Tải bản đầy đủ

Giáo dục học sinh cá biệt THPT

SKKN VỀ VIỆC GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT GẮN VỚI PHONG TRÀO “THTT – HSTC”

PHẦN THỨ NHẤT
ĐẶT VẤN ĐỀ
Công tác chủ nhiệm là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác giáo
dục của Nhà trường và góp phần to lớn trong việc xây dựng và rèn luyện đạo
đức, nhân cách của học sinh. Có một thực tế trong dạy học nói chung và công
tác chủ nhiệm nói riêng là giáo viên thường áp đặt học sinh, tức là chỉ yêu cầu
học sinh phải làm và chịu ảnh hưởng những điều mình dạy mà ít khi để ý xem
học sinh đang suy nghĩ gì, mong muốn điều gì. Điều này dẫn đến Nhà trường
và Giáo viên trở nên xa lạ, thiếu thực tế với học sinh. Các em bắt đầu không
còn hứng thú với môn học, không muốn đến trường, thờ ơ lạnh nhạt thậm chí
là thù ghét, chống đối …
Như vậy, Giáo viên đã không tôn trọng sự “đa dạng” của học sinh và
chưa coi học sinh là đối tượng để “phục vụ”. Nhà trường và Giáo viên phải
xác định mình chính là nơi để giúp các em trở thành những công dân tốt, tạo
nên những “sản phẩm” giáo dục tốt nhất mà xã hội yêu cầu.
Chúng tôi cho rằng công tác chủ nhiệm là một nhiệm vụ không hề dễ
dàng, công tác này đòi hỏi ở người thầy không chỉ có “tâm” mà phải có sự
tinh tế, khéo léo và nghệ thuật để ứng xử cho phù hợp. Trong đó, công tác
giáo dục học sinh cá biệt lại là nhiệm vụ khó khăn nhất, đòi hỏi sự tỉ mỉ, nỗ

lực của thầy cô giáo chủ nhiệm.
Cùng với phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích
cực” (THTT, HSTC) của Bộ Giáo dục và Đào tạo, mong mỏi lớn nhất của
chúng tôi là vận dụng phong trào này vào công tác chủ nhiệm, đào tạo những
thế hệ học sinh (đặc biệt là học sinh cá biệt) có đầy đủ trí tuệ, thể chất sức
khỏe và nghị lực vượt khó, khao khát thay đổi chính mình để trở thành những
công dân có ích cho xã hội…
Giáo viên bộ môn cùng Giáo viên chủ nhiệm mở rộng vòng tay, kiên trì,
nhẫn nại rèn luyện và dạy dỗ các em lấy lại được những kiến thức căn bản,
làm cho các em có hứng thú hơn trong học tập. Đó là lý do tôi trình bày
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VỀ VIỆC GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT
GẮN VỚI PHONG TRÀO “ TRƯỜNG HỌC THÂN THIỆN, HỌC SINH
TÍCH CỰC”

GIÁO VIÊN: DỤNG THỊ EM

Trang 1


SKKN VỀ VIỆC GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT GẮN VỚI PHONG TRÀO “THTT – HSTC”

PHẦN THỨ HAI
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I.Thực trạng của vấn đề
Trường học đạt được các danh hiệu thi đua "Tiên tiến", "Xuất sắc" là nhờ vào
sự cố gắng, nỗ lực của Thầy và trò. Giáo viên dạy giỏi là nhờ chúng ta có
được những học sinh giỏi. Nhưng giáo viên dạy giỏi chưa chắc học sinh của
mình giỏi hết được. Vì bên cạnh những học sinh ngoan, học giỏi còn có những
học sinh không chịu học, không ham học làm ảnh hưởng thi đua của trường,
của lớp. Đó là những “Học sinh cá biệt”. Thực trạng của việc giáo dục học
sinh cá biệt có những thuận lợi và những hạn chế sau
1. Thuận lợi
- Trong thực tế bản thân các em học sinh cá biệt cũng có những điểm
mạnh, những mặt tích cực, có những ý kiến, nhận xét nhanh, tinh ý, nhiệt tình
trong các hoạt động ngoại khóa, thích thể hiện mình ….
- Các tiêu chí trong phong trào“Trường học thân thiện, học sinh tích
cực” của Bộ Giaó dục và Đào tạo giúp giáo viên vận dụng thiết thực hơn, sâu
sát hơn trong việc giáo dục học sinh nói chung, vả lại rất phù hợp để HSCB
rèn luyện, hòa nhập với tập thể, từ đó các em phát triển một cách toàn diện.
- Một số phụ huynh học sinh rất quan tâm việc học của con em. Hơn


nữa, các em là học sinh THCS, tuổi còn nhỏ, dễ uốn nắn. Đa số học sinh ở gần
trường, thuộc địa phương, có lối sống giản dị, chân chất
- Đặc biệt, nhận được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo trong và ngoài
nhà trường một cách chu đáo cùng với sự phối kết hợp nhiệt tình giữa Phụ
huynh học sinh với Giáo viên chủ nhiệm
- Kinh tế địa phương nói chung, ở mỗi gia đình nói riêng có sự tăng
trưởng đáng kể. Sự liên hệ giữa giáo viên với phụ huynh, ngược lại giữa phụ
huynh với giáo viên và nhà trường kịp thời
2.Hạn chế
Học sinh cá biệt (HSCB) là học sinh chưa tốt về đạo đức, lười nhác học
tập, ví dụ như: Càn quấy, ý thức tổ chức kỷ luật kém, thích “chơi trội” theo
kiểu con nhà đại gia giàu có cụm lại với nhau đối lập với tập thể lớp, thích ăn
chơi phá phách hơn là học hành tử tế, kết quả học tập thất thường, sút kém,
luôn xếp “đội sổ”, … dẫn đến chán học. Những học sinh này thường lười
biếng trong học tập, một số hay trốn học và lảng tránh các hoạt động tập thể.
Biểu hiện thường thấy ở các em là hay ngủ gật trong giờ học, lười chép bài,
học bài nhưng lại tỏ ra rất nhanh trí trong những trò tinh nghịch với thầy cô,
bè bạn. Chúng thường trêu ngươi, khiêu khích bạn bè, thầy cô giáo để thỏa
mãn những nhu cầu tinh nghịch được xếp sẵn trong đầu.
GIÁO VIÊN: DỤNG THỊ EM

Trang 2


SKKN VỀ VIỆC GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT GẮN VỚI PHONG TRÀO “THTT – HSTC”

Điều đó làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục trong nhà trường, trật tự trị
an xã hội và quan trọng hơn là ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai cuộc sống
của các em sau này.
Tuy nhiên, những em học sinh này thường phải chịu nhiều áp lực thiệt
thòi từ chính thầy cô và các bạn trong lớp. Giáo viên chủ nhiệm hoặc giáo
viên bộ môn có khi chỉ dựa vào cảm tính mà trách mắng phạt tội. Chỉ cần một
lời nói, môt hành động mà thầy cô cho là không đúng thì học sinh cá biệt lại bị
ấn tượng, quy chụp … Các em đã kém lại càng kém hơn và không thể hoà
đồng được cùng các bạn trong lớp, như một vết thương không được chữa lành,
các em sẽ chán nản và tiếp tục vi phạm.
Thực trạng những mặt trái của xã hội: sự thiếu quan tâm của gia đình;
những éo le trong cuộc sống gia đình ảnh hưởng rất lớn đến sự hư đốn của các
em. Hay nói một cách khác là đạo đức các em yếu kém. Ở Trung học cơ sở
hiện nay, điều đáng lo ngại cho giáo viên là tỉ lệ học sinh chưa tốt về mặt đạo
đức tương đối cao, tỉ lệ này không giảm mà tăng hàng năm.
Khi đạo đức yếu kém thì học lực cũng tỉ lệ thuận với nó. Điều này sẽ
dẫn đến hệ quả, các em kiến thức bị hỏng dẫn đến mất căn bản; điểm kiểm tra
thấp so với các bạn cùng lớp làm các em mặc cảm đưa đến hiện tượng sợ bị
kiểm tra, tiếp theo là chán học và cuối cùng nảy sinh bỏ học. Những em này
phát sinh tính xấu là nói dối thường xuyên nhằm tìm cách che đậy hoặc chối
tội.
3.

Nguyên nhân

Thực tế cho thấy có nhiều nguyên nhân dẫn đến hành vi của học sinh cá
biệt. Chúng tôi cho rằng, các em làm việc gì đó nếu có sai trái, xuất phát có
thể do bản năng hoặc bệnh a dua hay bệnh lấy lệ… nên khi làm không lường
được hậu quả việc làm sai trái của mình. Thậm chí các em còn nghĩ làm như
vậy là không sai. Sau nhiều năm nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy tập trung ở
các nguyên nhân:
* Nguyên nhân chủ quan
Trong gia đình, bố mẹ sống không hạnh phúc, sống ly thân, ly hôn (có
rất nhiều học sinh cá biệt đều có hoàn cảnh này). Có gia đình phương pháp
dạy con không đúng hoặc quá chủ quan, tin con mình đã ngoan, đã tốt … có
gia đình thiếu quan tâm, kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở, động viên các em trong
học tập, vui chơi. Có gia đình phó thác việc giáo dục con cái cho thầy cô giáo,
chỉ biết làm ăn, đến khi hối hận thì đã muộn. Có gia đình cuộc sống thiếu lành
mạnh như có người nghiện ma túy, rượu chè, cờ bạc... khiến con cái mất niềm
tin, sa vào các thói hư tật xấu, trở thành HSCB. Một số gia đình do nuông
chiều, thỏa mãn những đòi hỏi kỳ quặc của con cái cũng vô tình tạo cho các
em trở thành những người sống ích kỷ, nhỏ nhen, ….

GIÁO VIÊN: DỤNG THỊ EM

Trang 3


SKKN VỀ VIỆC GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT GẮN VỚI PHONG TRÀO “THTT – HSTC”

* Nguyên nhân khách quan
- Học sinh bị bạn bè lôi kéo, mải chơi, sớm có những mối quan hệ tình
yêu không lành mạnh, thích đua đòi, ăn diện.
- Tư chất của học sinh chậm trong nhận thức, hỏng kiến thức từ lớp
dưới nên chán học, thường hay nghịch phá, mất trật tự.
- Sức ép trong thi cử, sức ép của gia đình, nhà trường và xã hội đã khiến
cho học sinh căng thẳng, rơi vào lối sống trầm cảm, tự ti về bản thân mình.
Trong tất cả các nguyên nhân, ý thức và suy nghĩ của các em còn
non nớt là nguyên nhân chính
Với thực trạng trên, vai trò người thầy rất quan trọng trong việc rèn
luyện, giáo dục các em chưa ngoan trở thành học sinh ngoan. Tác động của
thầy cộng hưởng với năng lực tự học, tự rèn luyện của trò tạo ra chất lượng
hiệu quả giáo dục. Đặc biệt, tạo nhiều sân chơi, nhiều hoạt động cho các em
gắn với những nội dung tiêu chí THTT – HSTC cũng là một hình thức giáo
dục tốt. Chính từ điều đó đã cho chúng tôi những suy nghĩ là phải tìm biện
pháp giúp các em lấy lại kiến thức căn bản, tinh thần học tập và ngoan ngoãn
hơn
II.

Cơ sở lý luận của vấn đề:

Từ “Cá biệt” hiểu theo nghĩa thông thường có nghĩa là riêng lẻ, không
phổ biến, không phải là điển hình. Khi ta gọi “Học sinh cá biệt” thường để ám
chỉ những học sinh có những khuyết điểm về học tập, rèn luyện nhân cách.
Tuy nhiên, “cá biệt” còn bao hàm để chỉ những học sinh có thành tích cao nổi
bật, những học sinh có sáng kiến trong lớp. Vì thế, thống nhất cách hiểu,
chúng tôi tập trung nghiên cứu vào đối tượng học sinh cá biệt là những em
chưa ngoan, có nhiều vi phạm và những học sinh thường tự ti, trầm cảm trong
lớp.
“Học sinh cá biệt” ở đây là từ chuyên dùng để chỉ học sinh có biểu hiện
kém về đạo đức, thích “chơi trội”, ham chơi, lười học. Tuy nhiên, ẩn chứa
đằng sau mỗi học sinh này lại có đặc điểm là một hoàn cảnh rất riêng, một cá
tinh đặc biệt chưa được phát huy đúng hướng. Mặt tiêu cực của xã hội, sự
quan tâm chưa đúng cách của gia đình, hay phương pháp giáo dục chưa phù
hợp đều ảnh hưởng rất xấu đến sự hình thành nhân cách của các em.
Học sinh hiếu động, nghịch ngợm, ham chơi, lười học chưa chắc đã
hư. Mà chủ yếu là do các em chưa có môi trường và phương pháp giáo dục,
đào tạo thích hợp. Các em hiếu động, mải chơi không ai quản lý thì trở nên
lười học, nghiện điện tử, bị xem là “học sinh cá biệt”. Hầu hết các em khi vào
học đều có lực học yếu và trung bình, tất cả do mất căn bản từ trước. Nếu nói
trường học, lớp học là một xã hội thu nhỏ, thì ngoài xã hội có loại cá biệt nào,
trong trường học có loại cá biệt đó. Có học sinh mệnh danh là “Chí Phèo” vì
tính cách ngang bướng, có học sinh được gán cho biệt danh “chầy cối”, bởi

GIÁO VIÊN: DỤNG THỊ EM

Trang 4


SKKN VỀ VIỆC GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT GẮN VỚI PHONG TRÀO “THTT – HSTC”

hay cãi “ ba bửa”, chọc cười gây rối trong lớp. Có học sinh lý lẽ theo kiểu
“thắng lợi tinh thần”, học giỏi để làm gi? Cũng có học sinh đến lớp để vỗ
ngực dương dương tự đắc “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba là… mỗ đây”.
Xuất phát từ thực tế tình hình học sinh cá biệt, từ mục tiêu của chương
trình giáo dục Trung học cơ sở (THCS) là “ Giúp học sinh củng cố, phát triển
những kết quả của giáo dục Tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở
và những hiểu biết ban đầu về kĩ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học Trung
học phổ thông, trung cấp học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”. Và điều
2 Luật Giáo dục Việt Nam năm 2005 nêu rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo
con người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm
mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, hình
thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân đáp ứng
yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Chúng tôi thiết nghĩ: để
đáp ứng đúng với mục tiêu đào tạo như trên thì Nhà trường phải quan tâm và
có phương pháp giáo dục đối với học sinh, đặc biệt là học sinh cá biệt, giúp
các em hình thành nhân cách và phát triển một cách toàn diện
Bởi vì giáo dục học sinh cá biệt có một ý nghĩa rất to lớn đối với xã
hội; thành công trong giáo dục học sinh cá biệt sẽ góp phần quan trọng trong
việc giữ gìn an ninh trật tự xã hội và cung cấp cho xã hội những công dân tốt.
Đối với gia đình, cha mẹ học sinh, việc giáo dục học sinh cá biệt sẽ đem lại
nguồn hạnh phúc lớn lao cho họ, giúp họ tránh được nỗi bất hạnh lớn nhất là
con cái hư hỏng. Đối với tập thể lớp, đó là điều kiện đảm bảo cho lớp ổn định,
trật tự, nề nếp, các thành viên trong lớp sẽ cùng nhau tu dưỡng và học tập đạt
kết quả tốt.
III. Các biện pháp tiến hành để giải quyết vấn đề:
Giáo dục, rèn luyện học sinh học cá biệt cần biết kết hợp với nội dung
các tiêu chí THTT - HSTC, giúp các em có ý thức tự học, biết cố gắng vươn
lên. Trường hợp này hay ở trường hợp khác, điều mà chúng tôi đặt lên trên hết
là phải hướng các em gần gũi nhiều hơn với tập thể lớp, với tình thương của
người thầy. Ngoài học tập nội khóa, chúng ta nên động viên các em tham gia
các chương trình vui chơi ngoại khóa của nhà trường theo nội dung tiêu chí
của THTT – HSTC, giúp các em tham gia nhóm học tốt, giao lưu nhiều mặt
tình cảm để các em có niềm tin, có ý chí, bản lĩnh . Để làm được điều đó, bản
thân Giaó viên chủ nhiệm (GVCN) thực hiện những bước sau:
1. Bước thứ nhất: Tìm hiểu, nắm bắt thông tin
* Mục đích: là nắm bắt tình hình cụ thể từng học sinh trong lớp để có kế
hoạch giáo dục cho mỗi nhóm đối tượng. Từ đó, giúp giáo viên có thêm
những hiểu biết về tâm lý, tính cách, nhận thức của các em, tạo được tình
cảm, sự tin cậy của học sinh đối với mình; giúp các em ý thức được rằng thầy
cô giáo luôn quan tâm và sẵn sàng giúp đỡ khi các em cần và phần nào sẽ
giảm đi sự căng thẳng cũng như sự tự ti, trầm cảm ở các em

GIÁO VIÊN: DỤNG THỊ EM

Trang 5


SKKN VỀ VIỆC GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT GẮN VỚI PHONG TRÀO “THTT – HSTC”

* Cách làm cụ thể: Giáo viên chủ nhiệm (GVCN)
- Điều tra số HSCB của lớp, nghiên cứu hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh
sống của học sinh (vì 60% học sinh chưa ngoan, cá biệt là do ảnh hưởng từ gia
đình) như là: nghề nghiệp cụ thể của bố, mẹ, thu nhập hàng ngày của gia đình,
quan hệ giữa các thành viên trong gia đình? Gia đình êm ấm, hạnh phúc hay
thường xuyên có mâu thuẫn? (GVCN có thể thông qua bạn bè, phụ huynh
hoặc trò chuyện trực tiếp với học sinh để nắm bắt)
- Nghiên cứu hồ sơ học sinh vào đầu năm học bằng cách tiến hành phát
cho mỗi học sinh 01 tờ hồ sơ học sinh. Trong đó, học sinh sẽ khai đầy đủ các
thông tin lý lịch về bản thân, sở thích, ước mơ, nguyện vọng … Qua hồ sơ
này, dễ dàng nắm bắt được những đặc điểm tâm sinh lý của các em
- Nghiên cứu qua học bạ về kết quả học tập, rèn luyện của học sinh qua
những năm học trước đó. Nghiên cứu những nhận xét, đánh giá của bạn bè
đặc biệt là cha mẹ học sinh, qua chính quyền địa phương, qua các tổ chức
đoàn, đội … Nghiên cứu hoạt động giao tiếp giữa giáo viên với học sinh trong
giờ ra chơi, trong các giờ sinh hoạt lớp, trong tiết học,…
Đối với những giáo viên dạy môn Ngữ văn có thể phân loại được học
sinh bằng chính những đề văn kiểm tra trên lớp. Giáo viên có thể ra một số đề
bài như: “Em hãy tâm sự với thầy (cô) về bản thân mình”, “Em hãy viết bài
văn tự sự kể về bản thân mình”, “Suy nghĩ của em về những người xung
quanh” ... Qua những đề văn này, các em HSCB có cơ hội để tâm sự, chia sẻ
với thầy cô rất nhiều.
Từ những nghiên cứu trên, Giaó viên có thể phân loại HSCB theo nhóm
để dễ giáo dục. Ví dụ:
- Nhóm 1: Cá biệt là do vi phạm nội quy của Nhà trường, của lớp: mất
trật tự trong giờ học, lười học bài, đi học muộn …(Số lượng, tên, nơi ở cụ thể)
- Nhóm 2: Cá biệt là do ham chơi điện tử, sẵn sàng bỏ học, lừa dối bố
mẹ, thầy cô.…(Số lượng, tên, nơi ở cụ thể)
- Nhóm 3: Cá biệt là do vi phạm những chuẩn mực đạo đức: hỗn láo
với thầy cô giáo, cha mẹ, hay nói tục chữi bậy …(Số lượng, tên, nơi ở cụ thể)
- Nhóm 4: Cá biệt là do đánh bạn, trộm cắp, trấn lột, cờ bạc…(Số
lượng, tên, nơi ở cụ thể)
- Nhóm 5: Cá biệt là do tự ti, trầm cảm, ngại tiếp xúc với thầy cô, bạn
bè, hoang mang, sợ hãi, tiêu cực trong suy nghĩ…(Số lượng, tên, nơi ở cụ
thể)
2. Bước thứ hai: Kế hoạch thực hiện
* Mục đích: Giúp học sinh có được tiêu chuẩn và tiêu chí hoạt động
hàng tuần để tự hoàn thiện mình. Từ kế hoạch này, GVCN cũng có thể đánh
giá mức độ tiến bộ của từng em một cách khách quan, công bằng và tuyên
dương, khen thưởng kịp thời đối với những em có tiến bộ. Qua đó, khắc phục
GIÁO VIÊN: DỤNG THỊ EM

Trang 6


SKKN VỀ VIỆC GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT GẮN VỚI PHONG TRÀO “THTT – HSTC”

được tình trạng các em bị bạn bè lôi kéo, mải chơi, có những hành vi sai trái;
giúp các em làm chủ bản thân, nhận thức được việc nên làm và những việc
cần tránh. Từ đó các em sẽ tự tin phấn đấu khi thấy được mức độ tiến bộ của
mình cũng như các bạn khác
* Cụ thể:
GVCN xây dựng CÁC TIÊU CHUẨN VÀ TIÊU CHÍ CỦA “LỚP
HỌC THÂN THIỆN, TÍCH CỰC” dựa vào nội dung tiêu chí THTT – HSTC
của Bộ Giáo dục và Đào tạo ( thông qua cuộc họp Phụ huynh học sinh đầu
năm học để tạo sự thống nhất trong Phụ huynh học sinh với GVCN) để làm
chuẩn đánh giá hàng tuần, tháng về đạo đức tác phong học sinh của lớp:
TIÊU CHUẨN 1: LỚP HỌC SẠCH ĐẸP, AN TOÀN
Tiêu chí 1: Vệ sinh trong và ngoài lớp học
- Lớp học phải luôn đảm bảo có chổi, giỏ rác.
- Luôn giữ lớp sạch sẽ, không xả rác bừa bãi.
- Phải tham gia chăm sóc, dọn vệ sinh khu vực nhà trường phân công có
hiệu quả. Thường xuyên tưới và chăm sóc bồn hoa của lớp
Tiêu chí 2: Trang trí lớp học:
- Lớp phải có ảnh Bác Hồ; bảo vệ rèm tránh nắng gọn gàng, sạch, đẹp
- Giữ tường, bảng của lớp học sạch sẽ, không có các vết bẩn.
- Bàn học luôn sắp xếp gọn gàng, không viết và vẽ lên bàn.
Tiêu chí 3: Lớp học an toàn:
- Các thành viên trong lớp đoàn kết, giúp đỡ nhau trong học tập, cuộc
sống. Thực hiện nội quy lớp học, nội quy nhà trường nghiêm túc
- Không gây gỗ, đánh nhau trong và ngoài lớp, ngoài trường. Biết nhận
lỗi, biết xin lỗi và nhanh chóng khắc phục khi có hành vi sai
- Không vi phạm luật ATGT.
- Mọi thành viên trong lớp phải có ý thức gìn giữ và bảo vệ hệ thống
điện, bàn ghế trong phòng học.
- Không mang các hung khí hoặc các vật dụng gây sát thương vào
trường, lớp học.
TIÊU CHUẨN 2: CÓ CÁC TIẾT HỌC TÍCH CỰC TRONG TUẦN.
Tiêu chí 4: Số lượng tiết học tích cực
Trung bình mỗi tuần lớp phải có ít nhất 10 tiết học tích cực ( không tính
những tuần thi và nghỉ quá ½ số tiết học trong tuần ).

GIÁO VIÊN: DỤNG THỊ EM

Trang 7


SKKN VỀ VIỆC GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT GẮN VỚI PHONG TRÀO “THTT – HSTC”

Tiêu chí 5: Yêu cầu tiết học tích cực:
- Là tiết học tốt
- Số HS vắng không quá 2 HS trong tiết học, không có HS vắng học
không lý do.
- HS tham gia xây dựng bài sôi nổi và có ít nhất 80% HS xung phong
tham gia xây dựng bài. Cao hơn là HS có khả năng xây dựng và thuyết trình,
tranh luận một phần hay cả bài học.
- Không có HS bị điểm yếu, kém trong tiết học.
TIÊU CHUẨN 3: CÓ CÁC HOẠT ĐÔNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG
SỐNG, SINH HOẠT TẬP THỂ, ỨNG XỬ, GIAO TIẾP.
Tiêu chí 6: Đối với cán bộ lớp:
- Phải tham gia đầy đủ các đợt tập huấn kỹ năng của Đoàn, Đội.
- Tập huấn lại được cho các thành viên trong lớp.
- Gương mẫu, nhiệt tình trong mọi công tác.
Tiêu chí 7: Đối với tập thể lớp:
- Biết được các kỹ năng sống cơ bản sau khi được tập huấn.
- Ứng xử có văn hóa, gọi bạn xưng tên; không văng tục, chữi thề.
- Có các buổi sinh hoạt chi đội và sinh hoạt 15 phút đầu buổi hiệu quả;
được Đội đánh giá trên 80% các tiết sinh hoạt loại Tốt, không có các tiết sinh
hoạt bị xếp loại yếu.
- Có kỹ năng sinh hoạt tập thể: tổ chức được các trò chơi nhỏ, múa hát
tập thể, tham gia đồng diễn …. khi được yêu cầu.
CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ, KHEN THƯỞNG:
- GVCN cùng với phân hội PHHS sẽ tổng kết đánh giá 2 lần một năm,
khen thưởng vào cuối học kỳ I và cuối năm học. Để có cơ sở khen thưởng, sau
mỗi tuần, cá nhân học sinh dựa vào tiêu chuẩn và tiêu chí trên đánh giá ưu –
khuyết điểm của mình, các em tự so sánh mức độ tiến bộ của mình ở tuần sau
so với tuần trước, tự mình đưa ra hướng khắc phục khuyết điểm và hướng
phấn đấu của bản thân trong tuần tới; mang về cho phụ huynh xác nhận, sau
đó GVCN cùng cán bộ lớp thu lại, đánh giá, xem xét để xếp loại thi đua Tổ,
xếp loại hạnh kiểm cá nhân
- Những học sinh thực hiện tốt các tiêu chí “ Lớp học thân thiện, tích
cực” sẽ được xếp loại hạnh kiểm tốt và được tuyên dương trong tuần, tháng và
được khen thưởng vào cuối học kỳ I và cuối năm học.
- Những học sinh chưa đạt, GVCN động viên, khuyến khích phấn đấu
vươn lên bằng những tấm gương điển hình trong lớp
GIÁO VIÊN: DỤNG THỊ EM

Trang 8


SKKN VỀ VIỆC GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT GẮN VỚI PHONG TRÀO “THTT – HSTC”

3. Bước thứ ba: Giáo dục trực tiếp và kết hợp mọi nguồn lực trong và
ngoài nhà trường
* Mục đích: Tạo điều kiện cho các em nhận thức một cách đầy đủ vai
trò, trách nhiệm của mình đối với gia đình, nhà trường và địa phương. Cho các
em nhận thấy là không những gia đình, thầy cô, bạn bè, nhà trường mà toàn xã
hội đang quan tâm, giúp đỡ các em, sẵn sàng tạo mọi điều kiện cho các em
hoàn thành nhân cách để phát triển một cách toàn diện. Từ đó đánh thức ý
thức và suy nghĩ cầu tiến ở mỗi em, dẫu cha mẹ có ly hôn, hay gia đình mâu
thuẫn,… các em vẫn tự tin rằng bên mình còn có thầy cô, nhà trường và cả xã
hội giúp đỡ, các em sẽ phần nào hạn chế được thói ích kỷ, nhỏ nhen trong
nhận thức, sống hòa nhập và biết quan tâm đến mọi người
* Cách làm cụ thể:
a. Đối với bản thân học sinh cá biệt
- Giaó viên chủ nhiệm thường xuyên gặp riêng các em nếu em đó
thường xuyên mắc lỗi; bằng tình cảm chân thành, bình tĩnh, nhẹ nhàng, tế nhị,
giáo viên phân tích có lý, có tình, mức độ nguy hại của khuyết điểm - thức
tỉnh học sinh bằng những câu chuyện đạo đức để cảm phục các em. Vì giáo
dục đạo đức là nền tảng để giáo dục tri thức, tài năng cho học sinh, nhất là
những học sinh cá biệt. Ngoài ra, giáo viên còn thường xuyên trò chuyện,
quan tâm, gần gũi, nhắc nhở, động viên các em học tập, có thái độ thân thiện
với các em. Làm cho các em nhìn mình là cảm thấy gần gũi, chứ không phải
gặp mình là sợ bị la, sợ bị mắng. Giaó viên chủ nhiệm phải làm sao tạo cho
học sinh có cảm giác mình như là một người bạn thân, bạn tâm tình, sẵn sàng
lắng nghe ý kiến của các em, khi vui, khi buồn đều có thể chia sẻ. Thầy cô sẽ
khích lệ khi các em khó khăn trong gia đình, bế tắc trong học tập.
- Giáo viên cần hướng dẫn cụ thể những việc mà học sinh hỏi (Như
cách giải bài tập, cách soạn bài, cách làm việc hoặc một vấn đề nhỏ nào đó,
…), tránh để học sinh cảm thấy mình lạc lỏng, cảm giác vì mình học dở nên
không ai quan tâm, ai cũng khinh mình, không ai thèm chơi, để ý đến mình
- Tin tưởng giao công việc tập thể phù hợp với khả năng của học sinh cá
biệt (như là đóng cửa sổ, tắt điện, quạt trước khi ra về, …). Đây là việc làm
mang tính 2 mặt, đòi hỏi giáo viên chủ nhiệm phải thường xuyên giám sát,
kiểm tra và động viên kịp thời khi học sinh quên thực hiện, tuyên dương ngay
khi HS làm được dù đó là thành tích nhỏ nhất.
- Tổ chức hoạt động tập thể, hoạt động nhân đạo (như giúp đỡ những
bạn học sinh khó khăn của lớp, trường, …) để tạo điều kiện cho học sinh cá
biệt tham gia, xây dựng môi trường lành mạnh, tích cực, để các em có cơ hội
tự thể hiện mình. Công tác này thực sự đặc biệt có ý nghĩa đối với học sinh
trầm cảm, tự ti. Các em sẽ mạnh bạo, tích cực hơn trong học tập và rèn luyện.
Cho các em tham gia và thực hiện tốt các chuyên đề ngoại khoá, rèn luyện kỹ
năng sống để các em tiến bộ.
GIÁO VIÊN: DỤNG THỊ EM

Trang 9


SKKN VỀ VIỆC GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT GẮN VỚI PHONG TRÀO “THTT – HSTC”

- Tổ chức cho tập thể lớp quan tâm tận tình giúp đỡ dưới mọi hình thức
như: thăm hỏi, động viên, tổ chức đôi bạn, nhóm bạn cùng tiến. Giáo viên chủ
nhiệm có thể lấy tấm gương tốt trong tập thể lớp, trường, hoặc chính một học
sinh cá biệt đă tiến bộ để cảm hoá học sinh cá biệt.
- Áp dụng quy định thưởng, phạt “phân minh, nghiêm túc, công bằng”
để học sinh cá biệt có động lực, mục tiêu phấn đấu.
- Thầy cô luôn là tấm gương về đạo đức, về lối sống, về trình độ chuyên
môn (Trang phục lên lớp phải nghiêm túc, lên lớp đúng giờ, nhiệt tình, chuẩn
mực trong hành vi, cử chỉ, lời nói với học sinh,…). Đồng thời, thầy cô chủ
nhiệm phải luôn có tình cảm yêu thương, niềm tin động viên học sinh bởi
“Chỉ có tấm lòng mới đánh thức được tấm lòng”. Giáo viên chủ nhiệm cần
phải khéo léo, linh hoạt, trong mỗi trường hợp cụ thể, biết tập hợp và sử dụng
sức mạnh của các yếu tố giáo dục nhằm rèn luyện học sinh cá biệt. Giáo viên
chủ nhiệm cần tuyệt đối tránh tư tưởng định kiến, cách cư xử thiếu sư
phạm đối với học sinh.
b. Kết hợp với gia đình cha mẹ học sinh cá biệt và khu dân cư:
* Với gia đình:
- Trong cuộc họp cha mẹ học sinh đầu năm, GVCN phát cho cha mẹ
học sinh nghiên cứu trước một tuần CÁC TIÊU CHUẨN VÀ TIÊU CHÍ
CỦA “LỚP HỌC THÂN THIỆN, TÍCH CỰC” . GVCN không chỉ chia sẻ
với cha mẹ học sinh cách giáo dục con cái mà còn tạo được sự thống nhất
những quan điểm giáo dục với cha mẹ học sinh.
- Trao đổi thẳng thắn, chân thành đối với cha mẹ học sinh để hiểu được
hoàn cảnh gia đình, tính cách của học sinh cá biệt. Đây là hoạt động rất quan
trọng bởi hầu hết những học sinh cá biệt đều do ảnh hưởng từ nền tảng giáo
dục của gia đình.
- Tổ chức thăm gia đình học sinh nhằm tạo thiện cảm tốt đối với học
sinh cá biệt và với cha mẹ học sinh. Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên trao
đổi, gọi điện liên hệ với gia đình học sinh để từ đó hiểu rõ hơn về học sinh.
* Với khu dân cư:
- Kết hợp với địa phương, khu dân cư, Hội cha mẹ học sinh ở địa
phương để theo dõi giáo dục, ngăn chặn kịp thời những học sinh vi phạm, tạo
mối quan hệ chặt chẽ giữa Gia đình – Nhà trường – xã hội.
Ví dụ lấy trường hợp một học sinh có hoàn cảnh gia đình đáng thương,
cha mẹ ly dị nhau, tình cảm của em đó bị tổn thương, ảnh hưởng đến chất
lượng học tập, hậu quả là em học yếu các môn, dẫn đến tình trạng chán học,
trốn học. GVCN liên hệ và kết hợp chặt chẽ với phụ huynh, nên dành nhiều
thời gian để gần gũi với em như một người cha, người mẹ, giúp em thấy được
ngoài tình cảm gia đình còn có tình cảm thầy cô và bạn bè ở trường, tạo cho
em thấy được mỗi ngày đến trường là một niềm vui.
GIÁO VIÊN: DỤNG THỊ EM

Trang 10


SKKN VỀ VIỆC GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT GẮN VỚI PHONG TRÀO “THTT – HSTC”

c. Kết hợp với giáo viên bộ môn (GVBM) và nhà trường:
Giáo dục HSCB còn một yêu cầu quan trọng, thầy, cô phải giỏi nghề.
Thầy, cô luôn cải tiến, đổi mới phương pháp giảng dạy. Tiết sau “mới” hơn
tiết trước. Sau một tiết học, trò học được nhiều tri thức bổ ích tạo nên sự đam
mê học hỏi, khám phá tự tin, khẳng định mình. Thầy, cô biết “cuốn” học sinh
vào trò chơi học tập, sẽ “lấp” thời gian “chết”, trò không “nhàn cư…” nghịch,
đánh cờ ca rô, nhắn tin… ngay trong tiết học.
Đừng nghĩ HSCB, bộ mặt lúc nào cũng câng câng, bất cần đời và có
“trái tim đá”. Dưới vẻ mặt lạnh lùng, vô cảm là sự hụt hẫng tình thương. Phải
là những thầy cô giáo giàu kinh nghiệm, có cách đối nhân xử thế bao dung, vi
tha, kiên nhẫn mới “phá” được “lô cốt” tưởng là “bất khả xâm phạm”, đem
đến cho các em hơi ấm của tình người, để các em biết người tốt chung quanh
ta, nhiều lắm! Giáo dục HSCB là một nghệ thuật, nghệ thuật dạy trẻ. Thầy, cô
đứng trên bục giảng phải đóng nhiều vai: Tác giả kịch bản, đạo diễn, diễn
viên, cả khán giả - tức học sinh ngồi nghe giảng trên lớp. Làm thầy, nhưng
phải hiểu trò đang nghĩ gì, làm gì trong giờ học. Bài giảng là một “món ăn”,
nếu nhàm chán, học trò sẽ bỏ ăn-bỏ học.
Thực tế trong nhà trường hiện nay, việc giáo dục HSCB chủ yếu là do
giáo viên chủ nhiệm phụ trách, nhưng thời gian dành cho công tác chủ nhiệm
không nhiều. Thường thì mỗi giáo viên chủ nhiệm tiếp xúc với lớp chủ nhiệm
khoảng 6-7 tiết/tuần, nhưng cũng có giáo viên chỉ có tiếp xúc với lớp không
quá 3 tiết/tuần. Vì vậy GVCN thông qua GVBM để nắm bắt tình hình của học
sinh sau mỗi buổi học, mỗi tuần học qua sổ đầu bài hoặc trao đổi trực tiếp.
Cụ thể: Trước tiên GVCN cung cấp cho GVBM thông tin về học sinh
cá biệt của lớp và từ GVBM, GVCN sẽ có được thông tin về chất lượng học
tập của từng em ở mỗi bộ môn. Hàng buổi, GVCN nắm bắt tình hình học tập
của học sinh thông qua sổ đầu bài (SĐB) hoặc gặp gỡ trao đổi trực tiếp với
GVBM. Thế nên, GVCN cần thường xuyên xem SĐB sau mỗi buổi học để kịp
thời uốn nắn sữa sai những biểu hiện tiêu cực của các em mà GVBM đã xác
nhận. GVCN có thể gặp trực tiếp GVBM để bàn biện pháp giáo dục học sinh
nếu các em có những biểu hiện tiêu cực nghiêm trọng. Ngoài ra, GVCN cần
dành thời gian gần gũi với các em, lắng nghe ý kiến nhận xét của các em đối
với GVBM để có sự điều chỉnh hài hòa từ hai phía. Việc này đòi hỏi GVCN
phải khéo léo, tế nhị trong ứng xử và giải quyết tình hình, GVBM phải bình
tĩnh nhìn nhận một cách khách quan với chính bản thân. Có như vậy thì việc
phối kết hợp giữa GVCN và GVBM mới đạt hiệu quả cao
Bên cạnh đó, kết hợp với nhà trường, Đoàn, Đội tổ chức nhiều hoạt
động ngoại khóa có tính hấp dẫn, bổ ích theo tiêu chí THTT - HSTC; giúp cho
các em phát huy tính hiếu động sáng tạo, tinh thần tập thể, cộng đồng (như tổ
chức trò chơi dân gian, các cuộc thi đố vui học tập,…).

GIÁO VIÊN: DỤNG THỊ EM

Trang 11


SKKN VỀ VIỆC GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT GẮN VỚI PHONG TRÀO “THTT – HSTC”

Đặc biệt, Đội thiếu niên tiền phong là môi trường để các em rèn luyện
tốt nhất qua các buổi sinh hoạt chủ điểm hoặc tổ chức cho các em tham gia
tìm hiểu, chăm sóc các di tích lịch sử, văn hóa ở địa phương, tổ chức cho các
em báo công mỗi tuần làm một việc tốt (như tưới cây, nhặt rác, chăm sóc hoa,
nhặt của rơi trả lại người mất, giúp bạn …)
Hiện nay, các hoạt động, phong trào trong nhà trường có, nhưng chủ
yếu dành cho học sinh giỏi, chưa tổ chức được cho học sinh cá biệt cùng hòa
nhập để phát huy và nhìn chung các hoạt động phong trào còn nghèo nàn,
mang tính hình thức, chưa lôi cuốn đông đảo học sinh tham gia.
Kết hợp chặt chẽ với giáo viên bộ môn vừa để hiểu hơn về học sinh vừa
giúp học sinh có những cố gắng ở từng môn học. Đồng thời, kết hợp chặt chẽ
với Ban giám hiệu, Đoàn, Đội thiếu niên để thống nhất biện pháp giáo dục học
sinh cá biệt.
Từ đó tránh đối xử thô bạo, trách móc, phạt quỳ, đánh mắng các em,
tôn trọng nhân cách các em. Cha mẹ, anh chị, thầy cô, bè bạn cần phải gần
gũi, cảm thông, chia sẻ, tạo điều kiện và cơ hội để các em HSCB sửa chữa
những lỗi lầm, khuyết điểm; giúp các em lấy lại lòng tin, lòng tự trọng. Đừng
bao giờ để các em đánh mất niềm tin ở chính bản thân mình. Giáo dục HSCB
là một công việc khó khăn, phức tạp, hết sức nhạy cảm, đòi hỏi sự kiên trì,
lòng nhiệt tình và tình thương yêu chân thành của thầy cô giáo của nhà trường
nói chung và thầy cô giáo bộ môn nói riêng.
Phần lớn những ai quan tâm đến sự nghiệp Giaó dục, đều luôn tự hỏi:
Công tác giáo dục đạo đức trong nhà trường được xuyên suốt từ bé đến lớn
(Bậc Mầm non là giáo dục lễ giáo, Tiểu học là môn đạo đức, tới Trung học là
môn giáo dục công dân). Thế nhưng, vấn đề đạo đức học sinh đang là sự lo
lắng, bức xúc của xã hội?
Công tác quản lý của Nhà trường nên thường xuyên quan tâm, chú ý
đến công tác giáo dục học sinh cá biệt và ghi nhận kết quả giáo dục học sinh
cá biệt của Giáo viên chủ nhiệm. Sự quan tâm của nhà trường sẽ động viên
Giáo viên chủ nhiệm hoàn thành tốt được nhiệm vụ quan trọng này.
d. Nếu HSCB phạm lỗi có tính chất nghiêm trọng hoặc thường
xuyên:
Học sinh cá biệt: là những học sinh thường có sự bất thường về tính
cách, không có động cơ học tập, tâm lý không ổn định. Chẳng hạn khi ở lớp
học đang yên lặng làm bài tập thì em đó bỗng la lớn lên khi làm bài được,
thích học thì học, không thích thì đùa giỡn, quậy phá các bạn kế bên, chọc cho
bạn giỡn, nói chuyện với mình, tâm trạng thì "mưa nắng thất thường" hoặc
thầy cô đang giảng về vấn đề này lại hỏi vấn đề khác. Vậy ta phải giáo dục cac
em ra sao?
Đầu tiên chúng ta tìm hiểu nguyên nhân, trong cái chung có những cái
riêng của từng đối tượng, hoàn cảnh gia đình, năng lực bản thân, ảnh hưởng
GIÁO VIÊN: DỤNG THỊ EM

Trang 12


SKKN VỀ VIỆC GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT GẮN VỚI PHONG TRÀO “THTT – HSTC”

bạn bè… trên cơ sở coi trọng giáo dục hơn trừng phạt. Tùy theo mặt học lực
hay hạnh kiểm mà định hướng cách rèn luyện nhưng từ một mục đích chung
là hướng các em vào lối sống tập thể, biết hòa mình và thấy được tình yêu
thương của tập thể lớp, đó là cốt lõi đầu tiên để đánh vào tư tưởng suy nghĩ
ban đầu của học sinh. Nên xử lý mềm mỏng, thậm chí dịu ngọt đối với học
sinh cá biệt này, nếu không sẽ không có hiệu quả, có khi gặp phản ứng không
tốt ngược trở lại về phía học sinh. Tuy nhiên đôi lúc cũng phải cứng rắn trong
vấn đề xử phạt "mềm nắn, rắn buông".
Nếu học sinh có thói hư tật xấu phạm lỗi trầm trọng cũng có thể tùy
trường hợp hay tùy đối tượng mà xử lí, ta không xử lí một cách cứng nhắc. Dù
lỗi lầm lớn nhưng nếu em đó biết nhận lỗi và sửa lỗi thì tạo cho học sinh đó
cơ hội tự làm chủ bản thân, có niềm tin nghị lực để vươn lên.
Thế nhưng, đối với những học sinh lỗi vi phạm không đáng kể nhưng
lại vi phạm thường xuyên thì ta không thể bỏ qua mà xử lí một cách linh động
tùy theo từng đối tượng. Dù các em vi phạm ở mức độ lỗi lớn hay nhỏ ta cũng
xử lí trên cơ sở giáo dục các em là chính, cụ thể cho em đó biết chuộc lỗi, làm
một việc tốt, giao cho em đó thời gian thử thách.
Đối với một học sinh không thuộc bài, không làm bài do lười học đưa
đến điểm học tập kém, nên tổ chức đôi bạn học tốt, nhóm học tốt. Thông
thường thì cách này đã có từ lâu, thực hiện ở các lớp nhưng đặc biệt hơn thay
vì cho học sinh giỏi kèm và kiểm tra học sinh yếu thì chúng tôi phân nhóm
(theo bàn học trên lớp). Mỗi nhóm từ ba đến bốn học sinh, giao trách nhiệm
cho chính em học sinh cá biệt làm nhóm trưởng tạm thời. Vai trò này để em
cảm thấy có được lòng tin ở thầy và bản thân phải có trách nhiệm và gương
mẫu. Các em kiểm tra lẫn nhau và em HSCB có nhiệm vụ ghi lại phần nhận
xét kiểm tra các bạn trong nhóm (theo bàn). Căn cứ vào kết quả, chúng tôi
tuyên dương kịp thời nếu em có cố gắng dù nhỏ, tạo cho em có hứng thú, tự
tin trong học tập.
Đối với một học sinh có cố gắng nhưng mất căn bản về kiến thức cũng
đưa đến điểm học tập yếu, nên cho học sinh giỏi kèm, hướng dẫn, vạch ra thời
gian biểu để học tập theo đôi bạn. Trường hợp có học sinh biểu hiện hành vi
đạo đức không tốt, làm mất trật tự trong giờ học, đánh nhau, nên khuyên dạy
bằng những câu chuyện thực tế ở đời giúp các em thấy được những hành vi
xấu, không tốt sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường ở tương lai. Đối với học
sinh ngỗ nghịch khó dạy, ta đưa ra một tình huống thực tế điển hình phù hợp
với khả năng học sinh nhằm giáo dục tư tưởng lối sống, buộc học sinh đó phải
giải quyết vấn đề, biến suy nghĩ thành hành động cụ thể gắn liền với tình
thương yêu gần gũi với lớp học. Việc hạ hạnh kiểm học sinh chỉ là thứ yếu,
cốt lõi là phải làm được việc giáo dục học sinh biết nhận thức để khi bước vào
môi trường THPT, hoặc các cấp cao hơn, các em cảm thấy tự tin hơn.
Giáo dục các em từng bước, chậm rãi từ những công việc nhỏ. Chẳng
hạn phải thức sớm một chút để không phải đi trễ, học yếu thì nên chịu khó,
GIÁO VIÊN: DỤNG THỊ EM

Trang 13


SKKN VỀ VIỆC GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT GẮN VỚI PHONG TRÀO “THTT – HSTC”

siêng làm bài tập hơn các bạn. Khi nào làm bài tập, cảm thấy mệt thì nên giải
lao để tinh thần thoải mái rồi làm tiếp, không nên cố gắng quá sức. Giáo viên
không nên giáo dục ào ạt, chưa hỏi han lý do gì hết mà đã la mắng học sinh
cho dù học sinh đó vi phạm nhẹ, như vậy sẽ mất hiệu quả giáo dục. Bởi vì đấy
là những học sinh cá biệt, tính tình ương ngạnh, tâm lý bất cần, học hay không
đối với bản thân học sinh không quan trọng mà học sinh vào lớp là chỉ được
"lãnh lương" hàng ngày, không phải làm những việc nặng nhọc bằng tay chân
ở nhà
Chúng ta phải tác động vào động cơ học tập, để các em này thấy rõ tầm
quan trọng của việc học. Có thể đưa ra một số tranh ảnh về nạn thất học - chỉ
mới mấy tuổi đầu không được đến trường, phải làm những việc nặng nhọc của
người lớn rồi lại bị bạn bè khinh thường, xa lánh, cơm không đủ ăn, áo không
đủ mặc. Ngược lại, những em có học thì làm việc thuận lợi dễ dàng, càng
ngày càng tiến thân, bạn bè ngưỡng mộ phải trầm trồ khen ngợi, cha mẹ được
nở mày, nở mặt.
Các biện pháp trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đã và đang được
chúng tôi thực hiện. Chúng tôi cũng hiểu rằng: Thực tiễn giáo dục học sinh cá
biệt là rất khó khăn và không phải học sinh cá biệt nào cũng giáo dục thành
công. Dù vậy, chúng tôi vẫn đang hàng ngày nỗ lực, cố gắng, học hỏi để thực
hiện tốt công việc này.

PHẦN THỨ BA
KẾT QUẢ
Trong thực tế nhiều năm dạy học và làm công tác chủ nhiệm, đã có
nhiều em học sinh cá biệt chưa ngoan, nhưng qua giáo dục, chúng tôi cảm hóa
các em bằng chính tình yêu thương chân thành và trái tim rộng lượng, bao
dung của một người me, các em đã thực sự trưởng thành, tự tin trong học tập.
Kết quả học tập khả quan, hạnh kiểm được xếp loại khá trở lên. Khi trưởng
thành, các em chu đáo và có ý thức tốt trong cuộc sống. Sau nhiều năm chủ
nhiệm, kết quả như sau:
* Năm học 2009 – 2010: Sĩ số lớp: 40
- Đầu năm học:
Học lực:
Hạnh kiểm:
+ HS giỏi: 05 tỷ lệ 12.5%
Cá biệt ( xếp loại trung bình 6
+ HS khá: 14 tỷ lệ 35%
HS ) tỷ lệ 15%
+ Còn lại là HS trung bình, yếu, kém
- Cuối học kỳ I:
Học lực
Hạnh kiểm
+HS giỏi: 02 tỷ lệ 5%
Tốt: 32 HS tỷ lệ 80%
+ HS khá: 15 tỷ lệ 37.5%
Khá: 08 HS tỷ lệ 20%
+ HS trung bình: 21 tỷ lệ 52.5%
+ HS yếu: 02 tỷ lệ 5%

GIÁO VIÊN: DỤNG THỊ EM

Trang 14


SKKN VỀ VIỆC GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT GẮN VỚI PHONG TRÀO “THTT – HSTC”

- Cuối năm học: ( giảm 01 HS, lý do: Xuất ngoại )
Học lực
Hạnh kiểm
+ HS giỏi: 06 tỷ lệ 15.4%
Tốt: 32 HS tỷ lệ 82.1%
+HS khá: 14 tỷ lệ 35.9%
Khá: 07 HS tỷ lệ 17.9%
+HS trung bình: 19 tỷ lệ 48.7%
* Năm học 2010 – 2011: Sĩ số lớp: 35
- Đầu năm học:
Học lực:
Hạnh kiểm:
+ HS giỏi: 03 tỷ lệ 8.6%
Cá biệt ( xếp loại trung bình
+ HS khá: 12 tỷ lệ 34.3%
7 HS ) tỷ lệ 15%
+ Còn lại là HS trung bình, yếu, kém
- Cuối học kỳ I:
Học lực
Hạnh kiểm
+HS giỏi: 03 tỷ lệ 8.6%
Tốt: 30 HS tỷ lệ 85.7%
+ HS khá: 10 tỷ lệ 28.6%
Khá: 05 HS tỷ lệ 14.3%
+ HS trung bình: 17 tỷ lệ 48.6%
+ HS yếu: 05 tỷ lệ 14.3%
- Cuối năm học:
Học lực
Hạnh kiểm
+ HS giỏi: 06 tỷ lệ 17.1%
Tốt: 32 HS tỷ lệ 91.4%
+HS khá: 14 tỷ lệ 40%
Khá: 03 HS tỷ lệ 8.6%
+HS trung bình: 15 tỷ lệ 42.9%
* Năm học 2011 – 2012: Sĩ số lớp: 32
- Đầu năm học:
Học lực:
Hạnh kiểm:
+ HS giỏi: 15 tỷ lệ 46.9%
Cá biệt ( xếp loại trung bình
+ HS khá: 14 tỷ lệ 43.8%
5 HS ) tỷ lệ 15.6%
+ Còn lại là HS trung bình
- Cuối học kỳ I:
Học lực
Hạnh kiểm
+HS giỏi: 15 tỷ lệ 46.9%
Tốt: 32 HS tỷ lệ 100%
+ HS khá: 15 tỷ lệ 46.9%
+ HS trung bình: 02 tỷ lệ 6.3%
- Cuối năm học:
Học lực
Hạnh kiểm
+HS giỏi: 15 tỷ lệ 46.9%
Tốt: 32 HS tỷ lệ 100%
+ HS khá: 17 tỷ lệ 53.1%
*Năm học 2012 – 2013: Sĩ số lớp: 33
- Đầu năm học:
Học lực:
Hạnh kiểm:
+ HS giỏi: 01 tỷ lệ 3%
Cá biệt:
+ HS khá: 10 tỷ lệ 30.3%
- Trung bình: 10 tỷ lệ 30.3%
+ Còn lại là HS trung bình, yếu, kém - Yếu : 03 tỷ lệ 9.1%

GIÁO VIÊN: DỤNG THỊ EM

Trang 15


SKKN VỀ VIỆC GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT GẮN VỚI PHONG TRÀO “THTT – HSTC”

- Cuối học kỳ I:
Học lực
+HS giỏi: 02 tỷ lệ 6.1%
+ HS khá: 10 tỷ lệ 30.3%
+ HS trung bình: 21 tỷ lệ 63.6%

Hạnh kiểm
Tốt: 16 tỷ lệ 48.5%
Khá: 12 tỷ lệ 36.4%
TB: 05 tỷ lệ 15.1%

PHẦN THỨ TƯ
KẾT LUẬN
Quản lý, giáo dục HSCB là một vấn đề khá phức tạp và nhạy cảm, là
một thách thức lớn không chỉ đối với ngành giáo dục mà của toàn xã hội.
Công tác giáo dục học sinh cá biệt luôn là một thử thách rất lớn đối với mỗi
giáo viên chủ nhiệm, song làm tốt được điều này bạn mới thực sự trở thành
một nhà giáo dục theo đúng nghĩa.
HSCB, trường nào cũng có. HSCB không nhiều, song lại là “lực cản”
rất lớn, thậm chí là thế lực “đen” đe dọa, khống chế những nhân tố tích cực
dám đấu tranh bảo vệ lẽ phải ở trong lớp, trong trường.
Nhiệm vụ của trường học là “Dạy” và “ Dỗ”, giáo dục các em học sinh
nên người, kể cả HSCB. Giáo dục HSCB là một thử thách, bản lĩnh, lòng vị
tha của thầy, cô. Cải tạo học sinh chưa tốt thành con ngoan trò giỏi, công dân
tốt, để xã hội bớt đi một người xấu chẳng phải đó là nhiệm vụ của thầy, cô
giàu tình thương, hết lòng vì “Học sinh thân yêu” đó sao?
Một lớp học, xuất phát điểm có nhiều HSCB, hết năm học xóa hết
“gánh nặng” cho lớp, cho trường, cho gia đình, công lao của thầy, cô được đền
đáp. Vinh quang của nghề dạy học là ở chỗ đó, xã hội đánh giá nghề dạy học
là “nghề cao quý trong các nghề cao quý”, nghề “ trồng người” cũng vì lẽ đó.
Nghề dạy học vốn là nghề “sáng tạo trong các nghề sáng tạo”. Nói theo
cách nói của thầy thuốc: Thầy phải “chẩn” đúng bệnh, dùng loại thuốc “đặc
trị” phù hợp mới cứu được con “bệnh cá biệt”.
Với bài viết này, tôi chỉ muốn đóng góp một vài ý kiến nhỏ cùng với
đồng nghiệp giúp các em HSCB nhận thức được vai trò của việc học tập đối
với bản thân, gia đình để từ đó có động cơ học tập ngày càng tiến bộ hơn.
Rất mong sự góp ý kiến của quý đồng nghiệp!
Hồng Thái, ngày 24 tháng 3 năm 2013
Người viết

DỤNG THỊ EM

GIÁO VIÊN: DỤNG THỊ EM

Trang 16


SKKN VỀ VIỆC GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT GẮN VỚI PHONG TRÀO “THTT – HSTC”

MỤC LỤC
Trang
PHẦN THỨ NHẤT – ĐẶT VẤN ĐỀ

1

PHẦN THỨ HAI – GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

2

I. Thực trạng của vấn đề

2

II. Cơ sở lý luận của vấn đề

4

III. Các biện pháp tiến hành để giải quyết vấn đề

5

PHẦN THỨ BA – KẾT QUẢ

14

PHẦN THỨ TƯ – KẾT LUẬN

16

Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
GIÁO VIÊN: DỤNG THỊ EM

Trang 17


SKKN VỀ VIỆC GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT GẮN VỚI PHONG TRÀO “THTT – HSTC”

…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
………………………………………
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………

GIÁO VIÊN: DỤNG THỊ EM

Trang 18


SKKN VỀ VIỆC GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT GẮN VỚI PHONG TRÀO “THTT – HSTC”

GIÁO VIÊN: DỤNG THỊ EM

Trang 19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×