Tải bản đầy đủ

Sử dụng chỉ số phân loại tính cách myers MBTI để đánh giá tính cách bản thân e (2)

BÀI TẬP HÀNH VI TỔ CHỨC VÀ Tính cách
Sử dụng chỉ số phân loại tính cách Myers-Briggs (MBTI) để đánh giá:
1. Tính cách của chính mình?
2. Tính cách nhóm bạn thân nhất của mình?
3. Tính cách của một số người cùng cơ quan?
4. Tính cách của Sếp trực tiếp?
5. Marketing cá nhân (Personal Marketing) quan trọng như thế nào trong
OB?
Dựa vào các câu trả lời, Anh (Chị) hãy phân loại tính cách tổng hợp theo:
- Hướng ngoại (extraverted – E)
- Hướng nội (introverted – I)
- Giác quan (sensing – S)
- Trực giác (intuitive – N)
- Lý tính (thinking – T)
- Cảm tính (feeling – F)
- Nguyên tắc (judging – J)
- Linh hoạt (perceiving – P)
Bài làm
Chỉ số phân loại tính cách MBTI (Myers-Briggs Type Indicator) được phát triển gần
60 năm trước đây bởi Katharine Cook Briggs và con gái của bà – Isabel Briggs



2

Myers. Cùng với sự hợp tác đắc lực của nhà tâm lý học nổi tiếng người Thuỵ Sỹ, Carl
G. Jung.
MBTI ban đầu được tạo dựng để mọi người có thể đưa ra những quyết định lựa chọn
nghề nghiệp thông minh và giúp đỡ mọi người hiểu được sự khác biệt của các dạng
tính cách thông thường.Việc hiểu được sự đa dạng của các dạng tính cách cá nhân
khác nhau sẽ giúp mọi người nhận ra và đánh giá đúng các điểm mạnh, điểm yếu của
từng người, nhờ đó trả lời được câu hỏi tại sao tất cả mọi người không ai giống ai.
Trong phạm vi bài viết này sẽ sử dụng những lý thuyết về MBTI để đánh giá, phân
tích các vấn đề về tính cách của chính cá nhân tôi, tính cách nhóm bạn thân nhất của
tôi, tính cách của một số người cùng cơ quan của tôi, tính cách của Sếp trực tiếp của
tôi và cuối cùng là sự quan trọng của Marketing cá nhân (Personal Marketing) trong
OB.
I. LÝ THUYẾT VỀ MBTI:
1. Khái niệm: MBTI là phương pháp dùng để phân loại tính cách con người với 4
tiêu chí như sau:
1.1. Xu hướng tự nhiên: Extraversion (Hướng ngoại) / Introversion (Hướng nội)
Đây là 2 xu hướng đối lập thể hiện xu hướng ứng xử với thế giới bên ngoài:


Hướng ngoại – hướng về thế giới bên ngoài gồm các hoạt động, con người, đồ
vật.



Hướng nội - hướng vào nội tâm, bao gồm ý nghĩ, tư tưởng, trí tưởng tượng

Đây là 2 mặt đối lập nhưng bổ sung lẫn nhau. Tuy nhiên, một mặt sẽ chiếm ưu thế
trong việc phát triển tính cách và ảnh hưởng đến cách ứng xử.


3

1.2. Tìm hiểu và nhận thức thế giới: Sensing (Giác quan) / Intuition (Trực giác)
Đây là 2 xu hướng đối lập nhau về cách chúng ta tiếp nhận thông tin từ thế giới bên
ngoài:



Trung tâm “Giác quan” trong não bộ chú ý đến các chi tiết liên quan đến hình
ảnh, âm thanh, mùi vị… của hiện tại được đưa đến từ 5 giác quan của cơ thể.
Nó phân loại, sắp xếp và ghi nhận những chi tiết của các sự kiện thực tế đang
diễn ra. Nó cũng cung cấp các thông tin chi tiết của các sự kiện đã xảy ra trong
quá khứ.



Trung tâm “Trực giác” của não bộ chịu trách nhiệm tìm hiểu, diễn dịch, và
hình thành các mô hình từ thông tin thu thập được; sắp xếp các mô hình và liên
hệ chúng với nhau. Nó giúp cho não bộ suy đoán các khả năng và tiên đoán
tương lai.

1.3. Quyết định và chọn lựa: Thinking (Lý trí) / Feeling (Cảm tính)
Đây là 2 xu hướng đối lập về cách chúng ta đưa ra quyết định và lựa chọn của
mình:


Phần lý trí trong não bộ con người phân tích thông tin một cách khách quan,
làm việc dựa trên đúng/sai, suy luận và đưa ra kết luận một cách có hệ thống.
Nó là bản chất logic của con người.



Phần cảm tính của não bộ đưa ra quyết định dựa trên xem xét tổng thể;
yêu/ghét; tác động qua lại lẫn nhau; và các giá trị nhân đạo hay thẩm mỹ. Đó là
bản chất chủ quan của con người.

1. 4. Cách thức hành động: Judging (Nguyên tắc) / Perceiving (Linh hoạt)


4

Đây là cách thức mà mỗi người lựa chọn để tác động tới thế giới bên ngoài:


Nguyên tắc: tiếp cận thế giới một cách có kế hoạch, có tổ chức, có chuẩn bị,
quyết định và đạt đến một kết cục rõ ràng.



Linh hoạt: tiếp cận thế giới một cách tự nhiên, tìm cách thích nghi với hoàn
cảnh, thích một kết cục bỏ ngỏ, chấp nhận những cơ hội mới, và chấp nhận thay
đổi kế hoạch.

2. Đặc điểm chung:
I – INTROVERSION – (HƯỚNG NỘI)


Suy nghĩ và cân nhắc kỹ lưỡng trước

E – EXTRAVERSION– (HƯỚNG
NGOẠI)


khi hành động


Cần có một khoảng thời gian riêng

cân nhắc sau


tư đáng kể để nạp năng lượng


Hứng thú với đời sống nội tâm, đôi

Thích nói chuyện riêng tư 2 người.



Hiếm khi chủ động xin ý kiến của
người khác

Cảm thấy khổ sở nếu bị cách ly với
thế giới bên ngoài



khi tự cô lập với thế giới bên ngoài


Hành động trước hết, suy nghĩ và

Hứng thú với con người và sự việc
xung quanh



Quảng giao, thích tiếp xúc với nhiều
người



S – SENSING (GIÁC QUAN)

Dễ bắt chuyện
N – INTUITION (TRỰC GIÁC)



Sống với hiện tại



Hay nghĩ đến tương lai



Thích các giải pháp đơn giản và thực



Sử dụng trí tưởng tượng, hay sáng

tế

tạo ra những khả năng mới


5



Có trí nhớ tốt về các chi tiết của



những sự kiện trong quá khứ

Thường chỉ nhớ đến ý chính và các
mối liên hệ



Giỏi áp dụng kinh nghiệm



Giỏi vận dụng lý thuyết



Thoải mái với những thông tin rõ



Thoải mái với sự nhập nhằng, hay

ràng và chắc chắn

những thông tin không rõ ràng

T-THINKING (LÝ TRÍ)


Luôn tìm kiếm sự kiện và tính logic
để đưa ra kết luận



F-FEELING (CẢM TÍNH)


hưởng của một quyết định lên người

Có xu hướng để tâm đến các nhiệm

khác trước khi đưa ra quyết định đó.

vụ, công việc cần phải hoàn thành


Dễ dàng đưa ra những phân tích thấu



Chấp nhận xung đột là một phần tự







Có kế hoạch chu đáo trước khi hành

Khó xử khi có xung đột; hoặc có
phản ứng tiêu cực khi xảy ra bất hòa.

J-JUDGING (NGUYÊN TẮC)


Tìm kiếm sự nhất trí và ý kiến của số
đông.

nhiên trong mối quan hệ giữa người
với người.

Nhạy cảm với những nhu cầu và
phản ứng của người khác.

đáo và khách quan


Xem xét cảm xúc cá nhân và ảnh

P-PERCEIVING (LINH HOẠT)


Có thể hành động mà không cần lập

động

kế hoạch; lập kế hoach tùy theo tình

Tập trung vào các hoạt động có tính

hình

nhiệm vụ, hoàn tất các công đoạn
quan trọng trước khi tiếp tục



Thích làm nhiều việc cùng lúc, thích
sự đa dạng, có thể vừa làm vừa chơi


6



Làm việc tốt nhất và không bị stress



khi hoàn thành công việc trước thời
hạn


Chịu sức ép tốt, làm việc hiệu quả
nhất khi công việc gần hết hạn



Tìm cách tránh né cam kết nếu nó

Tự đặt ra mục tiêu, thời hạn, và các

ảnh hưởng đến sự linh động, sự tự do

chuẩn mực để quản lý cuộc sống

và da đạng của bản thân

Các yếu tố được đề cập nêu trên trong các xu hướng của 4 tiêu chí tuy trái ngược nhau
nhưng chỉ nhằm thể hiện sự khác nhau giữa con người và không có yếu tố nào tốt hơn
các yếu tố còn lại.
3. Phân loại: Từ 4 tiêu chí nêu trên, Briggs và Myers đưa ra 16 nhóm tính cách khác
nhau. Tên của mỗi nhóm đều có 4 chữ cái, đại diện cho 4 tiêu chí phân loại và sắp xếp
như sau:

Người tận tâm với
công việc

Người chăm nom

Người che chở

Nhà khoa học

(The Duty

(The Nurtures)

(The Protectors)

(The Scientists)

Fullfiller)


7

Thợ cơ khí

Nghệ sĩ

Nhà lý tưởng hóa

Nhà tư duy

(The Mechanics)

(The Artists)

(The Idealists)

(The Thinkers)

Người năng động

Người trình diễn

Người truyền cảm

Người nhìn xa

(The Doers)

(The Perfomers)

hứng

trông rộng

(The Inspirers)

(The Visionaries)

Người giám hộ

Người chăm sóc

Người cho đi

Nhà điều hành

(The Guardian)

(The Caregivers)

(The Givers)

(The Executives)

II. ĐÁNH GIÁ CÁC TÍNH CÁCH VÀ SỰ QUAN TRỌNG CỦA MARKETING
CÁ NHÂN TRONG OB:
1. Tính cách của cá nhân tôi:
Đối chiếu với những yếu tố trong các tiêu chí của MBTI, tôi nhận thấy cá nhân tôi có
những đặc điểm như sau:
- Tôi là người dễ bắt chuyện, hứng thú với con người, sự việc và thích tiếp xúc
với nhiều người, qua đó tôi so sánh những hiểu biết của mình về con người mà
tôi học được từ sách vở với thực tế tiếp xúc, do đó tôi học được rất nhiều điều


8

từ cuộc sống. Như vậy, xét theo tiêu chí “Xu hướng tự nhiên" thì tôi là người
hướng ngoại (E).
- Tôi hay nghĩ đến tương lai, thường sử dụng trí tưởng tượng và kết hợp với vận
dụng lý thuyết về một vấn đề nào đó để suy nghĩ ra những ý tưởng mới. Như
vậy, xét theo tiêu chí “Tìm hiểu và nhận thức thế giới” thì tôi là người trực giác
(N).
- Tôi luôn tìm kiếm sự kiện và tính logic để đưa ra kết luận, tôi chấp nhận xung
đột là một phần tự nhiên trong mối quan hệ giữa người với người. Như vậy, xét
theo tiêu chí “Quyết định và chọn lựa” thì tôi là người lý trí (T).
- Tôi chịu sức ép tốt, làm việc hiệu quả nhất khi công việc gần hết hạn, tôi
thường tìm cách tránh né cam kết nếu nó ảnh hưởng đến sự linh động, sự tự do
của bản thân tôi. Như vậy, xét theo tiêu chí “Cách thức hành động” tôi là người
linh hoạt (P).
Tổng hợp nhận định nêu trên, tôi thuộc nhóm tính cách ENTP (người nhìn xa
trông rộng).
2. Tính cách nhóm bạn thân nhất của cá nhân tôi:
Như trên đã nêu, tôi thích tiếp xúc với nhiều người và như vậy tôi quan tâm tới nhiều
nhóm tích cách khác của MBTI để làm phong phú thêm vốn sống và kiến thức của tôi
về con người, tuy nhiên đối với nhóm bạn thân nhất thì tôi có khuynh hướng chọn bạn
có nhóm tính cách giống bản thân tôi, vì điều này giúp cho việc trao đổi, tâm tình
hoặc chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm giữa những người bạn thân có tính cách giống
nhau sẽ làm cho môi trường bạn bè tốt hơn.
3. Tính cách của một số người cùng cơ quan của tôi:


9

Theo MBTI thì việc phân thành 16 nhóm tính cách để mọi người có thể đưa ra những
quyết định lựa chọn nghề nghiệp thông minh và giúp đỡ mọi người hiểu được sự khác
biệt của các dạng tính cách thông thường.Việc hiểu được sự đa dạng của các dạng tính
cách cá nhân khác nhau sẽ giúp mọi người nhận ra và đánh giá đúng các điểm mạnh,
điểm yếu của từng người, nhờ đó trả lời được câu hỏi tại sao tất cả mọi người không
ai giống ai.
Do đó, tại cơ quan của tôi, là một doanh nghiệp lớn, tính cách của một số người cùng
cơ quan của tôi mà tôi quan tâm là những người có nhóm tính cách phù hợp với yêu
cầu công việc mà họ phải hoàn thành, đồng thời có thể hỗ trợ, phối hợp với những
người khác để hoàn thành được mục tiêu và nhiệm vụ chung của bộ phận.
4. Tính cách của Sếp trực tiếp:
Đối chiếu với những yếu tố trong các xu hướng của MBTI, tôi nhận thấy Sếp trực tiếp
của tôi có những đặc điểm như sau:
- Là loại người suy nghĩ và cân nhắc kỹ lưỡng trước khi hành động, đó là loại
người hướng nội (I).
- Thích các giải pháp đơn giản và thực tế, giỏi áp dụng kinh nghiệm, thoải mái
với những thông tin rõ ràng và chắc chắn, đó là loại người giác quan (S).
- Thường tìm kiếm sự kiện và tính logic để đưa ra kết luận, chấp nhận xung đột
là một phần tự nhiên trong mối quan hệ giữa người với người, đó là loại người
lý trí (T).
- Có kế hoạch chu đáo trước khi hành động, làm việc tốt nhất và không bị stress
khi hoàn thành công việc trước thời hạn, đó là loại người nguyên tắc (J).


10

Như vậy, ông ta thuộc nhóm tính cách ISTJ (người tận tâm với công việc). Đối chiếu
tính cách của ông ta và cá nhân tôi và thông qua quá trình làm việc lâu năm giữa tôi
và ông ta, có thể nói mối quan hệ về công việc và cá nhân của chúng tôi đã được thực
hiện khá tốt.
5. Sự quan trọng của Marketing cá nhân trong OB:
Như ta đã biết, Hành vi tổ chức (OB) là lĩnh vực nghiên cứu bao gồm 3 cấp độ: cá
nhân, nhóm và tập thể, trong đó đối tượng nghiên cứu của OB là nghiên cứu ảnh
hưởng của các cá nhân, các nhóm và tổ chức đối với hành vi trong tổ chức nhằm áp
dụng sự hiểu biết này vào việc nâng cao hiệu quả của tổ chức.
Hành vi tổ chức quan tâm tới việc nghiên cứu cách thức mà con người cư xử và hành
động trong tổ chức và ảnh hưởng của nó đối với việc thực hiện nhiệm vụ của tổ chức,
đặc biệt những hành vi liên quan tới công việc như: sự vắng mặt, sự thuyên chuyển,
năng suất lao động, sự hài lòng của người lao động ….
Mặt khác, ngày nay khái niệm marketing không chỉ gắn với sản phẩm mà có thể gắn
với bất kỳ chủ thể nào: tổ chức, địa đanh… thậm chí cả con người. Do đó, khi một cá
nhân biết mình thuộc về một nhóm tính cách nào đó của MBTI, và hiểu rõ những đặc
điểm của nhóm tính cách đó thì việc xây dựng marketing cá nhân của bản thân người
đó trong tổ chức mà người đó làm việc là một vấn đề cực kỳ quan trọng. Vì marketing
cá nhân mang lại cho cá nhân đó nhiều lợi ích, cụ thể như sau:
5.1. Marketing cá nhân đã và đang trở thành một yếu tố thiết yếu để đạt tới một
sự thành công nhất định trong hoạt động của một cá nhân, nhất là trong tổ
chức mà cá nhân đó đang làm việc. Vì việc thực hiện tốt marketing cá nhân
của một người giúp cấp trên, đồng nghiệp hoặc đối tác của người đó có


11

những nhận xét tốt cũng như những đánh giá tích cực về năng lực, tính cách
và hiệu quả công việc mà họ mang lại.
5.2. Markering cá nhân tốt giúp cá nhân đó hiểu bản thân tốt hơn, giúp tăng sự tự
tin và tính khẳng định. Quá trình phát triển markering cá nhân chính là quá
trình “truyền bá” những thông điệp, khẳng định những giá trị cá nhân của
người đó.
Xây dựng được một markering cá nhân thành công cũng đồng nghĩa với việc
người đó có một công cụ hữu ích để kiểm soát bản thân mình vì marketing cá
nhân không chỉ đơn thuần là gây dựng một hình ảnh của cá nhân ra thế giới
bên ngoài nói chung và trong một tổ chức nói riêng, mà nó còn là sự tự nhận
thức của cá nhân về các điểm mạnh, điểm yếu, kỹ năng, cảm xúc… của
mình.
5.3. Tạo sự khác biệt: vì cũng giống như marketing hàng hóa, khi thực hiện
marketing cá nhân của một người trong một tổ chức là xác định giá trị của cá
nhân đó, giúp phân biệt cá nhân đó với những người khác; khi một cá nhân
đã tạo dựng được thương hiệu cho riêng mình thì đó chính là một công cụ
hữu hiệu giúp phân biệt người đó với các đồng nghiệp trong tổ chức.
5.4. Mang lại những lợi ích cụ thể trong ngắn hạn cũng như dài hạn (có công việc
tốt hơn, ổn định, tăng thu nhập, mở rộng lĩnh vực kinh doanh…), vì mục đích
cuối cùng của xây dựng markering doanh nghiệp hay markering cá nhân cũng
đều là sự phát triển bền vững, là lợi nhuận.
Mặt khác, khi một cá nhân đã xây dựng marketing tốt và có một thương hiệu
nổi tiếng, đương nhiên người đó sẽ có nhiều cơ hội hơn trong lĩnh vực hoạt


12

động của mình. Chẳng hạn, khi cần tư vấn tài chính người ta sẽ tìm đến anh
A, muốn có được tư vấn về quản lý người ta sẽ đến gặp chị B…
III. KẾT LUẬN:
Qua trình bày nêu trên về các tiêu chí, đặc điểm và phân loại nhóm tính cách theo
MBTI, đồng thời đánh giá, phân tích các vấn đề về tính cách và sự quan trọng của
Marketing cá nhân (Personal Marketing) trong OB, ta thấy rõ giá trị ứng dụng to lớn
của MBTI vào việc tự đánh giá bản thân của mỗi người, giúp mỗi người hiểu rõ bản
thân mình thuộc nhóm tính cách nào, đồng thời hiểu được sự khác biệt của các nhóm
tính cách khác và tôn trọng sự đa dạng của các dạng tính cách cá nhân khác nhau. Từ
đó, đánh giá đúng các điểm mạnh, điểm yếu của cá nhân mình nói riêng và của người
khác nói chung, đồng thời mỗi cá nhân đề ra cho mình việc xây dựng một marketing
cá nhân phù hợp với tổ chức mà mình đang làm việc để đạt được những lợi ích tốt
nhất cho bản thân cũng như cho tổ chức./.

_____________________________________



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×