tham gia
tín dụng, những tranh chấp thường xuyên xảy ra. Về mặt hạn
chế, hạn chế về quy mô tín dụng, về thời hạn cho vay, và về
phương hướng. Ngoài ra, việc cung cấp tín dụng thương mại chỉ
được thực hiện trên cơ sở tín nhiệm lẫn nhau.

24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×