Tải bản đầy đủ

thủ tục phá sản theo pháp luật việt nam hiện hành

NGUYỄN THỊ HẢI YẾN

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬT KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

THỦ TỤC PHÁ SẢN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
HIỆN HÀNH
NGUYỄN THỊ HẢI YẾN

2014 - 2016

HÀ NỘI - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI


LUẬN VĂN THẠC SỸ

THỦ TỤC PHÁ SẢN THEO LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN TRUNG TÍN

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số
liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ
công trình khoa học nào khác.
Tác giả Luận văn


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến
PGS.TS Nguyễn Trung Tín, người đã nhiệt tình trực tiếp chỉ dẫn tôi trong suốt quá
trình thực hiện luận văn, hướng dẫn tôi xác định được hướng đi, khắc phục được
những hạn chế, và giúp tôi vượt qua nhiều khó khăn để hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô trong viện Đại học mở, đặc
biệt là các thầy cô trong Khoa Đào tạo Sau Đại học đã cho tôi những kiến thức bổ
trợ, vô cùng có ích trong những năm học vừa qua, cũng như giúp tôi có kiến thức để
thực hiện luận văn của mình.
Cuối cùng tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè, những người
đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài luận
văn của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn.

Hà Nội, ngày tháng..... năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN VĂN


Nguyễn Thị Hải Yến


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài .............................................................................. 3
3. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài ............................................ 4
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài ................................................................................. 5
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài .................................... 5
6. Những kết quả nghiên cứu mới của Luận văn ................................................. 6
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁ SẢN VÀ PHÁP
LUẬT PHÁ SẢN ................................................................................................... 7
1.1. Khái quát về doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn .............. 7
1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn .................. 7
1.1.2. Khái quát về tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến
hạn ........................................................................................................................ 10
1.2. Khái quát về pháp luật phá sản ................................................................... 12
1.2.1. Khái niệm pháp luật phá sản ...................................................................... 12
1.2.2. Nội dung của pháp luật phá sản ................................................................. 14
1.3. Thủ tục phá sản - Nội dung cơ bản của pháp luật phá sản ......................... 17
1.3.1. Khái niệm thủ tục phá sản .......................................................................... 17
1.3.2. Đặc điểm của thủ tục phá sản..................................................................... 19
1.3.3. Vai trò của thủ tục phá sản ......................................................................... 21
1.3.4. Khái quát sự hình thành và phát triển của quy định pháp luật về thủ tục
phá sản ở Việt Nam .............................................................................................. 22
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ THỦ
TỤC PHÁ SẢN .................................................................................................... 25
2.1. Những quy định về thẩm quyền giải quyết yêu cầu phá sản ...................... 25
2.2. Chủ thể tham gia giải quyết yêu cầu phá sản .............................................. 27
2.2.1. Toà án ......................................................................................................... 27


2.2.2. Quản tài viên và Doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản .......................... 28
2.2.3. Chủ nợ và con nợ ........................................................................................ 31
2.3. Trình tự giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã .................. 32
2.3.1. Nộp và thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản........................................... 32
2.3.2. Mở thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản ....................................................... 37
2.3.3. Hội nghị chủ nợ .......................................................................................... 39
2.3.4. Phục hồi hoạt đông kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh
toán nợ đến hạn .................................................................................................... 42
2.3.5. Tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản .......................................... 45
2.3.6. Xử lý nợ của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn ............ 48
2.4. Thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản trong các trường hợp đặc biệt ........... 51
2.4.1. Thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản của tổ chức tín dụng .......................... 51
2.4.2. Trình tự giải quyết yêu cầu phá sản rút gọn............................................... 55
2.4.3. Trình tự giải quyết yêu cầu phá sản có yếu tố nước ngoài ......................... 56
Chương 3: THỰC TIỄN THI HÀNH THỦ TỤC PHÁ SẢN VÀ MỘT SỐ
KIẾN NGHỊ NHẰM THỰC THI HIỆU QUẢ THỦ TỤC PHÁ SẢN .............. 58
3.1. Thực tiễn thi hành thủ tục phá sản theo Luật phá sản (2004) .................... 58
3.1.1. Thực tiễn thi hành thủ tục phá sản theo Luật phá sản (2004) ................... 58
3.1.2. Nguyên nhân của thực trạng giải quyết phá sản ........................................ 61
3.2. Một số kiến nghị nhằm thực thi có hiệu quả thủ tục phá sản theo pháp luật
phá sản hiện hành ................................................................................................ 66
3.2.1. Những định hướng để thực hiện hiệu quả chế định Quản tài viên, Doanh
nghiệp quản lý, thanh lý tài sản ........................................................................... 66
3.2.2. Quy định cụ thể hơn về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, hợp tác xã ................................................................................................ 68
3.2.3. Định hướng cho việc giải quyết yêu cầu phá sản tổ chức tín dụng ............ 69
3.2.4. Vấn đề phá sản có yếu tố nước ngoài ......................................................... 72
3.2.5. Vấn đề phá sản đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm,
chứng khoán......................................................................................................... 73
3.2.6. Một số giải pháp khác ................................................................................. 73
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 77


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Luật phá sản năm 2004 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam thông qua ngày 15/6/2004, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/10/2004 và
thay thế cho Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993. Tổng kết thi hành Luật phá sản
cho thấy, qua chín năm thực hiện, với Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993, ngành
Toà án chỉ thụ lý 151 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, trong đó chỉ
tuyên bố được 46 doanh nghiệp bị phá sản. Với Luật phá sản năm 2004, Toà án thụ
lý tổng số 336 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản, ra quyết định mở thủ tục phá sản 236
trường hợp, và cũng chỉ quyết định tuyên bố phá sản được 83 trường hợp. Năm
2014, có 69 874 doanh nghhiệp đăng ký, trong khi đó có 44 906 doanh nghiệp
dừng hoạt động và 9 355 doanh nghiệp giải thể [38]. Như vậy, tình hình thụ lý và
giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp theo Luật phá sản năm 2004
đã được cải thiện nhưng vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Số lượng đơn yêu cầu Toà
án tuyên bố phá sản so với số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động là rất thấp,
hiệu quả giải quyết việc phá sản ở Toà án vẫn chưa đạt kết quả như mong muốn.
Sau khi Luật phá sản (2004) được ban hành, ngày 24/5/2005, Bộ Chính trị
đã ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, trong đó, tại
Mục 3 Phần II về xây dựng và hoàn thiện pháp luật về sở hữu, quyền tự do kinh
doanh có nhận định: “...Xây dựng một khung pháp luật chung cho các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, xoá bỏ đặc quyền và độc quyền kinh doanh,
cải thiện môi trường đầu tư; từng bước thống nhất pháp luật áp dụng đối với đầu
tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng theo hướng
tôn trọng thoả thuận của các bên giao kết hợp đồng, không trái với đạo đức xã hội,
không xâm phạm trật tự công cộng, phù hợp với tập quán, thông lệ thương mại
quốc tế. Đổi mới cơ bản pháp luật về phá sản”.

1


Triển khai tinh thần Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 nêu trên và
các văn bản có liên quan, đồng thời nhận thức được những hạn chế, bất cập của
thực tiễn thi hành Luật phá sản năm 2004, Toà án nhân dân (TAND) tối cao đã đề
nghị và được Quốc hội quyết định đưa dự án Luật phá sản (sửa đổi) vào chương
trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khoá XIII (2011-2016).
Ngày 19/6/2014, tại kỳ họp thứ bảy, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khoá XIII đã thông qua Luật phá sản số 51/2014/QH13 và có hiệu
lực kể từ ngày 01/01/2015. Luật phá sản (2004) gồm 9 chương với 95 điều luật còn
Luật phá sản (2014) bao gồm 14 chương với 133 điều luật. So với Luật phá sản
(2004), Luật phá sản (2014) được đánh giá là có những sửa đổi khá căn bản và
toàn diện. Một số nội dung sửa đổi, bổ sung như: (i) Tiêu chí xác định doanh
nghiệp, hợp tác xã (DN, HTX) lâm vào tình trạng phá sản; (ii) Chế định Quản tài
viên; (iii) Đặc biệt là về thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản... Để thi hành hiệu quả
Luật phá sản mới năm 2014, các cơ quan áp dụng pháp luật tiếp tục ban hành các
văn bản dưới luật để hướng dẫn cụ thể, chi tiết Luật phá sản năm 2014, cụ thể như:
Nghị định của Chính phủ số 22/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 Hướng dẫn Luật
phá sản về Quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản (Sau đây gọi tắt là
Nghị định 22/2015) thay cho Nghị định của Chính phủ số 67/2006/NĐ-CP ngày
11/7/2006 Hướng dẫn áp dụng Luật phá sản với doanh nghiệp đặc biệt và tổ chức
hoạt động của Tổ quản lí, thanh lí tài sản; Thông tư số 01/2015/TT-CA ngày 08
tháng 10 năm 2015 của Chánh án Tòa ám nhân dân tối cao Quy định về quy chế
làm việc của các tổ thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản (Sau đây
gọi tắt là Thông tư 01/2015); Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán
TANDTC ngày 07/03/2016 Về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phá sản
2014 (Sau đây gọi chung là Dự thảo Nghị quyết) nhằm thay thế cho Nghị quyết
của Hội đồng thẩm phán TANDTC số 03/2005/NQ-HĐTP ngày 28/4/2005 Hướng
dẫn thi hành một số quy định của Luật phá sản năm 2004...
Phá sản là một hiện tượng tất yếu của nền kinh tế thị trường, kinh tế thị
trường phát triển thì phá sản càng phổ biến. Từ đó, sự nhận thức và vận dụng đúng

2


những quy định của Luật phá sản không chỉ nhằm giải quyết vụ việc phá sản đúng
pháp luật mà còn góp phần bảo vệ có hiệu quả quyền lợi của các chủ nợ, cơ cấu lại
nền kinh tế, thậm chí là bảo vệ cả con nợ. Từ nhận thức trên, tác giải cho rằng chỉ
có trên cơ sở vận dụng đúng đắn những nguyên tắc của pháp luật phá sản nói
chung và những quy định về thủ tục phá sản nói riêng mới là cơ sở để tìm ra những
giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật phá sản. Trong các vấn đề được sửa đổi,
bổ sung trong Luật phá sản (2014), yêu cầu về việc giải quyết vụ việc phá sản
được kịp thời, hợp lý, nhanh chóng là vấn đề được quan tâm nhiều hơn cả. Điều đó
cho thấy quy định về thủ tục giải quyết phá sản cần phải chặt chẽ, cụ thể và đầy đủ.
Hiện nay, Luật phá sản (2014) với nhiều điểm mới và cũng chỉ mới có hiệu
lực thi hành trong thời gian ngắn nên việc áp dụng trên thực tế vẫn còn những
vướng mắc. Với việc lựa chọn đề tài “Thủ tục phá sản theo pháp luật Việt Nam
hiện hành”, tác giả Luận văn mong muốn trình bày và phân tích một cách có hệ
thống các quy định về thủ tục phá sản nhằm áp dụng giải quyết các vụ phá sản
trong thực tế một cách có hiệu quả.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Kể từ khi ban hành và có hiệu lực đến nay, việc học tập, nghiên cứu Luật
phá sản (2004) đã được sự quan tâm hưởng ứng của mọi cấp, mọi ngành và các
tầng lớp nhân dân, nhất là các nhà kinh doanh. Cùng với những áp lực đặt ra trong
việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật của một nền kinh tế đang phát triển
mạnh mẽ, các hoạt động nghiên cứu về thủ tục phá sản đã có những bước tiến quan
trọng. Đã có nhiều công trình ở các cấp độ khác nhau nghiên cứu về thủ tục phá
sản theo Luật phá sản (2004), có thể kể đến như:
- Cuốn “Pháp Luật phá sản của Việt Nam” của PGS, TS. Dương Đăng
Huệ, xuất bản năm 2005;
- Một số bài viết, công trình nghiên cứu có liên quan như: “Thực trạng pháp
luật về phá sản và việc hoàn thiện môi trường pháp luật kinh doanh tại Việt Nam”
tháng 11/2008 - chủ biên là PGS, TS. Dương Đăng Huệ, Thạc sĩ Nguyễn Thanh

3


Tịnh; Chuyên đề khoa học xét xử: “Tìm hiểu pháp luật phá sản” của TAND tối
cao tháng 4/2010; “Một số ý kiến về thủ tục phá sản của Luật phá sản hiện hành và
kiến nghị hoàn thiện” - Trần Thị Tâm, Đặng Thu Hà, Tạp chí Tòa án nhân dân TANDTC, số 4/2013; “Trình tự, thủ tục nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản” Thạc sĩ Vũ Hồng Vân, Tạp chí Kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tối
cao, số 19/2005;...
- Bên cạnh đó, một số luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu về vấn đề này như:
“Thủ tục giải quyết phá sản theo Luật phá sản (2004)” - luận văn thạc sĩ luật học
2005 - Đồng Thái Quang; “Thủ tục phá sản - thực trạng và hướng hoàn thiện” luận văn thạc sĩ luật học 2009 – Đào Thị Hồng Phương; “Pháp luật về nộp đơn và
thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” - luận
văn thạc sĩ luật học 2012 – Ngô Thị Thu Thuỷ;...
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu có quy mô khác nhau nhưng đều có
chung mục đích là làm cho các quy định của pháp luật phá sản đi vào cuộc sống và
dễ áp dụng, bảo đảm quyền và lợi ích của các chủ thể có liên quan. Tuy nhiên,
những công trình nghiên cứu trên được thực hiện trước khi có Luật phá sản (2014).
Do đó, những quy định mới của Luật phá sản (2014), trong đó có những quy định
về thủ tục phá sản chưa được nghiên cứu, lý giải một cách đầy đủ. Những thay đổi
của Luật phá sản (2014) về thủ tục phá sản đòi hỏi phải có sự nhất quán trong cách
hiểu và vận dụng những thủ tục này trong thực tiễn, đây cũng chính là lý do để tác
giả lựa chọn đề tài nói trên và khẳng định được tính mới của nó.
3. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
- Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu, hệ thống hoá những quan điểm lý
luận về thủ tục phá sản doanh nghiệp; Làm sáng tỏ các quy định về thủ tục phá sản
theo Luật phá sản (2014); Tìm kiếm một số giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả
Luật phá sản (2014) và các văn bản hướng dẫn thi hành về thủ tục phá sản nói
riêng và pháp luật về phá sản nói chung.

4


- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Hệ thống hoá và giải quyết những vấn đề lý luận về phá sản và pháp luật
phá sản;
+ Nghiên cứu, phân tích, làm rõ những quy định của pháp luật Việt Nam
hiện hành về thủ tục phá sản (nòng cốt là Luật phá sản năm 2014) trong mối quan
hệ so sánh với pháp luật về phá sản trước đây (mà nòng cốt là Luật phá sản 2004);
+ Nghiên cứu, phân tích thực tiễn áp dụng Luật phá sản (2004) và khởi đầu
áp dụng Luật phá sản 2014 về thủ tục phá sản, từ đó đề ra một số biện pháp nhằm
thực thi có hiệu quả thủ tục phá sản theo Luật phá sản (2014).
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài
- Về phương diện lý luận: Luận văn tập trung nghiên cứu, lý giải tính đặc
thù của thủ tục phá sản trong mối quan hệ với thủ tục tố tụng dân sự;
- Về phương diện luật thực định: Luận văn tập trung nghiên cứu những quy
định của Luật phá sản (2014) về trình tự, các bước, các thủ tục để tiến hành giải
quyết một vụ phá sản.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phân tích để hiểu rõ những quy định của
pháp luật hiện hành về thủ tục phá sản. Bởi vậy, phương pháp phân tích là phương
pháp đặc trưng, xuyên suất toàn bộ đề tài. Ngoài ra, Luận văn còn sử dụng một số
phương pháp khác như phương pháp tổng hợp, thống kê, phương pháp so sánh và
đối chiếu. Các phương pháp nghiên cứu trong Luận văn được thực hiện dựa trên
nền tảng của phương pháp luận duy vật lịch sử, duy vật biện chứng, trên cơ sở các
quan điểm, đường lối về chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội của Đảng Cộng sản
Việt Nam và có tiếp thu các tư tưởng, quan điểm tiến bộ khác trong một thế giới
hội nhập.

5


6. Những kết quả nghiên cứu mới của Luận văn
Luận văn có những đóng góp mới quan trọng sau:
- Phân tích sâu sắc và khoa học những quy phạm của pháp luật thực định về
thủ tục phá sản;
- Thông qua sự đánh giá, phân tích này, Luận văn đã chỉ ra những ưu và
nhược điểm của các quy định về thủ tục phá sản hiện hành;
- Trong mối tương quan so sánh giữa Luật phá sản (2004) và Luật phá sản
(2014), Luận văn đã chỉ rõ một số điểm mới tiến bộ của Luật mới so với Luật cũ;
- Đưa ra một số đề xuất nhằm thực thi có hiệu quả Luật phá sản (2014).
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, bảng các từ viết tắt, danh mục tài liệu tham
khảo, nội dung Luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về phá sản và pháp luật phá sản;
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thủ tục phá sản;
Chương 3: Thực tiễn thi hành thủ tục phá sản và một số kiến nghị nhằm
thực thi có hiệu quả thủ tục phá sản.

6


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁ SẢN
VÀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN
1.1. Khái quát về doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn
1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn
“Phá sản” hay “vỡ nợ” là tình trạng xảy ra khá phổ biến trong nền kinh tế
thị trường, đặc biệt khi các doanh nghiệp gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt, sự khan
hiếm nguồn vốn hay sự quản lý tài chính lỏng lẻo.
Nguồn gốc của thuật ngữ phá sản được giải thích theo nhiều quan niệm
khác nhau. Ở các nước châu Âu, khi nói đến phá sản, người ta thường dùng thuật
ngữ “Bankruptcy” hoặc “Banqueroute”. Từ này bắt nguồn từ chữ “Banca Rotta”
trong tiếng La Mã có nghĩa là “chiếc ghế bị gãy”. Thời đó, các thương gia của
thành phố thường tập trung lại thành “hội nghị các thương gia”, thương gia nào
mất khả năng thanh toán nợ cũng đồng thời mất luôn quyền tham gia hội nghị. Do
đó, ghế của thương gia này bị đem ra khỏi hội trường [32, tr.3]. Do đó, ở La Mã
thời đó có nhiều con nợ thấy rằng nếu không trả được nợ thì “chuồn là hơn”, nên
họ thường bỏ trốn. Để ổn định trật tự xã hội, Nhà nước La Mã phải đứng ra cưỡng
chế tài sản của con nợ cho chủ nợ. Cách làm này thích hợp đối với trường hợp con
nợ chỉ mắc nợ một người. Nhưng khi cùng một lúc con nợ phải trả cho nhiều chủ
nợ thì dễ xảy ra tranh chấp. Bởi thế, người ta thấy để Toà án địa phương (của con
nợ) đứng ra quản lý số tài sản, rồi phân chia tài sản này cho các chủ nợ tuỳ theo
vốn và lãi của mỗi người [39]. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, chế định này
được hoàn chỉnh và được nâng lên thành Luật phá sản của Nhà nước La Mã cổ đại.
Ở những quan niệm khác, có người cho rằng từ phá sản bắt nguồn từ chữ
“ruin” trong tiếng la-tinh có nghĩa là “sự khánh tận”. Khái niệm này dùng để chỉ
tình trạng mất cân đối giữa thu và chi của một nhà kinh doanh. Biểu hiện trực tiếp

7


của sự mất cân đối ấy là tình trạng mất khẩ năng thanh toán nợ đến hạn
(insolvency) [28].
Định nghĩa pháp lý về tình trạng phá sản của doanh nghiệp là nội dung quan
trọng của pháp luật phá sản. Quy định về tình trạng phá sản là căn cứ để xác định
phạm vi tác động của pháp luật phá sản và là căn cứ để Toà án áp dụng thủ tục phá
sản đối với doanh nghiệp. Do đó, đặc điểm kinh tế - xã hội cũng như hệ thống
pháp luật của các nước có sự khác nhau, nên quan điểm về tình trạng phá sản của
doanh nghiệp trong pháp luật cũng có sự khác biệt. Pháp luật về phá sản của các
nước trên thế giới hiện nay đang sử dụng hai quan điểm sau:
(i) Quan điểm “định lượng”: Theo quan điểm này, một doanh nghiệp bị coi
là lâm vào tình trạng phá sản, khi không thanh toán được một món nợ đến hạn có
giá trị tối thiểu đã được ấn định trong Luật phá sản.
(ii) Quan điểm “định tính”: Xác định tình trạng phá sản không phụ thuộc
vào giá trị khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp không trả được, mà một doanh
nghiệp bị coi là lâm vào tình trạng phá sản nếu tổng số nợ doanh nghiệp vượt quá
khả năng thanh toán của doanh nghiệp đó. [25, tr.113-114]
Luật phá sản Việt Nam 2004 đã đưa ra tiêu chí xác định doanh nghiệp lâm
vào tình trạng phá sản tại Điều 3 như sau: “DN, HTX không có khả năng thanh
toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình
trạng phá sản”. Luật phá sản (2004) cũng như Luật phá sản doanh nghiệp 1993
không đưa ra định nghĩa thế nào là phá sản mà chỉ đưa ra khái niệm DN, HTX lâm
vào tình trạng phá sản. Khái niệm phá sản lần đầu tiên được quy định trong Luật
phá sản (2014) tại khoản 2 Điều 4 như sau: “Phá sản là tình trạng của DN, HTX
mất khả năng thanh toán và bị TAND ra quyết định tuyên bố phá sản”.
Khoản 1 Điều 4 Luật phá sản (2014) cũng đã đưa ra khái niệm thế nào là
DN, HTX mất khả năng thanh toán, theo đó: “DN, HTX mất khả năng thanh toán
là DN, HTX không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 3 tháng
kể từ ngày đến hạn thanh toán”.

8


Có thể thấy, nếu như Luật phá sản (2004) chỉ quy định chung chung thì
Luật phá sản (2014) đã có những thay đổi theo hướng rõ ràng và cụ thể hơn. Luật
phá sản (2014) không còn dùng khái niệm “lâm vào tình trạng phá sản”, hay
“không có khả năng thanh toán được” như trước mà dùng khái niệm “mất khả
năng thanh toán” và “không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ”. Luật phá
sản (2004) không quy định dấu hiệu cụ thể để xác định doanh nghiệp mất khả năng
thanh toán là không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 3 tháng
kể từ ngày đến hạn thanh toán. Nghiên cứu dấu hiệu mất khả năng thanh toán nợ
đến hạn, ta có thể thấy một số đặc điểm sau:
- Thứ nhất: Mất khả năng thanh toán không có nghĩa là doanh nghiệp hoàn
toàn cạn kiệt tài sản, doanh nghiệp có thể có nhiều tài sản mà vẫn mất khả năng
thanh toán.
- Thứ hai: Mất khả năng thanh toán không chỉ là hiện tượng doanh nghiệp
không thanh toán được nợ mà nó còn thể hiện doanh nghiệp đang lâm vào tình
trạng tài chính tuyệt vọng, không có giải pháp để trả được nợ, trừ khi có sự can
thiệp của Toà án hoặc sự giúp đỡ của chủ nợ.
- Thứ ba: Do tình trạng tài chính trong các doanh nghiệp rất khác nhau nên
pháp luật không quy định mất khả năng thanh toán cụ thể một khoản nợ bao nhiêu
thì coi là lâm vào tình trạng phá sản; có doanh nghiệp chỉ nợ một trăm triệu đã
không thể trả được nợ nhưng cũng có doanh nghiệp nợ tới một vài trăm tỷ vẫn có
khả năng thanh toán.
- Thứ tư: Bản chất của việc mất khả năng thanh toán có thể không trùng với
biểu hiện bên ngoài là trả nợ hay không. Nhiều doanh nghiệp không trả được nợ
nhưng điều này chỉ có tính chất nhất thời trong khi hoạt động của doanh nghiệp
vẫn diễn ra bình thường. Ngược lại, có những doanh nghiệp thì sự trả nợ chỉ là trá
hình, che đậy tình trạng tài chính tuyệt vọng của doanh nghiệp, họ phải sử dụng
nhiều cách thức gian trá để bù đắp ngân quỹ như vay nặng lãi, thế chấp tài sản...

9


Luật phá sản (2014) không yêu cầu việc xác định hay phải có căn cứ chứng
minh DN, HTX không có khả năng thanh toán bằng bảng cân đối tài chính... Như
vậy, chỉ cần xác định là có khoản nợ và đến thời điểm Toà án quyết định việc mở
thủ tục phá sản mà DN, HTX vẫn không thanh toán nợ là Toà án có thể ra quyết
định mở thủ tục phá sản. Việc bỏ từ “các” trong cụm từ “các khoản nợ” đã thể
hiện rõ tiêu chí mất khả năng thanh toán không phụ thuộc vào số lượng khoản nợ
mà chỉ cần một khoản nợ. Bên cạnh đó, Luật phá sản (2014) cũng không quy định
giới hạn các khoản nợ. Điều này có thể hiểu là bất kỳ khoản nợ nào đủ nợ lương,
nợ thuế, nợ phát sinh từ hợp đồng… thì chủ nợ là cá nhân, cơ quan, tổ chức đều có
quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản với DN, HTX.
Với những quy định mới của Luật phá sản (2014), quyền của chủ nợ được
đảm bảo tối đa, bởi để yêu cầu mở thủ tục phá sản, chủ nợ không cần chứng minh
đã có yêu cầu thanh toán. Và khi đã được quy định rõ ràng về thời điểm phát sinh
quyền và nghĩa vụ thì chủ nợ dễ dàng xác định lúc nào họ được quyền nộp đơn yêu
cầu mở thủ tục phá sản, đồng thời ràng buộc DN, HTX không có khả năng thanh
toán rằng tại thời điểm nào thì họ có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
Ngoài ra, quy định này cũng khắc phục tình trạng lạm dụng quyền nộp đơn yêu
cầu mở thủ tục phá sản từ phía các chủ nợ như quy định cũ. Đối với con nợ, nếu
không trả nợ đúng hạn, con nợ không chỉ chịu nguy cơ bị khởi kiện dân sự mà còn
có thể bị yêu cầu mở thủ tục phá sản. Tuy nhiên, Luật phá sản (2014) vẫn dành
một khoảng thời gian 03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn để DN, HTX tự giải
quyết những khó khăn về tài chính tạm thời, qua đó tạo thêm cơ hội để DN, HTX
thanh toán nợ và giảm áp lực “đe doạ” nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản từ
phía chủ nợ.
1.1.2. Khái quát về tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến
hạn
Bất kỳ một doanh nghiệp, một tổ chức nào muốn tiến hành kinh doanh cũng
đòi hỏi phải có một lượng vốn nhất định, lượng vốn đó biểu hiện dưới dạng vật

10


chất hay phi vật chất gọi là tài sản. Tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh
toán nợ đến hạn là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp
pháp của doanh nghiệp đó, phục vụ cho hoạt động thương mại.
Tài sản doah nghiệp gồm hai loại: Tài sản lưu động và Tài sản cố định:
- Tài sản lưu động là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp
nhưng có giá trị nhỏ hoặc thời gian sử dụng, thu hồi, luân chuyển vốn nhỏ hơn một
năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. Tài sản lưu động gồm: (i) Tài sản lưu động sản
xuất như: nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ... đang dự trũ trong kho chuẩn bị cho
quá trình sản xuất hoặc đang trong quá trình sản xuất dở dang; (ii) Tài sản lưu
động lưu thông như: thành phẩm, hàng hoá dự trữ, hàng hoá gửi bán; (iii) Tài sản
lưu động tài chính như: tiền, các khoản phải thu, đầu tư ngắn hạn…
- Tài sản cố định là những tài sản có giá trị lớn và có thời gian sử dụng, luân
chuyển lớn hơn một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh như tài sản cố định hữu
hình, vô hình, tài sản cố định thuê ngoài dài hạn, các khoản đầu tư tài chính dài
hạn, các khoản đầu tư xây dựng cơ bản... Đặc điểm của các loại tài sản này là
không thể thu hồi trong một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh, trong đó:
+ Tài sản cố định hữu hình là những tài sản cố định có hình thái vật chất cụ
thể do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh như:
trụ sở, cửa hàng, kho tàng, máy móc, thiết bị công tác, phương tiện vận tải, phương
tiện truyền dẫn…
+ Tài sản cố định vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất cụ
thể, nhưng phản ánh một lượng giá trị lớn mà doanh nghiệp đã thực sự bỏ ra đầu tư
như: nhãn hiệu hàng hoá; phát minh sáng chế; lợi thế kinh doanh như lợi thế của
địa điểm kinh doanh - điều này có ý nghĩa quan trọng khi xác định giá trị quyền sử
dụng đất; tay nghề của người lao động trong doanh nghiệp - có ý nghĩa khi trả một
số phụ cấp cho họ khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản...
+ Tài sản cố định tài chính là giá trị của các khoản đầu tư tài chính dài hạn
với mục đích kiếm lời, thời gian thu hồi vốn lớn hơn một năm hay một chu kỳ kinh

11


doanh như: đầu tư liên doanh dài hạn, cho thuê tài sản cố định, đầu tư chứng khoán
dài hạn…
1.2. Khái quát về pháp luật phá sản
1.2.1. Khái niệm pháp luật phá sản
Các quan hệ xã hội phát sinh từ tình trạng phá sản của doanh nghiệp cần
thiết phải được điều chỉnh bởi pháp luật. Như hầu hết các quốc gia trên thế giới,
pháp luật Việt Nam rất quan tâm đến việc xây dựng các chế định của Luật phá sản
với mục tiêu hạn chế những hậu quả do phá sản gây ra, bảo vệ quyền lợi của các
chủ thể tham gia quan hệ kinh tế trước những rủi ro trong kinh doanh, từ đó góp
phần ổn định trật tự đời sống xã hội.
Pháp luật phá sản là toàn bộ các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành,
quy định về điều kiện mở thủ tục phá sản và điều kiện tuyên bố phá sản DN, HTX;
quy định trình tự, thủ tục giải quyết và yêu cầu mở thủ tục phá sản cũng như thi
hành quyết định tuyên bố phá sản; về địa vị pháp lý và mối quan hệ giữa các chủ
thể tham gia tố tụng phá sản và các vấn đề khác phát sinh liên quan đến giải quyết
phá sản. Giáo trình Luật Thương Mại tập 2 - Trường Đại học Luật Hà Nội (2014)
có đưa ra khái niệm như sau: “Pháp Luật phá sản có thể hiểu là tổng thể các quy
phạm pháp luật do nhà nước ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh
trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.”.
Pháp luật phá sản là một chế định đặc thù khi vừa chứa đựng các quy phạm
của pháp luật nội dung, vừa chứa đựng các quy phạm của pháp luật hình thức
(pháp luật tố tụng). Với tư cách là pháp luật nội dung, pháp luật phá sản điều chỉnh
các quan hệ tài sản giữa chủ nợ và con nợ. Với tư cách là pháp luật hình thức, pháp
luật phá sản điều chỉnh quan hệ tố tụng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với
chủ nợ, con nợ và những người có liên quan, quy định quyền và nghĩa vụ tố tụng
của các chủ thể, trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản DN, HTX. Như vậy,
pháp luật phá sản điều chỉnh hai nhóm quan hệ: Quan hệ tài sản giữa chủ nợ và

12


con nợ; Quan hệ tố tụng giữa các đương sự với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
[25; tr.352], trong đó:
(i) Quan hệ giữa chủ nợ và con nợ
Quan hệ giữa chủ nợ và con nợ có bản chất là quan hệ tài sản, được hình
thành từ quá trình tổ chức thực hiện hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chủ
thể tham gia các quan hệ tài sản này là chủ nợ và con nợ. Chủ nợ là các tổ chức, cá
nhân có khoản nợ chưa được DN, HTX mắc nợ thanh toán. Chủ nợ được chia ra
làm ba loại: Chủ nợ có bảo đảm, Chủ nợ không có bảo đảm và Chủ nợ có bảo đảm
một phần (khoản 4, 5, 6 Điều 4 Luật phá sản 2014). Còn con nợ chính là DN, HTX
mất khả năng thanh toán, không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời
hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán và bị TAND ra quyết định tuyên bố
phá sản.
Khách thể của quan hệ giữa chủ nợ và con nợ là tài sản của DN, HTX lâm
vào tình trạng phá sản. Nội dung của quan hệ tài sản giữa con nợ và chủ nợ chính
là những quyền và nghĩa vụ tài sản của các chủ thể đó.
(ii) Quan hệ tố tụng giữa đương sự với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Khác với quan hệ tài sản giữa chủ nợ và con nợ, quan hệ tố tụng giữa các
đương sự với cơ quan nhà nước có thẩm quyền có những dấu hiệu riêng của nó. Về
chủ thể; một bên là các đương sự gồm chủ nợ, con nợ và những người có liên quan
như người lao động, cổ đông CTCP... (trong trường hợp họ nộp đơn yêu cầu mở
thủ tục phá sản); một bên là cơ quan nhà nước có thẩm quyền như TAND,
VKSND, Quản tài viên, Doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, Cơ quan thi hành
án dân sự. Quản tài viên, Doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản là một chế định
mới của Luật phá sản (2014). Ở chừng mực nhất định, Quản tài viên, Doanh
nghiệp quản lý, thanh lý tài sản do Toà án chỉ định để thực hiện công việc quản lý,
thanh lý tài sản, giúp việc cho Toà án trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản
với những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định. Vì vậy, có thể coi Quản tài viên, Doanh

13


nghiệp quản lý, thanh lý tài sản nằm trong thành phần của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền.
Khách thể của quan hệ này chính là quá trình giải quyết yêu cầu phá sản
DN, HTX. Nội dung của quan hệ này là những quyền và nghĩa vụ tố tụng của các
đương sự trước Nhà nước hoặc là các hành vi tố tụng của các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền.
1.2.2. Nội dung của pháp luật phá sản
Nội dung của pháp luật phá sản bị chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan và
chủ quan, như cơ chế quản lý kinh tế, trình độ phát triển của thị trường, phong tục
tập quán, trình độ, năng lực lập pháp... Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội cụ
thể của các quốc gia trong từng thời kỳ mà nội dung của pháp luật phá sản được
xây dựng một cách phù hợp. Những nội dung của pháp luật phá sản hiện nay ở
Việt Nam được thể hiện trong Luật phá sản năm 2014 và các văn bản hướng dẫn
thi hành. Nhìn chung, pháp luật phá sản bao gồm những nội dung cơ bản như: đối
tượng áp dụng của Luật phá sản; lý do phá sản; cơ quan có thẩm quyền giải quyết
yêu cầu phá sản; thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản…
• Về đối tượng áp dụng của Luật phá sản
Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật phá sản (2004) thì đối tượng áp
dụng của Luật này là: “Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành
lập và hoạt động theo quy định của pháp luật”. Theo quy định này thì Luật phá
sản (2004) chỉ áp dụng đối với DN, HTX. Trong quá trình xây dựng Luật phá sản
(2014), nhiều ý kiến cho rằng: Cần bổ sung đối tượng áp dụng của Luật này là cá
nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình, xí nghiệp có đăng ký kinh doanh, trường Đại học và
trường ở các cấp học khác (các đơn vị sự nghiệp) nếu lâm vào tình trạng mất khả
năng thanh toán nợ đến hạn thì đều có thể giải quyết theo thủ tục phá sản. Quan
điểm này cho rằng, việc mở rộng các đối tượng này phù hợp với khuyến nghị số 8
và 9 về Hướng dẫn xây dựng pháp luật phá sản của Uỷ ban Luật thương mại quốc
tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL) và một số nước trên thế giới như Nhật Bản,

14


Pháp, Anh, Đức, Nga... đều quy định áp dụng pháp luật phá sản đối với mọi chủ
thể có đăng ký kinh doanh [36].
Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành thì cá nhân, tổ chức, tổ
hợp tác, hộ gia đình khi tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh có đăng ký kinh
doanh nhưng không phải đăng ký vốn pháp định; hoạt động kinh doanh của nhóm
đối tượng này ở quy mô nhỏ, đa số chưa thực hiện tốt về chế độ kế toán, tài chính
nên khi áp dụng thủ tục phá sản sẽ gặp nhiều khó khăn trong quản lý, thanh lý tài
sản. Mặt khác, hiện nay các đối tượng này mất khả năng thanh toán thì việc xử lý
nợ sẽ thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự. Đối với các cơ sở đào tạo hoạt
động mang tính nghề nghiệp đặc thù, hoạt động của các cơ sở này liên quan đến
chính sách đối với học sinh, sinh viên; việc thành lập, hoạt động, sáp nhập, chia,
tách, giải thể được điều chỉnh theo Luật giáo dục, Luật giáo dục đại học và Luật
dạy nghề. Vì vậy, trong thời điểm hiện nay, quan điểm Luật phá sản (2014) là tạm
thời chưa nên mở rộng các đối tượng áp dụng.
Luật phá sản (2014) quy định tại Điều 2 về đối tượng áp dụng: “Luật này áp
dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (sau đây gọi chung là
hợp tác xã) được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật”.
• Về lý do phá sản
Pháp luật Nhật Bản quy định “Tình trạng phá sản là không có khả năng trả
các khoản nợ đến hạn và đối với pháp nhân là không có khả năng trả nợ”. Luật
phá sản doanh nghiệp năm 1992 của Liên bang Nga thì quy định “Tình trạng phá
sản của doanh nghiệp được hiểu là việc mất khả năng đáp ứng yêu cầu của chủ nợ
về thanh toán hàng hoá, công việc, dịch vụ, kể cả việc mất khả năng bảo đảm các
thanh toán phải nộp ngân sách và các quỹ ngoài ngân sách do nghĩa vụ của người
mắc nợ. Dấu hiệu bên trong về tình trạng phá sản của doanh nghiệp là sự ngưng
việc thanh toán bình thường của mình, nếu doanh nghiệp không bảo đảm hoặc rõ
ràng không có khả năng thực hiên các yêu cầu của chủ nợ trong thời hạn 3 tháng
kể từ ngày đến hạn thực hiện các yêu cầu đó”. Khái niệm phá sản theo quy định

15


của pháp luật Trung Quốc là “khi doanh nghiệp không có khả năng thanh toán
khoản nợ đến hạn thì bị xem xét khả năng doanh nghiệp bị phá sản” [30].
Luật phá sản Việt Nam 2014 có nhiều điểm tương đồng với pháp luật Nhật
Bản, Nga, Trung Quốc trong quy định về tình trạng phá sản của doanh nghiệp.
Theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 4 Luật phá sản (2014) thì phá sản là tình trạng
của DN, HTX mất khả năng thanh toán và bị TAND ra quyết định tuyên bố phá
sản; DN, HTX mất khả năng thanh toán là DN, HTX không thực hiện nghĩa vụ
thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.
• Về cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu phá sản
Theo thông lệ chung, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tuyên bố phá sản
doanh nghiệp là Toà án. Tuy nhiên, do tổ chức hệ thống toà án và cơ quan tài phán
ở mỗi nước khác nhau nên việc giao cho Toà án nào giải quyết yêu cầu tuyên bố
phá sản không giống nhau. Ví dụ, ở hầu hết các nước Châu Âu lục địa, thẩm quyền
giải quyết phá sản thuộc về Toà thương mại. Trong khi đó, một số nước như Mỹ,
Thuỵ Điển, Nam Tư... lại thành lập Toà phá sản riêng. Có những nước như Nga thì
việc giải quyết phá sản thuộc chức năng của Toà án trọng tài. Ngược lại, ở Trung
Quốc, Malayxia… tính chất của một vụ phá sản được pháp luật coi như một vụ
kiện dân sự nên thẩm quyền thuộc về Toà án dân sự [27, tr.62].
Ở Việt Nam, Luật phá sản (2014) quy định TAND cấp tỉnh và cấp huyện có
nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết việc phá sản doanh nghiệp, việc phân định thẩm
quyền giải quyết vụ phá sản dựa trên ba nguyên tắc; theo trụ sở chính, theo nơi
đăng ký kinh doanh và theo tính chất phức tạp của vụ việc phá sản.
• Về thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản
Pháp luật phá sản một số nước trên thế giới như Pháp, Nga, Nhật Bản,
Trung Quốc đều quy định thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản gồm: Thủ tục thanh lý
và Thủ tục tổ chức lại (phục hồi). Thủ tục này rất đa dạng và mềm dẻo. Điểm
chung của các nước là tuỳ theo tình hình cụ thể của các doanh nghiệp mà áp dụng

16


thủ tục phục hồi (cứu vãn) hay thủ tục thanh lý (phá sản). Trong quá trình thực
hiện không cứng nhắc trong một thủ tục mà có thể chuyển từ thủ tục này sang thủ
tục khác một cách linh hoạt.
Thủ tục phá sản quy định trong Luật phá sản Việt Nam 2014 bao gồm hai
thủ tục chính là Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh và Thủ tục tuyên bố phá
sản. Thanh lý tài sản được thực hiện sau khi có quyết định tuyên bố doanh nghiệp
phá sản chứ không còn là một thủ tục riêng biệt được tiến hành trước khi ra quyết
định tuyên bố phá sản như trước nữa. Đối với doanh nghiệp mất khả năng thanh
toán, không nhất thiết phải thực hiện lần lượt hai thủ tục này để được phá sản.
1.3. Thủ tục phá sản - Nội dung cơ bản của pháp luật phá sản
1.3.1. Khái niệm thủ tục phá sản
Trên thực tế, bất kỳ công việc hay hoạt động nào cũng đều cần thực hiện lần
lượt theo một trình tự nhất định để có thể hoàn thành hay đạt được kết quả như
mong muốn. Thủ tục là “cách thức đã định thực hiện một hoạt động” [37]. Cũng
có thể hiểu thủ tục là tổng hợp các bước cần được thực hiện theo trình tự nhất định
để hoàn thành một hoạt động nào đó. Tình trạng phá sản là hậu quả đương nhiên
của quá trình cạnh tranh, kinh doanh trên thương trường. Từ thực tiễn đã hình
thành những thủ tục giải quyết tình trạng làm ăn thua lỗ đa dạng và hiệu quả, thể
hiện sự linh hoạt, mềm dẻo của thị trường và khi cần thiết có sự điều chỉnh, can
thiệp của Nhà nước.
Đứng từ phía con nợ, có thể hiểu thủ tục phá sản là tổng hợp các bước mà
doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện theo trình tự nhất định để thanh toán các
khoản nợ đến hạn nếu rơi vào tình trạng không còn khả năng chi trả khi các chủ nợ
có yêu cầu. Bên cạnh đó, đứng từ phía chủ nợ thì thủ tục phá sản là một cách thức
chủ nợ thực hiện quyền đòi nợ của mình khi một DN, HTX lâm vào tình trạng phá
sản. Điều 5 Luật phá sản (2004) đã quy định đa dạng và linh hoạt các thủ tục mà
Toà án có thể áp dụng khi giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được áp dụng
đối với DN, HTX khi lâm vào tình trạng phá sản. Cụ thể:

17


- Thứ nhất: Thủ tục phá sản được áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã
lâm vào tình trạng phá sản bao gồm: (i) Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản;
(ii) Phục hồi hoạt động kinh doanh; (iii) Thanh lý tài sản, các khoản nợ; (iv) Tuyên
bố phá sản.
- Thứ hai: Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, căn cứ vào quy định
cụ thể của Luật này, Thẩm phán quyết định áp dụng một trong hai thủ tục quy định
tại điểm b và điểm c khoản 1 điều này hoặc quyết định chuyển từ áp dụng thủ tục
phục hồi hoạt động kinh doanh sang áp dụng thủ tục thanh lý tài sản, các khoaản
nợ hoặc tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản.
Khác với cách tiếp cận của Luật phá sản (2004), Luật phá sản (2014) không
có điều luật riêng quy định về thủ tục phá sản. Nằm rải rác trong các quy định của
pháp luật, có thể thấy thủ tục phá sản quy định trong Luật phá sản (2014) chỉ bao
gồm hai thủ tục chính là Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh và Thủ tục tuyên
bố phá sản. Thanh lý tài sản được thực hiện sau khi có quyết định tuyên bố doanh
nghiệp phá sản, là một hoạt động để thi hành quyết định tuyên bố phá sản chứ
không còn là một thủ tục riêng biệt được tiến hành trước khi ra quyết định tuyên
bố doanh nghiệp phá sản như trước nữa. Đối với doanh nghiệp mất khả năng thanh
toán, không nhất thiết phải thực hiện lần lượt hai thủ tục nêu trên để được phá sản.
Toà án có thể tuyên bố DN, HTX phá sản theo thủ tục rút gọn được quy định tại
Điều 105 Luật phá sản (2014).
Tóm lại, về bản chất, thủ tục phá sản là thủ tục tư pháp vì nó do Toà án là
cơ quan tư pháp tiến hành, đối tượng của hoạt động tố tụng phá sản là quan hệ
pháp lý phát sinh giữa chủ nợ (bên có quyền được thanh toán) và con nợ (bên có
nghĩa vụ thanh toán) thông qua cơ chế đặc biệt. Như vậy, khái niệm thủ tục phá
sản có thể hiểu là thủ tục tư pháp đặc biệt do Toà án tiến hành khi có yêu cầu của
người có quyền nộp đơn, nhằm giải quyết tranh chấp lợi ích về tài sản phát sinh
giữa chủ nợ và con nợ do con nợ mất khả năng thanh toán các khoản nợ trong thời
hạn ba tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.

18


1.3.2. Đặc điểm của thủ tục phá sản
Khác với thủ tục giải quyết một vụ kiện dân sự hay một vụ kiện kinh tế, thủ
tục giải quyết một vụ phá sản được coi là một thủ tục tố tụng đặc biệt. Tính chất
đặc biệt của thủ tục phá sản được thể hiện ở những đặc điểm sau đây:
- Thứ nhất: Thủ tục phá sản là một thủ tục đòi nợ tập thể:
Trong một vụ kiện đòi nợ theo thủ tục tố tụng dân sự, các chủ nợ hầu như
thực hiện đòi nợ một cách độc lập, riêng lẻ, không liên quan đến nhau. Khác với
điều thông thường đó, thủ tục phá sản là thủ tục mà ở đó việc đòi nợ cũng như trả
nợ được tiến hành một cách tập thể. Theo quy định của pháp luật phá sản, trong
quá trình đòi nợ, các chủ nợ không được phép đòi nợ một cách độc lập mà phải tập
hợp lại, hình thành nên Hội nghị chủ nợ (HNCN) - tổ chức đại diện cho tất cả các
chủ nợ để tham gia vào việc giải quyết phá sản của con nợ.
- Thứ hai: Thủ tục phá sản là thủ tục đòi nợ được tiến hành trong hoàn cảnh
đặc biệt như một biện pháp cuối cùng của quá trình đòi nợ:
Trong quá trình kinh doanh, thủ tục đòi nợ và trả nợ thông thường có thể
tiến hành bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, thủ tục phá sản chỉ được tiến hành khi và chỉ
khi doanh nghiệp mắc nợ đã lâm vào tình trạng tài chính không có lối thoát - mất
khả năng thanh toán nợ. Nói cách khác, thủ tục phá sản chỉ xuất hiện như một giải
pháp cuối cùng mà các chủ nợ buộc phải sử dụng khi các phương thức đòi nợ khác
đã bất lực.
- Thứ ba: Thanh toán nợ trong thủ tục phá sản được tiến hành trên cơ sở số
tài sản còn lại của doanh nghiệp:
Nguyên tắc trong dân sự là phải trả đủ nợ, nghĩa là nợ bao nhiêu phải trả
bấy nhiêu. Ngược lại, trong việc thanh lý tài sản phá sản, nếu tài sản có nhỏ hơn
hoặc bằng tài sản nợ thì con nợ cũng chỉ dùng số tài sản đó để trả nợ mà thôi. Phần
nợ còn thiếu thì các chủ nợ phải chịu rủi ro theo tỷ lệ nhất định. Tuy nhiên, nguyên
tắc này không áp dụng với các doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn như

19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×