Tải bản đầy đủ

Hoàn thiện chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính ở Việt Nam

NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
-------------

BÙI THỊ MẾN

HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI
CÁC DỊCH VỤ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH : TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 62.34.02.01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2017


CÔNG TRÌNH ĐƢỢC HOÀN THÀNH
TẠI HỌC VIỆN NGÂN HÀNG


Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS. TRẦN XUÂN HẢI
Học viện Tài chính
2. TS. HÀ THỊ SÁU
Học viện Ngân hàng
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ đƣợc bảo vệ trƣớc Hội đồng chấm luận án cấp Học
viện tại Học viện Ngân hàng.
Vào hồi……giờ…..ngày……tháng…… năm 2017

Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thƣ viện Học viện Ngân hàng
- Thƣ viện Quốc gia


DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN CỦA TÁC
GIẢ ĐƢỢC CÔNG BỐ
TẠP CHÍ KHOA HỌC
1. Bùi Thị Mến, Nguyễn Quốc Tuấn (2013), Áp dụng thuế giá trị gia tăng đối
với hoạt động kinh doanh chứng khoán, Nghiên cứu Hải quan, Tổng cục Hải
quan Việt Nam, số 7 , tháng 7/2013, Giấy phép xuất bản số 85/GP-XBBT.
2. Bùi Thị Mến, Nguyễn Thị Thu Huyền (2015), Những thay đổi trong chính
sách thuế kinh doanh chứng khoán tác động tới nhà đầu tƣ cá nhân, Tạp chí
Chứng khoán, Ủy ban chứng khoán nhà nƣớc, Bộ Tài chính Việt Nam, số 197,
tháng 3 /2015, ISSN: 0866-739X.
3. Trần Xuân Hải, Bùi Thị Mến (2015), Tác động của chính sách thuế đến năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp, Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Kế toán,
Học viện Tài chính, Việt Nam, số 03(140), tháng 3/2015, ISSN 1859-4093.
4. Bùi Thị Mến (2015), Đánh giá chính sách thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam
trong điều kiện hội nhập quốc tế, Tạp chí Khoa học và Đào tạo ngân hàng,
Học viện Ngân hàng, Việt Nam, số 156, tháng 5 /2015. ISSN: 1859-011X.
HỘI THẢO QUỐC TẾ
1. Bùi Thị Mến (2016 ), Ảnh hƣởng của mở cửa dịch vụ tài chính đến sự phát
triển của khu vực dịch vụ tài chính ở việt Nam, Hội thảo quốc tế về Phát triển
thị trƣờng tài chính trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Hà Nội, tháng 10/2016.
2. Bùi Thị Mến (2016), Ảnh hƣởng của chính sách thuế quan trong quá trình
hội nhập TPP đến các doanh nghiệp tại Việt Nam, Hội thảo quốc tế về Doanh
nghiệp Việt Nam trong TPP, Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11/2016.




ĐỀ TÀI KHOA HỌC
1. Nguyễn Thanh Phƣơng, Đặng Tài An Trang, Trần Thị Xuân Anh, Bùi Thị
Mến, Dƣơng Ngân Hà, Ngô Thị Hằng, Lê Quốc Tuấn (2012), Chính sách thuế
kinh doanh chứng khoán trong quá trình tái cấu trúc thị trƣờng chứng khoán,
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trƣờng, Học viện Ngân hàng, Việt Nam, tháng
7/2012.
2. Lê Thị Diệu Huyền, Bùi Thị Mến, Trần Xuân Hải, Tô Kim Ngọc, Nguyễn
Thị Lâm Anh, Nguyễn Văn Tâm (2015), Giải pháp cải tiến, hoàn thiện chính
sách thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam trong điều
kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, Đề tài cấp ngành Ngân
hàng, Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam, tháng 3/2015.
SÁCH CHUYÊN KHẢO
Nguyễn Thanh Phƣơng, Đặng Tài An Trang, Trần Thị Xuân Anh, Bùi Thị
Mến, Dƣơng Ngân Hà, Ngô Thị Hằng, Lê Quốc Tuấn (2013), Chính sách thuế
kinh doanh chứng khoán trong quá trình tái cấu trúc thị trƣờng chứng khoán,
Sách chuyên khảo, tháng 6/2013, Nhà xuất bản Bách Khoa, Hà Nội. ISBN:
978-604-911-510-3.


5

LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Hoàn thiện chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính ở Việt Nam trở nên
cần thiết vì: thứ nhất, yêu cầu thống nhất khung lý thuyết về dịch vụ tài chính, chính
sách thuế đối với các dịch vụ tài chính, kinh nghiệm quốc tế và xu hƣớng cải cách
thuế. Thứ hai, những khó khăn trong quản lý, giám sát và thu thuế đối với lĩnh vực
dịch vụ tài chính tại Việt Nam khi các dịch vụ tài chính ngày càng phát triển đa dạng
cả về loại hình, phƣơng thức, quy mô tổ chức cung cấp. Thứ ba, còn những khoảng
trống tri thức trong các nghiên cứu trƣớc đây liên quan đến chủ đề này. Do vậy,
nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính ở Việt
Nam” là cần thiết và có ý nghĩa khoa học, thực tiễn.
2. Tổng quan nghiên cứu
Trên thế giới, từ trƣớc năm 2000, nhiều nghiên cứu về thuế đối với lĩnh vực tài
chính tập trung vào việc xác định “thuế tối ƣu” nhằm xác định khả năng thu thuế cho
nhà nƣớc hiệu quả nhất và tính toán ảnh hƣởng của thuế đến sự biến động giá, hành
vi của tổ chức, cá nhân đầu tƣ tài chính hoặc gửi tiền vào ngân hàng nhƣ các nghiên
cứu của Granville (1994), Broadway & Keen (1995), Brock (1997), Honohan (1994
& 1996). Sau năm 2000, các chính sách ƣu đãi thuế cho lĩnh vực tài chính lại đƣợc
quan tâm nhiều hơn, nó đặt ra các câu hỏi về việc liệu thuế có bóp méo cạnh tranh
hoặc gây ra các đối xử không công bằng về thuế giữa các lĩnh vực khác nhau của nền
kinh tế? Cùng với đó, chủ đề về chính sách thuế đối với các hoạt động trên thị trƣờng
tài chính ở các nƣớc phát triển, đang phát triển cũng đƣợc đề cập nhiều trong các
nghiên cứu của Levin & Ritter (2007), Sunley (2008), Poddar (2010). Nghiên cứu về
từng loại thuế cụ thể đối với lĩnh vực tài chính nhƣ thuế giao dịch tài chính, thuế hoạt
động tài chính .v.v của các tác giả Honoban (1994), Kirilenko & Summers (2006),
Sunley (2008), Habermeier & Kirilenko (2008), Poddar (2010). Nhìn chung, các
nghiên cứu nƣớc ngoài thời gian qua đã bỏ ngỏ khả năng của chính sách thuế với việc
khắc phục những thất bại của thị trƣờng. Ngoài ra, một số lập luận còn chƣa trọn
vẹn. Khi nói về biến động thị trƣờng tài chính tác giả chú ý đến biến động giá.
Nhƣng sự biến động này có thể hàm ý là thị trƣờng tài chính có thể tự thích nghi
nhanh hơn các thị trƣờng khác. Tức là, chính sách thuế đối với hoạt động của ngành
tài chính là một công cụ hiệu chỉnh hữu hiệu. Các sắc thuế đối với khu vực tài chính
có thể làm tăng


tính biến động thị trƣờng. Khi bàn về tác động của thuế đối với khả năng chịu rủi ro,
Broadway & Keen cũng chƣa thể làm rõ khía cạnh liên quan tới thiết kế chính sách
thuế tối ƣu: cho tới khi nào còn tồn tại sự bất định trong các mô hình phát triển tài
chính, rủi ro tổng hợp sẽ khó có thể đƣợc xác định và các bên tham gia sẽ vẫn bàng
quan với rủi ro (risk-neutral). Nói chung, khi thị trƣờng rủi ro, vẫn sẽ có chỗ cho
những can thiệp cải thiện phúc lợi, tuy nhiên điều này phụ thuộc chủ yếu vào việc
liệu chính phủ có thể chịu đựng rủi ro tốt hơn so với khu vực tƣ nhân không? Nhƣng
thực tiễn, đáp án thƣờng là “không”. Ở một số nƣớc, đặc biệt là nƣớc đang phát triển
đã sử dụng chính sách thuế và một số biện pháp khác nhằm thúc đẩy phát triển lĩnh
vực tài chính. Mặc dù, chính sách này bị chỉ trích là đặt không đúng chỗ. Chủ đề thiết
kế chính sách thuế với các dịch vụ tài chính đƣợc đƣa ra bàn luận nhiều nhƣng vấn
đề thực thi chính sách thuế gần nhƣ không đƣợc đề cập trong các nghiên cứu gần
đây.
Ở Việt Nam, đề cập về chủ đề thuế nói chung, nhóm tác giả Nguyễn Văn Hiệu,
Nguyễn Thị Liên (2008) trong cuốn “giáo trình nghiệp vụ thuế” đã tập trung vào việc
cung cấp công cụ tính thuế đối với hầu hết các loại thuế ở Việt Nam. Tác giả Đỗ Đức
Minh, Nguyễn Việt Cƣờng (2007, 2010) trong cuốn giáo trình “Lý thuyết thuế” hệ
thống hóa đầy đủ lý luận về thuế, gồm các nguyên lý, nguyên tắc, phƣơng pháp đánh
thuế cũng nhƣ những tác động kinh tế của thuế. Cùng chủ đề này, tác giả Hoàng Văn
Bằng (2009) trong sách chuyên khảo “lý thuyết và chính sách thuế” ngoài việc nêu
lên khuôn khổ lý thuyết về thuế, điểm đặc biệt là đề cập rất chi tiết đến chính sách
thuế trong thực tiễn ở các nƣớc trên thế giới. Tác giả Lê Xuân Trƣờng (2010) lại
hƣớng sự tập trung vào các vấn đề về quản lý thuế, trong cuốn giáo trình “Quản lý
thuế”. Nhiều luận án tiến sĩ của các tác giả trong nƣớc đã thay đổi hƣớng nghiên cứu
theo cách đi vào từng ngành, lĩnh vực, hoạt động cụ thể hoặc chỉ nghiên cứu riêng các
sắc thuế trong các điều kiện, bối cảnh nghiên cứu khác nhau nhƣ “hoàn thiện chính
sách thuế thu nhập ở Việt Nam phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”,
Nguyễn Xuân Sơn (2007), “hoàn thiện hệ thống chính sách thuế ở Việt Nam trong
điều kiện gia nhập WTO”, tác giả Vƣơng Thu Hiền (2008), “quản lý thuế ở Việt Nam
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” tác giả Nguyễn Thùy Dƣơng (2011), v.v.
Các nghiên cứu đều rất công phu và là tài liệu tham khảo rất có giá trị nhƣng hạn chế
khi không theo từng lĩnh vực chuyên sâu. Bởi lẽ, chính sách thuế luôn đòi hỏi sự phù
hợp với ngành, lĩnh vực. Thời gian qua đã xuất hiện một vài nghiên cứu về thuế hoặc


chính sách thuế đối với từng loại hình dịch vụ tài chính. Tác giả Nguyễn Thị Mai Chi
(2012) trong luận án tiến sĩ của mình đã cho thấy lý do dịch vụ tài chính không bị
chịu thuế giá trị gia tăng vì khó xác định giá trị tăng thêm. Tác giả cũng đề xuất đánh
thuế giá trị gia tăng với dịch vụ tài chính bằng cách tính giá trị gia tăng gồm tiền
lƣơng và lợi nhuận của tổ chức tài chính. Luận án tiến sĩ về pháp luật thuế trong lĩnh
vực chứng khoán của tác giả Nguyễn Thị Thuận (2009) đã cho thấy, thuế chứng
khoán sẽ thay đổi quyết định đầu tƣ và tác động đến thị trƣờng chứng khoán. Các
nghiên cứu này đều mang đến những luận điểm mới về thuế đối với dịch vụ tài chính
nhƣng ít có nghiên cứu nào phát hiện ra những đặc trƣng của dịch vụ tài chính sẽ ảnh
hƣởng đến chính sách thuế.
3. Mục tiêu nghiên cứu
-Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về dịch vụ tài chính và chính sách thuế đối với các dịch vụ
tài chính. Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về chính sách thuế đối với các dịch vụ tài
chính đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam;
- Đánh giá thực trạng chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính ở Việt Nam trong
giai đoạn từ 2009 đến 2016 nhằm đánh giá kết quả, phát hiện những tồn tại của chính
sách và chỉ ra các nguyên nhân của hạn chế đó;
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế đối với dịch vụ tài chính ở
Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: hoạt động dịch vụ tài chính và chính sách thuế đối với các
dịch vụ tài chính.
- Phạm vi nghiên cứu:
Luận án thực hiện nghiên cứu tại Việt Nam và một số quốc gia điển hình trên
thế giới, tập trung vào chính sách thuế GTGT, TNDN, TNCN đối với 3 nhóm chủ
yếu là khu vực dịch vụ ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm. Thời kỳ nghiên cứu từ
năm 2009 đến năm 2016. Các giải pháp đề xuất theo lộ trình đến năm 2020, một số
giải pháp đến 2030.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định tính, phân tích và tổng hợp
thông tin một cách kế thừa có chọn lọc.


Để thu thập dữ liệu sơ cấp, luận án sử dụng phƣơng pháp phỏng vấn chuyên
gia để kiểm tra mức độ phù hợp của những tiêu chí đánh giá thực trạng chính sách
thuế đối với các dịch vụ tài chính so với lý thuyết và đƣợc cụ thể hóa bằng thực tế ở
Việt Nam. Tác giả luận án tiến hành phỏng vấn sâu các chuyên gia trong lĩnh vực
quản lý nhà nƣớc về thuế (tại Cục Thuế và Tổng cục Thuế); cán bộ trực tiếp làm công
tác thuế tại các công ty chứng khoán, bảo hiểm, hội sở một số ngân hàng; Ủy ban
chứng khoán Nhà nƣớc, Viện Chiến lƣợc chính sách tài chính, Ngân hàng nhà nƣớc,
cũng nhƣ phỏng vấn nhóm tập trung đối với các đối tƣợng khác. Những thông tin thu
nhập đƣợc, tác giả tổng lƣợc và sử dụng để thiết kế phiếu khảo sát. Khi thiết kế
phiếu, tác giả đảm bảo phiếu khảo sát ghi rõ các thông tin cần thu thập để phục vụ
cho mục đích nghiên cứu. Phiếu khảo sát gửi đến cán bộ quản lý thuế thuộc cơ quan
Tổng cục thuế, Cục thuế, cán bộ làm công tác kế toán thuế tại hội sở, chi nhánh một
số ngân hàng, công ty chứng khoán, bảo hiểm, cán bộ kiểm toán thuế, các chuyên gia
thuộc lĩnh vực thuế, giảng dạy thuế, marketing dịch vụ tài chính.
Đối với dữ liệu thứ cấp về thuế, tác giả tổng hợp từ báo cáo tài chính các ngân
hàng, công ty chứng khoán, bảo hiểm đƣợc lƣu tại Vụ Kê khai và Kế toán thuế, Vụ
Doanh nghiệp lớn thuộc Tổng cục Thuế Việt Nam. Số liệu về kết quả thu ngân sách
từ thuế sử dụng dữ liệu của Tổng cục thuế với độ tin cậy cao
6. Những đóng góp mới của luận án
Về lý luận
- Luận án đã hệ thống hóa đƣợc những lý luận về dịch vụ tài chính, chính sách thuế
đối với dịch vụ tài chính cũng nhƣ các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ tài chính;
các nhân tố ảnh hƣởng đến chính sách thuế đối với lĩnh vực dịch vụ tài chính và tác
động của chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính.
- Khác với hầu hết các nghiên cứu trƣớc đây, luận án đã làm rõ đặc trƣng nhƣ vấn đề
nhạy cảm với lạm phát và khả năng chênh lệch thuế cao của chính sách thuế đối với
các dịch vụ tài chính.
- Trình bày kinh nghiệm quốc tế về chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính và
bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, đảm bảo yêu cầu thuế với các dịch vụ tài chính
phải tƣơng đƣơng với những ngành, lĩnh vực khác và yêu cầu về tính trung lập của
chính sách thuế, đạt đƣợc cả hiệu quả tĩnh và hiệu quả động.
Về thực tiễn


- Luận án đã đánh giá thực trạng chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính trong
giai đoạn 2009 – 2016 dựa trên các yêu cầu của chính sách thuế đối với các dịch vụ
tài chính cũng nhƣ việc thực hiện vai trò của chính sách thuế. Phân tích quy trình
hoàn thiện chính sách thuế cho thấy những thành tựu nhất định trên phƣơng diện
khuyến khích sự tham gia ngày càng nhiều của cộng đồng doanh nghiệp, ngƣời nộp
thuế dù vẫn có những giới hạn nhất định tuy nhiên quy trình này còn có hạn chế về
tính minh bạch. Nội dung chính sách thuế hợp lý đảm bảo nguồn thu cho ngân sách
nhà nƣớc nhƣng còn thiếu công bằng. Chính sách thuế đƣợc ban hành thƣờng chậm
chễ trong khâu hƣớng dẫn thực thi
- Đánh giá của luận án về 3 loại thuế là giá trị gia tăng, thu nhập doanh nghiệp, thu
nhập cá nhân đối với 3 lĩnh vực dịch vụ tài chính chủ yếu là dịch vụ ngân hàng, dịch
vụ chứng khoán, dịch vụ bảo hiểm cho thấy chính sách thuế đối với các dịch vụ tài
chính đã góp phần tăng thu cho ngân sách, khuyến khích phát triển dịch vụ tài chính,
tuy nhiên chƣa bao quát đối tƣợng chịu thuế, cơ chế khấu trừ thuế giá trị gia tăng bị
gián đoạn do dịch vụ tài chính không chịu thuế. Chính sách thuế thu nhập doanh
nghiệp bỏ sót quy định đối với doanh nghiệp “vốn mỏng”. Việc quy định chi phí
đƣợc trừ, không đƣợc trừ chƣa tính đến đặc thù của lĩnh vực dịch vụ tài chính; không
nhất quán quy định “thu nhập khác”. Chính sách thuế thu nhập cá nhân không khuyến
khích đầu tƣ chứng khoán ngắn hạn, thiếu công bằng, nguy cơ chênh lệch thuế cao.
- Sử dụng phƣơng pháp phỏng vấn chuyên gia để kiểm tra mức độ phù hợp của
những tiêu chí đánh giá thực trạng chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính với lý
thuyết. Kết quả khảo sát giúp làm tăng thêm tính thuyết phục cho các nhận định, đánh
giá về thực trạng chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính.
- Luận án đã đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện chính quy chính và
sách thuế đã có. Bổ sung thêm các quy định mới nhƣ: đề xuất đánh thuế giá trị gia
tăng đối với dịch vụ tài chính, tính và nộp theo phƣơng pháp trực tiếp trên số tiền thu
đƣợc từ cung cấp dịch vụ tài chính; tiến đến bỏ định mức chi phí lãi vay khi tính thuế
thu nhập doanh nghiệp, thay vào đó quy định chi phí lãi tiền vay không đƣợc trừ vào
chi phí của doanh nghiệp đối với cá khoản vay vƣợt quá nhiều lần vốn chủ sở hữu,
quy định phù hợp với từng ngành; chính sách thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập
từ chuyển nhƣợng chứng khoán theo tỷ lệ % thực lãi, trong đó thực lãi là chênh lệch


giữa tổng giá bán bình quân với tổng giá mua bình quân xác định theo giá trung bình
của từng lô giao dịch.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án bao gồm các nội dung cơ bản sau:
+ Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính
+ Chƣơng 2: Thực trạng chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính ở Việt Nam
+ Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính ở
Việt Nam


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI
CÁC DỊCH VỤ TÀI CHÍNH
1.1 KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH
1.1.1. Dịch vụ
Dịch vụ là mọi biện pháp hay lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia,
nhƣng không dẫn đến việc chuyển giao quyền sở hữu
1.1.2. Dịch vụ tài chính
Dịch vụ tài chính là các hoạt động dịch vụ đƣợc thực hiện qua các trung gian
tài chính. Yếu cấu thành dịch vụ tài chính: Khách hàng; chủ thể cung ứng; những yếu
tố đầu vào cần thiết cho việc cung ứng và sử dụng dịch vụ tài chính
1.1.2.4 Vai trò của dịch vụ tài chính
Góp phần thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế, nó đóng vai trò cung cấp đầu vào thúc
đẩy sự phát triển của đầu tƣ, tiêu dùng, tiết kiệm trong xã hội, thúc đẩy sự phát triển
của các ngành, nghề khác cũng nhƣ toàn bộ nền kinh tế.
1.1.3. Nhân tố ảnh hƣởng đến lĩnh vực dịch vụ tài chính
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DỊCH VỤ TÀI
CHÍNH
1.2.1. Chính sách thuế
Chính sách thuế là hệ thống quan điểm, định hướng, công cụ thuế để điều tiết
một phần thu nhập của tổ chức, cá nhân trong xã hội, được Nhà nước sử dụng để đạt
được các mục tiêu nhất định.
Nội dung của chính sách thuế gồm các yếu tố: công cụ, mục tiêu, phạm vi tác
động, trách nhiệm hiệu lực, thời hiệu chính sách.
Quy trình thiết lập và thực thi chính sách thuế gồm: (i) nhận diện vấn đề; (ii)
thiết lập chính sách; (iii) thông qua chính sách; (iv) thực thi chính sách; (v) đánh giá
chính sách.
1.2.2 Cơ sở lý luận về chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính
* Chính sách thuế đối với dịch vụ tài chính là những quan điểm, định hƣớng, công cụ
thuế mà Nhà nƣớc sử dụng trong lĩnh vực dịch vụ tài chính nhằm đạt đƣợc các mục


tiêu nhất định. Đặc trƣng cơ bản: nhạy cảm với lạm phát; khả năng tận dụng chênh
lệch thuế cao
* Nguyên tắc đánh thuế: phù hợp với các nguyên tắc đánh thuế thu nhập và thuế tiêu
dùng
* Yêu cầu cơ bản: công bằng, hiệu quả, ổn định - đơn giản, khả thi, minh bạch - trung
lập - xử lý những đặc thù của chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính.
1.2.3 Nhân tố ảnh hƣởng đến chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính
Nhân tố chủ quan: Trình độ, năng lực của cơ quan ban hành chính sách thuế; Các
phƣơng tiện kỹ thuật hỗ trợ việc thiết lập và thực thi chính sách thuế; cơ chế quản lý
thuế. Nhân tố khách quan: ý thức chấp hành pháp luật thuế của ngƣời nộp thuế; sự
phát triển của thị trƣờng dịch vụ tài chính; các cam kết quốc tế liên quan đến mở cửa
dịch vụ tài chính.
1.2.4 Tác động của chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính
- Tác động đến các tổ chức tài chính
- Tác động đến thị trƣờng: giá cả, thanh khoản, giao dịch v.v.
- Tác động đến khách hàng sử dụng dịch vụ tài chính
1.3 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DỊCH VỤ
TÀI CHÍNH VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế về chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính
1.3.1.1 Kinh nghiệm của các nước phát triển
- Thuế giao dịch tài chính, thuế giao dịch chứng khoán, thuế giao dịch tiền tệ, thuế
phí bảo hiểm là những dòng thuế chủ yếu đối với lĩnh vực dịch vụ tài chính đƣợc áp
dụng ở các nƣớc phát triển nhƣ Mỹ và khu vực EU cho cả mục tiêu hiệu chỉnh và thu
ngân sách nhà nƣớc.
1.3.1.2 Kinh nghiệm của các nền kinh tế mới nổi và các nước đang phát triển
- Kinh nghiệm các quốc gia phát triển: về thuế giao dịch chứng khoán, thuế giao dịch
tài chính, thuế giao dịch tiền tệ, thuế đối với phí bảo hiểm.
- Kinh nghiệm của các nước đang phát triển và một số nền kinh tế mới nổi: thuế ngân
hàng, chế độ thuế trên tổng thu nhập, thuế đối với dịch vụ bảo hiểm.


1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Thứ nhất: nguyên tắc chính chi phối một chính sách thuế đối với dịch vụ tài chính
hợp lý là phải đảm bảo nó tƣơng đƣơng với những ngành khác; chứ không thể đƣợc
thiết kế trong sự cô lập với phần còn lại của hệ thống thuế.
Thứ hai: chính sách thuế phải đạt đƣợc cả hiệu quả tĩnh (ổn định) và hiệu quả động
(kích thích tăng trƣởng). Công cụ chính sách là thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập
doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân.


Chƣơng 2
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DỊCH VỤ
TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
2.1. KHÁI QUÁT THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THUẾ Ở VIỆT NAM
2.1.1. Về quy trình hoàn thiện chính sách thuế
Hoàn thiện chính sách thuế ở Việt Nam chính là việc đề xuất sửa đổi quy định
đã có, bổ sung các quy định mới đối với từng sắc thuế cụ thể và chính sách quản lý
thuế, nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra.
2.1.2 Về mục tiêu chính sách thuế
2.1.3 Về nội dung chính sách thuế
* Về cơ sở pháp lý
* Những thay đổi chủ yếu trong nội dung chính sách thuế
Thể hiện những thay đổi chủ yếu trong chính sách thuế hiện hành gồm:
Thuế giá trị gia tăng: đơn giản hóa thủ tục, giảm thời gian và chi phí tuân thủ cho
ngƣời nộp thuế.
Thuế thu nhập doanh nghiệp: Bổ sung nhiều quy định về chi phí đƣợc trừ theo hƣớng
nới rộng hoặc bỏ định mức thay vì đó là xiết chặt quy định về chứng từ thanh toán.
Giảm thuế suất và đơn giản hóa ƣu đãi
Thuế thu nhập cá nhân: hƣớng đơn giản hóa thu thuế đối với cá nhân kinh doanh.
Việc xác lập nghĩa vụ thuế căn cứ vào tỷ lệ doanh thu đối với từng lĩnh vực, ngành
nghề sản xuất kinh doanh. Nâng mức giảm trừ gia cảnh đối với cá nhân có thu nhập
từ tiền lƣơng, tiền công và cƣ trú tại Việt Nam.
Thuế tiêu thụ đặc biệt: đã điều chỉnh bổ sung quy định về đối tƣợng chịu thuế, tăng
thuế suất với rƣợu bia và thuốc lá. Điều chỉnh quy định giá tính thuế, khấu trừ thuế
phù hợp với thông lệ, đảm bảo công bằng giữa hàng hóa sản xuất trong nƣớc và hàng
hóa nhập khẩu
Thuế xuất nhập khẩu: thể hiện vai trò điều tiết của chính sách thuế và hạn chế xuất
khẩu các sản phẩm là tài nguyên khoáng sản thô, khai thác chƣa chế biến thành sản
phẩm khác, khuyến khích xuất khẩu các sản phẩm đã qua chế biến với giá trị cao.
Các chính sách thuế khác nhƣ thuế tài nguyên, bảo vệ môi trƣờng, thuế sử dụng đất
phi nông nghiệp v.v. đƣợc chuẩn hóa dƣới dạng luật, tạo ra tính pháp lý cao của pháp
luật về thuế


2.2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DỊCH VỤ TÀI CHÍNH Ở
VIỆT NAM
2.2.1 ái quát về dịch vụ tài chính ở việt nam
Lĩnh vực dịch vụ ngân hàng có quy mô lớn nhƣng quy mô của lĩnh vực bảo
hiểm, chứng khoán còn khá khiêm tốn; sản phẩm dịch vụ tài chính mang tính truyền
thống, chƣa phong phú, thị trƣờng nội địa là chủ yếu; dịch vụ ngân hàng kết hợp bảo
hiểm đã cho thấy sự tăng trƣởng, song lợi thế phân phối của dịch vụ này chƣa đƣợc
khai thác một cách có hiệu quả để tiếp cận tới bộ phận dân số chƣa tham gia bảo
hiểm; Rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ tài chính khá lớn; Khu vực dịch vụ
tài chính tồn tại xen lẫn các dịch vụ chính thức và phi chính thức.
2.2.2 Thực trạng chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính
2.2.2.1 Về quy trình hoàn thiện chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính
2.2.2.2 2.2 Mục tiêu và nội dung chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính
Thứ nhất, chính sách thuế giá trị gia tăng
Đại đa số các dịch vụ tài chính ở Việt Nam đều không chịu thuế giá trị gia tăng.
Do đó, thuế giá trị gia tăng đầu vào không đƣợc khấu trừ.
Thứ hai, chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp
Nhiều thay đổi về mục tiêu chính sách, phƣơng pháp tính thuế, thuế suất và
quy ƣu đãi, miễn giảm thuế đối với thu nhập của các tổ chức tài chính đƣợc áp dụng
từ 1/1/2009.
Người nộp thuế: là các doanh nghiệp đƣợc thành lập và hoạt động theo quy định của
Luật các tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật chứng khoán.
Căn cứ và phương pháp tính thuế
*Đối với dịch vụ ngân hàng
Những thay đổi của chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp tập trung vào
hƣớng dẫn cụ thể hơn về doanh thu đối với hoạt động tín dụng và bổ sung vào thu
nhập miễn thuế một số khoản thu nhập không mang tính chất kinh doanh.
Bảng 2. 7: So sánh thay đổi chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp đối với
thu nhập từ dịch vụ ngân hàng
Nội dung

Từ 1/1/2009

Từ 1/1/2014

Từ 1/1/2016

Doanh thu

+ Tiền lãi cho

Bổ sung thêm:

từ hoạt

vay phải thu

+ thu từ lãi tiền gửi trong kỳ vào doanh thu tính


động tín

trong kỳ

thuế
+ lãi tiền gửi, lãi tiền cho vay tính trực tiếp 5%

dụng

doanh thu đối với đơn vị sự nghiệp và tổ chức
không phải là doanh nghiệp thành lập theo pháp
luật Việt Nam
25%

Mức thuế

22%

20%

Áp thuế 20% với quỹ tín dụng nhân

17% với quỹ tín dụng nhân

dân

dân, ngân hàng hợp tác xã
và tổ chức tài chính vi mô
Bổ sung vào thu nhập miễn thuế: thu nhập từ tín

Ƣu đãi thuế

dụng cho ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính
sách của ngân hàng chính sách.
Thu nhập từ thực hiện nhiệm vụ do Nhà nƣớc giao
của các quỹ tài chính Nhà nƣớc: bảo hiểm tiền
gửi, Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ
và vừa v.v.
(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)

Khó khăn lớn nhất đối với lĩnh vực dịch vụ ngân hàng là chƣa có hƣớng dẫn
riêng tổng hợp nào về thuế thu nhập doanh nghiệp dù ngân hàng có cơ chế tài chính
khá đặc thù. Vì vậy, trong quá trình thực thi chính sách thuế, các ngân hàng gặp
không ít khúc mắc.
* Dịch vụ chứng khoán
Có sự phân loại giữa thu nhập của công ty chứng khoán, quỹ đầu tƣ với thu
nhập của doanh nghiệp có hoạt động chuyển nhƣợng, đầu tƣ chứng khoán.
- Các công ty chứng khoán, quỹ đầu tƣ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp dựa trên thu
nhập tính thuế là phần còn lại của thu nhập chịu thuế (đƣợc xác định dựa trên doanh
thu – chi phí đƣợc trừ + thu nhập khác) sau khi giảm trừ thu nhập miễn thuế và
chuyển lỗ nếu có.
- Tổ chức có thu nhập từ chuyển nhƣợng chứng khoán: Thu nhập tính thuế từ chuyển
nhƣợng chứng khoán tính bằng giá bán trừ (-) giá mua, trừ (-) các chi phí liên quan
đến việc chuyển nhƣợng
* Dịch vụ bảo hiểm


Lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm là lĩnh vực hoạt động dịch vụ tài chính duy nhất có
văn bản hƣớng dẫn cụ thể về thuế còn hiệu lực tính đến 2016. Để đảm bảo việc thực
thi tốt pháp luật về thuế, ngày 21 tháng 01 năm 2011, Bộ Tài chính ban hành Thông
tƣ 09/2011/TT-BTC hƣớng dẫn về thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp
đối với lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm.
Nhìn chung, vẫn còn thiếu vắng các quy định về thu nhập chịu thuế trong chính
sách thuế thu nhập doanh nghiệp. Cụ thể là việc xác định chi phí đƣợc trừ đối với chi
phí lãi vay, không kiểm soát đối với các doanh nghiệp “vốn mỏng”, vấn đề khống chế
định mức chi phí đƣợc trừ và thu nhập khác.
Chính sách ưu đãi thuế
Theo quy định, các ƣu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ áp dụng đối với các
doanh nghiệp thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ và nộp thuế thu nhập
doanh nghiệp theo kê khai. Trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, Quỹ tín dụng nhân dân,
NH hợp tác xã và tổ chức tài chính vi mô đƣợc hƣởng thuế suất ƣu đãi 20% trong
suốt thời gian hoạt động (mức phổ thông thời đểm đó là 25%). Từ ngày 1/1/2016,
mức thuế suất này giảm xuống còn 17%.
Biểu đồ 2. 9: Khảo sát mức độ ảnh hƣởng của giảm thuế suất thuế thu nhập
doanh nghiệp đến doanh nghiệp dịch vụ tài chính
Ảnh hƣởng rất lớn

32%

Ảnh hƣởng lớn

32%
28%

Ảnh hƣởng mức độ trung bình
7%

Ít ảnh hƣởng
Không ảnh hƣởng

1%

(Nguồn: Tổng hợp phiếu điều tra – khảo sát)
Chính sách ƣu đãi thuế theo hình thức giảm thuế suất thuế thu nhập sẽ không
có ý nghĩa đối với các tổ chức tài chính đang làm ăn thua lỗ; nhƣng với tổ chức kinh
doanh lãi, nó có ảnh hƣởng lớn tới lợi nhuận để lại của họ.


Biểu đồ. 1: Thu Ngân sách nhà nƣớc từ thuế thu nhập doanh nghiệp của hối
ngân hàng thƣơng mại
16
M
illi 14
on
s 12

0.30
0.20
0.10

10

-

8

(0.10)

6

(0.20)

4

(0.30)

2

(0.40)

-

Thuế TNDN (triệu đồng)
Tốc độ tăng so với kỳ trước (%)

(0.50)
2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016

(Nguồn: Tổng cục thuế, thống kê tại 36 ngân hàng thương mại)
Biến động giảm thuế vào năm 2013 do ảnh hƣởng giảm thuế suất thuế thu nhập
doanh nghiệp từ 25% xuống 22% và tái cấu trúc hệ thống ngân hàng. Sau đó vực dậy
đà tăng từ năm 2014 đến 2015 nhờ vào những cải thiện trong hoạt động kinh doanh.
Tuy nhiên, số thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp của khu vực này năm 2016 giảm
21% so với trung bình 2 năm 2014-2015. Do hơn 60 tổ chức tín dụng phải xử lý nợ
xấu bằng phƣơng thức cơ bản là trích dự phòng rủi ro (với trên 8.000 tỷ đồng).
Lĩnh vực dịch vụ chứng khoán, bảo hiểm dù có quy mô hẹp hơn lĩnh vực
nhƣng tình hình nộp thuế cũng có nhiều khả quan.
Bảng 2. 10: Thuế TNDN phải nộp của doanh nghiệp bảo hiểm, chứng hoán
(Đơn vị: triệu đồng)
Năm
Bảo hiểm

2009
72,105

2010

2015

2016

241,597 322,908 191,597 352,395 314,642 293,505

351,940

Chứng khoán 1012425 783192,6

2011
55507

2012
7753

2013
40024

2014
129179

138507 128923.1

(Nguồn: Tổng cục Thuế, thống kê tại 15 doanh nghiệp bảo hiểm và 20 công ty chứng
khoán)
Thứ ba, chính sách thuế thu nhập cá nhân
Chính sách thuế thu nhập cá nhân đƣợc chuẩn hóa dƣới dạng luật, tạo ra tính
pháp lý cao của pháp luật về thuế, áp dụng từ từ 1/1/2009. Trải qua quá trình thực thi


với 2 lần sửa đổi, bổ sung đã có nhiều thay đổi căn bản trong việc xác định cơ sở tính
thuế cũng nhƣ mức thuế đối với các khoản thu nhập cá nhân từ dịch vụ tài chính.
Đối tượng nộp thuế
* Lĩnh vực dịch vụ ngân hàng
Xuất phát từ đặc thù của hoạt động kinh doanh ngân hàng, đối tƣợng kinh
doanh là tổ chức, không có cá nhân tham gia tham gia cung ứng dịch vụ ngân hàng.
Do đó, quy định về thuế thu nhập cá nhân trong lĩnh vực ngân hàng tập trung vào các
vấn đề về khấu trừ tại nguồn cho một vài khoản thu nhập mà ngân hàng chi trả cho
các cá nhân hoặc cổ đông là nhà đầu tƣ cá nhân. Chẳng hạn, với các ngân hàng có
chia cổ tức bằng tiền cho cổ đông thì mức khấu trừ thuế thu nhập cá nhân đối với thu
nhập từ đầu tƣ vốn là 5% giá trị cổ tức.
* Lĩnh vực dịch vụ chứng khoán
Cá nhân có thu nhập chịu thuế từ chuyển nhƣợng chứng khoán bao gồm: thu
nhập từ chuyển nhƣợng cổ phiếu, quyền mua cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, chứng
chỉ quỹ và các loại chứng khoán khác theo quy định của luật chứng khoán; thu nhập
từ chuyển nhƣợng cổ phần của các cá nhân trong công ty cổ phần theo quy định của
luật doanh nghiệp. Hoặc cá nhân có thu nhập từ hành nghề cung cấp dịch vụ chứng
khoán.
* Lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm
Là các cá nhân có thu nhập từ hoạt động dịch vụ bảo hiểm, bao gồm cả cá nhân
với tƣ cách là ngƣời đƣợc hƣởng lợi từ các hợp đồng bảo hiểm và cả cá nhân hành
nghề đại lý bảo hiểm theo quy định.
Luật sửa đổi các luật thuế số 71/2014/QH13 thay đổi cách xác định nghĩa vụ
thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân là đại lý bảo hiểm. Thay vì căn cứ vào thu
nhập, thì từ 2015 quy định ngƣỡng doanh thu để xác định cá nhân phải nộp hoặc
không phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Đại lý bảo hiểm nếu có doanh thu 100 triệu
đồng/năm trở xuống không phải nộp thuế thu nhập cá nhân.
Căn cứ và phương pháp tính thuế
* Lĩnh vực dịch vụ chứng khoán
Thay đổi căn bản thể hiện trong phƣơng pháp tính thuế đối với thu nhập từ
chuyển nhƣợng chứng khoán.


Từ 2015, khi luật sửa đổi các luật về thuế số 71/2014/QH13 có hiệu lực đã nhất
quán phƣơng pháp tính thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhƣợng
chứng khoán.
Bảng 2. 11: Thay đổi chính sách thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ
chuyển nhƣợng chứng hoán
Từ 1/1/2009 đến 31/12/2014
Từ 1/1/2015
0,1%giá chuyển nhƣợng 20% thực lãi

0,1%giá chuyển nhƣợng

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)
Thay đổi này giúp việc quản lý thu thuế dễ dàng hơn nhƣng cũng ảnh hƣởng
đến tâm lý của nhà đầu tƣ. Họ sẽ phải cân nhắc tính toán kỹ lƣỡng để quyết định nên
bán hay không bán chứng khoán khi mà giá bán thấp hơn giá mua mà còn phải gánh
thêm nghĩa vụ thuế.
Biểu đồ 2.11: Kết quả điều tra tác động của thay đổi cách tính thuế thu nhập cá
nhân đối với thu nhập từ chuyển nhƣợng chứng hoán
Ý kiến khác

0%
66.70%

Giảm thu nhập của nhà đầu tư
77.80%

Hạn chế giao dịch ngắn hạn từng lần, tăng đầu tư trung và dài hạn

(Nguồn: Tổng hợp từ Phiếu điều tra)
Nhà đầu tƣ bám sàn là lực lƣợng kích thích thanh khoản của thị trƣờng. Do
vậy, chính sách thuế đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán cho các nhà đầu tƣ
cá nhân cần chú trọng vai trò trọng tâm của các nhà đầu tƣ bám sàn.
* Lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm
+ Đối với cá nhân làm đại lý bảo hiểm
Bảng 2. 12: Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập đại lý bảo hiểm
Từ 1/1/2009
-Tính trên doanh thu đại lý
– chi phí hợp lý, giảm
trừ gia cảnh và nộp thuế
theo biểu lũy tiến từng
phần từ 5%-35%

Từ 1/7/2013

Từ 1/1/2015

Đến 9 triệu đồng/tháng

0%

Trên 9 đến
đồng/tháng

5%

20

Trên 20 triệu đồng

triệu

5% doanh thu đại lý
nếu hoa hồng trên
100 triệu đồng/năm

10%

Doanh nghiệp bảo hiểm chi trả hoa hồng khấu trừ tại nguồn

-Đại lý tự kê khai

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)


Chính sách thuế thu nhập cá nhân đối với đại lý bảo hiểm cho thấy nhiều cải
tiến, giảm bớt thời gian tính, nộp thuế cho đại lý. Công tác quản lý cũng dễ dàng hơn.
Tuy nhiên, việc khấu trừ thuế theo doanh thu cũng tác động tâm lý tới rất nhiều các
đại lý khi cho rằng Nhà nƣớc không tính toán đến các yếu tố chi phí. Nhất là mức 5%
lại cao hơn mức thu 2% đối với đa số dịch vụ khác.
+ Đối với cá nhân tham gia bảo hiểm
Bảng 2. 13: Thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân tham gia bảo hiểm
Loại TN

Phí mua BH
(DN mua cho cá
nhân ngƣời lao

Từ 1/1/2009

Từ 1/7/2013

Từ 1/1/2015

Tính thuế với

+ Bổ sung thêm quy

+ Bỏ quy định tính thuế

phí bảo hiểm có

định tính thuế với phí

với phí bảo hiểm hƣu

tích lũy về phí

bảo hiểm nhân thọ, tiền trí tự nguyện dƣới 1

bảo hiểm

đóng góp quỹ hƣu trí tự triệu đồng/ngƣời/tháng
nguyện

động)

+ Doanh nghiệp bảo
hiểm khấu trừ 10% phí

Lãi đƣợc chia

+ Tính thuế với bảo hiểm phi nhân thọ

từ hợp đồng bảo

+ Miễn thuế với bảo hiểm nhân thọ

hiểm
Thu nhập từ bồi

Miễn thuế đối với bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, bảo hiểm sức

thƣờng hợp đồng

khỏe

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)
Lãi đƣợc chia từ bảo hiểm nhân thọ đƣợc miễn thuế thu nhập cá nhân bao gồm
tất cả các loại hình bảo hiểm sinh kỳ, tử kỳ, hỗn hợp, trọn đời, niên kim. Luật thuế
thu nhập cá nhân cũng không giới hạn quy mô của một hợp đồng BHNT có thể đƣợc
hƣởng cơ chế ƣu đãi thuế.
Chính sách ưu đãi thuế thu nhập cá nhân
Những ƣu đãi thuế thu nhập cá nhân trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đƣợc áp
dụng là sự thể hiện định hƣớng của Nhà nƣớc cho sự phát triển của các dịch vụ này.
2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DỊCH VỤ
TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
2.3.1 Kết quả đạt đƣợc
2.3.1.1 Quy trình hoàn thiện chính sách thuế


Quy trình trình sách thuế với đầy đủ các khâu, với sự tham gia ngày càng nhiều
của các doanh nghiệp, ngƣời nộp thuế.
Thông thƣờng, doanh nghiệp sẽ quan tâm đến pháp luật khi quy định đó có liên
quan trực tiếp đến mình hoặc khi nảy sinh sự việc, nhƣ khi bị thanh tra, kiểm tra, xử
phạt, khi phải thực hiện các thủ tục hành chính thuế. Thời gian qua, sự ảnh hƣởng của
chính sách và pháp luật đến các doanh nghiệp ngày càng lớn. Nhà nƣớc đã quy định
cơ chế rõ ràng để doanh nghiệp, ngƣời nộp thuế đƣợc tham gia vào quá trình xây
dựng chính sách thuế và đã mang lại lợi ích thực tế. Nhƣ việc dỡ bỏ trần chi phí
quảng cáo: luật thuế thu nhập doanh nghiệp khống chế mức trần cho chi phí quảng
cáo là 10% tổng chi phí (sau đƣợc nới lên 15%).Từ 2015, định mức này đƣợc dỡ bỏ,
các doanh nghiệp có nhu cầu thực hiện hoạt động này đã gặp nhiều thuận lợi hơn, các
doanh nghiệp quảng cáo, khuyến mãi cũng có cơ hội có việc làm nhiều hơn.
2.3.1.2 1.2 Nội dung chính sách
Thứ nhất, chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính góp phần thực hiện mục tiêu
huy động đầy đủ, hợp lý vào ngân sách nhà nƣớc
Thứ hai, chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính đƣợc hoàn thiện theo hƣớng
đơn giản, giảm bớt thủ tục hành chính thuế và khuyến khích phát triển dịch vụ tài
chính. Cụ thể
Chính sách thuế giá trị gia tăng: quy định hƣớng dẫn chi tiết tỷ lệ khấu trừ thuế giá
trị gia tăng đối với trƣờng hợp phát sinh đầu vào dùng chung cho dịch vụ tài chính
chịu thuế và không chịu thuế giá trị gia tăng. Quy định phƣơng pháp tính thuế giá trị
gia tăng trực tiếp theo tỷ lệ % doanh thu đối với các cá nhân làm đại lý bảo hiểm. Ban
hành văn bản hợp nhất về thuế giá trị gia tăng.
Chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp: ban hành văn bản hƣớng dẫn chi tiết quy
định về thuế đối với lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm. Ƣu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
khuyến khích phát triển đa đạng các sản phẩm bảo hiểm mới. Ban hành văn bản hợp
nhất về thuế thu nhập doanh nghiệp. Giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp.
Chính sách thuế thu nhập cá nhân: Đơn giản hóa quy định nghĩa vụ thuế thu nhập cá
nhân đối với cá nhân là đại lý bảo hiểm. Khuyến khích nhà đầu tƣ tham gia thị
trƣờng chứng khoán, mua bảo hiểm và gửi tiền vào ngân hàng. Hạn chế các động cơ
né tránh nghĩa vụ thuế của nhà đầu tƣ khi đầu tƣ chứng khoán.


2.3.2 Những hạn chế chủ yếu
2.3.2.1 Về quy trình hoàn thiện
Thứ nhất, vẫn còn nhiều ý kiến đóng góp cho chính sách thuế bị bỏ qua mà không
đƣợc giải thích cụ thể.
Thứ hai, chậm chễ trong khâu hƣớng dẫn thực thi chính sách thuế.
Thứ ba, quy trình xây dựng chính sách thuế hạn chế về tính minh bạch.
2.3.2.2. Về mục tiêu và nội dung chính sách thuế
Chính sách thuế giá trị gia tăng: chƣa bao quát hết đối tƣợng chịu thuế; khấu trừ
thuế giá trị gia tăng bị gián đoạn; quy định thuế suất 0% đối với dịch vụ tài chính
xuất khẩu không rõ ràng.
Chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp: chƣa bao quát hết các hoạt động kinh tế mới
phát sinh trong doanh nghiệp nhƣ chính sách thuế với doanh nghiệp “vốn mỏng”, quy
định tỷ lệ tối đa lãi tiền vay so với vốn chủ để đảm bảo phản ánh đúng chi phí lãi vay
phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Còn nhiều tồn tại trong quy định về chi
phí đƣợc trừ, không đƣợc trừ khi xác định thu nhập chịu thuế. Thiếu các giải thích,
định nghĩa về một số thuật ngữ nhƣ “thu nhập khác”, “chứng khoán thuộc loại nợ
phải trả’
Chính sách thuế thu nhập cá nhân: không khuyến khích nhà đầu tƣ nhỏ, đầu tƣ ngắn
hạn; chƣa đảm bảo tính công bằng; quy định về thuế chƣa phù hợp với tính chất thu
nhập.
2.3.3. Nguyên nhân
Nguyên nhân khách quan: Xuất phát từ đặc thù của hoạt động kinh doanh dịch vụ tài
chính; hội nhập kinh tế diễn ra nhanh chóng, sâu rộng ở lĩnh vực tài chính; ảnh hƣởng
của khủng hoảng tài chính; sự lồng ghép chính sách thuế với các chính sách xã hội
Nguyên nhân chủ quan: thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các chủ thể tham gia vào
hoàn thiện chính sách thuế; những yếu kém trong quản lý nguồn thu và kiểm soát
tuân thủ; hạn chế trong việc đào tạo bồi dƣỡng nghiệp vụ cho cán bộ thuế; hạn chế về
cơ sở dữ liệu phục vụ công tác thu; chậm chễ trong việc ký kết các Hiệp định tránh
đánh thuế hai lần.


Chƣơng 3
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI
CÁC DỊCH VỤ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
3.1.QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DỊCH VỤ TÀI
CHÍNH Ở VIỆT NAM
3.1.1 Quan điểm, mục tiêu xây dựng và phát triển các dịch vụ tài chính
Quan điểm: Tăng cƣờng sức mạnh cho nền kinh tế và lĩnh vực tài chính. Đảm bảo tài
chính là huyết mạch của toàn bộ nền kinh tế; thúc đẩy và mở đƣờng nhằm phát triển
nhanh, bền vững.
Mục tiêu: đến 2020 xây dựng cơ chế kết nối giữa: thị trƣờng tiền tệ với thị trƣờng
vốn, thị trƣờng bảo hiểm; đa dạng hóa các loại hình sản phẩm trên thị trƣờng tài
chính…
3.1.2 Quan điểm, mục tiêu chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính
Về quan điểm: Đảm bảo thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nƣớc, đảm bảo
nguồn lực tài chính để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa; là công cụ
của Nhà nƣớc quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, góp phần tái cơ cấu nền kinh tế
theo hƣớng phát triển bền vững, đảm bảo bình đẳng và công bằng xã hội.
Về mục tiêu chính sách thuế: Chính sách phải đảm bảo tỷ lệ điều tiết hợp lý để thực
hiện mục tiêu chung là tỷ lệ động viên toàn bộ thuế và phí giai đoạn 2011 - 2020
khoảng 20% - 21%/ GDP…
3.2 YÊU CẦU HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DỊCH VỤ TÀI
CHÍNH Ở VIỆT NAM
- Phù hợp với hội nhập tài chính sâu rộng
- Gắn với quá trình tái cấu trúc khu vực tài chính
- Phù hợp với quá trình cải cách hệ thống thuế
3.3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DỊCH VỤ TÀI
CHÍNH Ở VIỆT NAM
3.3.1 Nhóm giải pháp về quy trình hoàn thiện chính sách thuế
Tăng cƣờng sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan.
Đảm bảo minh bạch gắn liền với trách nhiệm giải trình.
3.3.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện mục tiêu và nội dung chính sách thuế
3.3.2.1 Chính sách thuế giá trị gia tăng


Chuyển dịch vụ tài chính từ đối tƣợng không chịu thuế sang đối tƣợng chịu
thuế giá trị gia tăng. Cơ sở tính thuế giá trị gia tăng đối với dịch vụ tài chính là số tiền
phải thu từ cung cấp dịch vụ. Phƣơng pháp tính thuế theo phƣơng pháp trực tiếp, số
thuế phải nộp tính theo tỷ lệ % trên số tiền phải thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ tài
chính. Thống nhất quy định áp dụng thuế suất 0% đối với các dịch vụ tài chính xuất
khẩu.
3.3.2.2 hính sách thuế thu nhập doanh nghiệp
- Sửa đổi, bổ sung và hướng dẫn chi tiết hơn cơ sở tính thuế thu nhập doanh nghiệp
đối với thu nhập từ dịch vụ tài chính
+ Chi phí lãi vay đƣợc trừ: tiến tới bỏ định mức chi phí lãi vay, thay vào đó chỉ nên
quy định chi phí lãi tiền vay không đƣợc trừ vào chi phí của doanh nghiệp đối với các
khoản vay vƣợt quá nhiều lần vốn chủ sở hữu.
+ Loại bỏ dần những quy định khống chế định mức chi phí đƣợc trừ.
+ Giải thích rõ từ ngữ, tránh gây ra các cách hiểu khác nhau trong quá trình thực thi
chính sách thuế.
+ Ban hành đầy đủ quy định hƣớng dẫn thuế thu nhập doanh nghiệp
- Xác định mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp hợp lý, khuyến khích sản xuất
phát triển, nuôi dưỡng nguồn thu
- Chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các dịch vụ tài chính cung cấp
xuyên biên giới
3.3.2.3 hính sách thuế thu nhập cá nhân
- Quy định rõ hơn từng loại thu nhập chịu thuế
- Sửa đổi căn cứ và phương pháp tính thuế
+Đối với thu nhập từ chuyển nhƣợng chứng khoán
Đề xuất áp dụng phƣơng pháp:
Thuế chuyển
nhượng

Tổng giá bán
chứng khoán
bình
quân
Tổng giá bán, tổng giá mua dựa trên giá trung
=

Tổng giá
mua
bình quân

x

Thuế
suất

bình của các lô chứng khoán

giao dịch, thuế suất có thể nghiên cứu ở mức 1% .
- Nhất quán quy định giữa chính sách thuế thu nhập cá nhân với chính sách thuế thu
nhập doanh nghiệp


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x