Tải bản đầy đủ

Bài tiểu luận KHOA HOC LANH DAO

1. Mở đầu
Chính sách công là một trong những công cụ cơ bản được Nhà nước sử
dụng để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ở mỗi giai đoạn phát triển,
mỗi nhiệm vụ, lĩnh vực khác nhau, yêu cầu Nhà nước phải có những chính
sách cụ thể. Do đó, yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả các chính sách
công luôn được đặt ra.
Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường,
đời sống kinh tế - xã hội thay đổi ngày một nhanh chóng. Bên cạnh đó, quá
trình hội nhập và toàn cầu hóa cũng như cuộc khủng hoảng tài chính khu vực
và thế giới đã tác động mạnh đến nền kinh tế Việt Nam, ảnh hưởng trực tiếp
đến đời sống người dân. Xu hướng dân chủ hóa đời sống xã hội và trình độ
dân trí ngày càng cao đã đặt ra đòi hỏi ngày càng lớn đối với Nhà nước. Đồng
thời, các biến động lớn về môi trường, tài nguyên, dân số… đặt ra nhiều thách
thức đòi hỏi Nhà nước phải xây dựng và ban hành các chính sách công để giải
quyết. Các chính sách được Nhà nước ta ban hành trong thời gian qua đã tác
động tích cực đến đời sống kinh tế - xã hội, giải quyết nhiều vấn đề bức thiết,
góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân... Tuy nhiên, quá trình
hoạch định và thực thi chính sách vẫn còn nhiều bất cập.
Nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết về chính sách công và vai trò của
nó, em chọn chủ đề: “Vấn đề hoạch định chính sách công ở nước ta hiện
nay” để viết bài thu hoạch kết thúc môn Khoa học lãnh đạo.

2. Nội dung
2.1. Một số vấn đề về chính sách công và hoạch
định chính sách công
2.1.1. Các khái niệm cơ bản
* Khái niệm chính sách công:


2
Theo các học giả phương tây thì Chính sách công là một tập hợp các
quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà
chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được
các mục tiêu đó (theo William Jenkin) hay Chính sách công là cái mà Chính
phủ lựa chọn làm hay không làm"(theo Thomas R. Dye, 1984).
PGS.TS. Lê Chi Mai cho rằng chính sách công có những đặc trưng cơ bản
nhất như: chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước; chính sách công
không chỉ là các quyết định (thể hiện trên văn bản) mà còn là những hành động,
hành vi thực tiễn (thực hiện chính sách); chính sách công tập trung giải quyết
những vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định;
chính sách công gồm nhiều quyết định chính sách có liên quan lẫn nhau.
Như vậy, mặc dù đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về chính sách
công nhưng có thể hiểu: Chính sách công là định hướng hành động được nhà
nước lựa chọn, phù hợp với đường lối chính trị để giải quyết những vấn đề
chung của xã hội trong một thời kỳ nhất định. Với quan niệm đó, chính sách
công có vai trò to lớn trong hoạt động quản lý xã hội của nhà nước. Trong nền
hành chính nhà nước, chính sách công là bộ phận nền tảng trọng yếu của thể
chế hành chính, là cơ sở và chi phối các yếu tố cấu thành khác của nền hành
chính như: bộ máy hành chính; đội ngũ cán bộ - công chức; tài chính công.
* Khái niệm hoạch định chính sách:
Hoạch định chính sách, có thể được hiểu là hành động làm ra (ra quyết
định) chính sách; nhưng thường được hiểu là một quá trình bao gồm nhiều
hoạt động, nhiều giai đoạn. Quá trình hoạch định chính sách (policy-making
process) có thể được chia thành nhiều bước khác nhau; cách tiếp cận khác
nhau tùy thuộc vào mô hình lý thuyết được áp dụng. Đối với cách tiếp cận các
giai đoạn của quy trình hoạch định chính sách, thì trước khi chính sách được
thông qua, cần lập chương trình và hình thành (hoặc xây dựng) chính sách.
* Khái niệm hoạch định chính sách công:


3
Hoạch định chính sách công được hiểu là việc xây dựng một chính sách


mới theo yêu cầu quản lý. Chính sách công được hoạch định mới phải bao gồm
mục tiêu và biện pháp mới, trong đó quyết định nhất là mục tiêu mới được chủ
thể xác định cần phải theo đuổi. Như vậy việc bổ sung mục tiêu và điều chỉnh
chính sách cho phù hợp với điều kiện thực tế theo thời gian không được coi là
hoạch định chính sách mới. Nó chỉ được coi là điều chỉnh chính sách.
Như vậy, có thể hiểu hoạch định chính sách công là toàn bộ quá trình
nghiên cứu, xây dựng và ban hành đầy đủ một chính sách công. Sau khi ban
hành, chính sách công sẽ có hiệu lực thực thi đối với mọi tổ chức, cá nhân
trong xã hội. Giá trị của chính sách công được thể hiện ở thể thức, nội dung
và thẩm quyền ban hành của cơ quan nhà nước.
2.1.2. Vai trò của chính sách công
Thứ nhất, định hướng mục tiêu cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh
tế - xã hội. Do chính sách phản ánh thái độ, cách xử sự của nhà nước đối với
một vấn đề công, nên nó thể hiện rõ những xu thế tác động của nhà nước lên
các chủ thể trong xã hội, giúp họ vận động đạt được những giá trị tương lai
mà nhà nước mong muốn. Giá trị đó chính là mục tiêu phát triển phù hợp với
những nhu cầu cơ bản của đời sống xã hội. Nếu các chủ thể kinh tế, xã hội
hoạt động theo định hướng tác động của chính sách thì không những dễ dàng
đạt được mục tiêu phát triển mà còn nhận được những ưu đãi từ phía nhà
nước hay xã hội.
Thứ hai, tạo động lực cho các đối tượng tham gia hoạt động kinh tế - xã
hội theo mục tiêu chung. Muốn đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội chung, nhà nước phải ban hành nhiều chính sách, trong đó mỗi chính sách
lại có những cách thức tác động mang tính khuyến khích đối với các chủ thể
thuộc mọi thành phần như: miễn giảm thuế, tạo cơ hội tiếp cận với nguồn vốn
có lãi suất ưu đãi, ban hành những thủ tục hành chính đơn giản và các chế độ


4
ưu đãi đặc biệt khác.. Sự tác động của chính sách công không mang tính bắt
buộc, mà chỉ khuyến khích các chủ thể hành động theo ý chí của nhà nước.
Thứ ba, phát huy mặt tích cực, đồng thời khắc phục những hạn chế của
nền kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, quy luật cạnh tranh và
các quy luật thị trường khác đã thúc đẩy mỗi chủ thể trong xã hội đầu tư vào
sảnxuất kinh doanh, không ngừng đổi mới công nghệ nâng cao năng suất lao
động, chất ượng sản phẩm, hạ giá thành hàng hóa và dịch vụ cung cấp cho xã
hội. Nhưng, sự vận hành của thị trường cũng gây ra những tác động tiêu cực
mà các nhà kinh tế gọi là mặt không thành công hay mặt trái của thị trường
gây ảnh hưởng không tốt lên toàn xã hội và mỗi người dân. Trong tình hình
đó, nhà nước phải sử dụng hệ thống chính sách công để giải quyết những vấn
đề bất cập về kinh tế, khắc phục những thất bại của thị trường thông qua trợ
cấp, cung ứng dịch vụ công cho người dân do các doanh nghiệp nhà nước, các
đơn vị sự nghiệp công hay hội, tổ chức phi chính phủ thực hiện.
Thứ tư, tạo lập các cân đối trong phát triển. Để kinh tế - xã hội phát
triển một cách ổn định bền vững, nhà nước phải dùng chính sách để tạo lập
các cân đối vĩ mô cơ bản như cân đối giữa hàng - tiền, cung - cầu, xuất - nhập
khẩu, tiết kiệm - tiêu dùng,.. Đồng thời, nhà nước còn dùng chính sách để
điều tiết đảm bảo cho sự phát triển cân đối giữa các vùng miền của đất nước
Thứ năm, kiểm soát và phân bổ các nguồn lực trong xã hội. Nhà nước
luôn luôn quan tâm đến quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực cho phát
triển. Mục tiêu phát triển bền vững bao gồm cả gia tăng về lượng và cải thiện
về chất trong hiện tại và tương lai, vì thế tài nguyên tự nhien và xã hội của
một quốc gia là cái hữu hạn luôn trở thành vấn đề quan tâm chính yếu của nhà
nước. Để sử dụng có hiệu quả tài nguyên theo hướng bền vững, nhà nước
thông qua các chính sách thực hiện kiểm soát qué trình khai thác, sử dụng tài
nguyên và phân bổ hợp lý các nguồn lực trong xã hội.


5
Thứ sáu, tạo môi trường thích hợp cho các hoạt động kinh tế - xã hội.
Thông qua các chính sách, nhà nước tạo những điều kiện cần thiết để hình
thành môi trường thuận lợi cho các chủ thể xã hội hoạt động như: chính sách
phát triển thị trường lao động, thị trường vốn, thị trường khoa học và công
nghệ, thị trường bất động sản, phát triển cơ sở hạ tầng...
Thứ bảy, thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cấp, các ngành. Việc
thực hiện các giai đoạn trong chu trình chính sách không chỉ và không thể do
một cơ quan nhà nước đảm nhiệm, mà cần có sự tham gia của nhiều cơ quan
thuộc các cấp, các ngành khác nhau hay của nhiều tổ chức, cá mân. Vì vậy,
thông qua quá trình chính sách sẽ thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cơ
quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các tầng lớp nhân dân, góp phần
tạo nên sự nhịp nhàng, đồng bộ trong hoạt động thực thi chính sách công.
2.2. Thực trạng hoạch định chính sách công ở nước ta hiện nay
2.2.1. Những kết quả đạt được
Quy trình hoạch định chính sách ở nước ta được thực hiện tuần tự các
bước như sau: Nêu lý do hoạch định chính sách, xây dựng dự thảo các
phương án chính sách, lựa chọn phương án dự thảo tốt nhất, hoàn thiện
phương án lựa chọn, thẩm định phương án chính sách, quyết nghị ban hành
chính sách, công bố chính sách. Những năm qua, việc hoạch định chính sách
công ở nước ta đã cho ra đời nhiều chính sách phù hợp với thực tế, thực thi
đem lại hiệu quả mà biểu hiện cụ thể là đã góp phần vào phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước ta trong hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới.
Bên cạnh đó, hoạt động hoạch định chính sách công đã đạt được một số
kết quả đáng khích lệ cả về số lượng và chất lượng trên các lĩnh vực trọng
yếu, cấp bách về kinh tế, chính trị (tổ chức bộ máy nhà nước, an sinh xã hội,
quân sự, ngoại giao…). Một số chính sách công quan trọng đã được luận
chứng khoa học hơn, bám sát thực tiễn đất nước, địa phương và ngành. Nhờ
đó, bước đầu đã tạo lập và hoàn thiện được một hệ thống chính sách công khá


6
phù hợp, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của quản lý hành chính nhà
nước, phục vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Trong lĩnh vực kinh tế, một số chính sách mới được ban hành đã đáp
ứng được về cơ bản yêu cầu phát triển và hoàn thiện thể chế của nền kinh
tế thị trường, đặc biệt, có tính ứng phó khá tốt với tác động của cuộc khủng
hoảng kinh tế toàn cầu như: chính sách kích cầu, chính sách điều chỉnh tiền
lương cơ bản, chính sách hạ thấp lãi suất cho vay của ngân hàng, lãi suất tối
đa cho tiền gửi bằng đồng Việt Nam, chính sách mang ngoại tệ, tiền Việt Nam
của cá nhân khi xuất nhập cảnh, chính sách điều chỉnh thuế thu nhập cá nhân,
chính sách miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp…
Theo đó, nhiều chính sách đã phát huy được tác dụng trong kiềm chế
lạm phát, góp phần ổn định giá cả thị trường và mức độ tăng trưởng của nền
kinh tế trong điều kiện khủng hoảng kinh tế. Điều đó được đánh giá như
những phản ứng kịp thời của nhà nước trước những biến động lớn của kinh tế
toàn cầu và khu vực.
2.2.2. Những tồn tại, hạn chế
Bên cạnh những thành tựu đạt được, vấn đề hoạch định chính sách công
ở nước ta cũng còn bộc lộ một số tồn tại, đó là:
Thứ nhất, các kiến nghị hoạch định chính sách chủ yếu xuất phát từ các
cơ quan nhà nước được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước. Việc dự thảo chính
sách thường là do các bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan đặc biệt của Chính
phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện.
Như vậy, chính sách công được ban hành dựa trên suy xét, phân tích tình
hình thực tế và trên cơ sở những mong muốn quản lý của từng cơ quan nhà
nước. Sự tham gia đề xuất ý tưởng hoạch định chính sách, hoặc đóng góp vào
xây dựng các phương án, biện pháp chính sách của các đối tượng bị ảnh
hưởng bởi chính sách là rất hạn chế.


7
Rất ít các chính sách công được ban hành xuất phát từ ý tưởng của
những đối tượng bị chính sách chi phối, ảnh hưởng và các biện pháp thực hiện
chính sách do những nhà quản lý xây dựng nên. Đây là một trong những
nguyên nhân cơ bản làm cho một số chính sách tính khả thi thấp, hoặc khi
thực thi không đem hiệu quả như nhà quản lý mong muốn.
Thứ hai, các ý tưởng hoạch định chính sách được đề xuất, và dự thảo
chính sách chủ yếu do cơ quan nhà nước (chủ yếu là do các bộ, ngành, UBND
tỉnh, thành phố thực hiện) thì dễ nảy sinh tình trạng cục bộ, bản vị; đề xuất
dựa trên mong muốn, mục đích quản lý của ngành, địa phương do mình quản
lý mà không tính tới tổng thể chung.
Thứ ba, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao và căn cứ vào tình
hình quản lý, các bộ, ngành, UBND tỉnh, thành phố để đề xuất dự thảo chính
sách trong lĩnh vực quản lý được giao và cũng chính là cơ quan dự thảo, do
đó thiếu sự phối hợp giữa các bộ, ngành nên chính sách thiếu tính toàn diện.
Hiện tượng việc của Bộ nào thì Bộ ấy lo vẫn còn là điều phổ biến. Do không
có sự phối hợp nên sự thống nhất trong từng vấn đề chính sách là không có,
do vậy rất dễ khi chính sách đó được thực thi thì sự chênh chính sách, chồng
chéo chính sách hoặc mâu thuẫn, trái ngược về chính sách là rất dễ xảy ra.
Thứ tư, quy trình hoạch định chính sách còn bị khép kín; việc lấy ý kiến
tham gia của các đối tượng chịu sự điều chỉnh trực tiếp của chính sách còn ít,
nếu có thì hình thức; việc tiếp thu ý kiến của các bộ, ngành chưa thể hiện tính
chủ động. Mặt khác, chưa có quy định cụ thể để huy động được trí tuệ của
nhân dân, các chuyên gia, các nhà khoa học tham gia vào hoạch định chính
sách là vô hình chung làm hạn chế cách nhìn nhận, giải quyết vấn đề. Chẳng
hạn, trong hoạch định chính sách việc dự báo chính sách rất quan trọng.
Thứ năm, năng lực của đội ngũ tham gia hoạch định chính sách còn hạn
chế. Điều này dẫn đến tình trạng bỏ sót vấn đề chính sách hoặc nhìn nhận


8
cách giải quyết vấn đề chưa đúng. Do tầm nhìn hạn hẹp của đội ngũ hoạch
định chính sách nên khi chính sách đưa vào thực thi mới nảy sinh nhiều bất
cập hoặc tình trạng chưa thực thi đã vấp phải phản đối của dư luận và phải
sửa (ví dụ điều 60 của Luật Bảo hiểm xã hội).
Thứ sáu, công tác hoạch định chính sách công hiện nay chưa theo kịp
với tình hình hội nhập của đất nước. Đất nước ta đang trong thời kỳ hội nhập
kinh tế quốc tế, các chính sách công bị nhiều chi phối, ảnh hưởng không chỉ ở
phạm vi nhất định trong lãnh thổ của một quốc gia mà còn bị chi phối bởi các
yếu tố mang tính toàn cầu.
Thứ bảy, việc đánh giá tác động của chính sách trước khi ban hành hiện
nay tại Việt Nam còn rất hạn chế. Việc phản biện chính sách trước khi ban
hành là việc làm rất quan trọng để có thể lường trước được những mặt tiêu
cực có thể do thực thi chính sách mang lại cho đối tượng chịu tác động trực
tiếp của chính sách đó. Hiện nay các nước trên thế giới hoạt động phản biện
chính sách là một khâu rất quan trọng nhưng tại Việt Nam thì hoạt động này
lại bị coi nhẹ.
2.3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả
hoạch định chính sách công
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả của các hoạt động hoạch định chính
sách công ở nước ta trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo, cần đặt
trọng tâm vào các vấn đề sau:
Thứ nhất, tiếp tục nâng cao nhận thức để trên cơ sở đó mở rộng sự tham
dự một cách có hiệu quả của mọi cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và nhất là
của cá nhân người lãnh đạo, quản lý vào quá trình hoạch định và thực thi
chính sách công.
Việt Nam nên bắt đầu một quy trình hoạch định chính sách mới, với sự
tham gia cả tất cả các bên liên quan, bao gồm: Chính phủ, doanh nghiệp,


9
người tiêu dùng, người nước ngoài, các nhà tài trợ, các nhà khoa học, chuyên
gia. Đôi khi, các doanh nghiệp hoặc các nhà khoa học có thể vạch ra một
chiến lược trình Chính phủ. Lấy các nhu cầu thực sự của dân, của Doanh
nghiệp để làm cơ sở hoạch định chính sách. Chính sách không đơn thuần chỉ
là một văn bản hành chính của Nhà nước. Nói cách khác, làm cho chính sách
công từ chỗ chỉ là chức năng đặc quyền của các cơ quan nhà nước thành mối
quan tâm chung và trách nhiệm của toàn xã hội.
Thứ hai, đổi mới quy trình hoạch định chính sách công theo hướng dân
chủ, huy động sự tham gia đắc lực của toàn xã hội, nhất là của đội ngũ chuyên
gia vào xây dựng chính sách. Tích cực lấy ý kiến và tiếp thu ý kiến từ các đối
tượng chịu tác động trực tiếp của chính sách.
Cần lấy ý kiến của người dân để có những chính sách sát với thực tế,
tránh việc “chính sách trên trời được ban hành cho dân dưới đất” vì không đủ
điều kiện để thực hiện. Từng bước tạo lập một quy trình làm chính sách gọn,
tiện lợi nhưng khoa học, có hiệu quả kinh tế - xã hội cao. Sửa đổi, bổ sung
nhằm hoàn thiện cơ chế thẩm định và phê duyệt chính sách, nhất là với những
chính sách lớn, quan trọng, có tác động trực tiếp và lâu dài tới lợi ích chung
của toàn xã hội.
Thứ ba, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, Ngành trong hoạch
định chính sách, tránh mâu thuẫn nhau.
Thứ tư, xây dựng đội ngũ làm công tác hoạch định chính sách có chất
lượng cao, có tầm nhìn bao quát về các vấn đề (Yếu tố con người là cốt lõi để
có chính sách tốt, hợp lòng dân và hiệu quả thực thi cao).
Thứ năm, học hỏi kinh nghiệm quốc tế trong công tác hoạch định chính
sách, phù hợp với thực tiễn ở nước ta.
3. Kết luận:


10
Hoạch định chính sách công là một vấn đề có tính thường xuyên, lâu dài
và cốt lõi trong thời kỳ đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay.
Thời gian qua việc hoạch định chính sách công ở nước ta đã đạt được những
thành công nhất định. Song, kết quả của việc hoạch định chính sách vẫn còn
chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đề ra. Vì vậy, cần nhận thức rõ
và khắc phục tốt một số hạn chế trong hoạch định chính sách công để nâng
cao năng lực, chất lượng lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước ta.
Tóm lại, đất nước ta đang trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, các
chính sách công bị nhiều chi phối, ảnh hưởng không chỉ ở phạm vi nhất định
trong lãnh thổ của một quốc gia mà còn bị chi phối bởi các yếu tố mang tính
toàn cầu. Mặt khác, mỗi chính sách khi ban hành đều có tác động, ảnh
hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế - xã hội của đất nước và của người dân.
Do đó, hoàn thiện quá trình hoạch định nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả
của chính sách nói chung và chính sách công nói riêng là một yêu cầu quan
trọng đòi hỏi mỗi cấp, mỗi ngành phải nỗ lực để tạo ra những chính sách tốt
cho xã hội.
4. Danh mục tài liệu tham khảo
- Giáo trình Khoa học lãnh đạo – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh biên soạn.
- Tạp chí điện tử Tổ chức nhà nước – Bộ Nội vụ.
- Tạp chí điện tử Tài chính – Bộ Tài chính.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×