Tải bản đầy đủ

Công tác thiết kế sản phẩm

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ KINH DOANH
----------

BÀI TẬP LỚN
Môn: quản trị sản xuất.

Đề tài: Công tác thiết kế sản phẩm.

Giáo viên hướng dẫn:.....................
Sinh viên thực hiện:........................

Hà Nội, ngày 16 tháng 01 năm 2016

MỤC LỤC
1


Thành viên:
1.
2.

3.
4.
5.
6.

Bùi Xuân Phước
Đặng Thị Chung
Nguyễn Thị Tâm
Nguyễn Thị Thu Hường
Nguyễn Thị Hảo
Vũ Minh Quý

7. Lê Thị Hương
8. Lã Thị Phúc
9. Nguyễn Thị Huyền
10. Phạm Thị Chinh
11. Hồ Thị Trâm
12. ......................

2


Mục lục:
2.1. Thiết kế và phát triển sản phẩm..............................................................................4
2.2) Quy trình phát triển sản phẩm................................................................................4
Bước 1: Phát hiện tìm kiếm ý tưởng về sản phẩm mới..............................................5
Bước 2: Sàng lọc ý tưởng..........................................................................................6
Bước 3: Phản biện và phát triển ý tưởng....................................................................7
Bước 4: Chiến lược tiếp thị........................................................................................7
Bước 5. Phân tích kinh doanh:...................................................................................8
Bước 6. Phát triển sản phẩm:.....................................................................................9
Bước 7 : Kiến nghị thị trường....................................................................................9
Bước 8 :Thương Mại hóa sản phẩm.........................................................................10
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới thiết kế và phát triển sản phẩm...................................11
2.3.1. Tính chất và đặc tính cơ bản của sản phẩm....................................................11
2.3.2. Chất lượng công dụng....................................................................................11
2.3.3 Chất lượng đồng đều.......................................................................................12
2.3.4. Độ bền............................................................................................................ 12
2.3.5. Độ tin cậy.......................................................................................................12
2.3.6. Khả năng sửa chữa.........................................................................................13


2.3.7. Kiểu dáng.......................................................................................................13
2.3.8. Kết cấu..........................................................................................................13
2.3.9. Chu kỳ sống của sản phẩm và phát triển sản phẩm mới.................................15


2.1. Thiết kế và phát triển sản phẩm
Bất kỳ một doanh nghiệp nào mục tiêu cơ bản laf cung cáp những sản phẩm dịch vụ
nhằm thả mãn nhu cầu nào đó cho khách hàng. Do vậy việc tạo ra sản phẩm là mục
tiêu sống còn của mỗi doanh ngiệp. Một sản phẩm được thiết kế hiệu quả phải thỏa
mãn được những yêu cầu của khách hàng và đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Viecj ứng dụng các công nghệ tiên tiến sẽ tạo ra được sản phẩm nhanh chóng, tạo sự
thuận lợi cho khách hàng trong việc sử dụng, thay thế thuận lợi hơn so với các sản
phẩm hiệ có. Quá trình thiết kế sản phẩm nhằm xác định kiểu dáng, kích thước, mẫu
mã, các tiêu chuẩn của sản phẩm…
Khái niệm sản phẩm theo quan điểm truyền thống. Sản phẩm là tổng hợp các đặc
tính vật lý, hóa học, sinh học… có thể quan sát được, dùng thỏa mãn những nhu cầu cụ
thể của sản phẩm hoặc đời sống.
Khái niệm sản phẩm theo quan niệm hiện nay: Sản phẩm là thứ có khả năng thỏa
mãn nhu cầu mong muốn của khách hàng, cống hiến những lợi ích những lợi ích cho
họ và có thể đưa ra chào bán trên thị trường với khả năng thu hút sự chú ý mua sắm và
tiêu dùng. Theo đó, một sản phẩm được cấu tạo và hình thành từ hai yếu tố cơ bản au
đây:
Yếu tố vật chất (yếu tố hữu hình)
Yếu tố phi vật chất ( yếu tố vô hình)
Theo quan niệm này, sản phẩm vừa là cái “đã có”, vừa là cái “đâng tiếp tục phát
sinh” trong trạng thái biến đổi không ngừng của ngu cầu. Ngày nay, người tiêu dùng
hiện đại khi mua một sản phẩm không chỉ chú ý đén khía cạnh vật chất, mà còn quan
tâm đến nhều khía cạnh phi vật chất, khía cạnh hữu hình và các yếu tố vô hình của sản
phẩm.
Ví dụ: sản phẩm sữa của công ty cổ phần TH true milk.
 Yếu tố hữu hình: dạng vật chất lỏng với sữa tươi, đặc với sữa chua… có những
chất dinh dưỡng cần thiết cho phát triển cơ thể.
 Yếu tố vô hình: thương hiệu TH true milk là thương hiệu “sữa sạch” và chất
lượng đúng như những gì thương hiệu phản ánh là 2 yếu tố then chốt được
người tiêu dùng quan tâm và tin cậy lựa chọn.
Sản phẩm này sẽ làm vi dụ minh hoạ cho những nội dung tiếp theo.
2.2) Quy trình phát triển sản phẩm
- Có nhiều lý do quan trọng để tiến hành đổi mới sản phẩm. Khi thị trường thay đổi
liên tục, nhu cầu của khách hàng ngày càng đa dạng, doanh nghiệp cần thay đổi sản


phẩm cũ để phục vụ tốt hơn nhu cầu hiện tại hoặc tạo ra sản phẩm mới để đáp ứng
những nhu cầu chưa được thoả mãn, nói rộng hơn, đổi mới sản phẩm giúp doanh
nghiệp nắm bắt cơ hội từ môi trường kinh doanh.
- Bên cạnh đó, đổi mới sản phẩm giúp doanh nghiệp tạo dựng sự khác biệt với đối thủ

và phát huy lợi thế cạnh tranh của mình. Tất nhiên, việc đổi mới sản phẩm không thể
nằm ngoài mục đích gia tăng lợi nhuận hoặc cắt giảm chi phí.
- Quy trình phát triển sản phẩm mới
 Có 8 bước cơ bản để phát triển sản phẩm mới, phát ý tưởng, lựa chọn ý tưởng, đánh giá và
phát triển ý tưởng, xây dựng chiến lược tiếp thị, phân tích kinh doanh, hoàn thiện sản phẩm,
kiểm nghiệm thị trường và thương mại hoá sản phẩm.

Bước 1: Phát hiện tìm kiếm ý tưởng về sản phẩm mới
- Doanh nghiệp có càng nhiều ý tưởng thì khả năng chọn được ý tưởng tốt càng cao. Các
nguồn của ý tưởng có thể nằm trong nội bộ doanh nghiệp, từ các nhân viên, nhà quản lý. Một
số nguồn quan trọng khác từ bên ngoài như, từ nhượng quyền kinh doanh, từ mua lại tổ chức
tạo ra sản phẩm mới, từ khách hàng, từ đối thủ cạnh tranh hoặc từ các trường, viện nghiên
cứu.
- Doanh nghiệp nhỏ nên chủ động khai thác nguồn ý tưởng từ nội bộ do nguồn này dễ tác
động, ít tốn kém về tiền và thời gian để khai thác. Vả lại các ý tưởng thường khả thi, sát với
thực tế hơn bởi vì các ý tưởng từ nội bộ thường nảy sinh do va chạm với thực tế, tiếp xúc với
khách hàng, quan sát đổi thủ cạnh tranh.

- Ví dụ: TH true YOGURT Trà xanh Matcha và TH true Yogurt không đường
+) Về sản phẩm: TH true YOGURT Trà xanh Matcha
- Sự kết hợp này giúp sản phẩm có vị thơm đặc trưng của trà xanh matcha hòa
quyện với vị chua thanh dịu nhẹ của sữa chua TH đến vị ngon thanh khiết, lạ miệng.
- Chiết xuất trà xanh sử dụng trong sản phẩm sữa chua
ăn trà xanh Matcha có nguồn gốc từ Nhật Bản.
Matcha làm từ lá trà Tencha- loại lá trà hảo hạng (lá
của những cây trà được trồng dưới mái che chắn và
không bị ánh nắng mặt trời thiêu nóng), được đánh
giá là có chất lượng tốt nhất thế giới hiện nay

+) Về sản phẩm TH true Yogurt không đường


- Sản phẩm có ưu điểm vượt trội là không chứa đường
Sucrose nên tốt hơn cho sức khỏe (đặc biệt đối với những
người đang trong chế độ ăn kiêng, người bị tiểu đường).
Sản phẩm được làm hoàn toàn từ sữa tươi sạch nguyên
chất của trang trại TH nên giữ vẹn nguyên những dinh
dưỡng, vitamin và khoáng chất từ sữa tươi tự nhiên.
Bước 2: Sàng lọc ý tưởng
- Không phải mọi ý tưởng đều có thể thực hiện được, nên doanh nghiệp cần có công đoạn
sàng lọc ý tưởng khả thi. Về cơ bản, các ý tưởng được chọn nên tương hợp với nguồn lực của
doanh nghiệp, những ý tưởng táo bạo sẽ cần nhiều thời gian và công sức để nghiên cứu và
triển khai. Ý tưởng tốt sẽ hỗ trợ cho chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp như nhắm tới
nguồn khách hàng mục tiêu hoặc thoả mãn nhu cầu mới đủ lớn, khai thác hiệu quả hơn kênh
phân phối, cắt giảm chi phí không cần thiết, hoặc tận dụng được các nguồn lực sẵn có mà
không mất tiền.

 - Ví dụ : TH true YOGURT Trà xanh Matcha và TH true
Yogurt không đường
- Hai sản phẩm trên hoàn toàn không chứa đường và chất tạo ngọt và sản phẩm không
chứa đường nhưng có chất tạo ngọt. Sữa chua TH true YOGURT Không đường là sản
phẩm không chứa đường tinh luyện nên không làm tăng đường huyết trong máu.
TH luôn hướng đến sản phẩm có nguồn gốc từ tự nhiên, cương quyết không dùng
công nghệ thêm chất tạo ngọt cho sản phẩm không chứa đường sucrose để sản phẩm
mang vị ngon thanh khiết và tinh túy nhất.
- Hai sản phẩm này chỉ có một loại bao bì duy nhất là trong hũ nhựa 100g/hũ.
Giá giới thiệu tới tay người tiêu dùng sản phẩm TH true YOGURT Không đường
là 5.500 đồng/hũ; TH true YOGURT Trà xanh Matcha là 7.000 đồng/hũ.
- Khách hàng có thể dùng thử 2 sản phẩm mới của TH True MILK tại tất cả các
cửa hàng TH True MART, các siêu thị và một số khu văn phòng trong cả nước.


Bước 3: Phản biện và phát triển ý tưởng
- Sau khi sàng lọc được những ý tưởng ‘hoa khôi’, doanh nghiệp có thể tổ chức một ban phản
biện các ý tưởng này, ban này nên có nhiều thành phần để có được nhiều cách đánh giá và
phản biện cho ý tưởng. Đối với doanh nghiệp ‘siêu’ nhỏ, thường chủ doanh nghiệp sẽ đóng
vai trò cho cả ban, thì chủ doanh nghiệp nên đóng nhiều vai để tư duy và phân tích ý tưởng
dưới nhiều góc cạnh, như khía cạnh tiếp thị, nhân lực, nguồn vốn, thời gian, phản ứng của đối
tượng liên quan.
- Thông qua quá trình phân tích và đánh giá, ý tưởng sẽ được mổ xẻ dưới nhiều góc cạnh,
quan trọng hơn là làm cho ý tưởng đó được rõ ràng, cụ thể hơn và hạn chế được những thử
nghiệm không cần thiết hoặc tránh bớt những sai phạm không đáng có. Như vậy, sau bước
này ý tưởng về sản phẩm mới sẽ đầy đủ về các yếu tố như tính năng chính của nó, cách thức
thiết kế, các giá trị gia tăng và quan trọng hơn hết là xác định được vai trò, ý nghĩa và mục
đích muốn nhắm tới khi phát triển sản phẩm này.
- Ví dụ : Khi đưa ý tưởng ra thì gặp phải phản biện từ phòng marketing,do sản
phâm Yogurt đã xuất nhiều trên thị trường và liệu sản phẩm mới này của DN có
đủ sức cạnh tranh không hay sẽ chết yểu?
 Phản biện: TH là thương hiệu lớn đã đc khẳng đinh trên thị trường
và chiếm thị phần cao,không những thế chất lượng sản
phẩm cũng vượt trội hơn so với các sản phẩm tương tự trên thị trường
.vì thế mà hoàn toàn có khả năng cạnh tranh cao

Bước 4: Chiến lược tiếp thị
- Để tăng khả năng thành công của sản phẩm mới trên thị trường, doanh nghiệp cần thiết nghĩ
đến việc thương mại hoá nó sẽ như thế nào thông qua việc phác thảo bản kế hoạch tiếp thị
ngắn ngọn. Trong đó có phân tích các yếu tố tác động chính từ môi trường kinh doanh, năng


lực của doanh nghiệp về các mặt như nhân sự, tài chính, trang thiết bị. Đồng thời bản kế
hoạch sơ thảo này cần dự báo được doanh thu, lợi nhuận, thị phần trong ngắn hạn và dài hạn.
- Xây dựng kế hoạch tiếp thị sơ lược nhằm hai lý do. Một là tránh phát triển những sản phẩm
mới ít có thị thường tiềm năng, hạn chế việc tổn thất về thời gian, sức lực. Hai là định hướng
được mẫu mã, kiểu dáng, tính năng, hoặc đặc tính cần thiết của sản phẩm để việc phát triển nó
có định hướng rõ ràng sát với đòi hỏi của khách hàng.
 Ví dụ: TH true YOGURT Trà xanh Matcha và TH true Yogurt không đường
- Khách hàng có thể dùng thử 2 sản phẩm mới của TH True MILK tại tất cả các
cửa hàng TH True MART, các siêu thị và một số khu văn phòng trong cả nước.
Cùng ngày, Tập đoàn TH sẽ ra quân bán hàng với nhiều chương trình khuyến mãi hấp
dẫn cho khách hàng khi mua những sản phẩm được làm từ nguồn nguyên liệu sữa
tươi tinh khiết của Trang trại chăn nuôi bò sữa tập trung ứng dụng công nghệ cao lớn
nhất châu Á của TH.
- Hai sản phẩm này chỉ có một loại bao bì duy nhất là trong hũ nhựa 100g/hũ

Bước 5. Phân tích kinh doanh:
Sau khi DN đã xây dựng được hình ảnh về sản phẩm thông qua chiên lược tiếp
thị,DN có thể đánh giá tính hấp dẫn của dự án kinh doanh.
- Xem xét mức tiêu thụ,chi phí và lợi nhuận có thỏa mãn với những mục tiêu của DN
hay
không?
VD: Mục tiêu của TH true Milk đặt ra trong tháng đầu là tiêu thụ 11.500 thùng
Yogurt(48 chai) và có lợi nhuận trước thuế là 1,2 tỷ đồng. Thực tế DN tiêu thụ được
hơn 12.000 thùng ,giá bán là 320.000/thùng 48 chai với tổng chi phí bỏ ra là 2,5 tỷ.
Lợi nhuận thu được trước thuế là 1,34 tỷ, vượt chỉ tiêu đề ra 140 triệu đồng.
Các
lợi
ích
của
sản
phẩm
đem
lại
như
thế
nào?
VD: + Lợi ích đem lại cho sức khỏe người tiêu dùng: Sản phẩm Yougrt được làm
hoàn toàn từ sữa tươi sạch nguyên chất của Trang trại TH, không những thơm ngon bổ
dưỡng mà còn tăng cường tiêu hóa và miễn dịch với 1 tỉ lợi khuẩn TH.paracasei, giúp
nâng
cao
thể
chất

phát
triển
trí
tuệ.


+Lợi ích đem lại cho nhà sản xuất: tạo thêm cho người tiêu dùng 1 sự lựa
chọn mới với hương vị yêu thích,tăng thêm tính đa dạng cho các dòng sản phẩm cung
cấp ra thị trường đồng thời tăng thị phần và đem lại lợi nhuận cho DN.
- Bên cạnh đó cần đánh giá chi tiết hơn tác động của sản phẩm mới này với các sản
phẩm hiện có. Điều đó có nghĩa là đánh giá sản phẩm mới này có gây ảnh hưởng xấu
đến các sản phẩm hiện có hay không? Nếu chúng thỏa mãn thì sản phâm đó được
chuyển
sanh
giai
đoạn
phát
triển.
VD: Sản phẩm Yogurt vừa làm đa dạng hóa các dòng sản phẩm mà TH cung ứng
ra thị trường nhưng đông thời cũng là sản phẩm cạnh tranh trực tiếp của chính những
sản phẩm khác của TH như sữa tươi nguyên chất,sữa ít đường… tuy nhiên mặt ảnh
hưởng xấu này là không lớn,theo một khía cạnh khác khi người tiêu dùng yêu thích lựa
chọn thương hiệu TH true Milk thì tất cả các sản phẩm khác cũng được tin dùng bởi
chúng là những sản phẩm có chất lượng tương đương nhau.
Bước 6. Phát triển sản phẩm:
Bước này đòi hỏi DN phải đầu tư lớn với chi phí có thể nhiều hơn nhiều lần so với
giai đoạn trước. Giai đoạn này phát triển sản phẩm liên quan đến mặt vật lý, kỹ thuật
hoặc
các
thành
phẩm
cụ
thể.
- DN cần làm mẫu đầu tư chế tạo thử nghiệm.
VD: Sản xuất sản phẩm mẫu,triển khai chương trình dùng thử sản phẩm Yogurt
mới,giới thiệu sản phẩm tới khách hàng. Đồng thời lấy ý kiến qua các phiếu thăm dò
từ khách hàng,đó chính là cách để đánh giá sản phẩm mới đã thực sự vừa lòng cho
người tiêu dùng hay chưa,từ đó rút ra vấn đề lỗi và sửa chữa.
-Để giảm thời gian phát triển sản phẩm và chi phí nghiên cứu, các cán bộ nghiên
cứu nên chú trọng việc tìm kiếm thông tin thu thập các nghiên cứu có sẵn hoặc liên
quan để tránh mất thời gian làm lại những gì đã có. Vì việc phát triển được một
nguyên mẫu sản phẩm thành công phải mất rất nhiều thời gian.
VD: Thay vì nghiên cứu một sản phẩm sữa mới tiệt trùng từ khâu đầu tiên đó là
công thức pha chế sữa thì các cán bộ nghiên cứu có thể tham khảo,áp dụng những
công thức pha chế trước đó của sữa tươi nguyên chất để sửa đổi,bổ sung thêm những
nguyên liệu mới cho hợp ý,tránh mất thời gian nghiên cứu pha chế lại từ công đoạn
đầu.
Bước 7 : Kiến nghị thị trường
- Để cẩn thận hơn, doanh nghiệp có thể thực hiện 1 việc kiểm nghiệm thị trường bằng
cách cho triển khai ở những vùng thị trường nhỏ. Công việc này nhằm mục đích chính
là đánh giá các yếu tố liên quan đến chức năng tiếp thị như giá cả,kênh phân phối,thị
trường,thông điệp quảng cáo.Để chuẩn bị cho bước tiếp theo .
Ví dụ cho bước 7: Củng cố và mở rộng phân khúc thị trường dành cho khách hàng có
thu nhập cao, đồng thời mở rộng thị trường sang khách hàng có thu nhập trung và
thấp. TH true YOGURT không chỉ tập trung vào thị trường lớn như TPHCM,HN mà


còn tiếp tục mở rộng thị trường ra các tỉnh trong cả nước trong thời gian tới để tất cả
mọi người dân Việt Nam đều có điều kiện tiếp cận với sản phẩm sữa sạch.
- Từ năm 2012,tập đoàn TH tiếp tục mở rộng mạng lưới cửa hàng, đồng thời đầu tư
hiện đại hóa hệ thống cửa hàng phân phối TH true mart khắp các tỉnh thành cả
nước.Đạt mốc 200 điểm phân phối TH True mart trên phạm vi toàn quốc đến 2017.
Bước 8 :Thương Mại hóa sản phẩm
- Thương mại hóa sản phẩm là việc tung sản phẩm thực sự và thị trường, doanh
nghiệp sẽ phải xác định thị trường triển khai,các bộ phận tác nghiệp liên quan như bán
hàng, quảng cáo, chăm sóc khách hàng hoặc giao nhận.
- Để làm tốt bước công việc này doanh nghiệp cần phải trả lời được các câu hỏi: Khi
nào? Thời điểm nào để đưa sản phẩm mới này ra thị trường? Việc bán sản phẩm này ở
đâu? Vùng,lãnh thổ,quốc gia nào? Khách hàng mục tiêu là những ai? Và đưa sản phẩm
mới đến với khách hàng như thế nào.
Ví dụ cho bước 8:
- Tháng 7/2013, hãng cho ra mắt 3 dòng sản phẩm gồm: sữa chua ăn, sữa chua uống
men sống và sữa chua uống tiệt trùng. Tất cả đều được làm từ sữa tươi sạch nguyên
chất từ trang trại TH. Quá trình lên men trực tiếp, sản phẩm sử dụng các chủng men
chọn lọc giúp giảm thiểu tối đa sự nhiễm tạp từ bên ngoài, gìn giữ vẹn nguyên tinh túy
thiên nhiên và các dưỡng chất bên trong. TH cũng đã chọn lọc và đưa vào sử dụng 2
chủng men độc quyền TH.acidophilus, TH.paracasei từ tập đoàn sản xuất men hàng
đầu thế giới CHR (Đan Mạch), được chứng minh hiệu quả trong hỗ trợ tiêu hóa và
tăng cường miễn dịch.
- Chiến lược quảng cáo bao gồm : gửi trực tiếp sản phẩm đến tay khách hàng, trưng
bày sản phẩm tại các hội trợ thương mại, triển lãm, các đại lý bán sỉ và lẻ. Chúng ta có
thể tuyên truyền như dán băng dôn, poster, áp phích, phát tờ rơi,dùng những lời rao
quảng cáo gợi dẫn sự hợp lý của sản phẩm. Dùng các hình ảnh khẩu hiệu,gây sự chú ý
đến khách hàng.Quảng cáo trên tất cả các phương tiện truyền thông: tivi,báo
đài,internet.
+ Gây sự chú ý đến khách hàng
+ Làm cho khách hàng quan tâm đến sản phẩm của mình ( TH true YOGURT )
+ Làm khách hàng thấy các đặc điểm nổi bật của sản phẩm và quyết định mua.
-

Ngoài ra chúng ta tổ chức các chương trình khuyến mãi:
+ Cho khách hàng dùng thử sản phẩm
+ Bán hạ giá sản phẩm và kèm theo quà tặng tới tay khách hàng


2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới thiết kế và phát triển sản phẩm.
2.3.1. Tính chất và đặc tính cơ bản của sản phẩm.
Tính chất là những đặc tưng bổ sung cho hoạt động cơ bản sản phảm. Hầu hết các
sản phẩm đều có thể chào bán vớ những tính chất khác nhau. Điểm xuất phát là một
mẩu sản phẩm cơ bản. Doanh nghiệp có thể sáng tạo ra nhưng mẩu phụ bằng cách bổ
sung thêm các tính chất.
Các tính chất là một công cụ cạnh tranh để tạo ra đặc diểm khác biệt so với sản
phẩm của doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp rất tích cực đổi mới khi bổ sung những
tính chất mới cho sản phẩm của mình
Doanh nghiệp cũng phải suy nghĩ về các phương án kết hợp với tính chất theo kiểu
trọn gói.
Ví dụ:
 TH true MILK là một sản phẩm với tính chất là sữa tươi nguyên chất, bên cạnh
đó còn cộng thêm yếu tố “sữa sạch“ đã tạo nên đặc trưng, sự khác biệt của TH
true MILK so với các loại sữa khác. Tạo ra sức cạnh tranh rất lớn cho sản
phẩm.
 Từ sữa tươi nguyên chất, công ty TH còn thêm những yếu tố như đường, men
vi sinh, hương dâu, socola… thì sẽ tạo ra hương vị mới, sản phẩm mới: sữa ít
đường, sữa có đường, sữa yogurt, sữa hương socola, sữa hương dâu,…
2.3.2. Chất lượng công dụng.
Chất lượng công dụng có ý nghĩa là mức dộ hoạt động theo những tính năng chủ
yếu của sản phẩm.
Doanh nghiệp củng phải quyết định quản trị chất lượng công dụng theo thời gian
như thế nào? Có ba chiến lược:
1) Nhà sản xuất không ngừng cải tiến sản phẩm thường đạt đc tỉ suất lợi nhuận và
tỉ phần lớn nhất nhất.
2) Duy trì sản phẩm. Nhiều doanh nghiệp cứ giữ nguyên chất lượng ban đầu
không thay đổi trừ khi thấy rõ những thiếu sót hay cơ hội.
3) Giảm bớt chất lượng theo thời gian. Một số doanh nghiệp giảm bớt chất lượng
để bù vào chi phí tăng lên với hi vọng là người mua không nhận ra có sự khác biệt nào.
Có những doanh nghiệp chủ trương giảm chất lượng sẽ tăng lợi nhuận hiện tại, mặc dù
việc này thường là tổn hại khả năng sinh lợi lâu dài.


Ví dụ:

 Sản phẩm sữa tươi TH với công dụng cung cấp chất dinh dưỡng cho cơ thể.


 Công ty TH luôn cải tiến sản phẩm dựa trên sản phẩm cơ bản và có nhiều quy
cách đóng gói khác nhau: dạng 1 lit, 180ml… Sữa yogurt, sữa ít đường, sữa tươi có
đường…
 Duy trì sản phẩm: sản phẩm ban đầu với chất lượng cao, ngày càng cải tiến công
nghệ để nâng cao giá trị chất lượng sản phẩm
2.3.3 Chất lượng đồng đều
Chất lượng đồng đều là mức độ thiết kết và tính năng của một sản phẩm gần với
tiêu chuẩn mục tiêu. Nó phản ánh các đon vị sản phẩm khác nhau được làm ra đồng
đều và đáp ứng nhưng yêu cầu kĩ thuật.
Ví dụ: Sữa TH đáp ứng được yêu cầu đúng với thương hiệu” sữa sạch”, chất lượng
được đảm bảo với quy trình sản xuất hiện đại và khép kín, phù hợp với tiêu chuẩn mục
tiêu đề ra.
2.3.4. Độ bền
Độ bền là mức đo tuổi thọ dự kiến của một sản phẩm người tiêu dùng luôn ong
muốn mua được sản phẩm với giá cả hợp lí và độ bề cao.
Ví dụ: Sữa tươi sạch tiệt trùng TH true MILK áp dụng công nghệ chế biến tiệt trùng
UHT hạn dùng tới 6 tháng mà không cần dùng chất bảo quản và trữ lạnh nên được
người tiêu dùng tin cậy lựa chọn sử dụng.
2.3.5. Độ tin cậy
Độ tin cậy là số đo xác suất để sản phẩm đó không bị trục trặc hay hư hỏng trong một
kỳ nhất định.
Ví dụ: Sản phẩm sữa TH true milk
 Sử dụng bí quyết công nghệ cùng kỹ thuật chăn nuôi bò sữa của Israel và quy
trình chế biến sữa hàng đầu trên thế giới
 TH có một hệ thống làm việc hết sức chuyên nghiệp trong tất cả các khâu nhờ
được quản lý trực tiếp bởi hai công ty đa quốc gia là Công ty Afikim của Israel
về quản trị đàn bò và Công ty Totally Vets của New Zealand quản trị về mặt thú
y.
Độ tin cậy về các sản phẩm sữa của TH rất cao nhờ áp dụng công nghệ, kí thuật cao,
hiện đại nhất trên thế giới, hệ thống nnghieem ngặt từ đầu vào cho đến đầu ra sản
phẩm.
2.3.6. Khả năng sửa chữa.
-Khả năng sửa chữa là mức độ dễ dàng phục hồi một sản phẩm bị trục trặc hay hỏng
hóc.
Ví dụ: sản phẩm sữa tươi TH true milk


Khi sản phẩm sữa bị lỗi thì khả năng sửa chữa sản phẩm lỗi bằng 0 cũng tương đồng
với việc vứt đi sản phẩm đó. Vì vậy TH đã đầu tư dây chuyền hiện đại để hạn chế sản
phẩm lỗi, hỏng xuống mức thấp nhất có thể và chú ý khâu bảo quản và vận chuyển.
2.3.7. Kiểu dáng.
Kiểu dáng là hình thức và dáng vẻ bên ngoài mà người mua cảm nhân được.
Ví dụ: Sữa TH true MILK có nhiều kiểu dáng cho mỗi sản phẩm có tính chất khác
nhau.

2.3.8. Kết cấu.
 Tất cả những chất lượng nêu ở trên đều là những thông số của kết cấu.
 Sản phẩm thiết kế tốt: trông đẹp mắt, dễ mở, dễ nắp, cách sử dụng, sửa chữa và
thải loại.
 Đảm bảo nguyên tắc: hình thức phù hợp với chức năng.
 Điều đáng tiếc là còn quá nhiều doanh nghiệp không đầu tư vào việc thiết kế
cho tốt. Việc thiết kế tốt sản phẩm mang lại lợi ích rất lớn cho doanh nghiệp.
Ví dụ:
Bao bì của sản phẩm sữa TH true milk.


2.3.9. Chu kỳ sống của sản phẩm và phát triển sản phẩm mới
Các giai đoạn của chu kỳ sống


Chu kỳ sống hay vòng đời của sản phẩm bao gồm các giai đoạn mà một sản phẩm tồn
tại từ lúc xuất hiện cho đến lúc biến mất trên thị trường. Chu kỳ sống có thể dài hoặc
ngắn mặc dù doanh nghiệp luôn mong mỏi sản phẩm của doanh nghiệp sẽ tồn tại lâu
dài và sinh lợi. Mỗi hàng hóa trong quá trình phát triển, phải trải qua một số giai đoạn
nhất định:
1. Giới thiệu hay triển khai;
2. Phát triển hay tăng trưởng;
3. Chín muồi hay bão hoà;
4. Đi xuống hay suy thoái.
Nghiên cứu chu kỳ sống của sản phẩm giúp cho việc hệ thống hóa kế hoạch mặt hàng
và nghiên cứu sản phẩm mới thích hợp với mỗi giai đoạn đồng thời soạn thảo một
cách chi tiết những biện pháp hữu hiệu nhằm khai thác tốt nhất các giai đoạn có nhiều
triển vọng trong chu kỳ sống sản phẩm. Đặc điểm của từng giai đoạn trong chu kỳ
sống sản phẩm như sau:
a. Giai đoạn giới thiệu
Đặc điểm của giai đoạn này là:
– Khối lượng tiêu thụ tăng chậm, hàng hóa chưa được nhiều người biết đến; khách
hàng có thể còn đang “lưỡng lự” hay “ngập ngừng” vì chưa hiểu nhiều về hàng hóa,
chưa có nhiều đối chứng trong việc tiêu thụ.
– Nhà sản xuất còn phải bỏ ra những chi phí lớn để hoàn thiện sản phẩm. Công việc
trắc nghiệm thị trường cần được xúc tiến kết hợp với các thể nghiệm về kỹ thuật sản
xuất. Lợi nhuận tiêu thụ còn rất ít.
Nỗ lực của doanh nghiệp ở giai đoạn này là tổ chức cho được một hệ thống tiêu thụ
hợp lý ban đầu để đưa hàng hóa đến được các điểm bán hàng. Quảng cáo nhằm tạo
điều kiện thuận lợi cho việc đưa hàng vào thị trường thông qua việc chuẩn bị thông tin
cho các cửa hàng bán buôn, bán lẻ chấp nhận tiêu thụ hàng hóa. Doanh nghiệp sẽ
hướng mạnh mẽ vào những người tiêu thụ có tiềm lực nhất, song song với việc đó
doanh nghiệp cũng soạn thảo một kế hoạch tăng vốn đầu tư bảo đảm tăng nhanh khối
lượng sản phẩm tiêu thụ. Tuy nhiên đối với nhiều hàng hóa việc giới thiệu triển khai
làm không tốt, bản thân hàng hóa có sức chinh phục kém nên đã phải “từ giã” thị
trường ngay ở giai đoạn này Về mặt giá cả: việc định một giá tương đối thấp (trong
điều kiện chất lượng ngang bằng với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh) có thể giúp
doanh nghiệp mở rộng nhanh các khu vực tiêu thụ, tăng nhanh khối lượng bán. Doanh
nghiệp cũng có thể định giá cao hơn chút ít so với đối thủ cạnh tranh (khi doanh


nghiệp có ưu thế hơn về chất lượng sản phẩm) có thể lôi kéo khách hàng về phía mình,
mở rộng quy mô tiêu thụ.
b. Giai đoạn tăng trưởng
Đặc điểm của giai đoạn này là:
– Khối lượng hàng hóa tiêu thụ tăng mạnh do thị trường đã chấp nhận sản phẩm mới.
– Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm đã giảm đáng kể và do đó doanh nghiệp có
khả năng thu được lợi nhuận cao.
– Việc mở rộng khu vực thị trường hay tấn công vào những đoạn mới của thị trường
hiện tại là tương đối thuận lợi.
– Chi phí nghiên cứu, triển khai, phân tích thị trường và hoàn thiện sản phẩm vẫn còn
ở mức độ cao.
Mục tiêu cơ bản của giai đoạn này là xâm nhập vào những khu thị trường mới hay vào
những đoạn mới của thị trường đã có, tiếp tục hoàn thiện và nâng cao các đặc tính sử
dụng và chất lượng hàng hóa, nắm vững các kênh mới thuộc hệ thống phân phối.
Doanh nghiệp đặc biệt chú ý đến các biện pháp kích thích tiêu thụ như gửi mẫu hàng,
tặng phẩm, triển lãm, hội chợ. Giá cả sản phẩm mới có thể vẫn giữ mức như trong giai
đoạn trước hoặc giảm một chút nếu như lợi nhuận do tăng quy mô tiêu thụ và giảm chi
phí đã khá đầy đủ.
c. Giai đoạn chín muồi (bão hoà)
Đặc điểm của giai đoạn này là:
– Khối lượng tiêu thụ đạt đến đỉnh cao, sau đó chững lại và bắt đầu giảm xuống cùng
với mức giảm lợi nhuận. Hàng hóa có hiện tượng ứ đọng ở các kênh lưu thông.
– Cạnh tranh trở nên gay gắt, hàng cung cấp có thể nhiều hơn nhu cầu tiêu thụ.
– Doanh nghiệp có thể phải giảm giá bán để đẩy mạnh tiêu thụ.
Nỗ lực của doanh nghiệp ở giai đoạn này là cố gắng giảm tối đa chi phí sản xuất để
nếu phải bán hạ giá cũng đỡ thua thiệt nhiều. Mặt khác doanh nghiệp cố gắng cải tiến
sản phẩm bằng cách thay đổi nhãn hiệu, bao bì và cố gắng thể hiện với khách hàng là
hàng hóa doanh nghiệp vẫn giữ được uy tín cao. Doanh nghiệp cố gắng tìm những khu
vực tiêu thụ mới, tăng cường quảng cáo nhằm giữ vững uy tín cho sản phẩm của mình.
Các dịch vụ phục vụ người mua tiếp tục được tăng cường.
d. Giai đoạn suy thoái
Giai đoạn này được đặc trưng bởi việc giảm sút nghiêm trọng khối lượng tiêu thụ và
lợi nhuận thu được. Nếu doanh nghiệp không nhìn thấy trước và không đối phó kịp


thời thì mức thiệt hại do không tiêu thụ được sản phẩm và mức giảm lợi nhuận có thể
dẫn đến sự phá sản. Phải chú ý kiểm tra các hệ thống tiêu thụ nếu thấy hiện tượng tiêu
thụ giảm mạnh, hàng ứ đọng nhiều thì phải quyết định ngừng sản xuất và “tung ngay”
những sản phẩm mới (những con “át chủ bài” thường được chuẩn bị sẵn) vào thị
trường để chặn đứng tình trạng suy thoái. Đây chính là chiến lược “gối lên nhau” của
các chu kỳ sống của các sản phẩm.
Một chu kỳ sống hay vòng đời của một sản phẩm trước hết phải gắn với một thị trường
nhất định. Một sản phẩm có thể mới ở thị trường này nhưng lại không mới ở thị trường
khác và ngược lại. Một sản phẩm có thể có chu kỳ sống khá dài ở một thị trường
nhưng sang thị trường khác thì không tồn tại nổi.
Nghiên cứu “chu kỳ sống” của sản phẩm giúp ta chủ động lập kế hoạch tiêu thụ và các
biện pháp kèm theo tương ứng với từng giai đoạn của nó. Điều đó giúp cho doanh
nghiệp khai thác tốt nhất lợi thế của những giai đoạn có nhiều triển vọng nhất, kéo dài
thời gian của những giai đoạn đó và chủ động “rút lui” khỏi thị trường khi sản phẩm
bước vào giai đoạn “suy thoái”.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×