Tải bản đầy đủ

Pháp luật về cho vay tín chấp từ thực tiễn tại ngân hàng chính sách xã hội tỉnh sơn la

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ CHO VAY TÍN CHẤP TỪ THỰC TIỄN TẠI NGÂN
HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỈNH SƠN LA
MÙI THỊ HIỀN
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Ts. Nguyễn Văn Tuyến

HÀ NỘI – 2016

Lêi cam ®oan


2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các

số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Mùi Thị Hiền

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................Error! Bookmark not defined.
1. Tính cấp thiết của đề tài ...................................Error! Bookmark not defined.


3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài .............................Error! Bookmark not defined.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài ..Error! Bookmark not defined.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài ...Error! Bookmark not defined.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài .......................Error! Bookmark not defined.
6. Kết cấu của luận văn ........................................Error! Bookmark not defined.
Chương 1.............................................................Error! Bookmark not defined.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY TÍN CHẤP CỦA TỔ CHỨC
TÍN DỤNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHO VAY TÍN CHẤP CỦA TỔ CHỨC
TÍN DỤNG..........................................................Error! Bookmark not defined.
1.1. Những vấn đề lý luận về cho vay tín chấp của tổ chức tín dụng ...... Error!
Bookmark not defined.
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm cho vay tín chấp của tổ chức tín dụng ..... Error!
Bookmark not defined.
1.1.2. Phân loại cho vay tín chấp của tổ chức tín dụng.. Error! Bookmark not
defined.
1.2. Những vấn đề lý luận pháp luật về cho vay tín chấp của tổ chức tín dụng
......................................................................... Error! Bookmark not defined.
1.2.1. Khái niệm và cấu trúc của pháp luật về cho vay tín chấp của tổ chức tín
dụng ................................................................. Error! Bookmark not defined.
1.2.2. Nguồn của pháp luật về cho vay tín chấp của tổ chức tín dụng .... Error!
Bookmark not defined.
1.2.3. Khái luận về hợp đồng cho vay tín chấpError! Bookmark not defined.
Chương 2.............................................................Error! Bookmark not defined.
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHO VAY TÍN CHẤP CỦA TỔ CHỨC
TÍN DỤNG VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CHI NHÁNH NGÂN
HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỈNH SƠN LAError! Bookmark not defined.


2.1. Thực trạng pháp luật về cho vay tín chấp của tổ chức tín dụng ....... Error!
Bookmark not defined.


4
2.1.1. Thực trạng quy định về chủ thể tham gia quan hệ cho vay tín chấp giữa tổ
chức tín dụng với khách hàng ......................... Error! Bookmark not defined.
2.1.2. Thực trạng quy định về nguyên tắc và thủ tục cho vay tín chấp ... Error!
Bookmark not defined.
2.1.3. Thực trạng quy định về ký kết và thực hiện hợp đồng cho vay tín chấpError!
Bookmark not defined.
2.1.3.1. Thực trạng quy định về việc giao kết hợp đồng cho vay tín chấpError!
Bookmark not defined.
2.1.3.2. Thực hiện hợp đồng cho vay tín chấp và trách nhiệm pháp lí do vi phạm
hợp đồng cho vay tín chấp .............................. Error! Bookmark not defined.
2.1.4. Thực trạng quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan
hệ cho vay tín chấp của tổ chức tín dụng ........ Error! Bookmark not defined.
2.1.4.1. Các quy định về quyền và nghĩa vụ của bên cho vayError! Bookmark
not defined.
2.1.4.2. Các quy định về quyền và nghĩa vụ của bên vayError! Bookmark not
defined.
2.2. Thực tiễn cho vay tín chấp tại Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Sơn La
......................................................................... Error! Bookmark not defined.
2.2.1. Khái quát về Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Sơn LaError! Bookmark
not defined.
2.2.2. Các kết quả đạt được về cho vay tín chấp tại chi nhánh Ngân hàng chính
sách xã hội tỉnh Sơn La ................................... Error! Bookmark not defined.
2.2.3. Những khó khăn vướng mắc trong thực tiễn cho vay tín chấp tại Chi nhánh
Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Sơn La....... Error! Bookmark not defined.
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CHO VAY TÍN CHẤP CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH
XÃ HỘI Ở VIỆT NAM .....................................Error! Bookmark not defined.


5
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay tín
chấp của Ngân hàng chính sách xã hội ở Việt Nam ...... Error! Bookmark not
defined.
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay tín chấp của Ngân hàng
chính sách xã hội ở Việt Nam ......................... Error! Bookmark not defined.
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cho vay tín chấp của tổ chức tín dụng ở
Việt Nam .......................................................... Error! Bookmark not defined.
3.2.2. Các giải pháp tổ chức thực thi pháp luật về cho vay tín chấp của tổ chức
tín dụng ở Việt Nam ........................................ Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN CHUNG ......................................Error! Bookmark not defined.
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………Error!
Bookmark not defined.

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn quan
tâm tới việc nâng cao đời sống, trình độ dân trí cho nhân dân đáp ứng yêu cầu
thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong thời gian qua
nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật, tạo điều kiện về nguồn vốn,
tạo môi trường để các thành phần trong xã hội, trong đó có người nghèo và các
đối tượng chính sách khác được tiếp cận nguồn vốn để phát triển sản xuất, nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần ổn định an ninh chính trị trật tự xã hội.
Hoạt động cho vay tín chấp từ ngân hàng chính sách xã hội thông qua các
tổ chức chính trị xã hội đã góp phần quan trọng trong việc giúp một bộ phận
nhân dân nghèo, khó khăn được tiếp cận vốn, mặt khác tổ chức thực hiện tốt
những nội dung công việc nhận ủy thác của các tổ chức chính trị xã hội không
chỉ góp phần chuyển tải vốn tín dụng nhanh chóng, thuận tiện đến hộ nghèo và
các đối tượng chính sách khác mà còn có tác động lớn tới công tác tuyên truyền,


6
tập hợp nông dân và xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, củng cố hệ thống chính
trị ở cơ sở.
Việc thực hiện về pháp luật cho vay trên cơ sở tín chấp đòi hỏi các tổ chức
ký nhận ủy thác 1 phần trong quy trình cho vay phải đáp ứng mục tiêu định sẵn.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện do nguyên nhân khách quan, chủ quan mà
một số quy định pháp luật về cho vay chưa thực hiện được hoặc thực hiện không
nghiêm, nhất là ở các địa bàn miền núi, biên giới khó khăn với tỷ lệ nợ quá hạn,
nợ xấu phải xử lý có chiều hướng gia tăng, khó giải quyết do đó các quy định
của pháp luật về lĩnh vực tín chấp cho vay cần phải được nghiên cứu, rà soát để
chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới của đất nước trong giai đoạn
hiện nay.
Đây là lý cơ bản để tác giả lựa chọn đề tài: “Pháp luật về cho vay tín
chấp từ thực tiễn tại Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Sơn La” để làm đề tài
luận văn tốt nghiệp thạc sĩ cho mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong lĩnh vực pháp luật về tín dụng nói chung và cho vay tín chấp của
TCTD nói riêng, đã có nhiều công trình nghiên cứu với những khía cạnh khác
nhau liên quan đến chủ đề này, chẳng hạn như:
- Luận văn thạc sỹ luật học của Trần Thu Lan năm 2011 với đề tài: “Hợp
đồng cho vay tại ngân hàng thương mại – một số vấn đề lý luận và thực tiễn”;
- Luận văn thạc sỹ luật học của Nguyễn Thị Liên Hương năm 2012 với đề
tài: “Mối quan hệ pháp lý giữa hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm bằng tài
sản trong hoạt động cho vay tại các tổ chức tín dụng”;


7
- Luận văn thạc sỹ luật học của Hoàng Thanh Thúy năm 2010 với đề tài:
“Pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng bảo đảm tiền vay tại
ngân hàng thương mại ở Việt Nam”;
- TS. Nguyễn Văn Tuyến (2007), “Các giải pháp hoàn thiện Pháp luật
ngân hàng ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế”, Tạp chí luật học số
4/2007;
Trong chừng mực nhất định, các công trình nghiên cứu này đã bàn luận
một cách khá chuyên sâu về những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn liên quan
đến pháp luật về tín dụng nói chung và pháp luật về cho vay tín chấp của TCTD
ở Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, chưa có công trình nào khảo sát thực tiễn thực
hiện pháp luật về cho vay tín chấp tại Ngân hàng chính sách xã hội ở Việt Nam
nói chung và ở một địa bàn cụ thể là tỉnh Sơn La nói riêng. Vì vậy, có thể nhận
định rằng đây là đề tài nghiên cứu có tính mới, có tính thời sự và tính lý luận
cũng như thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn là làm rõ hơn những vấn đề lý
luận và thực tiễn về cho vay tín chấp của TCTD trong nền kinh tế thị trường và
pháp luật về cho vay tín chấp của TCTD từ thực tiễn khảo sát tại Ngân hàng
chính sách xã hội tỉnh Sơn La.
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung thực hiện các nhiệm vụ
sau đây:
- Làm rõ khái niệm, bản chất, đặc trưng của cho vay tín chấp của TCTD
đối với khách hàng; khái niệm, các bộ phận cấu thành của pháp luật về cho vay
tín chấp của TCTD đối với khách hàng.
- Đánh giá thực trạng pháp luật về cho vay tín chấp của TCTD đối với
khách hàng; chỉ ra những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp


8
luật để từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp
luật về cho vay tín chấp của TCTD đối với khách hàng ở Việt Nam nói chung và
tại Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quan điểm, học thuyết về cho vay
tín chấp của TCTD; các quy định của pháp luật Việt Nam về cho vay tín chấp
của TCTD; thực tiễn cho vay tín chấp của TCTD nói chung và Ngân hàng chính
sách xã hội tỉnh Sơn La nói riêng.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào các vấn đề cơ bản sau đây:
- Những vấn đề lý luận về cho vay tín chấp của TCTD;
- Thực trạng pháp luật về cho vay tín chấp của TCTD ở Việt Nam và thực
tiễn cho vay tín chấp của Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Sơn La;
- Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay tín chấp của
TCTD ở Việt Nam nói chung và Ngân hàng chính sách xã hội nói riêng.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài luận văn sẽ được triển khai thực hiện trên cơ sở sử dụng phối hợp
các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương
pháp khảo sát, thống kê; phương pháp khái quát hóa; phương pháp diễn dịch,
quy nạp… Tùy theo từng nội dung cụ thể của đề tài mà tác giả sử dụng những
phương pháp khác nhau theo nguyên tắc sử dụng độc lập hoặc phối hợp giữa các
phương pháp nghiên cứu, nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là giải quyết tốt các
yêu cầu đặt ra của đề tài.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
được thiết kế thành 3 chương như sau:


9
Chương 1: Những vấn đề lý luận về cho vay tín chấp của tổ chức tín dụng
và pháp luật về cho vay tín chấp của tổ chức tín dụng.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về cho vay tín chấp của tổ chức tín dụng
và thực tiễn thực hiện tại Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Sơn La.
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay
tín chấp của Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Sơn La.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY TÍN CHẤP CỦA TỔ CHỨC
TÍN DỤNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHO VAY TÍN CHẤP CỦA TỔ CHỨC
TÍN DỤNG
1.1. Những vấn đề lý luận về cho vay tín chấp của tổ chức tín dụng
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm cho vay tín chấp của tổ chức tín dụng
Để hiểu đúng bản chất của cho vay tín chấp của tổ chức tín dụng, trước hết
cần làm rõ khái niệm cho vay của tổ chức tín dụng.
Theo Từ điển quản lý tài chính ngân hàng, cho vay được định nghĩa là
“quyền của một người gọi là người cho vay hay chủ nợ bắt buộc một người khác
gọi là người đi vay hay con nợ phải trả một số tiền hay một tài sản nhất định hay
thực hiện một dịch vụ nào đó”. Cũng trong tác phẩm này, các tác giả còn đưa ra
một định nghĩa khác, theo đó cho vay là “hợp đồng theo đó một người có vốn người cho vay, giao quyền sử dụng vốn này cho một tác nhân kinh tế khác người đi vay, với điều kiện nộp một khoản lãi; hợp đồng cho vay cũng ấn định
những kỳ hạn trả và một vài thể thức riêng của việc cho vay”
Cho vay là hiện tượng kinh tế khách quan, xuất hiện khi trong xã hội loài
người có tình trạng tạm thời thừa và tạm thời thiếu vốn. Khái niệm cho vay, theo
nghĩa chung nhất được hiểu là việc một người thoả thuận để cho người khác
được quyền sử dụng tài sản của mình (vật cùng loại) trong một thời hạn nhất
định với điều kiện có hoàn trả, dựa trên cơ sở sự tín nhiệm của mình đối với
người đó. Hoạt động cho vay (nói chung) bao gồm các yếu tố cấu thành cơ bản
sau đây:
Thứ nhất, về chủ thể, việc cho vay bao giờ cũng có hai bên tham gia, bao
gồm bên vay và bên cho vay. Bên cho vay là người có tài sản chưa dùng đến, muốn
cho người khác sử dụng để thoả mãn một số lợi ích của mình, có thể là lợi ích vật


10
chất hoặc tinh thần. Còn bên vay chính là người đang cần sử dụng loại tài sản đó
để thoả mãn nhu cầu về kinh doanh hoặc tiêu dùng.
Thứ hai, hình thức pháp lí của việc cho vay chính là hợp đồng tín dụng tài
sản. Hợp đồng này được các bên xác lập và thực hiện trên nguyên tắc tự do và
thống nhất về ý chí, nguyên tắc tự định đoạt…
Thứ ba, sự kiện cho vay phát sinh bởi hai hành vi căn bản là hành vi ứng
trước và hành vi hoàn trả một số tiền (hay tài sản) nhất định là các vật cùng loại.
Hành vi ứng trước tài sản do người cho vay thực hiện, còn hành vi hoàn trả được
thực hiện bởi người vay sau đó một khoảng thời gian theo sự thoả thuận giữa hai
bên.
Thứ tư, việc cho vay bao giờ cũng dựa trên sự tín nhiệm giữa người cho vay
đối với người đi vay về khả năng hoàn trả tiền vay.
Ngoài những dấu hiệu chung của quan hệ cho vay, hoạt động cho vay của
tổ chức tín dụng còn thể hiện những dấu hiệu có tính đặc thù như sau:
Một là, việc cho vay của tổ chức tín dụng là hoạt động nghề nghiệp kinh
doanh mang tính chức năng. Mặc dù theo pháp luật Việt Nam hiện hành, các tổ
chức khác không phải là tổ chức tín dụng cũng có thể thực hiện việc cho vay đối
với khách hàng như một hoạt động kinh doanh nhưng hoạt động cho vay của các
tổ chức này hoàn toàn không phải là nghề nghiệp mang tính chức năng như đối
với các tổ chức tín dụng.
Hai là, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng không chỉ là một nghề
kinh doanh mà hơn nữa còn là một nghề nghiệp kinh doanh có điều kiện. Điều
này thể hiện ở chỗ hoạt động cho vay chuyên nghiệp của tổ chức tín dụng phải
thoả mãn một số điều kiện nhất định như phải có vốn pháp định; phải được Ngân


11
hàng nhà nước cấp giấy phép hoạt động ngân hàng trước khi tiến hành việc đăng
kí kinh doanh theo luật định.
Ba là, ngoài việc tuân thủ các quy định chung của pháp luật về hợp đồng,
hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng còn chịu sự điều chỉnh, chi phối của các
đạo luật về ngân hàng, thậm chí kể cả các tập quán thương mại về ngân hàng.
Đặc điểm này bị chi phối bởi tính chất đặc thù trong nghề nghiệp kinh doanh của
các tổ chức tín dụng như tính rủi ro cao và sự ảnh hưởng mang tính chất dây
chuyền đối với nhiều lợi ích khác nhau trong xã hội.
Ngoài ra, trong pháp luật Việt Nam, nhà làm luật cũng đưa ra một định
nghĩa về cho vay như sau:
“Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam
kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong
một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và
lãi”.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, cho vay của tổ chức tín dụng đối
với khách hàng là phương thức cung cấp vốn thông dụng nhất để phát triển kinh
tế và thỏa mã nhu cầu tiêu dùng trong xã hội. Thực tế cho thấy, có hai phương
thức cho vay cơ bản dựa trên tiêu chí bảo đảm nghĩa vụ trả nợ, đó là cho vay có
bảo đảm bằng tài sản và không có bảo đảm bằng tài sản (trong đó có hình thức
cho vay tín chấp).
Cho vay có bảo đảm bằng tài sản là hình thức cho vay trong đó nghĩa vụ
trả nợ tiền vay được bảo đảm bằng tài sản của bên vay hoặc của người thứ ba. Để
xác lập và thực hiện việc cho vay có bảo đảm bằng tài sản, giữa tổ chức tín dụng
và khách hàng vay (hoặc có thể liên quan đến người thứ ba trong trường hợp bảo
đảm tiền vay bằng biện pháp bảo lãnh) phải kí kết cả hai loại hợp đồng, bao gồm


12
hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay (hợp đồng cầm cố, hợp đồng
thế chấp, hợp đồng bảo lãnh). Tuy nhiên, do pháp luật cho phép các bên có thể
thoả thuận lập hợp đồng chung nên trong trường hợp này các thoả thuận về bảo
đảm tiền vay được xem là bộ phận hợp thành của hợp đồng tín dụng có bảo đảm
bằng tài sản.
Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản là hình thức cho vay trong đó
nghĩa vụ hoàn trả tiền vay không được bảo đảm bằng các tài sản của khách hàng
vay hoặc của người thứ ba. Để thực hiện việc cho vay theo hình thức này, thông
thường các bên chỉ cần giao kết một hợp đồng duy nhất là hợp đồng tín dụng.
Trong trường hợp tổ chức tín dụng cho vay có bảo lãnh bằng tín chấp thì mặc dù
khoản vay này không thể xem là khoản vay có bảo đảm bằng tài sản nhưng
người bảo lãnh bằng tín chấp vẫn phải xác lập văn bản cam kết bảo lãnh bằng uy
tín của mình và gửi cho tổ chức tín dụng để khách hàng vay có thể được tổ chức
tín dụng chấp nhận cho vay.
Từ kết quả phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm về cho vay tín chấp
của tổ chức tín dụng như sau:
Cho vay tín chấp là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay cam kết
giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong
một thời gian nhất định theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi, dựa trên cơ sở
sự bảo đảm bằng uy tín của bên vay hoặc của bên thứ ba mà không phải bảo
đảm bằng tài sản.
Từ định nghĩa trên đây, ngoài những đặc điểm chung của hoạt động cho
vay thông thường, cho vay tín chấp có những đặc điểm riêng sau đây:
Thứ nhất, về điều kiện cho vay tín chấp: Trong hợp đồng cho vay tín chấp,
bên vay hoặc bên thứ ba không phải thế chấp các tài sản làm vật bảo đảm cho


13
nghĩa vụ trả nợ tiền vay. Thông thường, trong quan hệ cho vay tín chấp, điều duy
nhất mà bên vay cần làm để ngân hàng có thể tin tưởng và quyết định cho vay tín
chấp, đó là bên vay chứng minh được các khoản thu nhập hợp pháp, các hoạt
động và nơi cư trú hợp pháp của mình. Vì thế, cho vay tín chấp còn được gọi là
những khoản vay không cần thế chấp, nhưng thực tế người cho vay vẫn có cơ sở,
niềm tin để quyết định cho vay mà không phải lo lắng quá nhiều về các rủi ro có
thể phát sinh từ việc cho vay.
Thứ hai, về cơ sở, căn cứ cho vay tín chấp. Trong phương thức cho vay
này, bên cho vay không đòi hỏi hay yêu cầu bên vay phải thế chấp bằng tài sản
nhưng căn cứ để cho vay chính là việc bên cho vay cần đánh giá về mức độ tín
nhiệm của mình đối với bên vay. Việc đánh giá mức độ tín nhiệm này thường
được thực hiện thông qua một tiêu chí rất cơ bản là “điểm tín dụng”. Căn cứ vào
mức “điểm tín dụng” của từng khách hàng, bên cho vay sẽ quyết định việc cho
vay hay không và mức vốn cho vay là bao nhiêu để đảm bảo sự an toàn về vốn
cho mình.
Thứ ba, về thủ tục cho vay tín chấp. Trong phương thức cho vay này, mặc
dù các bên không cần phải ký kết một hợp đồng bảo đảm tiền vay (giao dịch bảo
đảm) như trong phương thức cho vay có bảo đảm bằng tài sản nhưng về mặt thủ
tục, bên cho vay luôn đòi hỏi khách hàng vay phải thực hiện một số thủ tục cần
thiết như: cung cấp các thông tin về mức thu nhập hàng tháng, các hoạt động
chính có thể tạo ra thu nhập, địa điểm kinh doanh hoặc nơi cư trú hợp pháp…
Thứ tư, về mức lãi suất thực tế mà bên vay phải trả, các khoản cho vay tín
chấp thường có mức lãi suất cao hơn các khoản cho vay có bảo đảm bằng tài sản.
Lý do để các TCTD đưa ra mức lãi suất này là vì, họ cho rằng các khoản cho vay
tín chấp thường có nguy cơ rủi ro cao hơn so với các khoản cho vay có bảo đảm
bằng tài sản, vì vậy bên cho vay lập luận rằng họ cần tính lãi cao hơn để bù đắp


14
lại các rủi ro này. Ngoài ra, các khoản cho vay tín chấp đôi khi hay bị đi kèm
theo một khoản phí nào đó (ngoài lãi cho vay). Nếu người vay không tìm hiểu
kỹ, rất có thể họ bị ràng buộc với những điều khoản bất lợi do phải trả cho
TCTD những khoản “phí ẩn” như phí tư vấn, phí thu hồ sơ, phí thẩm định…
Thậm chí, nếu như một TCTD nào đó đưa ra lời đề nghị với mức lãi suất cực
thấp cho khách hàng vay thì cũng cần phải lưu ý rằng, đằng sau một mức lãi suất
hấp dẫn có thể là vô số các khoản phụ phí khác, khiến cho khoản lãi thực tế sẽ
cao hơn nhiều.
1.1.2. Phân loại cho vay tín chấp của tổ chức tín dụng
Về lý thuyết, cho vay tín chấp cũng có thể tồn tại dưới nhiều hình thức
khác nhau. Việc đa dạng hóa các hình thức cho vay tín chấp cũng là để đáp ứng
các nhu cầu rất đa dạng của khách hàng.
Một cách khái quát, có thể phân loại cho vay tín chấp dựa vào một số tiêu
chí cơ bản sau đây:
Thứ nhất, nếu dựa vào tiêu chí mục đích cho vay, có thể phân loại cho vay
tín chấp thành hai nhóm là: a) Cho vay tín chấp vì mục đích kinh doanh; và b)
Cho vay tín chấp vì mục đích tiêu dùng.
Cho vay tín chấp vì mục đích kinh doanh là phương thức cho vay tín chấp
theo đó bên vay sử dụng vốn vay vào mục đích kinh doanh hàng hóa, dịch vụ để
thu lợi nhuận. Trên thực tế, phương thức cho vay này rất ít được các TCTD sử
dụng vì nhu cầu về số vốn vay để kinh doanh thường rất lớn nên việc cho vay tín
chấp khó đảm bảo an toàn cho bên cho vay. Vì vậy, phương thức cho vay này
nếu được áp dụng thì cũng chỉ nhằm đáp ứng các nhu cầu vốn ngắn hạn của
khách hàng, ví dụ các khoản cho vay qua đêm hoặc cho vay thấu chi để đáp ứng
nhu cầu vốn tức thời của các chủ thể kinh doanh.


15
Cho vay tín chấp vì mục đích tiêu dùng là phương thức cho vay tín chấp
nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng vay vốn. Thực tế cho thấy, các
khoản cho vay tín chấp của TCTD hiện nay chủ yếu là cho vay nhằm thỏa mãn
nhu cầu tiêu dùng như vay mua nhà, đất hoặc sửa chữa nhà, mua xe ô tô, mua đồ
dùng gia đình, vay để đi du học hoặc khám chữa bệnh…
Thứ hai, nếu căn cứ vào tiêu chí thời hạn cho vay, có thể phân loại cho
vay tín chấp thành hai nhóm là: a) Cho vay tín chấp ngắn hạn; và b) Cho vay tín
chấp trung hạn và dài hạn.
Cho vay tín chấp ngắn hạn là phương thức cho vay tín chấp theo đó thời
hạn cho vay đối với khách hàng là đến 12 tháng. Phương thức cho vay tín chấp
ngắn hạn thường có mức lãi suất thấp hơn do mức độ rủi ro được đánh giá là
thấp hơn so với các khoản cho vay dài hạn.
Cho vay tín chấp trung hạn và dài hạn là phương thức cho vay tín chấp
theo đó thời hạn cho vay đối với khách hàng từ trên 12 tháng đến 60 tháng (gọi
là cho vay trung hạn) hoặc từ trên 60 tháng (gọi là cho vay dài hạn). Trên nguyên
tắc, các khoản cho vay tín chấp trung hạn và dài hạn thường có mức lãi suất cao
hơn so với các khoản cho vay tín chấp ngắn hạn, bởi lẽ các khoản cho vay này
được đánh giá là có mức độ rủi ro cao hơn đối với bên cho vay.
Thứ ba, nếu dựa vào tiêu chí chủ thể đóng vai trò là bên tín chấp, có thể
phân loại cho vay tín chấp thành hai trường hợp sau: a) Cho vay tín chấp trong
đó bên tín chấp chính là bên vay. Với trường hợp này, bên vay phải chứng minh
uy tín của mình đối với TCTD về khả năng trả nợ bằng cách cung cấp các thông
tin về thu nhập hàng tháng, các hoạt động có khả năng tạo ra thu nhập cho bên
vay, địa bàn hoạt động hoặc nơi cư trú của bên vay; b) Cho vay tín chấp trong đó
bên tín chấp là bên thứ ba. Với trường hợp này, việc tín chấp không phải do bên
vay thực hiện mà do bên thứ ba thực hiện bằng cam kết với TCTD cho vay.


16
Thông thường, bên thứ ba đóng vai trò tín chấp bao gồm các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể như: Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, tổ liên
gia, tổ dân phố, cộng đồng dân cư làng xã…
Trên đây là một số ý kiến phân tích để làm rõ hơn bản chất của cho vay tín
chấp của tổ chức tín dụng đối với khách hàng.
1.2. Những vấn đề lý luận pháp luật về cho vay tín chấp của tổ chức
tín dụng
1.2.1. Khái niệm và cấu trúc của pháp luật về cho vay tín chấp của tổ
chức tín dụng
Như đã đề cập ở trên, cho vay tín chấp của TCTD đối với khách hàng là
một phương thức cho vay đặc biệt theo đó bên vay không cần bảo đảm bằng tài
sản cho các nghĩa vụ của mình đối với bên cho vay thông qua việc xác lập các
giao dịch bảo đảm. Vì thế, rủi ro từ hoạt động cho vay tín chấp cũng được đánh
giá là cao hơn và cần có sự điều chỉnh của pháp luật nhằm đảm bảo an toàn cho
TCTD là bên cho vay cũng như đảm bảo sự vận hành ổn định của nền kinh tế.
Về phương diện lý thuyết, có thể quan niệm pháp luật về cho vay tín chấp
của TCTD đối với khách hàng là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước
ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh quan hệ cho vay tín chấp giữa TCTD
với khách hàng vay vốn, dựa trên nguyên tắc đảm bảo quyền tự định đoạt, quyền
tự do ý chí và tôn trọng ý chí của các bên.
Định nghĩa nêu trên cho thấy pháp luật về cho vay tín chấp của TCTD đối
với khách hàng có cấu trúc bao gồm các nhóm quy định chủ yếu sau đây:
(i) Nhóm quy phạm pháp luật quy định về chủ thể tham gia quan hệ cho
vay tín chấp giữa TCTD với khách hàng. Nhóm quy phạm pháp luật này có


17
nhiệm vụ xác định rõ chủ thể nào là bên cho vay, chủ thể nào là bên vay và các
điều kiện cần và đủ để các chủ thể đó tham gia quan hệ cho vay tín chấp là gì.
(ii) Nhóm quy phạm pháp luật quy định về đối tượng và nguyên tắc cho
vay tín chấp. Nhóm quy phạm pháp luật này có nhiệm vụ xác định rõ bên cho
vay có thể cho vay tín chấp đối với những đối tượng nào, nguyên tắc cho vay tín
chấp là gì.
(iii) Nhóm quy phạm pháp luật quy định về hình thức pháp lý của quan hệ
cho vay tín chấp (hợp đồng cho vay tín chấp) giữa TCTD với khách hàng. Nhóm
quy phạm pháp luật này có nhiệm vụ xác định rõ hợp đồng cho vay tín chấp cần
có nội dung và hình thức như thế nào để đảm bảo sự an toàn về pháp lý cho các
bên tham gia hợp đồng cho vay tín chấp. Ngoài ra, nhóm quy phạm pháp luật
này cũng có nhiệm vụ quy định rõ nguyên tắc cho vay và thủ tục giao kết hợp
đồng cho vay tín chấp và các hậu quả pháp lý của việc vi phạm thủ tục giao kết
hợp đồng cho vay tín chấp.
(iv) Nhóm quy phạm pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ
thể tham gia quan hệ cho vay tín chấp giữa TCTD với khách hàng. Nhóm quy
phạm pháp luật này có nhiệm vụ xác định rõ mỗi chủ thể là bên cho vay và bên
vay có những quyền năng gì và có những nghĩa vụ pháp lý nào khi tham gia
quan hệ hợp đồng cho vay tín chấp, cũng như các hậu quả pháp lý của việc vi
phạm hợp đồng cho vay tín chấp.
1.2.2. Nguồn của pháp luật về cho vay tín chấp của tổ chức tín dụng
Giống như bất kỳ lĩnh vực pháp luật nào liên quan đến hoạt động kinh tế
trong nền kinh tế thị trường, vấn đề nguồn của pháp luật cũng luôn được coi
trọng vì nó có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả áp dụng pháp luật để giải quyết
các tình huống diễn ra trên thực tế.


18
Ở mức độ khái quát, có thể hình dung nguồn của pháp luật về cho vay tín
chấp của TCTD bao gồm các loại chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, nguồn cơ bản của pháp luật về cho vay tín chấp của TCTD
trước hết phải là các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, trong đó có chứa
đựng các quy phạm pháp luật của một lĩnh vực pháp luật cụ thể, ví dụ lĩnh vực
pháp luật về cho vay tín chấp của TCTD. Nguồn này còn được gọi là nguồn luật
quốc gia và có giá trị pháp lý áp dụng trong khuôn khổ giới hạn lãnh thổ của một
quốc gia, không bắt buộc áp dụng tại quốc gia khác.
Thứ hai, nguồn thứ yếu của pháp luật về cho vay tín chấp của TCTD là
các điều ước quốc tế mà một quốc gia đã tham gia ký kết hoặc thừa nhận với tư
cách là thành viên của điều ước. Đây là nguồn luật quốc tế và chỉ có giá trị ràng
buộc đối với một quốc gia khi nó được chính quốc gia đó phê chuẩn theo các thủ
tục quy định của pháp luật về điều ước quốc tế.
Thứ ba, nguồn thứ yếu khác của pháp luật về cho vay tín chấp của TCTD
còn có thể bao gồm các tập quán giao dịch, thói quen thương mại và các thông lệ
tốt nhất về cho vay tín chấp được thừa nhận trong nước và trên thế giới. Ngoài
ra, trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, các án lệ
liên quan đến cho vay nói chung và cho vay tín chấp nói riêng cũng đã và đang
được thừa nhận như là một loại nguồn bổ sung của hệ thống pháp luật quốc gia,
trong đó có pháp luật về cho vay tín chấp của TCTD.
1.2.3. Khái luận về hợp đồng cho vay tín chấp
Với tư cách là một bộ phận cấu thành của pháp luật về cho vay tín chấp,
các quy định về hợp đồng cho vay tín chấp luôn giữ một vị trí đặc biệt quan
trọng. Vì vậy, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận về hợp đồng cho vay tín chấp
là cần thiết và rất hữu ích.


19
Về khái niệm hợp đồng cho vay tín chấp
Xét từ khía cạnh lý thuyết, hợp đồng cho vay tín chấp còn được gọi bằng
một thuật ngữ khác là “hợp đồng tín dụng” – theo cách gọi của nhà làm luật
trong các văn bản liên quan đến hoạt động cho vay của TCTD.
Hợp đồng cho vay tín chấp (hợp đồng tín dụng) là thoả thuận bằng văn
bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với khách hàng vay vốn (bên vay), theo
đó tổ chức tín dụng thoả thuận ứng trước một số tiền cho khách hàng vay sử
dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi, dựa
trên sự tín nhiệm. Hợp đồng cho vay tín chấp bao gồm hai yếu tố cơ bản: Một là,
về phương diện hình thức, sự thoả thuận giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với
khách hàng (bên đi vay) phải được thể hiện bằng văn bản; hai là, về phương diện
nội dung, bên cho vay đồng thuận để bên vay được sử dụng một số tiền của mình
trong thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả, dựa trên sự tín nhiệm.
Về đặc điểm của hợp đồng cho vay tín chấp
Ngoài những đặc điểm chung của mọi loại hợp đồng, hợp đồng cho vay
tín chấp còn có một số đặc trưng sau đây:
Thứ nhất, về chủ thể, một bên tham gia cho vay tín chấp bao giờ cũng là tổ
chức tín dụng có đủ các điều kiện luật định - với tư cách là bên cho vay. Còn chủ
thể bên kia (bên vay) có thể là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác thoả mãn
những điều kiện vay vốn do pháp luật hoặc do tổ chức tín dụng quy định trong
quy chế cho vay.
Thứ hai, đối tượng của hợp đồng cho vay tín chấp là tiền. Đối tượng của
hợp đồng tín dụng bao giờ cũng phải là một số tiền xác định và phải được các
bên thoả thuận, ghi rõ trong văn bản hợp đồng.


20
Thứ ba, hợp đồng cho vay tín chấp vốn chứa đựng nguy cơ rủi ro rất lớn
cho quyền lợi của bên cho vay. Sở dĩ như vậy là vì theo cam kết trong hợp đồng
cho vay tín chấp, bên cho vay chỉ có thể đòi tiền của bên vay sau thời hạn nhất
định. Điều đó thể hiện ở chỗ, thời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro và bất
trắc càng lớn và vì thế tổ chức tín dụng càng phải quan tâm đến việc áp dụng các
biện pháp quản trị rủi ro, đồng thời phải quy định lãi suất cho vay cao hơn nhằm
thu hồi đủ các chi phí bỏ ra cho việc quản lí các khoản cho vay dài hạn vốn có
mức độ rủi ro cao.
Thứ tư, về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ. Trong hợp đồngcho vay tín
chấp, nghĩa vụ chuyển giao tiền vay (nghĩa vụ giải ngân) của bên cho vay bao
giờ cũng phải được thực hiện trước, làm cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền
và nghĩa vụ của bên vay. Do đó, chỉ khi nào bên cho vay chứng minh được rằng
họ đã chuyển giao tiền vay theo đúng hợp đồng cho bên vay thì khi đó họ mới có
quyền yêu cầu bên vay phải thực hiện các nghĩa vụ đối với mình (bao gồm các
nghĩa vụ chính như sử dụng tiền vay đúng mục đích; nghĩa vụ hoàn trả tiền vay
đúng hạn cả gốc và lãi...).
Thứ năm, về điều kiện vay vốn. Hợp đồng cho vay tín chấp không đòi hỏi
bên vay phải thế chấp hay bảo đảm bằng các tài sản cho nghĩa vụ hoàn trả tiền
vay mà chỉ cần cung cấp các thông tin về thu nhập, hoạt động nghề nghiệp tạo ra
thu nhập, nơi cư trú của bên vay để TCTD đánh giá mức độ tín nhiệm của khách
hàng mà quyết định cho vay hoặc từ chối cho vay.
Về hình thức của hợp đồng cho vay tín chấp
Theo quy định tại Luật các tổ chức tín dụng, mọi hợp đồng cho vay tín
chấp đều phải được kí kết bằng văn bản thì mới có giá trị pháp lí. Sở dĩ pháp
luật quy định như vậy là bởi vì, việc kí kết hợp đồng bằng văn bản có những ưu
điểm sau đây:


21
- Hợp đồng cho vay tín chấp được kí kết bằng văn bản sẽ tạo ra bằng
chứng cụ thể cho việc thực hiện hợp đồng và giải quyết các tranh chấp phát sinh
từ hợp đồng .
- Việc kí kết hợp đồng cho vay tín chấp bằng văn bản thực chất là một sự
công bố công khai, chính thức về mối quan hệ pháp lí giữa những người lập ước
để cho người thứ ba biết rõ về việc lập ước đó mà có những phương cách xử sự
hợp lí, an toàn trong trường hợp cần thiết.
- Việc kí kết hợp đồng cho vay tín chấp bằng văn bản mới có thể khiến
cho các cơ quan có trách nhiệm của chính quyền thi hành công vụ được tốt hơn.
Chẳng hạn như việc thu thuế, lệ phí, kiểm tra, thanh tra tài chính, kiểm soát hoạt
động thương mại của các chủ thể kinh doanh trên thương trường.
Theo quy định hiện hành, văn bản hợp đồng cho vay tín chấp được hiểu
bao gồm văn bản viết và văn bản điện tử. Hợp đồng cho vay tín chấp được xác
lập thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dự liệu được coi là
giao dịch bằng văn bản. Các văn bản hợp đồng điện tử được coi là có giá trị pháp
lí như văn bản hợp đồng viết và có giá trị chứng cứ trong quá trình giao dịch.
Việc pháp luật quy định mọi hợp đồng cho vay tín chấp phải được kí kết bằng
văn bản cùng với sự chấp nhận hai hình thái vật chất nói trên của văn bản hợp
đồng cho vay tín chấp có thể xem là những nỗ lực rất đáng kể của các nhà lập
pháp nhằm bảo đảm sự an toàn pháp lí cho các bên tham gia hợp đồng.
Về nội dung của hợp đồng cho vay tín chấp
Nội dung của hợp đồng cho vay tín chấp là tổng thể những điều khoản do
các bên có đủ tư cách chủ thể cam kết với nhau một cách tự nguyện, bình đẳng
và phù hợp với pháp luật. Về lí thuyết, nội dung của hợp đồng cho vay tín chấp


22
(các điều khoản của hợp đồng) phải do các bên tự định đoạt trên nguyên tắc đồng
thuận ý chí, phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội.
Theo quy định tại Luật các tổ chức tín dụng 2010, nội dung của hợp đồng
cho vay tín chấp bao gồm các điều khoản cơ bản sau đây:
- Điều khoản về điều kiện vay vốn: Khi thoả thuận điều khoản này, các
bên cần ghi rõ trong hợp đồng cho vay tín chấp những tiêu chuẩn cụ thể mà bên
vay phải thoả mãn thì hợp đồng cho vay tín chấp mới có hiệu lực. Chẳng hạn,
bên vay phải có năng lực chủ thể, có tình hình tài chính lành mạnh hay phải có
tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh của người thứ ba...
- Điều khoản về đối tượng hợp đồng: Trong điều khoản này, các bên phải
thoả thuận về số tiền vay, lãi suất cho vay, tổng số tiền phải trả khi hợp đồng cho
vay tín chấp đáo hạn.
- Điều khoản về thời hạn sử dụng vốn vay. Các bên phải ghi rõ trong hợp
đồng cho vay tín chấp về ngày, tháng, năm trả tiền, hoặc phải trả tiền sau bao lâu
kể từ ngày kí hợp đồng. Nếu có thể gia hạn hợp đồng thì các bên cũng dự liệu
trước về khả năng này trong hợp đồng cho vay tín chấp.
- Điều khoản về phương thức thanh toán tiền vay: Đây là một điều khoản
rất quan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến việc thu hồi vốn và lãi cho vay. Vì
thế, các bên phải thoả thuận rõ rằng số tiền vay sẽ được hoàn trả dần hàng tháng
(trả góp) hay là trả toàn bộ một lần khi hợp đồng vay đáo hạn. Nếu khoản vay
được thoả thuận thanh toán theo từng kỳ hạn thì các bên cũng có thể dự liệu trước
về khả năng điều chỉnh kỳ hạn trả nợ cho phù hợp với khả năng tài chính của bên
vay khi trả nợ.
- Điều khoản về mục đích sử dụng tiền vay: Trong điều khoản này, các
bên cần ghi rõ vốn vay sẽ được sử dụng vào mục đích gì (ví dụ, mua vật tư hàng
hoá để kinh doanh hay mua hàng hoá để tiêu dùng...). Việc thoả thuận điều
khoản này trong hợp đồng cho vay tín chấp được xem như giải pháp đảm bảo sự
an toàn về vốn cho người đầu tư là các tổ chức tín dụng, nhằm tránh trường hợp
bên vay sử dụng vốn một cách tuỳ tiện vào các mục đích phiêu lưu, mạo hiểm.
Mặt khác, để bảo đảm lợi ích của cả hai bên và đảm bảo cho đồng vốn đầu tư


23
được sử dụng hiệu quả, pháp luật cũng cho phép trong thời gian sử dụng vốn, các
bên có quyền thoả thuận lại về mục đích sử dụng vốn vay mỗi khi xét thấy thời
cơ và điều kiện sử dụng vốn đã thay đổi.
- Điều khoản về giải quyết tranh chấp hợp đồng cho vay tín chấp: Đây là
điều khoản mang tính chất thường lệ, theo đó các bên có quyền thoả thuận về
biện pháp giải quyết tranh chấp bằng con đường thương lượng, hoà giải, hoặc
lựa chọn cơ quan tài phán sẽ giải quyết tranh chấp cho mình. Nếu trong hợp
đồng tín dụng không ghi điều khoản này, có nghĩa là các bên không thoả thuận
thì việc xác định thẩm quyền, thủ tục giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng
cho vay tín chấp đó sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Kết luận chương 1
1. Cho vay tín chấp của TCTD đối với khách hàng là một phương thức tín
dụng đặc thù, theo đó bên vay hoặc bên thứ ba không cần phải cam kết bảo đảm
bằng các tài sản cụ thể để bảo đảm cho các nghĩa vụ của bên vay đối với TCTD
mà chỉ cần cung cấp các thông tin cơ bản liên quan đến thu nhập bình quân hàng
tháng, các hoạt động chính có thể tạo ra thu nhập và địa chỉ nơi cư trú, nơi diễn
ra các hoạt động làm phát sinh thu nhập của khách hàng vay.
2. Pháp luật về cho vay tín chấp là một bộ phận cấu thành của hệ thống
pháp luật quốc gia, nó bao gồm các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành
hoặc thừa nhận nhằm quy định về chủ thể, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể
cũng như cách thức xác lập giao dịch cho vay tín chấp giữa các chủ thể đó trong
nền kinh tế thị trường.


24

Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHO VAY TÍN CHẤP CỦA TỔ CHỨC
TÍN DỤNG VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CHI NHÁNH NGÂN
HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỈNH SƠN LA
2.1. Thực trạng pháp luật về cho vay tín chấp của tổ chức tín dụng
Như đã khẳng định ở trên, pháp luật về cho vay tín chấp của TCTD được
thể hiện thông qua loại nguồn chủ yếu là các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà
nước ban hành (gọi là nguồn pháp luật trong nước). Các văn bản pháp luật này
tạo nên cơ sở pháp lý cho việc xác lập và thực hiện giao dịch cho vay tín chấp
của TCTD đối với khách hàng trong nền kinh tế.
Ở Việt Nam, cơ sở pháp lý cho việc xác lập và thực hiện giao dịch cho vay
tín chấp của TCTD bao gồm các văn bản pháp luật chủ yếu sau đây:
- Bộ luật dân sự 2005 và sắp tới là Bộ luật dân sự 2015 (sẽ có hiệu lực từ
năm 2017). Văn bản này thiết lập nền tảng pháp lý bao gồm các nguyên tắc cơ
bản cho việc xác lập và thực hiện một giao dịch dân sự nói chung và việc giao
kết, thực hiện hợp đồng cho vay tín chấp nói riêng.


25
- Luật các tổ chức tín dụng 2010: Đây là đạo luật có tính chất là luật
chuyên ngành, có nhiệm vụ điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt
động ngân hàng nói chung và quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng với khách
hàng, trong đó có quan hệ cho vay tín chấp nói riêng. Đạo luật này sẽ thiết lập
các quy định cụ thể về hoạt động ngân hàng, trong đó có hoạt động cho vay tín
chấp của các TCTD.
- Các văn bản quy định chi tiết hoặc hướng dẫn thi hành Bộ luật dân sự và
Luật các tổ chức tín dụng 2010 có liên quan đến hoạt động cho vay tín chấp của
TCTD, bao gồm: Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm
2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành Quy chế
cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
02 năm 2002, được sửa đổi, bổ sung bởi: Quyết định số 28/2002/QĐ-NHNN
ngày 11 tháng 01 năm 2002 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về
sửa đổi Điều 2 Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức
tín dụng đối với khách hàng, có hiệu lực kể từ ngày 11 tháng 01 năm 2002;
Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03 tháng 02 năm 2005 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy
chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định
số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước, có hiệu lực kể từ ngày 7 tháng 03 năm 2005; Quyết định số 783/2005/QĐNHNN ngày 31 tháng 5 năm 2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam về việc sửa đổi, bổ sung Khoản 6 Điều 1 của Quyết định số 127/2005/QĐNHNN ngày 3/2/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc sửa đổi, bổ
sung một số điều của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng
ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×