Tải bản đầy đủ

Phạt vi phạm hợp đồng trong thương mại theo pháp luật việt nam

NGUYỄN VĂN CHUNG

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
LUẬT KINH TẾ

PHẠT VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG THƯƠNG MẠI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

NGUYỄN VĂN CHUNG

2014 - 2016

HÀ NỘI - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI


LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHẠT VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG THƯƠNG MẠI THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM

NGUYỄN VĂN CHUNG

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. ĐỒNG NGỌC BA

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy , chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn chưa được ai công bố trong bất kỳ công
trình nào khác.

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Chung


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp cao học, được sự giúp đỡ
của các thầy, cô giáo Viện Đại Học Mở Hà Nội, sự tham gia góp ý của các nhà khoa
học, các nhà quản lý, bạn bè, đồng nghiệp và cùng sự nỗ lực của bản thân. Đến nay tác
giả đã hoàn thành luận văn thạc sỹ với đề tài luận văn: “Phạt vi phạm hợp đồng trong
thương mại theo pháp luật Việt Nam” chuyên nghành Luật Kinh Tế.
Tác giả bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Đồng Ngọc Ba – Cục trưởng cục
kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật – Bộ Tư Pháp đã hướng dẫn, chỉ bảo tận
tình và cung cấp các kiến thức khoa học cần thiết trong quá trình thực hiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Luật và Quản Lý, phòng đào tạo Đại


Học và sau Đại Học Viện Đại Học Mở Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho
tác giả hoàn thành tốt luận văn
Với điều kiện thời gian cũng như kinh nghiệm còn hạn chế của một học viên,
luận văn này không thể tránh được những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được sự
chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy cô để tác giả có điều kiện bổ sung, nâng cao ý
thức của mình,phục vụ tốt hơn công tác thực tế sau này.
Xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, ngày 25 tháng 8 năm 2016

Tác giả

Nguyễn Văn Chung


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ....................................................................................... 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài ....................................................... 1
2.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài ........................................................................ 1
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài ........................................................................ 1
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài ........................................................ 2
3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài ....................................................................... 2
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài .......................................................................... 2
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài...................................................................... 2
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài ................................................................. 3
6. Kết cấu của khóa luận .......................................................................................... 3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHẠT VI PHẠM HỢP ĐỒNG
TRONG THƯƠNG MẠI ...................................................................................... 4
1.1. Khái niệm hợp đồng và vi phạm hợp đồng trong thương mại ............................ 4
1.1.1. Khái niệm hợp đồng dân sự và hợp đồng trong thương mại ........................... 4
1.1.2. Vi phạm hợp đồng và các hình thức trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng .... 8
1.1.2.1. Khái niệm vi phạm hợp đồng: ..................................................................... 8
1.1.2.2 Các hình thức trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng ............................. 9
1.2. Chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong thương mại............................................ 12
1.2.1. Nhận thức chung về chế tài do vi phạm hợp đồng ........................................ 12
1.2.2 Khái niệm phạt vi phạm ................................................................................ 14
1.2.3. Bản chất của phạt vi phạm ........................................................................... 15


1.2.4. Căn cứ phát sinh chế tài phạt vi phạm .......................................................... 17
1.2.5. Ý nghĩa của chế tài phạt vi phạm ................................................................. 18
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .................................................................................... 19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ PHẠT VI PHẠM HỢP ĐỒNG
TRONG THƯƠNG MẠI .................................................................................... 20
2.1. Khái quát lịch sử phát triển của pháp luật Việt Nam về phạt vi phạm hợp đồng
trong thương mại. .................................................................................................. 20
2.1.1. Theo Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 và Luật thương mại năm 1997. 20
2.1.2. Theo Luật thương mại năm 2005 ................................................................. 21
2.2. Thực trạng của pháp luật hiện hành về phạt vi phạm hợp đồng trong thương
mại ........................................................................................................................ 22
2.2.1 Căn cứ áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong thương mại ................. 22
2.2.2. Mức phạt vi phạm ........................................................................................ 26
2.2.3. Những trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng trong
thương mại ............................................................................................................ 30
2.2.4. Mối quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm và chế tài bồi thường thiệt hại trong
hợp đồng thương mại............................................................................................. 34
2.3. Thực tiễn áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại ...... 41
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .................................................................................... 55
CHƯƠNG 3: MỘT SÔ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ GIẢI PHÁP
BẢO ĐẢM HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ PHẠT VI PHẠM HỢP
ĐỒNG TRONG THƯƠNG MẠI ........................................................................ 56
3.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về phạt vi phạm hợp đồng trong thương mại ... 56
3.1.1. Căn cứ áp dụng ............................................................................................ 56
3.1.2. Giới hạn mức phạt vi phạm .......................................................................... 58


3.1.3. Mối quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm và chế tài bồi thường thiệt hại ......... 60
3.1.4. Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng trong
thương mại ............................................................................................................ 61
3.2. Một số giải pháp nhằm bảo đảm hiệu quả thực thi pháp luật về chế tài phạt vi
phạm hợp đồng trong thương mại. ......................................................................... 65
3.2.1. Đối với các cơ quan tài phán ........................................................................ 65
3.2.2 Đối với các chủ thể kinh doanh ..................................................................... 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3. ................................................................................... 74
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 78


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật thương mại ra đời là một cơ sở pháp lý quan trọng cho các bên thực
hiện quyền tự do kinh doanh, góp phần tạo lập môi trường kinh doanh cạnh tranh
lành mạnh. Trong Luật thương mại năm 2005 thì các quy định về chế tài thương mại
là một trong những quy định quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của các bên. Các chế tài này đang ngày càng được sử dụng phổ biến như một biện
pháp hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích các bên trong quan hệ hợp đồng, đặc biệt là
chế tài phạt vi phạm hợp đồng. Tuy nhiên, qua thực tiễn xử lý các hành vi vi phạm
hợp đồng thương mại trong thời gian qua thì có thể thấy rằng chế tài phạt vi phạm
còn nhiều vấn đề vướng mắc, quy định còn bất cập, mâu thuẫn giữa Luật thương mại
và Bộ Luật dân sự gây khó khăn cho các cơ quan giải quyết tranh chấp và các bên
trong việc xác định hình thức xử lý đối với bên có hành vi vi phạm hợp đồng. Để tìm
hiểu rõ các vấn đề về chế tài phạt vi phạm cũng như giải quyết những vướng mắc
trong quy định của pháp luật về chế tài này, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Phạt vi phạm
hợp đồng trong thương mại theo pháp luật Việt Nam”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm các mục đích sau: giải quyết một số vấn đề lý
luận về chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong thương mại; đánh giá thực trạng áp
dụng các quy định của pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong thương
mại; phân tích thực tiễn áp dụng chế tài phạt vi phạm trên cơ sở giải quyết một số
vụ án điển hình; đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp
luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong thương mại.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Tập hợp, nghiên cứu, phân tích, đánh giá toàn bộ các quy định của pháp
luật Việt Nam hiện hành về chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong thương mại.
- Tìm hiểu kinh nghiệm của các nước trong việc thực hiện chế tài phạt vi
phạm hợp đồng trong thương mại
1


- Đưa ra phương hướng giải quyết nhằm hoàn thiện các quy định của pháp
luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong thương mại ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về chế tài phạt vi
phạm hợp đồng do vi phạm hợp đồng thương mại, và thực tiễn áp dụng chế tài phạt
vi phạm hợp đồng trong thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện
hành.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: nghiên cứu, tìm hiểu những quy định về
chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong thương mại theo quy định của Luật thương mại
năm 2005, có sự đối chiếu với các quy định của Bộ Luật dân sự năm 2005 và so
sánh các quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại Việt Nam nói chung,
chế tài phạt vi phạm nói riêng với pháp luật một số quốc gia cũng như các điều ước
quốc tế có liên quan trong một số trường hợp cần thiết để thể hiện được mục tiêu
nghiên cứu. Luận văn chỉ dừng lại ở việc đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn
áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng do vi phạm hợp đồng thương mại để thấy
được vị trí, vai trò và mối quan hệ của phạt vi phạm với các hình thức còn lại, nhất
là với chế tài Bồi thường thiệt hại. Từ đó chỉ ra những điểm khó khăn, vướng mắc
và giải pháp hoàn thiện.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu
như: Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh và đối chiếu, phương pháp tổng
hợp, phương pháp đánh giá. Tất cả những phương pháp này đều được sử dụng trên
cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch
sử và phép biện chứng duy vật.

2


5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Về mặt lý luận: Đề tài là cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện Luật
thương mại năm 2005. Bổ sung nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên
ngành luật, giúp người nghiên cứu có thêm nguồn tài liệu để tìm hiểu và tham khảo.
- Về mặt thực tiễn: Trên cơ sở phân tích, đánh giá, bình luận, khóa luận chỉ
ra những hạn chế của các quy định pháp luật hiện hành về chế tài phạt vi phạm hợp
đồng và mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện chế định phạt
vi phạm hợp đồng trong thương mại.
6. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của
khóa luận gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong
thương mại
Chương 2: Thực trạng pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong
thương mại
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện và giải pháp bảo đảm hiệu quả thực
thi pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong thương mại.

3


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHẠT VI PHẠM HỢP
ĐỒNG TRONG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm hợp đồng và vi phạm hợp đồng trong thương mại
1.1.1. Khái niệm hợp đồng dân sự và hợp đồng trong thương mại
* Khái niệm hợp đồng dân sự:
Để tồn tại và phát triển, cá nhân hay tổ chức đều phải tham gia vào nhiều
mối quan hệ xã hội khác nhau. Việc các bên thiết lập với nhau những quan hệ để
qua đó chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu
sinh hoạt, tiêu dùng, đóng vai trò quan trọng và là tất yếu đối với đời sống xã hội.
Song, việc chuyển giao các lợi ích này không phải tự nhiên thiết lập mà chỉ được
hình thành khi có hành vi có ý chí của chủ thể, như C. Mác đã từng nói: “ Tự chúng,
hàng hóa không thể đi đến thị trường và trao đổi với nhau được. Muốn cho những
vật đó trao đổi với nhau, thì những người giữ chúng phải đối xử với nhau như
những người mà ý chí nằm trong các vật đó”. Theo đó, chỉ khi có sự thể hiện và
thống nhất ý chí giữa các bên, thì quan hệ trao đổi lợi ích vật chất mới được hình
thành và được gọi là hợp đồng dân sự. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển chung của
xã hội, của việc giao lưu, buôn bán, hợp tác kinh tế, thương mại, đã dẫn đến việc
hình thành rất nhiều quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể khác nhau như hợp đồng
thương mại, hợp đồng lao động1…
Hợp đồng theo nghĩa chung nhất được hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên về
việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ cụ
thể. Trong pháp luật tư sản, chế định hợp đồng tồn tại trong lĩnh vực công pháp và
tư pháp, song đặc biệt phát triển trong lĩnh vực tư pháp. Điều 1101 Bộ luật Dân sự
Napoleon quy định, hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều
người cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao một vật, làm
1

PGS.TS. Nguyễn Như Phát (chủ biên), giáo trình Luật kinh tế Việt Nam, Nhà xuất bản Tư Pháp, Hà Nội,

2013.

4


hoặc không làm một công việc nào đó. Trên cơ sở kế thừa những hạt nhân hợp lý,
khoa học của khái niệm này, tại Điều 1101 Bộ luật Dân sự Pháp hiện hành cũng đưa
ra định nghĩa tương tự như vậy về hợp đồng.
Trong Bộ luật dân sự Việt Nam hiện hành2 tại Điều 388 cũng quy định tương tự
như vậy về định nghĩa hợp đồng dân sự như sau: “ Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận
giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”.
Qua định nghĩa trên về hợp đồng, có thể thấy hợp đồng dân sự có một số đặc
điểm cơ bản sau đây:
- Tính thỏa thuận: Hợp đồng dân sự trước hết phải là một thỏa thuận có nghĩa
là hợp đồng phải chứa đựng yếu tố tự nguyện khi giao kết hợp đồng, nó phải có sự
trùng hợp ý chí của các bên. Việc giao kết hợp đồng dân sự phải tuân theo các
nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng, tự do
giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội. Yếu tố thỏa
thuận đã bao hàm trong nó yếu tố tự nguyện, tự định đoạt và sự thống nhất về mặt ý
chí. Đây là yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự đặc trưng của hợp đồng so với các
giao dịch dân sự khác, đây cũng là yếu tố làm nên bản chất của Luật Dân sự so với
các nghành luật khác.
- Về chủ thể: Chủ thể tham gia giao kết hợp đồng dân sự có thể là cá nhân,
pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình… phải có ít nhất từ hai bên trở lên, vì hợp đồng
dân sự là một giao dịch pháp lý song phương hay đa phương. Các chủ thể khi giao
kết, thực hiện hợp đồng đều phải có tư cách chủ thể tức là phải đáp ứng các điều
kiện theo quy định của pháp luật đối với một chủ thể của quan hệ dân sự (ví dụ: nếu
chủ thể là cá nhân thì phải đáp ứng được các yêu cầu về năng lực pháp luật, năng
lực hành vi dân sự…)
- Về nội dung: Nội dung của hợp đồng dân sự là tổng hợp các điều khoản mà
các bên tham gia giao kết hợp đồng đã thỏa thuận các điều khoản đó, xác định
những quyền và nghĩa vụ dân sự cụ thể của các bên trong hợp đồng.
- Về mục đích: Mục đích chủ yếu của hợp đồng dân sự là nhằm mục đích
2

Bộ luật dân sự năm 2005

5


sinh hoạt, tiêu dùng phục vụ cho nhu cầu của các chủ thể tham gia.
- Về hình thức: Hình thức của hợp đồng dân sự là phương tiện để ghi nhận,
lưu trữ, truyền tải nội dung của hợp đồng, ghi nhận lại các điều khoản mà các bên
đã cùng nhau thống nhất cam kết. Tùy thuộc vào nội dung, tính chất của từng hợp
đồng mà các bên có thể lựa chọn một hình thức nhất định trong việc giao kết hợp
đồng cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể. Tại khoản 1 Điều 401 Bộ luật Dân sự
năm 2005 quy định: “ Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn
bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định đối với loại hợp đồng
đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định”.
Như vậy, có thể thấy hợp đồng dân sự là căn cứ pháp lý quan trọng để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong các giao dịch dân sự.
* Khái niệm hợp đồng thương mại
Hợp đồng thương mại là loại hợp đồng được sử dụng phổ biến trong hoạt
động kinh doanh của các thương nhân. Nội dung của hợp đồng đóng vai trò quan
trọng trong việc xây dựng hành lang pháp lý đảm bảo cho việc mua bán, việc giao
thương giữa các bên với nhau được thuận lợi và bền vững. Tuy nhiên, trong Luật
thương mại Việt Nam chưa có quy định về khái niệm hợp đồng thương mại, nhưng
thông qua khái niệm chung về hợp đồng dân sự và những quy định về hợp đồng cụ
thể trong thương mại có thể hiểu hợp đồng thương mại là sự thỏa thuận giữa các
bên (mà ít nhất một bên là thương nhân hoặc tổ chức, cá nhân hoạt động có liên
quan đến thương mại) để xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của
các bên trong việc thực hiện các hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lợi.
Từ khái niệm nêu trên có thể thấy hợp đồng thương mại có một số đặc điểm
cơ bản như sau:
- Về chủ thể: Hợp đồng thương mại được kí kết giữa các bên là thương nhân,
hoặc có một bên là thương nhân. Đây là một điểm đặc trưng của hợp đồng thương
mại so với các loại hợp đồng dân sự. Như vậy, chủ thể trong hợp đồng thương mại
gồm thương nhân ( bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt
động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh) cá
6


nhân, tổ chức khác có hoạt động liên quan đến thương mại3
- Về nội dung: Nội dung của hợp đồng thương mại là các điều khoản do các
bên thỏa thuận, thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng.
Mỗi loại hợp đồng có những quy định khác nhau về các điều khoản cơ bản. Trên cơ
sở các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 và Luật thương mại năm 2005 xuất
phát từ tính chất của quan hệ hợp đồng trong thương mại có thể thấy những điều
khoản cơ bản của hợp đồng thương mại là: Đối tượng, chất lượng, giá cả, phương
thức thanh toán, thời hạn và địa điểm thực hiện hợp đồng.
- Về mục đích: Mục đích của hợp đồng thương mại là lợi nhuận thu được từ
hoạt động thương mại như: Mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến
thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.
- Về hình thức: Hợp đồng thương mại được thiết lập theo cách thức mà hai
bên thỏa thuận, có thể được thể hiện bằng hình thức lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ
thể. Trong một số trường hợp, pháp luật bắt buộc các bên phải thiết lập hợp đồng
bằng hình thức văn bản hoặc hình thức khác có giá trị tương đương với văn bản
(hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng đại lý thương mại, hợp đồng ủy
thác mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ khuyến mại quảng cáo, hội chợ, triển lãm
thương mại, …).
* Vai trò của hợp đồng trong kinh doanh thương mại
Hợp đồng trong kinh doanh thương mại đã ra đời và ngày càng chứng tỏ và
phát huy được vai trò quan trọng đặc biệt của mình, thể hiện ở những điểm sau:
* Đối với các bên tham gia giao kết hợp đồng
Hợp đồng trong kinh doanh thương mại là sự thỏa thuận của các chủ thể kinh
doanh mang tính pháp lý theo nguyên tắc tự nguyện, khi giao kết nó phải có sự thống
nhất ý chí của các bên. Việc giao kết hợp đồng phải tuân theo các nguyên tắc nhất định
theo quy định của pháp luật: tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và
ngay thẳng, tự do giao kết hợp đồng, nhưng không được trái pháp luật và đạo đức xã
hội. Đồng thời, hợp đồng trong kinh doanh thương mại còn là sự ràng buộc giữa các
3

. Điều 2 Luật thương mại năm 2005

7


bên về quyền và nghĩa vụ được quy định tại các điều khoản của hợp đồng, theo quy
định của pháp luật mà các bên ký kết có nghĩa vụ phải thi hành, thực hiện.
Hợp đồng trong kinh doanh thương mại là nền tảng cho các hoạt động đầu tư
của các chủ thể, là công cụ, là cơ sở để xây dựng và thực hiện kế hoạch của các chủ
thể kinh doanh, kế hoạch sản xuất kinh doanh của họ phù hợp với thị trường. Qua
đó các nhà sản xuất kinh doanh có căn cứ để xây dựng kế hoạch hoạt động, sản xuất
kinh doanh cho mình.
* Đối với xã hội
Để tồn tại và phát triển, trong đời sống xã hội con người phải tham gia vào
nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau và các hoạt động đó ngày một đa dạng và
phong phú.Hợp đồng đượcra đời là một điều tất yếu và hết sức quan trọng. Hợp
đồng là sự thỏa thuận mang tính chất pháp lý, là căn cứ, là cơ sở để giải quyết
những tranh chấp phát sinh liên quan đến những vấn đề mà hai bên đã thỏa thuận và
thống nhất. Đồng thời, nó cũng là một trong những văn bản làm cơ sở pháp lý cho
việc đăng ký các giao dịch khác nhau trong hoạt động kinh doanh thương mại. Hợp
đồng trong kinh doanh thương mại luôn phản ánh những đòi hỏi, những điều kiện
cụ thể của chủ thể tham gia giao kết hợp đồng kinh tế. Việc giao kết hợp đồng có
tác dụng chuyển các quan hệ kinh tế khách quan thành các quan hệ pháp luật cụ thể
cho nên nó trở thành hình thức pháp lý để hình thành quan hệ thị trường, được pháp
luật thừa nhận và bảo vệ và phải tuân theo các quy định của pháp luật, bảo vệ các
quy luật của xã hội.
1.1.2. Vi phạm hợp đồng và các hình thức trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng
1.1.2.1. Khái niệm vi phạm hợp đồng:
Khi hợp đồng đã có hiệu lực pháp luật, các bên ký kết có các quyền và nghĩa
vụ pháp lý đối với nhau, các bên tham gia vào quan hệ hợp đồng phải thực hiện đầy
đủ các cam kết của mình đã ghi trong hợp đồng. Thực hiện hợp đồng đúng cam kết.
Điều đó có nghĩa là các bên phải thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, đúng số
lượng và chất lượng, đúng chủng loại, đúng thời hạn, đúng phương thức đã xác định
trong hợp đồng hoặc do pháp luật quy định. Nếu một trong các bên có hành vi vi
8


phạm hợp đồng tức là bên đó vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng và phải chịu trách
nhiệm do hành vi vi phạm của mình gây ra4.
Từ khoản 12 Điều 3 Luật thương mại năm 2005 có thể hiểu vi phạm hợp
đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, hoặc theo quy
định của pháp luật.
Vi phạm hợp đồng được chia thành vi phạm cơ bản và vi phạm không cơ
bản. Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia
đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng. Các
vi phạm khác được coi là vi phạm không cơ bản và bên bị vi phạm không được áp
dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc hủy
bỏ hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
1.1.2.2 Các hình thức trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng
Khi một hợp đồng thương mại đã được giao kết hợp pháp và phát sinh hiệu
lực pháp luật thì các bên phải thực hiện các nghĩa vụ mà mình đã thỏa thuận trong
hợp đồng. Việc vi phạm các nghĩa vụ trong hợp đồng dẫn đến hậu quả bên vi phạm
phải chịu các hình thức trách nhiệm pháp lý do hành vi vi phạm của mình gây ra.
Như vậy, trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại là hậu quả bất lợi
mà bên có hành vi vi phạm hợp đồng phải gánh chịu với bên kia hoặc theo quy định
của pháp luật, trong Luật thương mại gọi đó là chế tài thương mại.
Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng được thể hiện bằng nhiều hình
thức khác nhau. Theo quy định tại Điều 292 của Luật thương mại năm 2005 thì các
hình thức trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng bao gồm:
- Buộc thực hiện đúng hợp đồng
- Phạt vi phạm
- Buộc bồi thường thiệt hại
- Tạm ngừng thực hiện hợp đồng
4

Thạc sĩ. Nguyễn Việt Khoa, giảng viên Khoa Luật kinh tế, Đại học kinh tế tp.HCM, “ Chế tài phạt vi phạm

hợp đồng theo Luật thương mại năm 2005”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp điện tử.

9


- Đình chỉ thực hiện hợp đồng
- Hủy bỏ hợp đồng
- Các biện pháp khác do các bên thỏa thuận nhưng không trái với quy định
của pháp luật.
● Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm
thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện
và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh.
● Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản
tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận, trừ các trường
hợp miễn trách nhiệm được quy định trong Luật thương mại năm 2005.
● Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do
hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm.
● Tạm ngừng thực hiện hợp đồng là việc một bên tạm thời không thực hiện
nghĩa vụ trong hợp đồng. Khi hợp đồng trong thương mại bị tạm ngừng thực hiện
thì hợp đồng vẫn còn hiệu lực.
● Đình chỉ thực hiện hợp đồng trong thương mại là việc một bên chấm dứt
thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng. Khi hợp đồng trong thương mại bị đình chỉ thực
hiện thì hợp đồng chấm dứt hiệu lực từ thời điểm một bên nhận được thông báo
đình chỉ. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Bên đã thực
hiện nghĩa vụ hợp đồng có quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa
vụ đối ứng.
● Hủy bỏ hợp đồng trong thương mại là sự kiện pháp lý mà hậu quả của nó
làm cho nội dung hợp đồng bị hủy bỏ và không có hiệu lực từ thời điểm giao kết.
Hủy bỏ hợp đồng có thể là hủy bỏ một phần hợp đồng hoặc hủy bỏ toàn bộ hợp
đồng. Khi hợp đồng bị hủy bỏ toàn bộ, hợp đồng đó được coi là không có hiệu lực
kể từ thời điểm giao kết. Các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa
thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi hủy bỏ hợp
đồng và những thỏa thuận để giải quyết tranh chấp.
Trừ trường hợp miễn trách nhiệm được quy định tại Điều 294 của Luật
10


thương mại năm 2005 thì chế tài hủy bỏ hợp đồng được áp dụng đối với các trường
hợp sau:
(i) Xảy ra hành vi vi phạm hợp đồng mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện
để đình chỉ hợp đồng;
(ii) Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.
Đối với những hợp đồng giao hàng, cung ứng dịch vụ từng phần, việc hủy bỏ
hợp đồng được quy định như sau:
- Trường hợp có thỏa thuận về giao hàng, cung ứng dịch vụ từng phần, nếu
một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc giao hàng, cung ứng dịch vụ
và việc này cấu thành một vi phạm cơ bản đối với lần giao hàng, cung ứng dịch vụ
đó thì bên kia có quyền tuyên bố hủy bỏ hợp đồng đối với lần giao hàng, cung ứng
dịch vụ.
- Trong trường hợp một bên không thực hiện nghĩa vụ đối với một lần giao
hàng, cung ứng dịch vụ là cơ sở để bên kia kết luận rằng vi phạm cơ bản sẽ xảy ra
đối với những lần giao hàng, cung ứng dịch vụ sau đó thì bên bị vi phạm có quyền
tuyên bố hủy bỏ hợp đồng đối với những lần giao hàng, cung ứng dịch vụ sau đó,
với điều kiện là bên đó phải thực hiện quyền này trong thời gian hợp lý.
- Trường hợp một bên đã tuyên bố hủy bỏ hợp đồng đối với một lần giao
hàng, cung ứng dịch vụ thì bên đó vẫn có quyền tuyên bố hủy bỏ hợp đồng đối với
những lần giao hàng, cung ứng dịch vụ đã thực hiện hoặc sẽ thực hiện sau đó nếu
mối quan hệ qua lại giữa các lần giao hàng dẫn đến việc hàng hóa đã giao, dịch vụ
đã cung ứng không thể được sử dụng theo mục đích mà các bên đã dự kiến vào thời
điểm giao kết hợp đồng.
Trừ các trường hợp đối với hợp đồng giao hàng, cung ứng dịch vụ từng phần
quy định như nêu trên, sau khi hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng không có hiệu lực từ
thời điểm giao kết, các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận
trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi hủy hợp đồng và
về giải quyết tranh chấp. Các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần
nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, nếu các bên có nghĩa vụ hoàn trả thì nghĩa vụ của
11


họ phải được thực hiện đồng thời, trường hợp không thể hoàn trả bằng chính lợi ích
đã nhận thì bên có nghĩa vụ phải hoàn trả bằng tiền. Bên bị vi phạm có quyền yêu
cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật thương mại.
Về thủ tục thực hiện các chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực
hiện hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng, bên tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ
thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết nếu
trường hợp không thông báo ngay mà gây thiệt hại cho bên kia thì bên tạm ngừng
thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng phải bồi
thường thiệt hại cho bên bị thiệt hại.
1.2. Phạt vi phạm hợp đồng trong thương mại.
1.2.1. Nhận thức chung về chế tài do vi phạm hợp đồng
Chế tài là bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những biện pháp tác động
mà nhà nước dự kiến áp dụng đối với chủ thể không thực hiện đúng mệnh lệnh của
nhà nước đã nêu ở phần quy định. Chế tài bao gồm các loại chế tài dân sự, chế tài
hình sự, chế tài hành chính và chế tài kỷ luật.
Khi các chủ thể tham gia vào các quan hệ xã hội, thiết lập nên những mối
quan hệ chịu sự điều chỉnh của quy phạm pháp luật trở thành quan hệ pháp luật. Các
chủ thể khi tham gia vào một quan hệ pháp luật cụ thể sẽ xác lập quyền và nghĩa vụ
pháp lý nhất định. Nếu một bên chủ thể không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện
không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ đã thỏa thuận hoặc có hành vi vi phạm các quy
định của pháp luật thì sẽ phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý hay phải chịu những
chế tài nhất định.
Trong quan hệ pháp luật dân sự, khi chủ thể không thực hiện nghĩa vụ hoặc
có hành vi vi phạm các thỏa thuận, các quy định của pháp luật có thể phải chịu các
chế tài như: tạm ngừng thực hiện hợp đồng, bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm, đình
chỉ hợp đồng…
Trong quan hệ pháp luật về kinh doanh thương mại chế tài thương mại và
chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại là hai khái niệm không hoàn toàn đồng
nhất. Tuy nhiên, thực tiễn pháp lý ở Việt Nam vẫn có cách nhận diện khác nhau về
12


vấn đề này5.
Theo nghĩa rộng, chế tài trong thương mại là những hình thức chế tài áp dụng
đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm trong lĩnh vực thương mại. Hành vi vi
phạm ở đây là hành vi xâm phạm trái pháp luật đến lợi ích của đối tác, người tiêu dùng,
xã hội và trật tự quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thương mại bao gồm:
Thứ nhất, hành vi vi phạm được quy định tại Điều 320 Luật thương mại năm
2005. Những vi phạm pháp luật này mang đặc điểm chung là vi phạm trật tự quản lý
hoạt động thương mại của Nhà nước. Đối với những vi phạm thuộc nhóm này, tùy
theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra, thương nhân có thể bị áp dụng
các chế tài như: chế tài dân sự, chế tài hành chính hoặc chế tài hình sự.
Thứ hai, hành vi vi phạm hợp đồng thương mại
Để tiến hành các hoạt động thương mại, thương nhân phải ký kết và thực
hiện các hợp đồng thương mại. Khi hợp đồng được hình thành và có hiệu lực pháp
luật, những thỏa thuận, cam kết trong hợp đồng có giá trị bắt buộc thực hiện đối với
các bên. Nếu một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ
nghĩa vụ đã thỏa thuận thì bị coi là vi phạm hợp đồng thương mại. Trong hợp đồng
thương mại ngoài các điều khoản do các bên thỏa thuận và ghi rõ trong hợp đồng thì
các bên còn phải tuân thủ những nội dung pháp lý bắt buộc đã được pháp luật quy
định mà các bên có thể thỏa thuận hoặc không thỏa thuận trong hợp đồng (điều
khoản thường lệ). Mặc dù, những điều khoản này không được đưa vào trong hợp
đồng nhưng theo quy định của pháp luật thì việc các bên không thực hiện những
điều khoản này cũng sẽ bị coi là hành vi vi phạm hợp đồng thương mại và sẽ bị áp
dụng chế tài. Các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại bao gồm: buộc
thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại... Như vậy hành vi vi
phạm trong lĩnh vực thương mại không chỉ bao gồm các hành vi vi phạm chế độ
quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thương mại, xâm phạm trật tự quản lý hoạt động
thương mại của Nhà nước được quy định tại Điều 320 Luật thương mại năm 2005
5

Thạc sĩ. Nguyễn Việt Khoa, giảng viên Khoa Luật kinh tế, Đại học kinh tế tp.HCM, “ Chế tài phạt vi phạm

hợp đồng theo Luật thương mại năm 2005”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp điện tử.

13


mà còn bao gồm những hành vi vi phạm hợp đồng thương mại. Phù hợp với từng
loại hành vi vi phạm, pháp luật hiện hành quy định các hình thức trách nhiệm pháp
lý với nhiều loại chế tài khác nhau. Theo nghĩa này, chế tài trong thương mại có thể
được áp dụng đối với mọi vi phạm pháp luật thương mại: từ những hành vi làm tổn
hại đến lợi ích Nhà nước, lợi ích của người tiêu dùng... đến những hành vi không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng các cam kết trong hợp đồng. Những hình thức
chế tài này được áp dụng trong các trường hợp này có thể là chế tài hành chính, chế
tài hình sự hoặc chế tài mang tính dân sự, phù hợp với tính chất của từng loại hành
vi vi phạm. Về phạm vi áp dụng, chế tài thương mại được áp dụng đối với mọi hành
vi vi phạm trong lĩnh vực thương mại. Chủ thể quyết định áp dụng biện pháp chế tài
là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (cơ quan quản lý Nhà nước đối với chế tài hành
chính, Tòa án đối với chế tài hình sự...) hoặc chính thương nhân bị vi phạm trong
quan hệ hợp đồng.
Theo nghĩa hẹp, chế tài thương mại là hình thức chế tài áp dụng đối với các
chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các cam kết theo
hợp đồng, theo đó bên có hành vi vi phạm hợp đồng thương mại phải gánh chịu một
hậu quả pháp lý bất lợi do hành vi vi phạm đó gây ra.
Như vậy, chế tài thương mại (theo nghĩa hẹp) được hiểu đồng nghĩa với chế
tài do vi phạm hợp đồng thương mại. Theo Điều 292 Luật thương mại năm 2005,
các loại chế tài trong thương mại bao gồm: buộc thực hiện đúng hợp đồng, Phạt vi
phạm; Bồi thường thiệt hại; Tạm ngừng thực hiện hợp đồng; Đình chỉ thực hiện hợp
đồng; Hủy bỏ hợp đồng; Các biện pháp khác do các bên thỏa thuận không trái với
các nguyên tắc cơ bản của pháp luật. Luật thương mại năm 2005 tiếp cận chế tài
thương mại theo nghĩa hẹp, thể hiện sự gánh chịu hậu quả bất lợi của bên có hành vi
vi phạm hợp đồng trong thương mại.
1.2.2 Khái niệm phạt vi phạm
Hợp đồng là quan hệ mang lại quyền và lợi ích cho các bên. Tuy nhiên, trong
quan hệ hợp đồng hiện nay luôn tiềm ẩn những rủi ro, những vi phạm của đối tác có
thể gây ra những thiệt hại rất lớn cho bên kia. Để hạn chế những vấn đề nêu trên,
14


trong Bộ luật dân sư cũng như nhiều văn bản pháp luật khác đã có quy định về phạt
vi phạm trong hợp đồng nhằm điều chỉnh quan hệ hợp đồng, tạo điều kiện cho các
bên ngăn chặn hành vi vi phạm hợp đồng. Tại điều 422 của Bộ Luật dân sự năm
2005 có đưa ra khái niêm về phạt vi phạm như sau: “ Phạt vi phạm là sự thỏa thuận
giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản
tiền cho bên bị vi phạm”. Trên cơ sở quy định khái niệm về phạt vi phạm trong Bộ
Luật dân sự năm 2005 thì tại Điều 300 của Luật thương mại năm 2005 cũng đưa ra
khái niệm về phạt vi phạm tương tự như sau:
“ Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản
tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận, trừ các trường
hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này”.
Như vậy, có thể hiểu phạt vi phạm là việc bên vi phạm trả cho bên bị vi
phạm một khoản tiền do đã có hành vi vi phạm các điều khoản trong hợp đồng và
nó chỉ được áp dụng nếu trong hợp đồng đã có thỏa thuận về vấn đề này.
1.2.3. Bản chất của phạt vi phạm
Nghiên cứu về bản chất pháp lý của phạt vi phạm thì cho đến nay vẫn có rất
nhiều vấn đề gây tranh cãi trong khoa học pháp lý cũng như trong luật thực định và
có nhiều những quy định khác nhau giữa pháp luật của các quốc gia, thậm chí là
trong những lĩnh vực pháp luật khác nhau của một quốc gia.
Trong hệ thống luật các nước theo truyền thống Civil law, phạt vi phạm
thông thường được hiểu dưới góc độ vừa là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ,
vừa là biện pháp chế tài đồng thời là hình thức trách nhiệm hợp đồng. Điều đó có
nghĩa là phạt vi phạm thực hiện hai chức năng: Chức năng dự phạt và chức năng
đền bù. Khi phạt vi phạm thực hiện chức năng dự phạt, tức là khi nó được sử dụng
như là biện pháp răn đe, tác động nhằm mục đích nâng cao trách nhiệm các bên
trong hợp đồng. Khi phạt vi phạm thực hiện chức năng đền bù, tức là khi nó được
sử dụng như một khoản tiền nhằm bù đắp những tổn thất do hành vi vi phạm nghĩa
vụ hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm. Nhưng dù thực hiện chức năng nào thì phạt
vi phạm chỉ được áp dụng khi các bên có thỏa thuận trong hợp đồng.
15


Trái ngược với hệ thống luật Civil law, Luật hợp đồng Anh-Mỹ có quan
niệm khác về phạt hợp đồng. Học thuyết của Luật hợp đồng Anh-Mỹ cho rằng, các
biện pháp bảo vệ pháp lý trong lĩnh vực dân sự chỉ có thể mang tính chất đền bù mà
không có tính dự phạt hay trừng phạt bên vi phạm nghĩa vụ. Có nghĩa là, khi có vi
phạm nghĩa vụ hợp đồng, bên bị vi phạm không có quyền đòi phạt vi phạm mà chỉ
được bồi thường những thiệt hại xảy ra hoặc những thiệt hại được ấn định hay được
tính trước với điều kiện những thiệt hại được ấn trước đó phải “ hợp lý”.
Bộ quy tắc của Unidroit về Hợp đồng thương mại quốc tế 2004 đã thừa nhận
hiệu lực của mọi điều khoản hợp đồng, theo đó bên không thực hiện nghĩa vụ sẽ
phải thanh toán một khoản tiền nhất định cho bên có quyền do việc không thực hiện
nghĩa vụ. Khoản tiền này sẽ được trả cho bên có quyền một cách độc lập với thiệt
hại thực tế mà bên này phải chịu. Bên vi phạm không thể viện dẫn rằng bên có
quyền đã chịu thiệt hại nhỏ hơn hoặc không chịu thiệt hại nào để được miễn khoản
tiền phải trả6.
Giống như các nước thuộc hệ thống Civil law, theo quy định của pháp luật
Việt Nam, bản chất của phạt vi phạm nó vừa là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ, vừa là biện pháp chế tài đồng thời là hình thức trách nhiệm hợp đồng. Điều đó
có nghĩa là phạt vi phạm thực hiện hai chức năng: Chức năng dự phạt và chức năng
đền bù. Theo quy định khoản 1 Điều 422 Bộ luật dân sự năm 2005: “ Phạt vi phạm
là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải
nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm. Tại điều 300 của luật thương mại năm
2005: “ Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản
tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận, trừ các trường
hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này”.
Đến đây, chúng ta thấy rằng, phạt vi phạm là hình thức chế tài mang tính vật
chất được áp dụng đối với bất kỳ hành vi vi phạm nào mà không cần phải xác định
đó là hành vi cơ bản hay không cơ bản và nó có ý nghĩa trong việc thúc đẩy các bên
giao kết hợp đồng phải thực hiện hợp đồng một cách nghiêm túc để tránh phải gánh
6

Khoản 1. Điều 7.4.13 Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế năm 2004.

16


chịu những hậu quả pháp lý bất lợi7.
1.2.4. Căn cứ phát sinh chế tài phạt vi phạm
Căn cứ là những yếu tố cơ sở để xác định trách nhiệm pháp lý của các bên
trong quan hệ hợp đồng. Cụ thể đối với chế tài phạt vi phạm là bên vi phạm hợp
đồng phải trả một khoản tiền phạt cho bên bị vi phạm do hành vi vi phạm của mình
gây ra. Nhưng cả trong Bộ luật dân sự năm 2005 và Luật thương mại năm 2005 đều
không có một quy định cụ thể nào về căn cứ phát sinh chế tài phạt vi phạm. Tuy
nhiên từ góc độ lý luận chung, chúng ta có thể rút ra hai căn cứ chủ yếu phát sinh
quyền đòi tiền phạt của bên vi phạm hợp đồng trong dân sự nói chung và trong
thương mại nói riêng là: Có hành vi vi phạm hợp đồng và các bên phải có thỏa
thuận phạt vi phạm trong hợp đồng.
Khi hợp đồng được ký kết hợp pháp, các bên phải thực hiện đúng và nghiêm
túc các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng. Nếu một trong các bên không
thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trong hợp
đồng, tức là bên đó có hành vi vi phạm hợp đồng. Lúc này, tránh nhiệm pháp lý sẽ
phát sinh và bên vi phạm hợp đồng phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do hành
vi vi phạm hợp đồng của mình gây ra. Cũng có trường hợp ngoại lệ là khi có vi
phạm hợp đồng nhưng không làm phát sinh trách nhiệm pháp lý. Đó là việc vi phạm
hợp đồng do sự kiện bất khả kháng hay thuộc trường hợp miễn trừ trách nhiệm theo
quy định của pháp luật. Bất khả kháng là sự kiện mà các bên không thể lường trước
được, tức là nằm ngoài hoàn toàn khả năng tính toán của các bên như thiên tai,
chiến tranh ... Nếu muốn được miễn trách nhiệm pháp lý thì phải yêu cầu cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền xác nhận về sự kiện bất khả kháng đó8.
Tuy nhiên để có thể phát sinh chế tài phạt vi phạm hợp đồng thì các bên bắt
buộc phải có thỏa thuận phạt vi phạm trong hợp đồng. Nếu có hành vi vi phạm hợp
đồng nhưng các bên không có thỏa thuận phạt vi phạm hợp đồng thì không phát
7

Thạc sĩ. Nguyễn Việt Khoa, giảng viên Khoa Luật kinh tế, Đại học kinh tế tp.HCM, “ Chế tài phạt vi phạm

hợp đồng theo Luật thương mại năm 2005”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp điện tử.
8

Thạc sĩ. Bùi Hưng Nguyên, Bình luận về miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tại Điều 294 Luật thương
mại năm 2005.

17


sinh chế tài phạt vi phạm hợp đồng.
Vậy nên, chế tài phạt vi phạm hợp đồng chỉ phát sinh khi có hành vi vi phạm
hợp đồng và các bên có thỏa thuận phạt vi phạm trong hợp đồng.
1.2.5. Ý nghĩa của chế tài phạt vi phạm
Chế tài phạt vi phạm được coi là một chế định quan trọng để bảo vệ các bên
trong quan hệ thương mại. Nó có ý nghĩa trong việc điều tiết hành vi của các bên
trong quá trình thực hiện hợp đồng, thúc đẩy các bên giao kết hợp đồng phải thực
hiện một cách nghiêm túc các điều khoản trong hợp đồng, có ý thức, trách nhiệm
cao trong khi thực hiện hợp đồng để tránh phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất
lợi ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các bên khi xảy ra hành vi vi phạm hợp
đồng; nó giúp đảm bảo ổn định các quan hệ hợp đồng, trật tự pháp luật, tạo môi
trường kinh doanh cạnh tranh lành mạnh. Mặt khác, nó còn là biện pháp hữu hiệu
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm, giúp khôi phục lợi ích của
bên bị vi phạm một cách nhanh chóng mà không cần biết thiệt hại có xảy ra hay
không, nếu có cũng không cần quan tâm thiệt hại xảy ra ở mức độ nào, chỉ cần có
hành vi vi phạm và có thỏa thuận phạt vi phạm trong hợp đồng là có thể áp dụng
chế tài phạt vi phạm. Đối với bên vi phạm, chế tài phạt vi phạm hợp đồng cũng có ý
nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của bên vi phạm thông qua việc quy
định giới hạn mức phạt vi phạm tránh trường hợp bên bị vi phạm yêu cầu mức phạt
quá cao so với thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra của bên vi phạm9.
Qua đây, chúng ta có thể thấy chế tài phạt vi phạm hợp đồng là một trong
những chế tài quan trọng trong hoạt động thương mại, rất hay được các bên sử dụng
làm phương tiện pháp lý bảo về quyền và lợi ích của mình trong khi ký kết và thực
hiện hợp đồng.

9

Thạc sĩ. Nguyễn Việt Khoa, giảng viên Khoa Luật kinh tế, Đại học kinh tế tp.HCM, “ Chế tài phạt vi phạm

hợp đồng theo Luật thương mại năm 2005”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp điện tử.

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×