Tải bản đầy đủ

Tiểu luận về luật sư hành nghề với tư cách cá nhân ở việt nam

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA LUẬT

BÀI TIỂU LUẬN MÔN ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT
ĐỀ TÀI: LUẬT SƯ HÀNH NGHỀ VỚI TƯ CÁCH CÁ NHÂN Ở
VIỆT NAM

Ngày 25/1/2018


LỜI NÓI ĐẦU
Có thể nói ở Việt Nam, càng ngày luật sư càng chiếm một vị trí, vai trò quan trọng
trong xã hội, đặc biệt trong thời điểm hiện nay, khi luật Luật sư 2006 được sửa đổi bổ
sung năm 2012 đã có hiệu lực. Ngày càng có nhiều luật sư và tổ chức hành nghề luật sư
được thành lập trong cả nước, cùng với đó, người dân cũng dần ý thức được sự cần thiết
của luật sư đối với các vấn đề pháp lí mà họ gặp phải trong cuộc sống hàng ngày. Họ tìm
đến luật sư thường xuyên hơn, thay vì tự mình giải quyết các vấn đề pháp lý, như vấn đề
về thủ tục hành chính, những thỏa thuận hay những hợp đồng kinh tế được ký kết với sự
tư vấn của luật sư ngày càng gia tăng.
Đối với luật sư, việc quy định họ được hành nghề dưới hình thức nào là vô cùng quan

trọng, điều này ảnh hưởng đến sự phát triển của nghề luật sư, cũng như ảnh hưởng đến
nền tư pháp của cả đất nước. Trải qua một thời gian dài, từ Pháp lệnh tổ chức luật sư
1987, Pháp lệnh Luật sư 2001, và đến nay là luật Luật sư 2006 đã được sửa đổi bổ sung
năm 2012, luật sư ngày càng được trao quyền tự do hơn trong việc lựa chọn hình thức
hành nghề.
Theo đó, luật Luật sư đã mở rộng hình thức hành nghề của luật sư, có nghĩa rằng, luật
sư không chỉ hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư như quy định của Pháp lện luật
sư năm 2001, mà còn đươc phép hành nghề với tư cách cá nhân ( hay còn được gọi bằng
một cụm từ khác trong thực tiễn vẫn hay dùng, là “Luật sư nội bộ”) dưới hình thức tự
mình nhận và thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng theo hợp đồng dịch vụ pháp lí,
hoặc làm việc cho cơ quan, tổ chức theo hợp đồng lao động.


Vậy, luật sư hành nghề với tư cách cá nhân là gì, đặc thù của hình thức hành nghề này
như thế nào, thủ tục đăng kí hành nghề ra sao,… cùng vô vàn những câu hỏi khác xoay
quanh hình thức hành nghề này. Và chính vì xuất phát từ tầm quan trọng và cần thiết của
những quy định về hình thức hành nghề luật sư với tư cách cá nhân (tưởng mới nhưng
không mới) này, nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài “Luật sư hành nghề với tư cách
cá nhân” để đem đến một cái nhìn khách quan và toàn diện nhất đối với hình thức hành
nghề khá thú vị này.


MỤC LỤC
CHƯƠNG I. KHÁI QUÁT VỀ LUẬT SƯ HÀNH NGHỀ VỚI TƯ CÁCH CÁ NHÂN Ở
VIỆT NAM........................................................................................................................4
1.1.

Khái niệm luật sư..................................................................................................4

1.2.

Hình thức hành nghề luật sư tại Việt Nam............................................................7

1.3.

Hành nghề với tư cách cá nhân.............................................................................8

CHƯƠNG II. ĐẶC ĐIỂM HÀNH NGHỀ CỦA LUẬT SƯ HÀNH NGHỀ VỚI TƯ
CÁCH CÁ NHÂN...........................................................................................................10
2.1. Xét về phạm vi hành nghề.....................................................................................10


2.2. Xét về phạm vi trách nhiệm..................................................................................11
2.3. Xét về vị thế và tính độc lập của luật sư................................................................12
CHƯƠNG III. QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA LUẬT SƯ HÀNH NGHỀ VỚI TƯ CÁCH
CÁ NHÂN.......................................................................................................................13
3.1. Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân theo hợp đồng lao động được thực hiện dịch
vụ pháp lý theo nội dung hợp đồng lao động đã giao kết với cơ quan, tổ chức.............13
3.2. Quyền, nghĩa vụ của luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp
đồng lao động, của cơ quan, tổ chức thuê luật sư được thực hiện theo quy định của
pháp luật về lao động, luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan...............14
3.2.1. Quyền của người luật sư với tư cách là một người lao động............................15
3.2.2. Nghĩa vụ của người luật sư với tư cách là người lao động...............................18
CHƯƠNG IV. THỦ TỤC ĐĂNG KÝ HÀNH NGHỀ CỦA LUẬT SƯ VỚI TƯ CÁCH
CÁ NHÂN.......................................................................................................................18
CHƯƠNG V. THÙ LAO CỦA LUẬT SƯ HÀNH NGHỀ VỚI TƯ CÁCH CÁ NHÂN.22
5.1. Làm việc trong cơ quan tổ chức không phải là cơ quan, tổ chức hành nghề luật
bằng việc ký hợp đồng lao động...................................................................................23
5.2. Thù lao, chi phí trong trường hợp luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ
quan tiến hành tố tụng...................................................................................................24
5.3. Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo sự phân công của Đoàn luật sư mà luật sư
là thành viên.................................................................................................................. 25


CHƯƠNG I. KHÁI QUÁT VỀ LUẬT SƯ HÀNH NGHỀ VỚI TƯ
CÁCH CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM
1.1.

Khái niệm luật sư

Bàn về khái niệm Luật sư, hiện nay ở Việt Nam vẫn còn có nhiều cách hiểu khác nhau và
đôi khi còn có sự nhầm lẫn giữa “luật gia” và “luật sư”, nguyên nhân của sự hiểu lầm này
một mặt là do pháp luật nói chung hay pháp luật về luật sư nói riêng vẫn chưa hoàn thiện,
mặt khác là do việc dịch thuật các thuật ngữ liên quan từ ngôn ngữ nước ngoài chưa
chuẩn xác, chưa thống nhất.
Theo quy định của pháp luật, qua giải thích của từ điển và qua các tài liệu pháp lý, có thể
hiểu, luật gia (jurist) là người có kiến thức pháp luật, chuyên gia luật. Ngoài ra còn có thể
hiểu luật gia là những người tốt nghiệp đại học luật hoặc những người không có bằng cử
nhân luật, nhưng có thời gian công tác pháp luật. Hội viên Hội luật gia Việt Nam được
hiểu theo nghĩa này. Luật sư (lawyer) là người am hiểu pháp luật và có kỹ năng hành
nghề được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận hoặc cấp Chứng chỉ để hành nghề
chuyên nghiệp, cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng. Ở Việt Nam, luật sư là người
có đủ tiêu chuẩn để tham gia Hội luật gia, nhưng ngược lại không phải tất cả những luật
gia đều có đủ tiêu chuẩn để trở thành luật sư. Tiêu chuẩn, điều kiện để trở thành luật sư
được quy định trong Luật luật sư 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012.
Theo quy định của Luật luật sư 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012 thì khái niệm của luật sư
như sau “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật
này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi
chung là khách hàng)” .
Từ khái niệm này phân tích được rằng để được xem là luật sư thì phải hội tụ đủ ba điều
kiện như sau: Phải có đủ tiêu chuẩn hành nghề luật sư, đáp ứng đầy đủ điều kiện hành
nghề luật sư và thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng tức là phải đi hành
nghề luật trong thực tế. Nói như vậy cho dù một người có đủ tiêu chuẩn để hành nghề
luật sư và đáp ứng đủ điều kiện để hành nghề luật sư (có Chứng chỉ hành nghề luật sư và
1


Thẻ luật sư lần lượt do bộ tư pháp và Đoàn luật sư cấp) nhưng nếu trong thực tế họ không
hành nghề thì họ sẽ không mang danh là luật sư. Song trong thực tế, có một số người có
Chứng chỉ hành nghề luật sư, có Thẻ luật sư nhưng họ không hành nghề tại tổ chức hành
nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhâ thì không thể nói rằng họ không phải là
luật sư1.
Về điều kiện đầu tiên, tiêu chuẩn hành nghề luật sư, Luật luật sư hiện hành quy định như
sau: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có
phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời
gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khỏe bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở
thành luật sư2”.
Theo đó, tiêu chuẩn để trở thành luật sư ở Việt Nam phải là công dân Việt Nam. Quy định
này có tính truyền thống Việt Nam, phù hợp với thông lệ các nước trên thế giới. Phẩm
chất đạo đức tốt là một tiêu chuẩn quan trọng đối với luật sư trước khi trở thành luật sư
cũng như trong quá trình hành nghề luật sư. Nghề luật sư ở Việt Nam cũng như trên thế
giới là được quan niệm là một nghề dựa trên kiến thức pháp luật và kỹ năng nghề nghiệp,
đạo đức và uy tín nghề nghiệp luật sư có vai trò rất quan trọng trong hành nghề luật sư.
Người có bằng cử nhân luật là người tốt nghiệp đại học chuyên nghành luật do cơ sở giáo
dục đại học Việt Nam cấp, hoặc có bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành luật do cơ sở
giáo dục đại học của nước ngoài cấp và được công nhận tại Việt Nam theo quy định của
Bộ giáo dục và Đào tạo và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ký kết hoặc tham gia3.
Qúa trình của một người để trở thành Luật sư bao gồm: phải có bằng cử nhân luật, trải
qua quá trình đào tạo nghề luật sư, sau đó tham gia tập sự hành nghề luật sư, sau khi
họ đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư họ sẽ được cấp Chứng chỉ hành
nghề luật sư, có thể nói quy định về tiêu chuẩn hành nghề luật sư như đã đề cập là tiêu
1 Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuân, Pháp luật về luật sư và Đạo đức nghề nghiệp luật sư, 2014, NXB Chính trị

Quốc gia, [9, tr. 83]
2 Điều 10. Tiểu chuẩn Luật sư, văn bản hợp nhất Luật luật sư, văn bản số 12/VBHN-VPQH
3 Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuân, Pháp luật về luật sư và Đạo đức nghề nghiệp luật sư, 2014, NXB Chính trị
Quốc gia, [9, tr. ]
2


chuẩn về mặt nội dung, mặt nội tại bên trong của một người phản ánh khả năng nghề
nghiệp của họ, họ có đủ khả năng để trở thành một luật sư hay không, Chứng chỉ hành
nghề luật sư là sự thể hiện một người đủ tiêu chuẩn hành nghề luật sư về mặt hình thức.
Thứ hai về điều kiện hành nghề luật sư, Luật luật sư hiện hành có quy định về điều kiện
hành nghề luật sư như sau: “Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 10 của Luật này
muốn được hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một
Đoàn luật sư 4”.
Tương tự như quy định về tiêu chuẩn luật sư, quy định trên về điều kiện hành nghề luật
sư là một quy định về Điều kiện hành nghề về mặt nội dung, song về mặt hình thức thì
sau khi đã đáp ứng được tiêu chuẩn luật sư người luật sư phải gia nhập Đoàn luật sư và
được cấp Thẻ luật sư, Thẻ luật sư về mặt hình thức sẽ thể hiện được một người có đủ điều
kiện hành nghề luật sư.
Việc gia nhập đoàn luật sư được coi là điều kiện bắt buộc đối với nghề luật sư. Bởi vì,
không giống như các nghề nghiệp khác, nghề luật sư là một nghề gắn với pháp luật, gắn
với bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, với hoạt động của cơ quan nhà nước,
đặc biệt là với cơ quan tiến hành tố tụng. Để bảo vệ lợi ích của khách hàng và lợi ích của
xã hội, đồng thời góp phần ngăn ngừa sự lạm dụng tín nhiệm, các hành vi vi phạm từ phí
luật sư, pháp luật về luật sư quy định chặt chẽ về nghĩa vụ, trách nhiệm tuân thủ pháp
luật, tuân theo quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư. Đoàn luật sư là tổ chức xã
hội – nghề nghiệp có vị trí, vai trò quan trọng trong quản lý ngành nghề đối với luật sư, tổ
chức hành nghề luật sư. Cùng với quản lý nhà nước Đoàn luật sư thực hiện theo dõi, giám
sát, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật, tuân theo quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp
của luật sư trong hành nghề, có thẩm quyền xử lý luật sư vi phạm đến mức đình chỉ hành
nghề. Đây là một chức năng quản lý nghề nghiệp quan trọng thuộc nội dung tự quản của
Đoàn luật sư. Nhưng theo định nghĩa tại Điều 2, Luật luật sư năm 2006 sửa đổi, bổ sung
năm 2012, thì còn phải cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng thì mới được gọi là luật
sư.
4 Điều 11. Điều kiện hành nghề luật sư, văn bản hợp nhất Luật luật sư, văn bản số 12/VBHN-VPQH

3


1.2.

Hình thức hành nghề luật sư tại Việt Nam

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hay luật luật sư 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012
thì ờ Việt Nam có hai hình thức hành nghề luật sư.
“Điều 23. Hình thức hành nghề của luật sư
Luật sư được lựa chọn một trong hai hình thức hành nghề sau đây:
1. Hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư được thực hiện bằng việc thành
lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư; làm việc theo hợp đồng
lao động cho tổ chức hành nghề luật sư;
2. Hành nghề với tư cách cá nhân theo quy định tại Điều 49 của Luật này”.
Thứ nhất, Luật sư hành nghề tại tổ chức hành nghề Luật sư bằng việc thành lập, tham gia
thành lập tổ chức hành nghề Luật sư hoặc làm việc theo hợp đồng lao động tại tổ chức
hành nghề Luật sư. Theo quy định của Luật luật sư hiện hành, tổ chức hành nghề Luật sư
ở Việt Nam bao gồm: một là Văn phòng Luật sư do chính Luật sư thành lập và được tổ
chức, hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân, hai là Công ty Luật được tổ chức
và hoạt động dưới hình thức Công ty hợp danh hoặc Công ty trách nhiệm hữu hạn.
Thứ hai, Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân. Theo quy định của pháp luật Luật sư
hành nghề với tư cách cá nhân là luật sư làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan,
tổ chức không phải là tổ chức hành nghề luật sư 5. Tổ chức hành nghề Luật sư trong
trường hợp này chính là các Văn phòng luật sư hay các Công ty luật. Ta có thể thấy
những luật sư làm pháp chế cho doanh nghiệp hay ngân hàng là ví dụ cụ thể nhất đối với
hình thức Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân.
Câu hỏi đặt ra là liệu một luật sư có thể hành nghề cùng lúc với hai hình thức này được
hay không? Đối với vấn đề này câu trả lời là không thể bởi lẽ theo quy định của Luật luật
sư, nếu một luật sư đã hành nghề với tư cách cá nhân, có nghĩa là họ làm việc theo hợp
đồng lao động cho cơ quan, tổ chức thì không được cung cấp dịch vụ pháp lý cho những
cơ quan tổ chức khác ngoài những cơ quan tổ chức mà họ đã ký hợp đồng lao động.

5 Điều 2. Luật sư, Luật luật sư 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012

4


1.3.

Hành nghề với tư cách cá nhân

Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân là một điểm mới của Luật luật sư 2006, theo đó
luật sư tự mình nhận vụ, việc, cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng, chịu trách nhiệm
bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động hành nghề và hoạt động theo loại hình
hộ kinh doanh cá thể. Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân bằng việc cung cấp dịch vụ
pháp lý cho khách hàng thông qua hợp đồng dịch vụ pháp lý hoặc làm việc cho cơ quan
tổ chức theo hợp đồng lao động. Song Luật sửa đổi, bổ sung luật luật sư 2006 đã giới hạn
về phạm vi hành nghề của luật sư hành nghề với tư cách cá nhân khi lại quy định rằng
“luật sư hành nghề với tư cách cá nhân là luật sư làm việc theo hợp đồng lao động cho
cơ quan, tổ chức không phải là tổ chức hành nghề luật sư” .Nếu theo Luật luật sư 2006,
phạm vi hành nghề của luật sư hành nghề với tư cách cá nhân sẽ rộng hơn so với Luật
hiện hành.
Quy định như vậy là phù hợp với thông lệ hành nghề luật sư trên thế giới là luật sư có thể
hành nghề với tư cách luật sư riêng hay luật sư nội bộ (in-house lawyer) và tạo điều kiện
để cơ quan, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ của các luật sư, đa dạng hóa hình thức hành
nghề của luật sư. Để đảm bảo không xáo trộn trong hoạt động hành nghề của luật sư,
Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật luật sư năm 2012 đã bổ sung thêm điều khoản
chuyển tiếp, theo đó “trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, luật sư
hành nghề với tư cách cá nhân theo quy định của Luật Luật sư số 65/2006/QH11 phải
chuyển đổi sang hành nghề dưới hình thức thành lập, tham gia thành lập tổ chức hành
nghề luật sư hoặc làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư hoặc
làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức và thực hiện việc đăng ký hoạt
động theo quy định của Luật này. Luật sư đăng ký hoạt động theo quy định tại khoản này
không phải nộp lệ phí đăng ký hoạt động” 6.
Hiện nay, môi trường pháp lý cũng như là pháp luật Việt Nam còn nhiều bất cập, hạn chế
do luật chồng chéo và mâu thuẫn, bên cạnh đó năng lực của người luật sư đôi khi còn hạn
chế vì vậy hoạt động hành nghề hay việc cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng của
6 Khoản 2, Điều 92a. Điều khoản chuyển tiếp,

5


Luật sư luôn ẩn chứa nhiều rủi ro và có thể gây thiệt hại đến người sử dụng dịch vụ pháp
lý của luật sư nên nhằm bù đắp và hạn chế những tổn thất thì pháp luật quy định nếu hợp
đồng lao động có thỏa thuận thì luật sư hành nghề với tư cách cá nhân phải mua bảo hiểm
trách nhiệm cho hoạt động hành nghề của mình theo quy định của pháp luật về kinh
doanh bảo hiểm.
Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân không được cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá
nhân, cơ quan, tổ chức khác ngoài cơ quan, tổ chức mình đã ký hợp đồng lao động, trừ
trường hợp được cơ quan nhà nước yêu cầu hoặc tham gia tố tụng trong vụ án hình sự
theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và thực hiện trợ giúp pháp lý theo sự phân
công của Đoàn luật sư mà luật sư là thành viên.
Theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung Luật Luật sư 2012 thì đối với luật sư hành nghề
với tư cách cá nhân, mức độ tự do lựa chọn hình thức hành nghề đã bị giảm đi so với quy
định của Luật Luật sư 2006 khi các luật sư lựa chọn hình thức này chỉ có thể hành nghề
thông qua việc ký kết các hợp đồng lao động với các cơ quan, tổ chức không phải là tổ
chức hành nghề luật sư. Khi đã làm việc cho các cơ quan, tổ chức này thì luật sư không
được cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, cơ quan, tổ chức khác ngoài cơ quan, tổ chức
mình đã ký hợp đồng lao động, trừ trường hợp được cơ quan nhà nước yêu cầu hoặc tham
gia tố tụng trong vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và thực hiện
trợ giúp pháp lý theo sự phân công của Đoàn luật sư mà luật sư là thành viên. Vậy thì khi
nào người luật sư được cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu tham gia tố tụng trong vụ án
hình sự và khi nào người luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý.
Ngoài ra, theo quy định tại Điềm đ Khoản 1 Điều 21 Luật Luật sư sửa đổi 2012 thì luật
sư có quyền “hành nghề luật sư ở nước ngoài”. Đây là một quy định phù hợp với xu thế
hội nhập hiện nay. Tuy vậy, pháp luật hiện hành chưa có những quy định cụ thể để thực
hiện quyền này của luật sư. Hơn thế, cùng với những khác biệt trong quy định của pháp
luật các nước, việc thực hiện quyền này trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn.

6


CHƯƠNG II. ĐẶC ĐIỂM HÀNH NGHỀ CỦA LUẬT SƯ HÀNH
NGHỀ VỚI TƯ CÁCH CÁ NHÂN
Như đã phân tích, khái niệm Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân hay trong thực tiễn
còn gọi là luật sư nội bộ được hiểu là một hoặc một nhóm luật sư làm việc trong các tổ
chức, doanh nghiệp mà không làm việc cho các Công ty Luật hoặc Văn phòng Luật sư.
Phạm vi của là giải quyết các vấn đề pháp lý theo nhu cầu của chính tổ chức doanh
nghiệp nơi mình làm việc.
Khi doanh nghiệp phải đối mặt với một vấn đề pháp lý, họ thường có hai lựa chọn: sử
dụng dịch vụ pháp lý của luật sư bên ngoài công ty ( tổ chức hành nghề Luật sư hay Luật
sư hành nghề với tư cách cá nhân) hoặc sử dụng luật sư nội bộ với nhiều tên gọi khác
nhau tùy theo cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, chẳng hạn như: phòng/ ban pháp chế,
luật sư công ty hay trợ lý pháp lý,... . Khi như cầu giải quyết các vấn đề pháp lý ngày
càng trở nên thường xuyên hơn thì đồng nghĩa với việc doanh nghiệp lựa chọn sử dụng
luật sư nội bộ ngày càng phổ biến, mặt khác số lượng luật sư lựa chọn làm việc trong
doanh nghiệp cũng ngày càng gia tăng. Khó có thể so sánh giữa luật sư nội bộ và luật sư
làm việc tại tổ chức hành nghề để kết luận hình thức nào đem đến thử thách và cơ hội
nhiều hơn, nhưng có thể chắc chắn một điều rằng, luật sư nội bộ là một hình thức hành
nghề đặc thù mà mỗi luật sư cần hiểu thật kĩ lưỡng trước khi lựa chọn.
Là một hình thức hành nghề đặc thù nên luật sư nội bộ có những đặc điểm riêng biệt sau:
2.1. Xét về phạm vi hành nghề
Luật sư nội bộ làm việc theo hợp đồng lao động cho một tổ chức, phần lớn là doanh
nghiệp nên phạm vi hành nghề của luật sư nội bộ chủ yếu tập trung trong lĩnh vực pháp
luật doanh nghiệp, thương mại và pháp luật chuyên ngành có liên quan đến hoạt động của
doanh nghiệp nơi luật làm việc. Hiện nay, luật sư nội bộ đang theo xu thế dần được mở
rộng chức năng, có thể kiêm nhiệm cả công việc kiểm soát tuân thủ trong doanh nghiệp.
Luật sư nội bộ không chỉ phụ trách tư vấn các vấn đề pháp lý phát sinh hàng ngày, đảm
bảo doanh nghiệp hoạt động đúng pháp luật mà còn thực hiện nhiệm vụ giám sát quá
7


trình thực thi pháp luật và quy chế nội quy của các phòng, ban trong nội bộ của doanh
nghiệp. Nếu như trước đây, luật sư nội bộ gắn với cụm từ “pháp chế” thì nay, “pháp chếtuân thủ” đã trở thành một khối, tỏ ra là môi trường thích hợp hơn để doanh nghiệp sử
dụng chất xám của luật sư. Vì vậy, phạm vi hành nghề của luật sư nội bộ trở nên rộng
hơn, tạo ra nhiều thử thách hơn và đòi hỏi người luật sư nắm vững không chỉ các kiến
thức chuyên môn để tư vấn, định hướng pháp lý cho doanh nghiệp mà còn cả kiến thức
về tổ chức, giám sát để hoàn thành tốt công việc của mình.
2.2. Xét về phạm vi trách nhiệm
Một luật sư hành nghề trong một công ty Luật, văn phòng Luật sư thường chịu trách
nhiệm thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng theo sự phân công của tổ chức hành
nghề. Trước một vấn đề pháp lý, luật sư có thể đưa ra các ý kiến tư vấn bao gồm nhiều
phương án kèm theo hệ quả pháp lý để khách hàng tự quyết định lựa chọn giải pháp cuối
cùng. Mục tiêu được ưu tiên trong các phương án của luật sư là tính hợp pháp, đặt cao
hơn sự phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và ý muốn của khách hàng. Tuy nhiên, mục tiêu
này đôi khi lại không dễ đạt được đối với luật sư nội bộ làm việc trong doanh nghiệp.
Tương tự trường hợp của một luật sư thuộc tổ chức hành nghề, luật sư nội bộ vẫn thực
hiện vai trò tư vấn, đưa ra ý kiến pháp lý cho khách hành- cũng chính là doanh nghiệp nơi
mình đang làm việc, nhưng khách hàng “đặc biệt” của luật sư trong trường hợp này
không mong muốn luật sư nội bộ chỉ dừng lại ở mức độ đơn giản đó.
Với tư cách là một người thực sự “nội bộ”, luật sư phải đưa ra một hoặc một số phương
án vừa đảm bảo phù hợp pháp luật lại vừa đáp ứng được lợi ích của doanh nghiệp dựa
trên tất cả những dữ kiệ n mà luật sư nắm bắt được, những bài toán mà doanh nghiệp đặt
ra, cộng với những điều kiện, hoản cảnh đặc thù của doanh nghiệp mà một luật sư nội bộ
có trách nhiệm “cần phải biết”. Rõ ràng, đối với một luật sư nội bộ thì những “thông tin
riêng tư” nhất cũng sẽ được doanh nghiệp chia sẻ “cởi mở” hơn nhiều so với một luật sư
tư vấn theo hợp đồng dịch vụ pháp lý. Việc nắm bắt được nhiều dữ kiện của doanh
nghiệp vừa là thế mạnh nhưng cũng là áp lực của một luật sư nội bộ. Bởi lẽ, vô hình
chung người luật sư nội bộ bị đặt nào tình huống phải điều chỉnh, cân nhắc kỹ càng hơn
8


gấp nhiều lần, nhằm giảm thiểu hoặc loại trừ những hệ quả pháp lý bất lợi cho doanh
nghiệp khi đưa ra phương án. Trách nhiệm của luật sư nội bộ sẽ nặng nề hơn do phải can
thiệp sâu vào quyết định cuối cùng của doanh nghiệp. Đó là chưa kể đến luật sư nội bộ
đôi khi còn được doanh nghiệp giao nhiệm vụ lựa chọn phương án và chịu trách nhiệm về
kết quả thực hiện phương án đó. Phải thẳng thắn thừa nhận rằng, tiêu chí mà một luật sư
nội bộ không còn cách nào khác phải ưu tiên đảm bảo trong phương án tư vấn sẽ là “sự
phù hợp” đối với thực trạng của doanh nghiệp. Với một luật sư tư vấn đến từ ngoài doanh
nghiệp thì trách nhiệm tư vấn của luật sư hoàn thành khi đã thực hiện tư vấn xong và
thanh lý hợp đồng. Trái lại, một luật sư nội bộ vẫn phải tiếp tục chịu trách nhiệm tư vấn
chừng nào giải pháp đã lựa chọn chưa được thực hiện xong, thậm chí còn phải chịu trách
nhiệm giải quyết những vấn đề phát sinh từ phương án do doanh nghiệp tự lựa chọn,
ngay cả khi phương án đó không nằm trong ý kiến tư vấn của luật sư.
2.3. Xét về vị thế và tính độc lập của luật sư
Bên cạnh quyền và nghĩa vụ của một luật sư đối với khách hàng theo pháp luật luật sư,
một luật sư nội bộ còn thực hiện quyền và nghĩa của người lao động đối với người sử
dụng lao động. Giữa luật sư nội bộ và doanh nghiệp tồn tại hai mối quan hệ: người lao
động với người sử dụng lao động, và cấp trên- cấp dưới. Hai mối quan hệ này đều là yếu
tố gây trở ngại không nhỏ tính độc lập của luật sư trong quá trình làm việc. Nếu như một
luật sư hành nghề theo hợp đồng dịch vụ pháp lý có thể đưa ra ý kiến tư vấn cho khách
hàng và kiên định với quan điểm tư vấn của mình miễn là luật sư đã viện dẫn đầy đủ các
quy định pháp luật có liên quan, thì người luật sư nội bộ hiểu rõ hơn ai hết rằng việc tìm
ra cách thuyết phục cho doanh nghiệp chấp nhận những ý kiến tư vấn và những dữ liệu
pháp lý của mình quả là một việc không hề đơn giản.
Từ thực tế đó, phương châm làm việc của một luật sư nội bộ có kinh nghiệm là văn bản
hóa tất cả các ý kiến tư vấn và phải rèn luyện bản lĩnh kiên định, kỹ năng thuyết phục để
giảm thiểu sự ảnh hưởng của quan hệ chấp hành- điều hành trong công việc. Mọi ý kiến
tư vấn cần đươc cung cấp song song trực tiếp bằng lời nói và khẳng định lại bằng văn bản
(phổ biến nhất là email) để tạo điều kiện cho những khách hàng “đặc biệt” nghiên cứu,
9


hiểu thực sự sâu sắc ý kiến tư vấn của luật sư nội bộ. Đồng thời, các ý kiến tư vấn bằng
văn bản cũng sẽ là căn cứ pháp lý để đánh dấu sự hoàn thành trách nhiệm của một luật sư
nội bộ ở cả góc độ chuyên môn nghề nghiệp lẫn ý thức tổ chức, kỷ luật lao động.

CHƯƠNG III. QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA LUẬT SƯ HÀNH
NGHỀ VỚI TƯ CÁCH CÁ NHÂN
3.1. Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân theo hợp đồng lao động được thực hiện
dịch vụ pháp lý theo nội dung hợp đồng lao động đã giao kết với cơ quan, tổ chức
Theo như quy định của Luật luật sư hiện hành, dịch vụ pháp lý bao gồm tham gia tố tụng,
tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng và các dịch vụ pháp lý khác 7.
Các dịch vụ pháp lý khác bao gồm: Giúp đỡ khách hàng thực hiện công việc liên quan
đến thủ tục hành chính; giúp đỡ về pháp luật trong trường hợp giải quyết khiếu nại; dịch
thuật, xác nhận giấy tờ, các giao dịch và giúp đỡ khách hàng thực hiện công việc khác
theo quy định của pháp luật8.
Vì vậy khi ký kết hợp đồng lao động với khách hàng luật sư có thể nhận làm một hoặc
một vài dịch vụ pháp lý mà họ sẽ phục vụ cho cơ quan tổ chức mà họ sẽ làm việc tùy
theo khả năng của mình. Song Luật luật sư hiện hành quy định rằng, luật sư hành nghề
với tư cách cá nhân không được cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, cơ quan tổ chức
nào khác ngoài cơ quan tổ chức mình ký hợp đồng lao động, vì vậy đã hạn chế phạm vi
hoạt động của người luật sư rất nhiều và không cho người luật sư phát huy mọi năng lực
của bản thân nếu luật sư có khả năng thực hiện nhiều dịch vụ pháp lý khác nhau.
Theo đó, sau khi giao kết hợp đồng lao đồng với cơ quan tổ chức nơi luật sư làm việc, thì
luật sư có quyền và nghĩa vụ thực hiện dịch vụ pháp lý theo nội dung đã thỏa thuận trong
hợp đồng. Luật sư cần phải tuân thủ triệt để các quyền, nghĩa vụ, nội dung và trách nhiệm
đã cam kết với khách hàng (là các cơ quan, tổ chức), không cung cấp dịch vụ pháp lí
7 Điều 4. Dịch vụ pháp lý, văn bản hợp nhất Luật luật sư văn bản số 2012/VBHN-VPQH
8 Khoản 1, Điều 30. Hoạt động dịch vụ pháp lý khác của luật sư, văn bản hợp nhất Luật luật sư văn bản

số 12/VBHN-VPQH
10


hoặc thực hiện các hoạt động nghề nghiệp trái pháp luật, bên cạnh đó luật sư cũng không
được thực hiện và quản lí dịch vụ pháp lí cho khách hàng có quyền lợi đối lập. Lúc này,
luật sư thực hiện vai trò tư vấn, đưa ra ý kiến pháp lí cho khách hàng- là các cơ quan, tổ
chức luật sư giao kết hợp đồng nhằm giảm thiểu hoặc loại trừ những hệ quả pháp lý bất
lợi cho họ khi đưa ra các phương án giải quyết, điều đó đồng nghĩa với việc trách nhiệm
của luật sư lúc này cực kì lớn và nặng nề bởi nó can thiệp sâu các quyết định của các cơ
quan, tổ chức đó.
Vì vậy, ngay sau khi kí kết hợp đồng với cơ quan, tổ chức thì việc thực hiện dịch vụ pháp
lí không chỉ là nghĩa vụ buộc phải thực hiện, mà còn là trách nhiệm của luật sư trong việc
thực hiện đúng và đem đến chất lượng dịch vụ tốt nhất đến khách hàng.

3.2. Quyền, nghĩa vụ của luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp
đồng lao động, của cơ quan, tổ chức thuê luật sư được thực hiện theo quy định của
pháp luật về lao động, luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Theo đó, luật sư không chỉ thực hiện quyền và nghĩa vụ của một luật sư đối với khách
hàng theo những cam kết đã thỏa thuận, mà còn thực hiện quyền và nghĩa vụ của một
người lao động đối với người sử dụng lao động. Do đó, quyền và nghĩa vụ của luật sư
hành nghề với tư cách cá nhân không chỉ chịu sự điều chỉnh của luật luật sư mà còn chịu
sự điều chỉnh của bộ luật lao động trong việc thực hiện hợp đồng đã kí kết, cùng với các
quy định pháp luật có liên quan khác.
Khi hành nghề với tư cách cá nhân người luật sư sẽ ký hợp đồng lao động với cơ quan, tổ
chức không phải là tổ chức hành nghề luật sư, nên từ đây làm phát sinh quan hệ lao động
giữa một bên luật sư với tư cách là người lao động và cơ quan tổ chức không phải tổ chức
hành nghề luật sư với tư cách là người sử dụng lao động, mối quan hệ này sẽ chịu sự điều
chỉnh và tác động của pháp luật lao động. Vì vậy, hai bên ngoài việc phải thực hiện các
quyền và nghĩa vụ như đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động, họ còn có các quyền và
nghĩa vụ theo như quy định của luật lao động, bài viết này sẽ đề cập đến quyền và nghĩa

11


vụ của người luật sư với tư cách là một người lao động tại các cơ quan tổ chức không
hành nghề luật sư.
3.2.1. Quyền của người luật sư với tư cách là một người lao động 9.
Thứ nhất, làm việc tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ
nghề nghiệp và không bị phân biệt đối xử.
Người luật sư có thể làm việc, tự do lựa chọn việc làm mà mình sẽ làm, song một quy
định có liên quan đến điều này đó là việc giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử
dụng lao động10, bộ luật lao động cho phép người lao động có quyền giao kết hợp đồng
lao động với nhiều người sử dụng lao động, song luật sư hành nghề với tư cách cá nhân
với vai trò là người lao động lại bị Luật luật sư giới hạn điều này vì luật luật sư không
cho phép luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, cơ quan tổ chức nào khác ngoài
cơ quan tổ chức mà mình đã giao kết hợp đồng lao động, có nghĩa là chỉ phục vụ cho một
nơi duy nhất.
Quy định như vậy là bởi doanh nghiệp luôn có nhu cầu cần một luật sư nội bộ, một cố
vấn pháp luật nội bộ đáng tin cậy, là bởi khi là cố vấn pháp luật của một doanh nghiệp,
người luật sư gần như nắm bắt được rất nhiều thông tin quan trọng, những thông tin gọi
là bí mật và có sự ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nếu
luật sư nội bộ ngoài việc cung cấp dịch vụ pháp lý cho một công ty lại còn cung cấp dịch
vụ pháp lý cho một nơi khác thì sẽ không toàn tâm giải quyết mọi công việc từ người chủ
của mình, hơn thế nữa đôi khi còn xảy ra việc rò rỉ thông tin và khi người luật sư nội bộ
không độc lập làm việc cho một tổ chức, thì người chủ của tổ chức không hoàn toàn có
lòng tin trong việc cung cấp những thông tin quan trọng để cố vấn pháp luật nội bộ có thể
thi hành và giải quyết tốt mọi công việc của mình.
Thứ hai, hưởng lương phù hợp với trình độ kỹ năng nghề trên cơ sở thoả thuận với người
sử dụng lao động; được bảo hộ lao động, làm việc trong điều kiện bảo đảm về an toàn lao

9 Khoản 1, Điều 5. Quyền và nghĩa vụ của người lao động, Bộ luật lao động 2012
10 Điều 21. Giao kết hợp đồng lao động với nhiều ngời sử dụng lao động, Bộ luật lao động 2012.

12


động, vệ sinh lao động; nghỉ theo chế độ, nghỉ hằng năm có lương và được hưởng phúc
lợi tập thể.
Thứ ba, thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác
theo quy định của pháp luật; yêu cầu và tham gia đối thoại với người sử dụng lao động,
thực hiện quy chế dân chủ và được tham vấn tại nơi làm việc để bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình; tham gia quản lý theo nội quy của người sử dụng lao động.
Thứ tư, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật.
Theo đó không phải trong bất kỳ trường hợp nào người luật sư với tư cách là người lao
động cũng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, mà chỉ trong những
trường hợp sau đây:
“1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao
động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau
đây:
a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm
điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;
b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận
trong hợp đồng lao động;
c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;
d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng
lao động;
đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức
vụ trong bộ máy nhà nước;
e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
có thẩm quyền;
g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc
theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với

13


người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định
có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục
.....
3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động
biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này11”.
Song khi thực hiện đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người sử dụng lao động,
người luật sư phải thực hiện nghĩa vụ báo trước với người sử dụng lao động trong một
khoản thời gian do Bộ luật lao động quy định 12, nếu người luật sư đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động mà không thuộc các trường hợp được liệt kê như trên hoặc vi phạm về
thời hạn báo trước thì được xem là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp
luật và sẽ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý như sau:
“1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa
tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng
lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày
không báo trước.
3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62
của Bộ luật này13”.
Thứ năm, đình công.
3.2.2. Nghĩa vụ của người luật sư với tư cách là người lao động
Theo như quy định của Bộ luật lao động về nghĩa vụ của người lao động thì người luật sư
có các nghĩa vụ sau14:


Thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể;

11 Khoản 1, khoản 3, Điều 37. Quyền đon phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động, Bộ luật lao
động 2012.
12 Khoản 2, Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, Bộ luật lao động 2012
13 Điều 41. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, Bộ luật lao
động 2012.
14 Khoản 2, Điều 5. Quyền và nghĩa vụ của người lao động, Bộ luật lao động 2012.

14




Chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao động, tuân theo sự điều hành hợp pháp
của người sử dụng lao động;



Thực hiện các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật về bảo hiểm
y tế.

CHƯƠNG IV. THỦ TỤC ĐĂNG KÝ HÀNH NGHỀ CỦA LUẬT SƯ
VỚI TƯ CÁCH CÁ NHÂN
Dựa theo quy định của luật Luật sư hiện hành và các văn bản pháp luật liên quan khác,
thì thủ tục đăng kí hành nghề luật sư với tư cách cá nhân được tóm gọn thành quy trình
cụ thể như sau15:

Quy trình đăng kí

Nội dung
- Bước 1: Luật sư nộp hồ sơ trực tiếp tại
Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Sở
Tư pháp
- Bước 2: Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả

Trình tự thực hiện

Sở Tư pháp tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra tính
hợp lệ và đầy đủ của các giấy tờ có trong
hồ sơ:
+ Trường hợp hồ sơ hợp lệ và đầy đủ theo
quy định thì cấp Biên nhận hồ sơ,

15 Các văn bản pháp lí liên quan tới quy trình thủ tục đăng kí hành nghề LS với tư cách cá nhân tại VN
- Luật Luật sư (sửa đổi, bổ sung năm 2012);
- Thông tư số 02/2015/TT-BTP ngày 16/01/2015 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Quy định một số mẫu giấy tờ về luật
sư và hành nghề luật sư (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05 tháng 3 năm 2015);
- Thông tư số 176/2012/TT-BTC ngày 23/10/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu,
nộp, quản lý và sử dụng lệ phí đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hộ kinh doanh và phí cung cấp thông tin doanh
nghiệp (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2012).

15


+ Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ hoặc
chưa hợp lệ, công chức được phân công
tiếp nhận hướng dẫn bằng văn bản cho
người nộp hồ sơ bổ sung và hoàn thiện hồ
sơ theo quy định.
- Bước 3: Trong thời hạn 07 ngày làm
việc, kể từ ngày nhận hồ sơ đầy đủ và hợp
lệ, Sở Tư pháp cấp Giấy đăng hành nghề
của luật sư với tư cách cá nhân. Trường
hợp từ chối, thì thông báo bằng văn bản,
có nêu rõ lý do.
- Bước 4: Luật sư căn cứ vào ngày hẹn
trên Biên nhận đến nhận kết quả giải
quyết tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
của Sở Tư pháp.
Cách thức thực hiện

Nộp hồ sơ và nhận kết quả trực tiếp tại Sở

Thành phần, số lượng hồ sơ

Tư pháp.
- Thành phần hồ sơ:
+ Đơn đề nghị đăng ký hành nghề luật sư
(theo mẫu),
+ Bản sao có chứng thực hoặc bản photo
kèm bản chính để đối chiếu Chứng chỉ
hành nghề luật sư, Thẻ luật sư,
+ Bản sao có chứng thực hoặc bản photo

16


kèm bản chính để đối chiếu Hợp đồng lao
động ký kết với cơ quan, tổ chức không
phải là tổ chức hành nghề luật sư.
- Số lượng hồ sơ: 01 bộ.
Thời hạn giải quyết

Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ

Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính
Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính
Kết quả thực hiện thủ tục hành chính

ngày nhận hồ sơ đầy đủ và hợp lệ.
Cá nhân
Sở Tư pháp
Giấy đăng hành nghề của luật sư với tư
cách cá nhân hoặc văn bản từ chối, có nêu

Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai

rõ lý do.
Giấy đề nghị đăng ký hành nghề luật sư
với tư cách cá nhân (mẫu TP-LUẬT SƯ05 quy định tại Thông tư số 02/2015/TT-

BTP ngày 16/01/2015 của Bộ Tư pháp).
Phí, lệ phí
100.000 đồng/lần cấp.
Yêu cầu và điều kiện thực hiện thủ tục Không
hành chính
Lưu ý : Đối với trường hợp luật sư muốn thay đổi hoặc cung cấp thông tin hành nghề
luật sư với tư cách cá nhân thì thực hiện theo trình tự thủ tục như sau16 :

Quy trình đăng kí

Nội dung
- Bước 1: Luật sư nộp hồ sơ trực tiếp tại
Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Sở
Tư pháp.

16 Các văn bản pháp lí liên quan đến thủ tục thay đổi nội dung đăng kí hành nghề LS với tư cách cá nhân
- Luật Luật sư (sửa đổi, bổ sung năm 2012).
- Thông tư số 02/2015/TT-BTP ngày 16/01/2015 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Quy định một số mẫu giấy tờ về luật sư
và hành nghề luật sư (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05 tháng 3 năm 2015);
- Thông tư số 176/2012/TT-BTC ngày 23/10/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp,
quản lý và sử dụng lệ phí đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hộ kinh doanh và phí cung cấp thông tin doanh nghiệp (có
hiệu lực thi hành kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2012).

17


- Bước 2: Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
Sở Tư pháp tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra tính
hợp lệ và đầy đủ của các giấy tờ có trong
hồ sơ:
+ Trường hợp hồ sơ hợp lệ và đầy đủ theo
quy định thì cấp Biên nhận hồ sơ,
Trình tự thực hiện

+ Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ hoặc
chưa hợp lệ, công chức được phân công
tiếp nhận hướng dẫn bằng văn bản cho
người nộp hồ sơ bổ sung và hoàn thiện hồ
sơ theo quy định.
- Bước 3: Trong thời hạn 07 ngày làm
việc, kể từ ngày nhận hồ sơ đầy đủ và hợp
lệ, Sở Tư pháp cấp Giấy đăng ký hành
nghề luật sư với tư cách cá nhân. Trường
hợp từ chối, thì thông báo bằng văn bản,
có nêu rõ lý do.
- Bước 4: Luật sư căn cứ vào ngày hẹn
trên Biên nhận đến nhận kết quả giải
quyết tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
của Sở Tư pháp.

Cách thức thực hiện

Nộp hồ sơ và nhận kết quả trực tiếp tại Sở

Thành phần, số lượng hồ sơ

Tư pháp.
- Thành phần hồ sơ:
+ Giấy đề nghị thay đổi nội dung đăng ký
hoạt động (theo mẫu),
+ Bản chính Giấy đăng ký hành nghề luật
sư với tư cách cá nhân.
18


- Số lượng hồ sơ: 01 bộ.
Thời hạn giải quyết

Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ

Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính
Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính
Kết quả thực hiện thủ tục hành chính

ngày nhận hồ sơ đầy đủ và hợp lệ.
Cá nhân
Sở Tư pháp
Giấy đăng hành nghề của luật sư với tư
cách cá nhân hoặc văn bản từ chối, có nêu

Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai

rõ lý do.
Giấy đề nghị thay đổi nội dung đăng ký
hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư
(Mẫu TP-LUẬT SƯ-06 quy định tại
Thông tư số 02/2015/TT-BTP của Bộ Tư

pháp ngày 16/01/2015).
Phí, lệ phí
100.000 đồng/lần cấp.
Yêu cầu và điều kiện thực hiện thủ tục Khi thay đổi nội dung đăng ký thì Luật
hành chính

sư phải có các giấy tờ liên quan chứng
minh sự thay đổi để làm cơ sở ghi nhận
nội dung đăng ký thay đổi.

CHƯƠNG V. THÙ LAO CỦA LUẬT SƯ HÀNH NGHỀ VỚI TƯ
CÁCH CÁ NHÂN
Nghề luật sư là một nghề tự do. Cơ sở để tính thù lao và mức thù lao là vấn đề quan trọng
trong hoạt động của luật sư. Thù lao là khoản tiền mà luật sư nhận được từ phía khách
hàng khi cung cấp dịch vụ pháp lý. Mức thù lao được luật sư và khách hàng thỏa thuận
trong hợp đồng dịch vụ pháp lý. Vấn đề này không chỉ được quy định trong pháp luật về
luật sư, mà còn được quy định chặt chẽ trong các quy tắc về đạo đức luật sư. Việc xác
định mức thù lao và sự thỏa thuận rõ ràng giữ luật sư và khách hàng là đòi hỏi được quy
định ở hầu hết các nước trong hoạt động của luật sư.

19


Theo quy định của pháp luật tại Chương IV của Luật luật sư 2006, sửa đổi bổ sung 2012
về thù lao và chi phí, tiền lương theo hợp đồng lao động thì Luật sư sẽ được thu thù lao
theo quy định của pháp luật khi cung cấp dịch vụ pháp lý của mình cho khách hàng. Mức
thù lao là sự thỏa thuận bình đẳng, không gian dối được tính dựa trên các căn cứ như: nội
dung, tính chất của dịch vụ pháp lý, thời gian và công sức của Luật sư sử dụng để thực
hiện dịch vụ pháp lý, kinh nghiệm và uy tín của Luật sư.
Đối với luật sư hành nghề với tư cách cá nhân, theo như luật định 17 họ sẽ được hành nghề
với các công việc sau:
-

Làm việc trong cơ quan tổ chức không phải là cơ quan tổ chức hành nghề luật theo

hình thức ký hợp đồng lao động
-

Họ có thể được cơ quan nhà nước yêu cầu hoặc tham gia tố tụng trong vụ án hình

sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng
-

Hoặc luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo sự phân công của Đoàn luật sư mà

luật sư là thành viên.
Vì vậy đối với mỗi công việc như trên người luật sư sẽ được trả tiền lương và thù lao theo
đặc thù công việc mà họ thực hiện.
5.1. Làm việc trong cơ quan tổ chức không phải là cơ quan, tổ chức hành nghề luật
bằng việc ký hợp đồng lao động
Đối với luật sư hành nghề theo tư cách cá nhân thì căn cứ quy định tại điều 58 của Luật
sư sửa đổi 2012 luật sư đươc chi trả tiền lương như sau:
“Điều 58. Tiền lương theo hợp đồng lao động của luật sư hành nghề với tư
cách cá nhân
Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc cho cơ quan, tổ chức theo hợp
đồng lao động được nhận tiền lương theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động.

17 Khoản 3, Điều 49. Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân, Luật luật sư 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012

20


Việc thỏa thuận, chi trả tiền lương được thực hiện theo quy định của pháp luật về
lao động”.
Theo đó, khi luật sư làm việc trong cơ quan tổ chức, không phải là cơ quan tổ chức hành
nghề luật sư thì lúc này mối quan hệ giữa luật sư với cơ quan tổ chức là mối quan hệ giữa
người lao động và người sử dụng lao động. Do đó, giữa họ sẽ hình thành nên hợp đồng
lao động được giao kết theo sự thỏa thuận của hai bên và việc chi trả tiền lương cho luật
sư lúc này (với tư cách là người lao động) của cơ quan tổ chức (với tư cách là người sử
dụng lao động) sẽ tuân theo các nguyên tác trả lương (trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng
hạn, bằng tiền) và hình thức trả lương (theo thời gian, theo sản phẩm và trả lương khoán)
sẽ chịu dộng điều chỉnh của pháp luật lao động.
5.2. Thù lao, chi phí trong trường hợp luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ
quan tiến hành tố tụng
Trong quá trình tố tụng, khi người bị buộc tội họ không mời luật sư thì cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng phri chỉ định luật sư bào chữa cho họ, cụ thể trong những trường
hợp sau18:
Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình
phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình;
Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có
nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi.
Theo như Nghị định số 123/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 quy định chi tiết một số điều
và biện thi hành Luật luật sư và Thông tư số 191/2017/TTLT-BTC-BTP Hướng dẫn về
thù lao và thanh toán chi phí cho luật sư trong trường hợp luật sư tham gia tố tụng theo
yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, thì mức thù lao luật sư tham gia tiến hành tố tụng
vụ án hình sự do cơ quan tiến hành tố tụng yêu thì được trả cho 1 giờ làm việc của luật sư
là 0,4 lần mức lương cơ sở, cụ thể ngày làm việc của luật sư được tính trên cơ sở 8 giờ
làm việc. Trong trường hợp, luật sư làm việc trong nhiều ngày, nhưng mỗi ngày thực
18 Khoản 1, Điều 76. Chỉ định người bào chữa, Bộ luật tố tụng hình sự 2015

21


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×