Tải bản đầy đủ

Bài tiểu luận KINH TE PHAT TRIEN

1
1. Mở đầu:
Mỗi quốc gia, muốn phát triển kinh tế - xã hội đều cần đến các nguồn lực
gồm: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người… Trong đó
nguồn lực con người là yếu tố quan trọng và có tính chất quyết định nhất. Do
đó, việc thu hút và phát triển nguồn nhân lực là một trong những trọng điểm
của chiến lược phát triển, là hướng ưu tiên hàng đầu trong toàn bộ chính sách
kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước ta khi chuyển sang giai đoạn phát triển
công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa.
Chúng ta đang xây dựng một đất nước có nền kinh tế phát triển cao, dựa
trên lực lượng sản xuất hiện đại. Chính vì vậy, Đảng ta khẳng định phải lấy con
người làm nhân tố đột phá cơ bản cho sự phát triển nhanh, bền vững, thực hiện
thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đặc biệt, là việc
đào tạo, nâng cao chất lượng và sử dụng hợp lý nguồn lực lao động. Một trong
các mục tiêu, nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước 5 năm, giai đoạn 2016 2020 thể hiện trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng là: “Thực hiện
đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nhất là
nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội”.
Do đó, nhằm nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của nguồn lực lao
động trong sự phát triển kinh tế, em lựa chọn chủ đề “Nguồn lực lao động
trong phát triển kinh tế ở nước ta" làm bài thu hoạch kết thúc môn Kinh tế
phát triển, chương trình Hoàn chỉnh kiến thức Cao cấp lý luận chính trị.



2
2. Nội dung:
2.1. Một số vấn đề chung về nguồn lực lao động
2.1.1. Những khái niệm cơ bản
* Khái niệm về nguồn lực phát triển:
Nguồn lực là toàn bộ những yếu tố trong và ngoài nước đã, đang và sẽ
tham gia vào quá trình thúc đẩy, phát triển, cải biến xã hội của một quốc gia.
Có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn lực phát triển do các tác giả trình
bày dưới các cách tiếp cận khác nhau, nhưng về cơ bản chúng đều thống nhất
ở những điểm sau:
- Nguồn lực phát triển là tổng thể các yếu tố kinh tế, phi kinh tế cả trong
nước và nước ngoài đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình thúc đẩy, cải biến
xã hội theo hướng tiến bộ của một quốc gia.
- Nguồn lực phát triển kinh tế là tổng thể nguồn lực tài nguyên thiên
nhiên, tài sản quốc gia, nguồn nhân lực và các yếu tố phi vật thể khác, bao
gồm cả trong nước và nước ngoài có khả năng khai thác, sử dụng nhằm thúc
đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững.
* Khái niệm nguồn lực lao động:
Trong phát triển kinh tế, quá trình lao động đồng thời là quá trình sử
dụng sức lao động để đưa các tư liệu lao động vào sản xuất để tạo ra sản
phẩm, của cải vật chất cho xã hội. Nguồn lực lao động là khái niệm có ý
nghĩa quan trọng làm cơ sở cho việc xác định và tính toán cân đổi lao động việc làm trong xã hội.
Nguồn lực lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động có khả
năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động)
đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân. Nguồn lực lao động luôn
được xem xét trên hai mặt biểu hiện đó là số lượng và chất lượng.
Nguồn lực lao động xét về mặt số lượng bao gồm: dân số đủ 15 tuổi trở
lên có việc làm và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng


3
đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình,
không có nhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác. Như vậy
nguồn lực lao động bao gồm: Đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc; Những người
trong tuổi lao động nhưng: thất nghiệp, đi học, làm công việc nội trợ chính
trong gia đình, và những người không có nhu cầu làm việc, những người
thuộc tình trạng khác (nghỉ hưu trước tuổi…)
Nguồn lực lao động xét về mặt chất lượng: được đánh giá ở trình độ


chuyên môn, tay nghề (trí lực) và sức khỏe (thể lực) của người lao động.
2.1.2. Vai trò của nguồn lực lao động với phát triển kinh tế
Lịch sử loài người đã chứng minh vai trò quyết định của nguồn lực lao
động đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, ngay cả khi khoa học, công nghệ
phát triển cao, chi phối mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội. Hơn nữa, nguồn lực lao
động còn là nhân tố sáng tạo ra công nghệ, thiết bị và sử dụng chúng vào quá
trình phát triển kinh tế. Có thể nhấn mạnh vai trò của nguồn lực lao động ở
những khía cạnh chủ yếu sau:
Nguồn lực lao động là nhân tố quyết định việc tổ chức sử dụng có hiệu
quả các nguồn lực khác. Không dựa trên nền tảng phát triển cao của nguồn
lực lao động về thể chất, trình độ văn hóa, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý và
lòng nhiệt tình... thì không thể sử dụng hợp lý các nguồn lực trên. Thậm chí,
thiếu nguồn lực lao động chất lượng cao có thể làm lãng phí, cạn kiệt và hủy
hoại các nguồn lực khác. Trong nền kinh tế công nghiệp và nền kinh tế tri
thức, nguồn lực lao động chất lượng cao là nhân tố quyết định.
Nguồn lực lao động là một bộ phận của các yếu tố “đầu vào” trong quá
trình sản xuất. Chi phí lao động, mức tiền công thể hiện sự cấu thành của
nguồn lực lao động trong hàng hóa, dịch vụ. Như vậy, chi phí nguồn lực lao
động trở thành nhân tố cấu thành mức tăng trưởng của nền kinh tế.
Hơn nữa, là bộ phận của dân số, nguồn lực lao động tham gia tiêu dùng
các sản phẩm và dịch vụ xã hội. Như vậy, với tư cách là bộ phận của dân số


4
thực hiện quá trình tiêu dùng, nguồn lực lao động trở thành nhân tố tạo cầu
của nền kinh tế. Nguồn lực lao động vừa có nhu cầu tự thân để phát triển với
yêu cầu ngày càng cao và phong phú, vừa là chủ thể sáng tạo công nghệ, điều
chỉnh cơ cấu kinh tế để thỏa mãn các nhu cầu đó.
Bên cạnh việc nhận thức vai trò của nguồn lực lao động với phát triển
kinh tế, cần thấy rõ ảnh hưởng của trình độ phát triển kinh tế đối với nguồn
lực lao động. Lượng của cải vật chất do nền kinh tế tạo ra là cơ sở để phát
triển nguồn lực lao động. Một quốc gia có năng suất lao động cao, của cải
nhiều, ngân sách dồi dào sữ có những điều kiện về vật chất, tài chính để nâng
cao mức dinh duỡng, phát triển văn hóa, giáo dục, chăm sóc y tế... nhằm nâng
cao chất lượng nguồn lực lao động. Mặt khác, việc phát triển kinh tế sẽ làm
xuất hiện những ngành nghề mới, những công nghệ mới, cách quản lý mới.
Điều đó đòi hỏi nguồn lực lao động phải tự hoàn thiện, phát triển để làm chủ
quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Như vậy, nền kinh tế càng phát triển cao thì nguồn lực lao động càng
phải nâng cao chất lượng và buộc người lao động tự hoàn thiện mình. Mỗi
bước phát triển của nền kinh tế sẽ tạo khả năng tốt hơn cho phát triển nguồn
lực lao động, đồng thời cũng đòi hỏi mức độ cao hơn của nguồn lực lao động
trong việc tổ chức sử dụng các nguồn lực, tổ chức và vận hành kinh tế.
2.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn lực lao động
* Các nhân tố ảnh hưởng đến số lượng nguồn lực lao động:
Dân số: Thông thường một quốc gia có quy mô dân số lớn thì số lượng
nguồn lực lao động lớn và ngược lại. Nếu tốc độ tăng trưởng dân số cao thì
tương lai nguồn lực lao động sẽ được bổ sung lớn. Một số quốc gia có cơ cấu
dân số già sẽ thiếu hụt nguồn lực lao động, còn một số quốc gia có cơ cấu dân
số trẻ thì dư thừa lao động.
Quy định về độ tuổi lao động: Nếu quy định tuổi bước vào độ tuổi lao
động sớm và tuổi bước ra độ tuổi lao động muộn thì nguồn lực lao động sẽ


5
đông lên. Còn nếu quy định tuổi bước vào tuổi lao động muộn và tuổi bước ra
sớm thì nguồn lực lao động sẽ bị thu hẹp lại.
Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động không tham gia hoạt động kinh tế:
Nếu tỷ lệ này tăng thì số lượng nguồn lực lao động sẽ giảm và ngược lại, nếu
tỷ lệ này giảm thì số lượng nguồn lực lao động sẽ tăng lên.
Các nhân tố khác như: chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh cũng ảnh hưởng,
thậm chí ảnh hưởng lớn đến số lượng nguồn lực lao động của một quốc gia,
một vùng lãnh thổ.
* Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lực lao động:
Chất lượng nguồn lực lao động là khả năng lao động của người lao động.
Chất lượng nguồn lực lao động chịu ảnh hưởng tổng hợp của nhiều nhân tố. Có
thể phân thành hai nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lực lao động
như sau:
Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến thể chất của nguồn lực lao động như: Di
truyền, chất lượng cuộc sống của phụ nữ, chăm sóc y tế, mức sống vật chất và
cơ cấu dinh dưỡng; các điều kiện về môi trường sống, nhà ở, môi trường lao
động, thể dục thể thao...
Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến trình độ học vấn phổ thông, trình độ nghề
nghiệp của nguồn lực lao động như sau: Giáo dục, đào tạo, cơ chế chính sách,
cơ chế quản lý kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia đạt được những thành tựu khá
quan trọng phát triển kinh tế là nhờ có đóng góp to lớn của sự nghiệp giáo
dục, đào tạo và coi giáo dục, đào tạo là quốc sách.
* Các nhân tố ảnh hưởng đến cung lao động: Cung lao động trên thị
trường chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố. Trước hết là, quy mô dân số và tốc
độ tăng dân số. Thông thường khi quy mô dân số lớn thì cung lao động sẽ cao
và tốc độ tăng dân số cao thì trong tương lai lực lượng lao động sẽ được bổ
sung lớn. Hai là, tỷ lệ dân số tham gia hoạt động kinh tế. Ba là, y tế chăm sóc


6
sức khỏe cộng đồng... Yếu tố này ảnh hưởng đến cả số lượng và chất lượng
cung lao động trên thị trường. Bốn là, giáo dục và đào tạo. Yếu tố này không
chỉ ảnh hưởng đến số lượng, chất lượng mà còn ảnh hưởng đến cả cơ cấu lao
động trên thị trường. Năm là, các nhân tố khác như cải cách hành chính, cải
cách các doanh nhiệp nhà nước...
* Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu lao động: Cũng như cung lao động,
cầu lao động chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố. Quy mô đầu tư và hình thức
đầu tư theo nghành, vùng lãnh thổi có ảnh hưởng trực tiếp đến cầu lao động.
Khi quy mô đầu tư lớn và công nghệ thay đổi thì cầu lao động sẽ tăng hoặc khi
tăng đầu tư cho các ngành sử dụng công nghệ cao thì cầu lao động có chuyên
môn kỹ thuật tăng và cầu lao động phổ thông sẽ giảm. Cầu lao động còn chịu
ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố tiền công, tiền lương hoặc chính sách việc làm
của chính phủ. Khi tiền công, tiền lương cao thì cầu lao động sẽ giảm và khi
chính phủ quan tâm đến tạo việc làm cho người lao động thì cầu lao động sẽ
tăng. Ngoài ra, cầu lao động còn chịu ảnh hưởng gián tiếp của các yếu tố như
thuế, lãi suất, khuynh hướng tiêu dùng của dân cư... Khi thuế và lãi suất cao thì
đầu tư giảm và do đó cầu lao động sẽ giảm. Khi dân cư có khuynh hướng tiêu
dùng hàng công nghệ cao thì cầu lao động phổ thông sẽ giảm...
2.2. Một số nét cơ bản về nguồn lực lao động ở nước ta
Hiện nay, Việt Nam là một nước có lợi thế và tiềm năng về nguồn lao
động với dân số khoảng trên 94 triệu người. Nước ta đang tiếp tục được
hưởng lợi từ thời kỳ "dân số vàng". Tốc độ tăng dân số giảm dần, từ 1,16%
trong năm 2002 xuống 1,03% trong năm 2012. Bên cạnh đó, lực lượng lao
động tăng nhanh hơn, góp phần làm cho nguồn cung lao động dồi dào, với tỷ
lệ tăng trung bình 2,6%/năm, tương đương với 1.200.000 lao động/năm. Đây
là con số “mơ ước” để thúc đẩy lực lượng lao động phát triển và là nền tảng
cho phát triển kinh tế trong tương lai. Cụ thể số người trong độ tuổi lao động
đã tăng từ 34.394.000 người (năm 1999) lên 53.098.000 người (năm 2012).


7
Điều đáng quan tâm nhất là tình hình chuyển dịch cơ cấu lao động ở khu
vực nông thôn. Đây là địa bàn chiến lược trong phân bổ nguồn lực lao động.
Trong khi đó, sự phát triển của công nghiệp trong thời gian vừa qua không thu
hút thêm đáng kể lao động, tỷ trọng dân số và lao động thành thị không tăng
nhiều trong những năm qua. Phần lớn lao động ở nông thôn không có tay
nghề ra thành phố chỉ làm công việc đòi hỏi trình độ lao động giản đơn, có
tính thời vụ. Lao động làm nông nghiệp đã có xu hướng giảm để chuyển sang
làm ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, tính trung bình
khoảng 6,8%, bình quân mỗi năm giảm khoảng 0,6%. Có thể nói, tiến trình
chuyển dịch cơ cấu lao động này là một bước tiến bộ trong phân bổ nguồn lực
lao động xã hội gắn với chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo thành phần kinh tế là hướng rất
quan trọng trong phân bổ nguồn lực lao động để khai thác tiềm năng các
thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Sau 30 năm đổi mới, kinh tế nhà nước là khu vực thâm dụng vốn nhiều nhất
trong nền kinh tế, nhưng lại tạo được ít việc làm hơn khu vực ngoài quốc
doanh. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc ở khu vực nhà nước năm
2012 chiếm 10,4% tổng lực lượng lao động; khu vực ngoài nhà nước chiếm
86,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 3,3%.
Điều đáng lưu ý là, số người trong độ tuổi lao động đông không đồng
nghĩa với việc thị trường lao động Việt Nam đáp ứng đủ nhu cầu lao động cho
các doanh nghiệp. Bởi, số lao động có tay nghề, có chất lượng của nước ta
đang còn rất hạn chế. Năm 2012, lao động có trình độ sơ cấp nghề, trung cấp
nghề và trung cấp chuyên nghiệp còn chiếm tỷ lệ khá thấp với tỷ lệ tương ứng
là 2,56%, 1,61% và 3,61%. Tỷ lệ này cho thấy lao động qua đào tạo nghề
chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Như vậy, tình trạng vừa thừa, vừa
thiếu lao động đang cùng tồn tại trong nền kinh tế.


8
Ở thành thị, lao động đã được đào tạo chiếm 30,9%, trong khi ở nông
thôn chỉ có 9%. Sự chênh lệch này là quá lớn, ảnh hưởng không nhỏ tới sự
phát triển kinh tế chung của nước. Trong khi đó, lượng lao động từ nông thôn
đến thành thị tìm việc làm rất lớn. Nhưng, mục đích chính của những lao
động này lên thành phố không phải để học nghề, học việc mà tham gia vào
các công việc mang tính chất thời vụ, buôn bán hoặc làm những công việc
không đòi hỏi trình độ, tay nghề.
Do chất lượng lao động không cao, cộng với sự khó khăn của nền kinh tế,
nên số người thất nghiệp đang gia tăng. Theo khảo sát của Tổng cục Thống kê,
tính đến ngày 01/10/2012, cả nước có 984.000 người thất nghiệp và 1.369.000
người thiếu việc làm. Trong đó, người thiếu việc làm ở nông thôn là 1.144.000
người cao hơn số người thiếu việc làm tại thành thị rất nhiều (225.000 người).
Số người thất nghiệp ở khu vực thành thị là 496.000, khu vực nông thôn là
488.000 người. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi năm 2012 là
2,8%, trong đó khu vực thành thị là 1,58%, khu vực nông thôn là 3,35%. Tỷ lệ
lao động phi chính thức năm 2012 tăng so với một số năm trước, từ 34,6% năm
2010 tăng lên 35,8% năm 2011 và 36,6% năm 2012.
Hơn nữa, cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, nguồn lực lao
động được phân bố giữa thành thị và nông thôn đang diễn ra theo hướng dân
số và lao động ở khu vực thành thị tăng lên. Đây là một thực trạng của đa số
các thành phố lớn, đặc biệt là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đang gây
sức ép rất lớn về mức gia tăng dân số cơ học, trong khi kết cấu hạ tầng, như:
đường sá, cầu cống, nhà ở... chưa đáp ứng được nhu cầu, gây ra tình trạng ùn
tắc giao thông và nảy sinh nhiều vấn đề tệ nạn xã hội khác.
2.3. Một số giải pháp để sử dụng hợp lý nguồn lực lao động trong
phát triển kinh tế ở nước ta
Thứ nhất, hoàn thiện khung thể chế, luật pháp đảm bảo cho sự phân
phối bình đẳng và hợp lý nguồn lực lao động. Cần phải hoàn thiện khung


9
pháp lý cho vận hành của thị trường lao động hoạt động hiệu quả. Điều này sẽ
thúc đẩy phân bố và sử dụng nguồn lực lao động; thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu lao động theo ngành, vùng lãnh thổ và thành phần kinh tế một cách hợp lý
và hiệu quả. Đảm bảo cho người lao động có quyền tự do tìm kiếm việc làm,
đồng thời các doanh nghiệp được tự do tuyển chọn người lao động khi có nhu
cầu, cũng như việc tiết giảm nhân công khi không có nhu cầu.
Thứ hai, về tổ chức quản lý và sử dụng nguồn lực lao động. Phải xây
dựng được cơ chế quản lý và sử dụng sao cho người lao động có động lực yên
tâm công tác, phấn đấu vươn lên hoàn thiện bản thân. Cụ thể, phải xây dựng
tốt các chính sách sau:
Chính sách trọng dụng nhân tài là một chính sách rất cơ bản. Nhân tài chỉ
chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong dân cư của các quốc gia - vào khoảng 2-3%. Nếu
số nhân tài nhỏ bé này không được trọng dụng, thì sẽ không có nhân tài quản lý
sử dụng đông đảo những người lao động còn lại. Điều đáng nói là, chính sách
nhân tài phải có tính cạnh tranh cao với các quốc gia khác về các mặt đãi ngộ,
điều kiện làm việc, giao những trọng trách xứng với tài năng… Thị trường
nhân tài là thị trường hiện đang được quốc tế hóa mạnh nhất, do vậy quốc gia
nào có cơ chế chính sách tốt sẽ thu hút được nhân tài và ngược lại.
Chính sách lương bổng cũng cần được chú ý. Nói chung, hầu hết các
nước phát triển đều có mức lương tương đương nhau đối với các nhân tài.
Trong khi tại Việt Nam, những chính sách này không được chú trọng. Chính
vì thế, tình trạng chảy máu chất xám là khá phổ biến. Ngay cả việc thu hút
nhân tài, cụ thể là các thủ khoa tình nguyện về cống hiến cho Hà Nội cũng
cho thấy nhiều điểm không rõ ràng. Trong 9 năm (2004 - 2012), Hà Nội đã
tuyên dương 973 thủ khoa, nhưng chỉ có 100 thủ khoa về công tác tại các cơ
quan của Hà Nội, và cũng chưa có xác minh trong 100 người này còn bao
nhiêu vẫn còn đang làm việc tại Hà Nội.


10
Thứ ba, đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng hiện đại và cạnh tranh
quốc tế. Theo đó, cần xây dựng các trung tâm đại học ở các vùng, thay vì phân
tán ở các tỉnh. Bộ Giáo dục và Đào tạo phải trực tiếp quản lý các trung tâm đại
học cấp vùng, chứ không phải giao cho các tỉnh quản lý như hiện nay. Cùng với
đó, chương trình và giáo trình phải hiện đại, cập nhật, liên kết, liên thông với
thế giới; Đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy trí sáng tạo tự
chủ của học sinh, thay cho cách học nhồi nhét tri thức; Khuyến khích các
trường đại học đẳng cấp quốc tế trong Top 200 đặt chi nhánh tại Việt Nam; Các
trường phổ thông đổi mới theo hướng gắn nhiều hơn với giáo dục nghề.
Thứ tư, phải có chính sách thu hút người tài về nông thôn để phát
triển nông thôn, nông nghiệp theo hướng hiện đại hóa. Hiện nay, nhiều địa
phương đã có chính sách này với các hình thức đãi ngộ bằng tiền, bằng hiện
vật. Tuy nhiên, thực tế đáng buồn là sau những rầm rộ với bản thành tích dài
dặc vì đã chào đón, thu hút được bao nhiêu người tài về địa phương xây dựng
nông thôn, thì sự việc lại rơi vào quên lãng. Bởi, các địa phương sau khi thu
hút người tài về không biết sắp xếp công việc ra sao? Hoặc bản thân những
người được thu hút về “chán nản bỏ đi” sau một thời gian ngắn sống và làm
việc trong không khí bon chen, xét nét và bị cô lập. Nguyên nhân là do họ
không được quyền chủ động, không thể được đứng ngay ở vị trí cao, mà dưới
quyền người “kém hơn mình một cái đầu”, thì mọi sự sáng tạo cũng không
thể được chào đón.
Thứ năm, tăng cường các biện pháp thực thi những quy định của
Luật Sở hữu trí tuệ, tạo động lực cho các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, sáng
tác phát huy tinh thần sáng tạo, tạo ra nhiều sản phẩm khoa học và công nghệ
cho đất nước. Đảm bảo chế độ chính sách cho lao động trí tuệ được hưởng
xứng đáng với công sức mà họ bỏ ra.


11
3. Kết luận
Vai trò của nguồn lực lao động là cực kỳ quan trọng trong phát triển kinh
tế. Vấn đề ở đây là muốn phát huy vai trò của lao động cần phải giải quyết
việc làm, nâng cao chất lượng lao động là một bộ phận quan trọng của phát
triển nguồm nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi
quốc gia. Điều này có ý nghĩa hơn khi toàn nhân loại giai đoạn cách mạng
khoa học công nghệ lần thứ tư (4.0) với lực lượng khoa học phát triển, chưa
thấy trong lịch sử loài người.
Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập, cạnh tranh và hướng tới nền kinh
tế tri thức, các quốc gia đều chú trọng đầu tư đào tạo phát triển nguồn lực
lao động, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao. Với Việt Nam, để
không tụt hậu xa so với trình độ chung của các nước tiên tiến trong khu vực
và trên thế giới, chúng ta phải thật sự có các chính sách đổi mới công tác đào
tạo, phát triển và sử dụng hợp lý nguồn lực lao động trong giai đoạn dân số
vàng hiện nay.
4. Danh mục tài liệu tham khảo
- Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII – Báo Điện tử Đảng
Cộng sản Việt Nam.
- Giáo trình Kinh tế và phát triển – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh biên soạn.
- Tạp chí điện tử Tài chính – Bộ Tài chính.
- Tạp chí Cộng sản điện tử.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×