Tải bản đầy đủ

Thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại bằng toà án từ thực tiễn toà án nhân dân tỉnh hải dương

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN TỪ THỰC TIỄN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

CHU THỊ THU HÀ

HÀ NỘI - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN TỪ THỰC TIỄN

TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
CHU THỊ THU HÀ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS NGUYỄN TRUNG TÍN

HÀ NỘI - 2016


Lêi cam ®oan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Chu Thị Thu Hà


LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện đề tài này em đã nhận được sự
giúp đỡ tận tình thiết thực của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Trung Tín và một số
cán bộ, lãnh đạo, giảng viên khoa Luật, khoa sau Đại học - Viện Đại học Mở Hà
Nội; lãnh đạo và cán bộ TAND tỉnh Hải Dương. Em xin chân thành bày tỏ lòng
cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó.
Bài viết chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi những khiếm khuyết trong biên
tập cũng như trong trình bày. Rất mong sự góp ý và phê bình của những ai quan tâm
đến đề tài này.
NGƯỜI THỰC HIỆN

Chu Thị Thu Hà


MỤC LỤC
TRANG


1.1.

Mở đầu

01

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN THỦ TỤC GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN

04

Tranh chấp kinh doanh thương mại và vai trò giải quyết tranh
chấp thương mại

04

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, nguyên nhân tranh chấp thương mại

04

1.1.2 Vai trò giải quyết tranh chấp thương mại bằng tòa án

08

1.2.

12

Thủ tục tố tụng giải quyết các tranh chấp thương mại tại tòa
án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự

1.2.1 Khởi kiện và thụ lý vụ án

12

1.2.2 Thủ tục sơ thẩm

19

1.2.3 Thủ tục phúc thẩm

21

1.2.4 Thủ tục xét lại bản án có hiệu lực

24

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƯƠNG MẠI TẠI TAND TỈNH HẢI DƯƠNG

32

2.1.

Tình hình kinh tế xã hội tại địa bàn tỉnh Hải Dương trong
những năm gần đây.

32

2.2.

Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại tại
tỉnh Hải Dương

33

2.3

Thực tiễn áp dụng thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp kinh
doanh thương mại tại TAND tỉnh Hải Dương

34

2.4

Những khuyết điểm trong hoạt động giải quyết tranh chấp
thương mại tại Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương

40

2.5

Nguyên nhân khuyết điểm hoạt động giải quyết tranh chấp
thương mại tại Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương

47

2.6

Một số khó khăn khi áp dụng thủ tục tố tụng giải quyết tranh
chấp kinh doanh thương mại của TAND tỉnh Hải Dương theo
quy định pháp luật hiện hành

48


3.1.

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ BẢO ĐẢM ÁP DỤNG PHÁP
LUẬT VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN

58

Giải pháp hoàn thiện pháp luật thủ tục giải quyết tranh chấp
thương mại bằng Tòa án.

58

3.1.1 Tiếp tục đổi mới thủ tục tiến hành phiên tòa

58

3.1.2 Đơn giản hóa thủ tục tố tụng khi bị đơn, người liên quan
không cung cấp chứng cứ hoặc có mặt theo triệu tập của Tòa
án.

60

3.1.3 Xây dựng thủ tục rút gọn áp dụng cho những tranh chấp
thương mại đơn giản

63

3.1.4 Hạn chế quyền kháng nghị của VKS đối với phán quyết tranh
chấp thương mại.

65

3.1.5 Nâng cao quyền uy của Tòa án và uy tín của Thẩm phán

65

3.1.6 Thiết lập án lệ trong xét xử và công bố bản án rộng rãi

70

3.2.

75

Các biện pháp bảo đảm áp dụng pháp luật về giải quyết tranh
chấp thương mại

3.2.1 Một số biện pháp bảo đảm chung

75

3.2.2 Một số biện pháp bảo đảm để giải quyết các tranh chấp Công
ty của Toà án

78

KẾT LUẬN

82

Danh mục tài liệu

83


DANH MỤC VIẾT TẮT
BLTT

: Bộ luật tố tụng.

TAND

: Tòa án nhân dân


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài :
Nước ta đang đứng trên đà phát triển và hội nhập sâu rộng về kinh tế. Một xã
hội có nền kinh tế càng phát triển thì tranh chấp càng xảy ra nhiều, phức tạp về tính
chất và đa dạng về nội dung. Tranh chấp kinh doanh thương mại là một hệ quả tất
yếu của quá trình vận động các nguồn lực của các cá nhân, tổ chức vào hoạt động
kinh doanh, thương mại. Khi tranh chấp xảy ra, các bên cần có cơ chế để giải quyết
tranh chấp, mở đường cho sự hợp tác và phát triển. Tòa án là một trong những
phương thức giải quyết tranh chấp như thế.
Trong bối cảnh đang diễn ra cuộc cải cách tư pháp mạnh mẽ nhằm đáp ứng
nhu cầu phát triển của xã hội, Tòa án nhân dân là một trong những phương thức lựa
chọn hữu hiệu để giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại. Tuy nhiên, thủ
tục tố tụng để giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại vẫn là trình tự
vướng mắc, tạo tâm lý e ngại cho đương sự khi chọn Tòa án là cơ quan giải quyết
các tranh chấp. Những thách thức đặt ra là để Tòa án nhân dân nâng cao vị thế, năng
lực, đồng thời cũng không là vật cản con đường bảo vệ các quyền và lợi ích hợp
pháp của doanh nhân nếu không có những biện pháp tháo gỡ phù hợp. Với lý do đó,
tác giả đã lựa chọn đề tài: “ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP
THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN TỪ THỰC TIỄN TỈNH HẢI DƯƠNG” làm
đề tài luận văn tốt nghiệp cho mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
2.1. Mục đích
- Làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về thủ tục tố tụng giải quyết các tranh
chấp thương mại bằng tòa án.
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh
chấp thương mại bằng tòa án.
2.2. Nhiệm vụ

1


- Làm rõ thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án theo quy định
của pháp luật tố tụng dân sự.
- Đánh giá thực tiễn, nguyên nhân, thực trạng giải quyết tranh chấp thương
mại tại TAND tỉnh Hải Dương.
- Nêu ra một số kiến nghị khắc phục các hạn chế, nâng cao hiệu quả giải
quyết tranh chấp thương mại tại TAND tỉnh Hải Dương nhằm đáp ứng nhu cầu phát
triển của nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập và tự do hóa nền kinh tế.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1. Đối tượng
- Các quan hệ về thủ tục tố tụng và giải quyết tranh chấp thương mại bằng
tòa án.
- Các quan hệ về thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp thương mại bằng tòa
án từ thực tiễn tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
3.2. Phạm vi
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn chọn những yếu tố ảnh hưởng tới
quá trình giải quyết tranh chấp thương mại làm đối tượng nghiên cứu. Từ đó tìm
hiểu sự ảnh hưởng của các yếu tố đó tới quá trình giải quyết tranh chấp thương mại
tại TAND cấp tỉnh Hải Dương. Tuy nhiên, cũng cần phải thấy những yếu tố ảnh
hưởng tới quá trình giải quyết tranh chấp thương mại là rất phong phú, phức tạp,
việc nghiên cứu tất cả các yếu tố đó là không phù hợp trong khuôn khổ bản luận văn
này. Vì thế, tác giả chỉ lựa chọn thủ tục giải quyết các tranh chấp thương mại làm
đối tượng nghiên cứu của luận văn.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu là các phương pháp phổ biến để nghiên cứu luật
học đặt trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đó là:
- Phương pháp khai thác tài liệu sẵn có bởi các bài viết, các kết quả nghiên
cứu của các tác giả đã nghiên cứu trong những lĩnh vực có liên quan đến đề tài.
- Phương pháp phân tích và so sánh luật.
- Phương pháp diễn dịch và phương pháp tổng hợp.

2


- Phương pháp thăm dò xã hội học.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn.
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối toàn diện, có
hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản về thủ tục giải quyết các tranh chấp thương mại
bằng tòa án. Trên cơ sở đánh giá thực trạng về pháp luật điều chỉnh thủ tục tố tụng
giải quyết tranh chấp thương mại bằng tòa án, luận văn kiến nghị một số giải pháp
về thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại bằng tòa án nhằm hoàn thiện hơn nữa
quy chế pháp lý và góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thủ tục giải
quyết tranh chấp thương mại bằng tòa án.
6. Bố cục của luận văn:
Luận văn có bố cục gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tranh chấp thương mại và giải quyết
tranh chấp thương mại bằng con đường Tòa án.
Chương 2: Thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại tại TAND tỉnh Hải
Dương.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luận và giải pháp bảo đảm thực hiện tố
thủ tục giải quyết các tranh chấp thương mại bằng tòa án.
Với trình độ của tác giả còn hạn chế, đề tài luận văn lại liên quan đến nhiều
lĩnh vực nên luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót. Tuy nhiên, tác giả cũng đã nỗ
lực cố gắng trình bầy các ý tưởng của mình một cách có hệ thống, làm rõ sự ảnh
hưởng của các yếu tố thực tiễn đến quá trình giải quyết quá trình giải quyết tranh
chấp thương mại tại TAND tỉnh Hải Dương, trình tự tố tụng giải quyết các tranh
chấp thương mại. Hy vọng luận văn sẽ giúp ích đôi chút cho công cuộc cải cách tư
pháp đang diễn ra và là tài liệu hữu ích cho những người đang nghiên cứu các lĩnh
vực liên quan đến đề tài.

3


Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN
1.1. Tranh chấp thương mại và vai trò của thủ tục giải quyết tranh chấp
thương mại:
1.1.1. Khái niệm về tranh chấp thương mại:
Con người, với bản tính tự nhiên là luôn tìm cách tối đa hóa lợi ích cho mình
nên đôi khi dẫn đến sự xung đột với lợi ích của người khác hoặc lợi ích của cộng
đồng. Do vậy, tranh chấp tồn tại như một điều tất yếu. Chừng nào con người còn
được thúc đẩy bởi lợi ích cá nhân thì chừng đó còn có những xung đột về lợi ích.
Xét ở một chừng mực nhất định, theo Triết học, mâu thuẫn còn tạo ra động lực cho
sự phát triển. Và hệ quả của nó là để mở đường cho sự phát triển, luôn tồn tại các
phương thức để giải quyết tranh chấp.
Tranh chấp thương mại là một thuật ngữ pháp lý mới xuất hiện cùng với sự
ra đời của Bộ luật thương mại năm 1997. Trước khi thuật ngữ tranh chấp thương
mại xuất hiện, thực tiễn giải quyết tranh chấp phân chia thành tranh chấp dân sự,
tranh chấp kinh tế. Các tranh chấp phát sinh trong đời sống dân sự hàng ngày bao
gồm các quan hệ nhân thân phi tài sản. Quan hệ nhân thân phi tài sản được coi là
tranh chấp dân sự và điều chỉnh bởi Bộ luật dân sự năm 1995. Tranh chấp phát sinh
từ hợp đồng kinh tế và hoạt động tổ chức kinh doanh của các doanh nghiệp, hoạt
động mua bán trái phiếu, cổ phiếu được coi là các tranh chấp kinh tế, được điều
chỉnh chủ yếu bởi Pháp lệnh hợp đồng kinh tế.
Tình trạng này đã được cải thiện một cách đáng kể sau nỗ lực cải cách về tư
duy pháp lý lớn vào năm 2005, 2015. Kết quả là cho ra đời BLDS năm 2005, 2015;
Luật thương mại năm 2005 bãi bỏ Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 đã thống
nhất về cách điều chỉnh hợp đồng. BLDS có vai trò như đạo luật gốc, điều chỉnh
liên thông tất cả các quan hệ dân sự, lao động, kinh doanh, thương mại, hôn nhân
gia đình; BLTTDS năm 2004, BLTTDS sửa đổi bổ sung năm 2011, BLTTDS năm

4


2015 ra đời đã thống nhất thủ tục giải quyết tranh chấp nếu xảy ra đối với tác quan
hệ này.
Theo nghĩa thông thường của từ, tranh chấp thương mại có thể được hiểu là
tranh chấp về thương mại hoặc tranh chấp trong thương mại. Và như vậy, có hai
khái niệm nhỏ cần làm rõ là khái niệm tranh chấp và khái niệm thương mại trước
khi đi làm rõ khái niệm tranh chấp thương mại.
Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt, Tranh chấp được hiểu là “Đấu tranh,
giằng co khi có những mâu thuẫn, bất đồng thường là trong vấn đề quyền lợi giữa
hai bên”.
Theo khoản 16 điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì: “Kinh doanh là việc
thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản
xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích
sinh lợi”
Khoản 1 điều 3 Luật thương mại năm 2005 định nghĩa: “Hoạt động thương
mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng
dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi
khác”.
Như vậy, hoạt động kinh doanh và hoạt động thương mại có nhiều nội hàm
trùng nhau như về mục đích sinh lợi, về đầu tư, về cung ứng dịch vụ, về tiêu thụ sản
phẩm ... Bởi thế, nếu tách bạch giữa hoạt động kinh doanh và hoạt động thương mại
là không thể. Cho nên, BLTTDS đã đưa ra khái niệm chung là hoạt động kinh
doanh, thương mại.
Từ đó, chúng ta xác định tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn, bất
đồng giữa các chủ thể phát sinh trong hoạt động thực hiện liên tục một, một số hoặc
toàn bộ quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, cung ứng các dịch vụ
trên thị trường, xúc tiến thương mại và các hoạt động sinh lợi khác. Một cách ngắn
gọn hơn, có thể định nghĩa tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng về
quyền lợi giữa các chủ thể phát sinh trong hoạt động thương mại.

5


Cách định nghĩa như trên có hạn chế là tuy chỉ ra được bản chất của tranh
chấp thương mại là mâu thuẫn về quyền lợi phát sinh khi tham gia hoạt động
thương mại nhưng lại không cho thấy được biểu hiện của nó. Trong quan hệ kinh
doanh, giữa các bên luôn tồn tại đồng thời hai mối quan hệ vừa xung đột vừa hợp
tác. Để xác định chính xác khi nào những xung đột lợi ích này chuyển thành tranh
chấp thì cần phải dựa vào những dấu hiệu biểu hiện của nó. Dấu hiệu đó là khi một
bên cho rằng quyền và lợi ích của mình bị vi phạm yêu cầu phía bên kia khắc phục
nhưng không nhận được sự đồng ý. Vì vậy, theo cách này, còn có một cách định
nghĩa khác đó là tranh chấp thương mại xảy ra khi một bên trong quan hệ thương
mại khẳng định một trái quyền mà lại bị bên khác chống lại.
Cách định nghĩa thứ hai cho cách nhận biết dễ dàng hơn về tranh chấp
thương mại và các đặc điểm pháp lý của nó. Theo cách định nghĩa này, tranh chấp
thương mại có những đặc điểm pháp lý sau đây:
Chủ thể trong quan hệ tranh chấp thương mại là những chủ thể tham gia vào
hoạt động thương mại nhằm tìm kiếm lợi nhuận;
Nội dung của tranh chấp thương mại xảy ra xung quanh các quyền và nghĩa
vụ của quan hệ thương mại mà các bên tham gia được pháp luật điều chỉnh;
Phát sinh khi một bên chủ thể trong quan hệ thương mại mà các bên tham
gia khẳng định trái quyền của mình nhưng bị bên khác chống lại.
Tóm lại, nếu tìm một cách định nghĩa thể hiện cả nội dung và hình thức thì
có thể kết hợp hai cách định nghĩa trên và nêu ra khái niệm về tranh chấp thương
mại như sau: Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền lợi
giữa các bên trong quan hệ thương mại khi một bên khẳng định trái quyền của
mình mà lại bị bên khác chống lại.
Đặc điểm giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án
- Giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng Tòa án là hình thức giải quyết tranh
chấp thông qua hoạt động của cơ quan tài phán Nhà nước, nhân danh quyền lực Nhà
nước để đưa ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành, kể cả bằng sức mạnh
cưỡng chế. Trong quá trình giải quyết các tranh chấp kinh doanh, Tòa án phải tuân

6


theo một trình tự, thủ tục nhất định mà pháp luật đã quy định, cụ thể đó là những
nguyên tắc cơ bản; trình tự, thủ tục khởi kiện; trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc tại
Tòa án, thi hành bản án, quyết định của tòa án; quyền và nghĩa vụ những người
tham gia tố tụng cũng như của những cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan…. Đây
chính là thủ tục tố tụng Tòa án. Như vậy, tố tụng Tòa án chính là trình tự, thủ tục
mà pháp luật quy định để giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại bằng
Tòa án.
- Khi tranh chấp xảy ra, có rất nhiều con đường giải quyết mà các bên có thể
lựa chọn. Con đường nào ngắn nhất, ít tốn kém nhất có thể khôi phục lại được các
quyền, lợi ích hợp pháp của mình sẽ được các bên lựa chọn. Trên thực tế, tranh
chấp thương mại có thể được giải quyết bằng những con đường như thương lượng,
hòa giải, Trọng tài, Tòa án.
- Tòa án là thiết chế mang quyền lực tài phán cao nhất. Quyền lực tài phán
của Tòa án là đương nhiên xuất phát từ chức năng bảo vệ pháp luật của cơ quan tư
pháp. Giải quyết tranh chấp thương mại bằng Toà án là hình thức giải quyết tranh
chấp do cơ quan tài phán của nhà nước thực hiện. Được tiến hành theo trình tự, thủ
tục nghiêm ngặt, chặt chẽ. Bản án hay quyết định của Toà án về vụ tranh chấp được
đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước.
- Giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường Tòa án có những đặc
trưng sau:
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Toà án chỉ phát sinh khi bên có tố
quyền thực hiện tố quyền của mình bằng thủ tục khởi kiện tại Tòa án.
Bằng hình thức Toà án, tranh chấp có thể được xem xét và giải quyết qua
nhiều cấp xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm) và có thể phải thông qua thủ tục xem xét lại
bản án (giám đốc thẩm hoặc tái thẩm) theo quy định của pháp luật mà nhiều khi
không phụ thuộc vào ý chí của các đương sự;
Quyết định có hiệu lực của toà án có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các
bên và có thể được cưỡng chế thi hành nếu các bên không tự nguyện thi hành.
Nguyên nhân tranh chấp thương mại.

7


Trong môi trường kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bắt nguồn từ
nguyên tắc của pháp luật “các chủ thể được làm tất cả những gì mà pháp luật không
cấm” các quốc gia có nền kinh tế thị trường đều xây dựng một hệ thống pháp luật tự
hành đối với lĩnh vực kinh doanh thương mại. Bản chất của quan hệ kinh tế là sự tự
do thỏa thuận của các chủ thể kinh doanh, các thỏa thuận này phù hợp với các quy
định của nhà nước về “luật chơi cùng”, chứ không phải theo sự sắp đặt ý chí của
nhà nước. Tuy nhiên, có sự thỏa thuận thì cũng có thể phát sinh sự vi phạm thỏa
thuận. Sự vi phạm này có thể từ nguyên nhân bất khả kháng, không có sự chủ định
của một bên, cũng có thể do lỗi của một hoặc các bên nhưng có chủ định trước…
Chính vì thế, việc phát sinh các tranh chấp trong quá trình kinh doanh là điều khó
tránh khỏi.
Tranh chấp kinh doanh, thương mại xuất hiện bởi nhiều lý do khác nhau, cả
nguyên nhân chủ quan lẫn những nguyên nhân khách quan. Có thể phân tích một
vài nguyên nhân sau đây:
- Do sự thúc đẩy của lợi nhuận: Mục đích của hoạt động kinh doanh là vì lợi
nhuận. Chính vì lợi nhuận mà có những nhà kinh doanh vì xem trọng lợi nhuận đã
chấp nhận phá vỡ hợp đồng, dẫn đến sự vi phạm hợp đồng.
- Sự hạn chế trong kiến thức pháp luật của nhà kinh doanh.
- Pháp luật vẫn còn những khoảng trống nhất định không thể bao quát hết
được các quan hệ có thể xảy ra.
Chính vì những lý do đa dạng này mà tranh chấp giữa các nhà kinh doanh là
tất yếu có thể xảy ra. Tuy vậy, pháp luật luôn hướng đến mục tiêu hạn chế nó, khắc
phục hậu quả của nó có thể xảy ra. Chính vì vậy, pháp luật cho phép các bên tranh
chấp có quyền lựa chọn những biện pháp khác nhau để giải quyết tranh chấp.
1.1.2. Vai trò của giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án
Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Toà án có ưu điểm lớn là các phán quyết
của Toà án được đảm bảo thi hành tính quyền lực Nhà nước nhằm thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của Nhà nước và đóng vai trò là cơ quan bảo vệ pháp luật.

8


Để có thể nhìn nhận đúng đắn và có những tác động hợp lý nhằm nâng cao
hiệu quả giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án, cần đánh giá đúng những
yếu tố tác động vào quá trình giải quyết tranh chấp thương mại. Khi đó, ta sẽ có đủ
những cơ sở và phương hướng tác động vào từng khâu, từng quá trình mà không bị
sợ sai lầm. Đồng thời, dưới sự phân tích các yếu tố tác động cả từ bên trong và bên
ngoài, chúng ta có cái nhìn hệ thống, tìm ra được các chi tiết còn yếu kém hoặc
không phù hợp để tạo ra sự đồng bộ, hài hòa cho cả hệ thống.
Nhìn trong nội bộ hệ thống thì các yếu tố tác động bên trong gồm có: các quy
định về luật nội dung, các quy định về luật thủ tục, các tài liệu chứng cứ mà các bên
có thể xuất trình, năng lực của nguời giải quyết. Thử tưởng tượng một cách so sánh
giữa giải quyết tranh chấp thương mại với quá trình chế tạo một sản phẩm. Với sự
đơn giản nhất, làm ra một sản phẩm bị ảnh hưởng bới những yếu tố như là: các
nguyên vật liệu đầu vào; máy móc thiết bị để gắn kết những nguyên liệu đó thành
sản phẩm; công nghệ (quy trình) để sản xuất ra sản phẩm; sau cùng là tay nghề của
người thợ chế tạo ra sản phẩm đó. Tất cả các yếu tố này có tác động một cách đồng
thời tới chất lượng đầu ra của sản phẩm. Nếu nguyên vật liệu không tốt hoặc máy
móc/thiết bị hư cũ, hoặc công nghệ lạc hậu hoặc tay nghề người thợ yếu kém đều
ảnh hưởng tới chất lượng của sản phẩm được làm ra.
Một sự so sánh dường như khập khiễng, nhưng những gì đúng với việc sản
xuất có vẻ đúng như đối với việc giải quyết tranh chấp thương mại. Các nguyên vật
liệu đầu vào tương ứng với các tài liệu, chứng cứ mà các bên có được khi xuất trình
cho Tòa án để yêu cầu giải quyết tranh chấp; Các máy móc,thiết bị để gắn kết các
nguyên vật liệu đầu vào tương ứng với các quy định của luật nội dung; quy
trình,công nghệ tương ứng với các quy định từ luật thủ tục và cuối cùng tay nghề
của người thợ tương ứng với năng lực,trình độ của người Thẩm phán.
Kết quả là, đối với việc sản xuất, đầu ra là sản phẩm hoàn hảo và làm hài
lòng người dùng. Kết quả của việc giải quyết tranh chấp thương mại là đưa ra được
một phương án hợp lý (có thể đạt được thông qua sự hòa giải hoặc xét xử), có lợi
cho xã hội, tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh và thúc đẩy thương mại phát

9


triển. Cũng thông qua phương án đó, lợi ích của xã hội, của nhà nước được đảm
bảo; quyền và các lợi ích hợp pháp của các bên được bảo vệ, được khôi phục.
Ngoài những yếu tố tác động từ bên trong quá trình giải quyết tranh chấp
thương mại, còn có những tác động từ phía bên ngoài tới quá trình giải quyết tranh
chấp. Các yếu tố đó là sự phát triển của hoạt động thương mại; quan điểm của giới
doanh nhân về việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường Tòa án, hệ
thống các cơ quan bổ trợ tư pháp và các điều kiện vật chất khác.
Những yếu tố này có tác động không trực tiếp nhưng lại gián tiếp tạo ra môi
trường lành mạnh để quá trình giải quyết tranh chấp có thể diễn ra thuận lợi hoặc
khó khăn. Sự phát triển của nền kinh doanh thương mại tạo ra sự muôn mặt trong
quá trình giải quyết tranh chấp thương mại. Thực tiễn chỉ ra rằng, nền kinh tế thương mại phải phát triển đến một mức nhất định thì hoạt động giải quyết tranh
chấp thương mại mới trở thành một hoạt động giải quyết tranh chấp đặc thù, thoát
khỏi quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự thông thường.
Đối với nền kinh tế kém phát triển và mang tính tự cung, quan hệ hợp đồng
dường như không tồn tại. Các loại hợp đồng chỉ đơn thuần với những nội dung như
vay nợ, mua bán. Sự phát triển của nền kinh tế đã dẫn tới vô vàn các hình thức do
Doanh nhân sáng tạo như tín dụng, đầu tư, sở hữu trí tuệ …Những hình thức sáng
tạo đó đã mang lại cho hoạt động giải quyết tranh chấp vẻ mặt mới, đặc thù hơn và
cũng phức tạp hơn. Quan điểm của giới Doanh nhân ảnh hưởng rất lớn tới việc giải
quyết tranh chấp bằng con đường Tòa án có được trở lên phổ biến hay kém phổ
biến. Tất nhiên, sự cầu viện công lý là điều luôn luôn cần thiết, nhưng đó có phải là
phương án mà các bên tham gia cho là thỏa đáng và ưa thích hay không là vấn đề
cần xem xét.
Cơ chế giải quyết tranh chấp bằng con đường Tòa án có rất nhiều ưu điểm
không ai có thể phủ nhận, tuy nhiên, nó có thích hợp hay không, hay nói cách khác,
nó có bám rễ được vào lòng xã hội hay không một phần rất lớn ảnh hưởng từ truyền
thống của xã hội. Đối với xã hội Tây Âu có truyền thống phân quyền với sự độc lập
của Tòa án, giới Doanh nhân đã có một thời gian rất dài được làm quen với các

10


phương thức tố tụng bởi Tòa án. Tòa án là thiết chế sinh ra để bảo vệ pháp luật và
các quyền tự do kinh doanh, nghĩa vụ hợp đồng của giới doanh nhân. Do đó, các
tranh chấp được cầu viện công lý tới Tòa án là điều hết sức bình thường. Trái lại,
đối với xã hội Á đông, sự tách bạch giữa một cơ quan hành chính và một cơ quan tư
pháp là không có. Những vị phán quan học hành thi cử, tiến thân từ “kẻ sĩ” dường
như xa lạ đối với giới thương nhân. Thêm vào đó, tư tưởng đạo nho “ức nông, trọng
thương” đã xếp vị trí của người thương nhân xuống hạng bét trong xã hội đã lấy đi
sự tin tưởng của giới thương nhân truyền thống vào các cơ chế tài phán công. Bởi
vậy, có thể thấy, ở các nước Á Đông chịu ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo Trung
hoa, phương thức giải quyết tranh chấp bằng con đường Tòa án không mấy được ưa
chuộng (để xem xét cụ thể giới Doanh nhân Việt Nam, tác giả xin được trình bầy cụ
thể hơn ở chương sau)
Phương thức giải quyết tranh chấp bằng con đường Tòa án chỉ có thể trở lên
phổ biến khi nó lấy được sự tin tưởng từ phía các Doanh nhân và thông qua đó, dần
dần thay đổi tư duy truyền thống. Chỉ khi ấy, phương thức giải quyết tranh chấp
bằng con đường Tòa án mới được đánh giá là hiệu quả khi so sánh với các phương
thức giải quyết tranh chấp khác.
Tư pháp hiện đại chỉ ra rằng, hoạt động tư pháp và bổ trợ tư pháp luôn gắn
liền với nhau. Nhà nước đề cao việc bảo vệ pháp luật bao nhiêu thì cũng đề cao hoạt
động Bổ trợ tư pháp bấy nhiêu. Một trong những đặc trưng của Nhà nước pháp
quyền là luôn tạo điều kiện cho hoạt động tư pháp và hoạt động bổ trợ tư pháp song
song cùng phát triển.
Sự tồn tại của các cơ quan bổ trợ tư pháp không những giúp cho Tòa án mà
còn giúp cho các công dân bảo vệ một cách tốt nhất các quyền và lợi ích của mình.
Các hoạt động bổ trợ tư pháp sẽ góp phần làm bôi trơn và hỗ trợ cho guồng máy
giải quyết tranh chấp được chạy thông suốt. Đó là một số các hoạt động bổ trợ tư
pháp mang tính cổ điển và thường xuyên hỗ trợ cho hoạt động giải quyết tranh chấp
của Tòa án. Tòa án, về bản chất, là cơ quan có rất ít sức mạnh vật chất. Sức mạnh
của nó nằm ở trí tuệ, ở phán đoán và lòng yêu công bằng. Vì thế, để cho các phán

11


quyết của Tòa án, cũng như hoạt động của Tòa án được thông suốt, đòi hỏi phải có
sự bổ trợ của các cơ quan, tổ chức khác. Nếu những sự bổ trợ này không có hoặc
không hiệu quả thì quá trình giải quyết tranh chấp của Tòa án cũng chỉ có tác dụng
trên giấy mà không có tác dụng thực tiễn.
Đứng về mặt xã hội, các cơ quan bổ trợ tư pháp cũng có ý nghĩa quan trọng
trong việc giúp các công dân bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nhờ
có luật sư, nhờ có hoạt động công chứng, hoạt động giám định, hoạt động thi hành
án, hoạt động tư vấn và trợ giúp pháp lý mà công dân có điều kiện để thực hiện các
quyền nội dung của mình trên thực tế, có thể tạo ra các chứng cứ, tài liệu để chứng
minh cho các yêu cầu hợp pháp của mình. Sự tồn tại và phát triển của các cơ quan
bổ trợ tư pháp có ý nghĩa tạo ra một nền tư pháp chuyên nghiệp, đồng bộ.
Các cơ sở vật chất đóng vai trò không nhỏ trong việc thúc đẩy quá trình giải
quyết tranh chấp trở lên thuận lợi và nhanh chóng. Với những điều kiện vật chất
nghèo nàn, Tòa án khó có thể đáp ứng được công việc giải quyết tranh chấp trong
thời kỳ mới. Thời đại về thông tin điện tử đã cho phép các bên được phép giao dịch
qua mạng điện tử, sử dụng các chữ ký điện tử, các quá trình thanh toán điện tử..
Càng ngày, những chứng cứ mà các bên cung cấp càng trở lên phong phú, không
chỉ có văn bản viết mà còn là các tài liệu nghe được, nhìn thấy, phần mềm …Tất cả
những chứng cứ và tài liệu ấy đòi hỏi người giải quyết không chỉ có trình độ mà
phải còn được cung cấp những công cụ để có thể thẩm định, xem xét được những
chứng cứ ấy. Mặt khác, có những công cụ lao động hiện đại, được hỗ trợ về thông
tin, tài liệu sẽ có tác dụng như “cánh tay nối dài” giúp cho Thẩm phán có thể thực
hiện công việc một cách dễ dàng hơn.
1.2. Thủ tục giải quyết các tranh chấp thương mại tại tòa án theo quy định của
pháp luật tố tụng dân sự.
1.2.1. Khởi kiện và thụ lý vụ án.
Khởi kiện vụ án kinh tế
Khởi kiện vụ án kinh tế là yêu cầu Tòa án giải quyết những tranh chấp trong
kinh doanh, thương mại. Quyền khởi kiện vụ án kinh tế thuộc về các chủ thể tham

12


gia quan hệ pháp luật kinh tế. Các chủ thể này hoàn toàn bình đẳng về địa vị pháp
lý, có quyền tự định đoạt. Khi xảy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa họ thì họ
có quyền khởi kiện vụ án kinh tế.
Khoản 1 Điều 4 BLTTDS năm 2015 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân
do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc
dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền
con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp
của mình hoặc của người khác ”. Đối với cá nhân, họ chỉ có quyền khởi kiện khi họ
có đủ năng lực chủ thể, trong trường hợp họ bị mất năng lực hành vi, hoặc bị hạn
chế năng lực hành vi thì quyền khởi kiện của họ được thực hiện thông qua người đại
diện hợp pháp. Cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị các chủ thể khác xâm phạm thông qua
người đại diện hợp pháp. Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 BLTTDS năm 2015 quy
định: “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền
giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn
khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện,
đơn yêu cầu đó”.
Đơn khởi kiện là hình thức biểu đạt yêu cầu của người khởi kiện đến Tòa án
nhằm giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại. Đơn khởi kiện phải thể
hiện rõ nội dung vụ việc và những yêu cầu của người khởi kiện đối với Tòa án, là
cơ sở quan trọng để Tòa án xem xét, quyết định thụ lý vụ án kinh tế. Cá nhân, cơ
quan, tổ chức khởi kiện phải làm đơn khởi kiện. Về hình thức, đơn khởi kiện phải
được người khởi kiện ký tên hoặc điểm chỉ nếu người khởi kiện là cá nhân; nếu là
cơ quan, tổ chức khởi kiện thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức ký tên và
đóng dấu vào phần cuối đơn. Về nội dung, đơn khởi kiện phải có các nội dung sau:
- Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;
- Tên Toà án nhận đơn khởi kiện;

13


- Tên, nơi cư trú, làm việc của người khởi kiện là cá nhân hoặc trụ sở của
người khởi kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử(nếu
có).
Trường hợp các bên thỏa thuận địa chỉ để Tòa án liên hệ thì ghi rõ địa chỉ đó;
- Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cá
nhân hoặc trụ sở của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cơ quan, tổ chức; số
điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử(nếu có);
- Tên, Tên, nơi cư trú, làm việc của người bị kiện là cá nhân hoặc trụ sở của
người bị kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử(nếu có).
Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người bị kiện thì rõ địa
chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người bị kiện;
- Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá
nhân hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức; số
điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử(nếu có).
Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối
cùng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm; những vấn đề
cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan;
- Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng (nếu có);
- Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện.
Như vậy, theo quy định tại khoản 4 Điều 189 BLTTDS năm 2015 đã quy
định rõ ràng, cụ thể và chi tiết
Thụ lý vụ án kinh tế và án phí:
Thụ lý vụ án kinh tế là thủ tục pháp lý khẳng định sự chấp nhận của Tòa án
đối với việc giải quyết vụ án. Sau khi nghiên cứu đơn khởi kiện của người khởi
kiện, Tòa án sẽ tiến hành thụ lý vụ án nếu vụ án đó thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án và không thuộc các trường hợp phải trả lại đơn. Theo quy định tại khoản 1

14


Điều 192 BLTTDS năm 2015, Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trong các trường
hợp sau đây:
- Người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 186 và
Điều 187 của Bộ luật này hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;
- Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.
Chưa đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có quy định về các điều
kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án còn thiếu một trong
những điều kiện đó;
- Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của Toà án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trừ
trường hợp vụ án mà Toà án bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con,
thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý
tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản,
đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn,
cho ở nhờ mà Toà án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được
quyền khởi kiện lại;
- Hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 195 của Bộ luật này mà người khởi
kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người
khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có trở ngại
khách quan, sự kiện bất khả kháng;
- Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;
- Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của
Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 193 của Bộ luật này.
Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa
chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ
không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không
thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp
luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa
chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn

15


khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình
giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.
Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện không ghi đầy đủ, cụ thể
hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan mà không sửa chữa, bổ sung theo yêu cầu của Thẩm phán thì Thẩm phán
trả lại đơn khởi kiện;
- Người khởi kiện rút đơn khởi kiện.
Như vậy theo quy định của BLTTDS năm 2015 đã không còn quy định trả
đơn khởi kiện trong trường hợp hết thời hiệu khởi kiện. Trường hợp hết thời hiệu
khởi kiện, Tòa án vẫn phải tiến hành thụ lý và chỉ đình chỉ trả đơn trong trường hợp
có một trong các bên đương sự hoặc cả hai đương sự yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi
kiện.
Khi khởi kiện, một trong những tiêu chí đối với người khởi kiện là phải nộp
tiền tạm ứng án phí, trừ trường hợp được miễn. Tiền tạm ứng án phí là một khoản
tiền mà các đương sự phải nộp cho Nhà nước khi Tòa án giải quyết vụ tranh chấp
trong kinh doanh, thương mại giữa các bên. Số tiền án phí các đương sự phải chịu
do Tòa án xác định tùy theo từng vụ án, căn cứ trên mức độ lỗi, lợi ích của các bên
từ vụ tranh chấp và theo khung án phí do Chính phủ quy định.
Khi giải quyết vụ án, vấn đề người khởi kiện có phải chịu án phí hay không,
tỷ lệ là bao nhiêu do phụ thuộc vào quy định quá trình tố tụng và kết quả giải quyết
vụ án.
Thực hiện các quy định trên, trong thực tiễn có một số vướng mắc sau:
Trong quá trình áp dụng quy định về người đại diện trong BLTTDS thường
có nhiều sai sót. Có những sai sót là do lỗi chủ quan của Thẩm phán như xác định
người đại diện là nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong
vụ việc dân sự, còn không xác định địa vị tố tụng của người được đại diện trong các
bản án, quyết định hoặc coi cả hai đều là đương sự. Người đại diện theo uỷ quyền sẽ
có quyền và nghĩa vụ tố tụng trong phạm vi uỷ quyền nhưng giấy uỷ quyền ghi
không rõ, hoặc chỉ uỷ quyền cho đến theo dõi, nghe Toà phán quyết thì Toà án lại

16


cho họ tham gia tố tụng với tư cách người đại diện… Tuy nhiên, cũng có những sai
sót là do luật chưa quy định thật rõ ràng gây khó khăn, vướng mắc khi áp dụng. Ví
dụ khi nào người đại diện được ký vào đơn khởi kiện thay người đại diện, khi nào
không được ký. Tại Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03-12-2012 của Hội
đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có đề cập đến vấn đề đại diện và quyền ký
đơn khởi kiện nhưng cũng chưa đề cập rõ hết các vấn đề, dẫn đến vẫn có lúng túng,
sai sót.
Về xác định tư cách của đương sự, người đại diện. Nhiều tòa án còn lúng
túng khi xác định tư cách của đương sự trong một số trường hợp cụ thể. Ví dụ:
người bị kiện là đơn vị trực thuộc pháp nhân (đơn vị hạch toán báo sổ nhưng từ ký
hợp đồng không có ủy quyền của pháp nhân, không hạch toán báo sổ về pháp nhân,
tức pháp nhân không biết) thì không xác định được ai là bị đơn? Hoặc sau khi thụ
lý vụ án, bị đơn xuất trình tài liệu về việc nguyên đơn đã bán toàn bộ khoản nợ
(đang kiện đòi bị đơn) cho người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (thường là
luật sư, văn phòng luật sư, công ty mua bán nợ…) thì giải quyết như thế nào? Người
mua nợ có đươc làm đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không? Xác định tư
cách đương sự như thế nào? Nếu hợp đồng mua bán có trước khi thụ lý vụ án hoăc
sau khi thụ lý vụ án.
Chuẩn bị xét xử.
Thời hạn chuẩn bị xét xử được tính từ ngày Tòa án thụ lý vụ án đến ngày
Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Thời hạn chuẩn bị xét xử là khoảng thời
gian cần thiết để Tòa án tiến hành lập hồ sơ vụ án, xác minh, thu thập chứng cứ, hòa
giải vụ án, và xem xét để đưa vụ án ra xét xử. Đây là công việc bắt buộc trước khi
đưa vụ án ra xét xử và cần phải có thời gian nhất định. Đối với những tranh chấp về
kinh doanh, thương mại thì thời hạn chuẩn bị xét xử là 02 tháng. Trong trường hợp
vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án có thể gia hạn
thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 01 tháng. Việc quy định thời hạn như
vậy nhằm đảm bảo yêu cầu giải quyết vụ án một cách nhanh chóng và kịp thời.

17


Trong thời gian chuẩn bị cho công tác xét xử, Tòa án tiến hành các công việc
chủ yếu sau:
Một là, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Toà án phải
thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Toà án
đã thụ lý vụ án.
Hai là, Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ. Theo đó, Tòa án có quyền yêu
cầu đương sự cung cấp, bổ sung chứng cứ, hoặc cung cấp những vấn đề cần thiết.
Yêu cầu cơ quan Nhà nước, tổ chức hữu quan, cá nhân cung cấp bằng chứng có ý
nghĩa cho việc giải quyết vụ án; yêu cầu người làm chứng trình bày về những vấn
đề cần thiết; xác minh tại chỗ tình hình vụ án; trưng cầu giám định, yêu cầu cơ quan
chuyên môn định giá hoặc lập hội đồng định giá tài sản có tranh chấp.
Ba là, Tòa án tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự nắm bắt nội dung vụ án, tiếp cận
các chứng cứ do các bên cung cấp và từ đó có thể thỏa thuận với nhau về việc giải
quyết vụ án, cũng như thực hiện quyền tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án tiến hành
hòa giải tất cả các vụ án dân sự; đây là một thủ tục bắt buộc phải tiến hành, trừ
những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được. Khi vụ án ở
trong trường hợp không thể hòa giải được thì Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử
mà không cần hòa giải. Các vụ án kinh doanh, thương mại sau đây không tiến hành
hòa giải được:
- Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng
mặt.
- Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng.
Khi tiến hành hòa giải, Thẩm phán phải triệu tập tất cả các đương sự, phổ
biến cho tất cả các đương sự biết các quy định của pháp luật có liên quan đến việc
giải quyết vụ án để các bên có liên hệ đến quyền và nghĩa vụ của mình, phân tích
hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành để họ tự nguyện với nhau về việc giải quyết
vụ án. Khi các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề giải quyết tranh chấp

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×