Tải bản đầy đủ

Phân tích các nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động ở việt nam

PHÂN TÍCH CÁC NGUỒN VỐN MÀ DOANH NGHIỆP CÓ THỂ HUY
ĐỘNG Ở VIỆT NAM.

MỤC LỤC

NỘI DUNG

TRANG

1. KHÁI NIỆM VỀ VAI TRÒ CỦA VỐN

3

1.1

. Khái niệm về vốn và nguồn vốn

3

1.2


.Vai trò của nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của doanh

3

nghiệp
2. CÁC NGUỒN VỐN DOANH NGHIỆP CÓ THỂ HUY ĐỘNG

3

HIỆN NAY TẠI VIỆT NAM.
2.1. Phát hành trái phiếu

3

2.2. Phát hành cổ phiếu

4

2.3. Vay ngân hàng

5

2.3.1. Vay ngắn hạn

5

2.3.2. Vay dài hạn

5

2.4.

Cho thuê tài chính (finance leasing)

3. Doanh nghiệp đang cần vốn, cần huy động nguồn vốn nào, tại

6
8

sao?



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1


Sau một thời gian dài gặp khó
trong sản xuất kinh doanh, ngân hàng
thắt chặt tín dụng, thị trường chứng
khoán đi xuống, các doanh nghiệp
Việt Nam có lẽ hơn bao giờ hết hiểu
được tầm quan trọng của vốn và khó
khăn trong việc đi huy động vốn
(HĐV). Câu hỏi đặt ra là: Có những kênh huy động vốn nào tại thời điểm này để
DN huy động vốn và DN cần chuẩn bị những gì để đạt được thành công trong các
giao dịch HĐV?

1. Khái niệm và vai trò của vốn
1.1Khái niệm về vốn và nguồn vốn
Vốn là một khối lượng tiền tệ nào đó được đưa vào lưu thông với mục đích
kiếm lời. Số tiền đó được sử dụng muôn hình, muôn vẻ nhưng suy cho cùng là để
mua sắm tư liệu sản xuất và để trả công cho người lao động nhằm hoàn thành công
việc sản xuất kinh doanh hoặc dịch vụ nào đó với mục đích là thu về số tiền lớn
hơn.
Nguồn vốn chính là nơi mà từ đó có thể khai thác được một số lượng vốn nào
đó để phục vụ cho nhu cầu của các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp.

1.2Vai trò của nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Vốn là một trong năm yếu tố quan trọng nhất trong mọi quá trình sản xuất đó
là: Nhân lực, vật lực, tài lực (Vốn), thông tin và sự quản lý. Nếu thiếu vốn thì quá

2


trình sản xuất kinh doanh sẽ không được tiến hành.
Vốn là một yếu tố quan trọng không thể thiếu và đặc biệt là đối với các nước
đang phát triển như chúng ta, tuy nhiên trong những thởi điểm nền kinh tế phát triển
khó khăn như hiện nay thì việc huy động vốn như thế nào để dễ dàng và hoạt động
có hiệu quả trong nền kinh tế như hiện nay quả là một điều không hề dễ dàng đối
với các doanh nghiệp tại Việt Nam.

2 Các nguồn vốn các doanh nghiệp có thể huy động hiện nay tại Việt Nam:
2.1. Phát hành trái phiếu:
Giúp doanh nghiệp chủ động linh hoạt hơn trong viêc tiếp cận được những
nguồn vốn lớn. Khi phát hành trái phiếu, doanh nghiệp có quyền chủ động đưa ra
những điều kiện linh hoạt để phù hợp với điều kiện thị trường: như loại trái phiếu
phát hành là trái phiếu trơn, trái phiếu chứng quyền, linh hoạt trong việc định lãi
trái phiếu (cố định, thả nổi, thả nổi theo kỳ), nên trái phiếu có tiềm năng hấp dẫn
nhà đầu tư hơn. Tuy nhiên, tiền huy động được từ trái phiếu thường đến từ các
nguồn đầu tư mang tính dài hạn nên không phải doanh nghiệp nào cũng có thể
tiếp cận kênh huy động vốn này.
Tính thanh khoản: Trái phiếu hiện nay ở Việt Nam chưa có thị trường giao
dịch thứ cấp nên tính thanh khoản của trái phiếu hạn chế hơn so với cổ phiếu đã
niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Trái phiếu là vốn nợ nên phát hành trái phiếu không làm pha loãng quyền
sở hữu của chủ doanh nghiệp, trừ trường hợp trái phiếu chuyển đổi thành cổ
phiếu. Doanh nghiệp phát hành trái phiếu, trừ trái phiếu chuyển đổi thành cổ
phiếu có thêm nguồn vốn lớn mà không làm thay đổi cơ cấu sở hữu.
Chi phí sử dụng vốn: Chi phí lãi từ trái phiếu phải trả cho trái chủ là chi
phí trước thuế, được khấu trừ khi tính thuế. Tính linh hoạt trong việc trả lãi cho
nhà đầu tư: Khi huy động vốn bằng trái phiếu, doanh nghiệp phải trả lãi theo lãi
3


suất theo thời hạn xác định trước. Những người chủ sở hữu doanh nghiệp có thể
quyết định thay đổi mức cổ tức phải trả, dừng, trì hoãn hay không trả cổ tức.
Thời hạn sử dụng nguồn vốn: Nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động được
từ phát hành từ trái phiếu, trừ trái phiếu chuyển đổi thành cổ phiếu doanh nghiệp
phải trả lại số tiền gốc khi trái phiếu đáo hạn, điều này có thể sẽ ảnh hưởng rất
mạnh đến dòng tiền và tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Rủi ro phá sản doanh nghiệp: Nếu doanh nghiệp không trả được lãi hay
gốc thì các trái chủ có thể tuyên bố phá sản doanh nghiệp, buộc doanh nghiệp
chấm dứt hoạt động và bán tài sản để trả nợ cho các trái chủ.

2.2

. Phát hành cổ phiếu
Phát hành cổ phiếu ra công chúng làm phân tán quyền sở hữu và có thể

làm mất quyền kiểm soát công ty của các cổ đông sáng lập do hoạt động thôn tín
công ty bên cạnh đó, cơ cấu về quyền sở hữu của công ty luôn luôn bị biến động
do chịu ảnh hưởng của các giao dịch cổ phiếu hàng ngày.
Chi phí phát hành ra công chúng cao, thường chiếm từ khoảng 8-10%
khoản vốn huy động, bao gồm các chi phí bảo lãnh, phí tư vấn pháp luật, chi phí
in ấn, chi phí kiểm toán, chi phí niêm yết .... Ngoài ra, hàng năm công ty cũng
phải chịu thêm các khoản chi phí phụ như chi phí kiểm toán các báo cáo tài
chính, chi phí cho việc chuẩn bị tài liệu nộp cho cơ quan quản lý Nhà nước về
chứng khoán và chi phí công bố thông tin định kỳ.
Công ty phát hành ra công chúng phải tuân thủ một chế độ công bố thông
tin rộng rãi, nghiêm ngặt và chịu sự giám sát chặt chẽ hơn so với công ty khác.
Hơn nữa việc công bố các thông tin về doanh thu, lợi nhuận, vị trí cạnh tranh,

4


phương thức hoạt động, các hợp đồng nguyên liệu, cũng như nguy cơ bị rò rỉ
thông tin mật ra ngoài có thể đưa công ty vào vị trí cạnh tranh bất lợi.
Đội ngũ cán bộ quản lý công ty phải chịu trách nhiệm lớn hơn trước
công chúng, ngoài ra, do quy định của pháp luật, việc chyển nhượng vốn cổ
phần của họ thường bị hạn chế.

2.3 Vay ngân hàng
2.3.1 Vay ngắn hạn: Là những khoản vay có thời
hạn 12 tháng.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nếu
doanh nghiệp phát sinh nhu cầu bổ sung nguồn vốn
lưu động thì ngân hàng sẽ giải quyết cho vay. Tiền
vay phát sinh ra theo đúng đối tượng theo phương
án sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp. Phương án sản xuất kinh doanh phải
tính toán được hiệu quả kinh tế và xác định được nguồn để trả nợ ngân hàng.
Các tài liệu chứng minh tính hợp pháp và giá trị các tài sản đảm bảo nợ vay:
Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác và hợp
pháp của các tài liệu gởi cho ngân hàng. Trường hợp ngân hàng cho vay theo
phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng, khách hàng chỉ làm hồ sơ vay vốn
lần đầu, còn những lần vay sau, Doanh nghiệp phải gởi đến cho ngân hàng các
giấy tờ thanh toán, chứng từ hàng hóa, hợp đồng kinh tế

2.3.2 Vay dài hạn: Đối với vay nợ cho phép chủ doanh nghiệp nắm quyền kiểm
soát toàn bộ hoạt động doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp có quyền tự đưa ra tất cả
quyết định mà không phải báo cáo cho các cổ đông hoặc nhà đầu tư. Và chủ
doanh nghiệp sẽ sở hữu toàn bộ lợi nhuận của doanh nghiệp, Lãi suất bạn phải trả
trên khoản vay được xem là chi phí hợp lệ được khấu trừ thuế, Khoản khấu trừ
5


này là một phần trong lợi nhuận của doanh nghiệp và giúp giảm số tiền doanh
nghiệp đóng thuế hàng năm có thể tận dụng lợi thế đòn bẩy tài chính để gia tăng
lợi nhuận cho cổ đông
Chủ nợ của doanh nghiệp không được hưởng khoản chia lợi nhuận của
công ty. Tất cả những gì họ có thể mong đợi chính là doanh nghiệp sẽ thanh
toán khoản vay đúng hạn.
Nhưng bên cạnh đó, phương pháp huy động vốn vay cũng có một số
nhược điểm sau:
- Việc doanh nghiệp nhỏ vay tiền có thể đem lại tác hại rất lớn. Một trong
những lý do chủ yếu là doanh nghiệp phải chi trả cho những khoản vay lớn,
đúng vào lúc bạn đang cần tiền để thanh toán các khoản chi phí ban đầu. Hơn
nữa, nếu doanh nghiệp không thanh toán khoản vay, khoản nợ của thẻ tín dụng
đúng hạn, mức tín nhiệm của doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng. Điều đó sẽ khiến
doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn khi vay vốn trong tương lai, hoặc có thể
không được phép vay vốn.
- Đối với doanh nghiệp mới thành lập, ngân hàng thương mại có thể sẽ
yêu cầu chủ doanh nghiệp thể chấp tài sản cá nhân khi vay vốn. Điều này có
nghĩa là nếu doanh nghiệp của bạn không kinh doanh hiệu quả, bạn sẽ mất toàn
bộ tài sản riêng đã dùng thể chấp. Doanh nghiệp huy động vốn vay càng nhiều
nguy cơ phá sản càng cao. Rất nhiều người lâm vào cảnh nợ nần nhanh chóng
khi huy động vốn vay để bắt đầu kinh doanh.
- Chủ doanh nghiệp sẽ phải chịu nhiều trách nhiệm về các khoản nợ.
Nhiều người suy nghĩ đơn giản rằng, khi thành lập doanh nghiệp, tài sản riêng
của chủ doanh nghiệp sẽ được an toàn, điều này không hoàn toàn đúng. Phần
lớn các tổ chức tài chính yêu cầu chủ doanh nghiệp phải thế chấp tài sản doanh
nghiệp hoặc tài sản riêng cho các khoản vay cho doanh nghiệp. Nếu doanh

6


nghiệp không có khả năng thanh toán khoản vay coi như chủ doanh nghiệp mất
toàn bộ tài sản riêng đã thế chấp.
* Một vấn đề then chốt của kênh huy động vốn từ vay ngân hàng hiện nay: lãi
suất vay ngắn hạn, trung và dài hạn quá cao (17-21%) các doanh nghiệp rất khó
tiếp cận với nguồn vốn này, việc thẩm định dự án để cho vay tại các ngân hàng
rất nhiêu khê, cán bộ tín dụng chưa đủ năng lực để đánh giá được tiềm năng của
những dự án, văn hóa phong bì còn là một điều khiến cho các doanh nghiệp phải
e ngại khi có những suy nghĩ đi vay.

2.4

Cho thuê tài chính (finance leasing)
Là một dạng cho thuê máy móc, thiết bị và động sản. Người ta còn gọi là
cho thuê thiết bị. Vietnam Airlines đã thuê máy bay của TEAC, AirFrance,…
Trong khi các doanh nghiệp đang gặp khó khăn về thủ tục thế chấp tài sản khi
vay vốn ở các ngân hàng, huy động vốn tại kênh thị trường chứng khoán gặp
nhiều ảm đạm thì việc có mặt của các công ty cho thuê tài chính đã mở ra nhiều
thuận lợi cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là mặc dù có mặt đã
lâu nhưng thực sự cho thuê tài chính là khái niệm còn khá mới mẻ với nhiều
doanh nghiệp. Ít doanh nghiệp hiểu được rằng cho thuê tài chính là hình thức
tài trợ tín dụng thông qua cho thuê các loại tài sản, máy móc, thiết bị, phương
tiện vận chuyển… là nhu cầu mà các doanh nghiệp, các nhà đầu tư mong muốn
để đổi mới máy móc, thiết bị, hiện đại hóa công nghệ sản xuất kinh doanh. Đặc
trưng của phương thức này là - đơn vị cho thuê là chủ sở hữu tài sản sẽ chuyển
giao tài sản cho người thuê, tức là người sử dụng tài sản được quyền sử dụng
và hưởng dụng những lợi ích kinh tế mang lại từ các tài sản đó trong một thời
gian nhất định. Người thuê có nghĩa vụ trả một số tiền cho chủ tài sản tương
xứng với quyền sử dụng và quyền hưởng dụng. Điều này cũng nói lên việc cấp
tín dụng dưới hình thức cho thuê tài chính không đòi hỏi sự bảo đảm tài sản có
trước, tạo cho doanh nghiệp tiếp cận hình thức cấp tín dụng mới, vừa giải tỏa
7


được áp lực về tài sản làm đảm bảo nếu phải vay ở ngân hàng. Ngoài ra, các
công ty cho thuê tài chính có thể mua tài sản của doanh nghiệp và cho thuê lại
tài sản đó nếu doanh nghiệp thiếu vốn lưu động do đã tập trung vốn để đầu tư
mua sắm tài sản cố định. Như vậy doanh nghiệp vừa có tài sản để sử dụng lại
vừa có vốn lưu động để sản xuất kinh doanh. Loại hình này rất thích hợp cho
doanh nghiệp vừa và nhỏ bởi vì với ưu điểm không phải thế chấp tài sản, các
doanh nghiệp khi thuê tài chính không bị vướng thủ tục thế chấp tài sản nếu
phải vay vốn ở các ngân hàng.
Cho thuê tài chính là một định chế mới được coi như là một phương thức
giúp doanh nghiệp phát triển hơn trên thương trường. Khi đi thuê tài chính có
hai vấn đề chính được đặt ra. Theo chế độ kế toán hiện hành, món nợ phải ghi
vào bảng cân đối, còn tài sản thuê không phải ghi. Đối với số tiền mà bên thuê
phải chi trả thì cơ quan thuế coi nó như một chi phí khấu hao.
Mặc dù công ty cho thuê tài chính có tác dụng cho các doanh nghiệp như
vậy nhưng hoạt động công ty tài chính thời gian vừa qua vẫn còn nhiều hạn
chế, chưa phát huy được khả năng, trong khi nhu cầu về thuê máy móc, thiết bị
của doanh nghiệp nhỏ và vừa còn rất lớn. Nguyên nhân của hạn chế này là do
môi trường pháp lý về công ty tài chính chưa đầy đủ, chưa hoàn thiện. Thời
gian tới, khi cơ chế chính sách về hoạt động cho thuê tài chính được hoàn thiện,
các doanh nghiệp cần chủ động “đón đầu” để phát huy tối đa lợi thế của kênh
tín dụng này.

3. Doanh nghiệp đang cần vốn, cần huy động nguồn vốn nào, tại sao?
Sau khi tìm hiểu kỹ các phương pháp huy động vốn cho doanh nghiệp
tôi mạnh dạn đề nghị doanh nghiệp nên chọn phương án huy động vốn theo
kênh cho thuê tài chính.

8


Hiện nay lượng vốn dài hạn đầu tư cho các dự án này ở các doanh nghiệp
Việt nam là hết sức khiêm tốn. Kênh tài trợ quen thuộc vẫn là phát hành trái
phiếu, cổ phiếu tuy nhiên thời điểm này khi thị trường chứng khoán ảm đạm
việc phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu là không khả thi, hay đi vay ở các ngân
hàng thương mại. Tuy nhiên đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh
nghiệp mới thành lập không có đủ tài sản đảm bảo cũng như uy tín thì việc tiếp
cận nguồn vốn vay ngân hàng là điều hết sức khó khăn lãi suất vẫn còn cao
(mặc dù thời gian vừa qua chính phủ liên tiếp có các động thái giảm lãi suất
huy động nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp) tuy nhiên theo quan sát
thật tế tôi cảm nhận rằng tiếp cận được nguồn vốn vay trong thời điểm này
cũng không hề dễ dàng .
Trong những trường hợp như vậy, đi thuê tài chính có thể là một giải pháp
tối ưu.
Như vậy thuê tài chính khác gì với thuê thông thường mà nó lại có khả năng là
một kênh tín dụng hữu hiệu cho doanh nghiệp?
Khi doanh nghiệp cần mua sắm trang thiết bị sản xuất có thể sử dụng hình
thức thuê tài sản. Nếu hợp đồng thuê tài sản gần như kéo dài suốt vòng đời hữu
ích của nó và không thể hủy ngang hoặc chỉ được hủy ngang khi doanh nghiệp
đã bồi thường thỏa đáng cho bên cho thuê thì gọi là thuê tài chính. Ngược lại,
thuê tài sản trong thời gian ngắn, và có thể hủy ngang tùy theo ý muốn chủ
quan của doanh nghiệp đi thuê gọi là thuê hoạt động (thuê thông thường).
Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì một giao dịch được gọi là thuê tài
chính phải thoả mãn một trong những điêu kiện sau:
- Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được chuyển
quyền sở hữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai
bên.

9


- Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên
mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại
thời điểm mua lại;
- Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần
thiết để khấu hao tài sản thuê;
- Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính,
ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng
Do các điều kiện trên nên cho thuê tài chính thực ra là một hình thức cấp tín
dụng.
Khi một hợp đồng thuê tài chính được ký kết, đồng nghĩa với việc doanh
nghiệp được cấp một khoản vốn. Khoản vốn này có được do doanh nghiệp
không phải bỏ tiền ra mua tài sản mà vẫn có tài sản sử dụng lâu dài cho hoạt
động sản xuất kinh doanh. Vì đáng lẽ ra, có thể doanh nghiệp đã phải đi vay
một số vốn tương đương giá trị tài sản trong hợp đồng thuê trả cho công ty cho
thuê tài chính bao gồm cả vốn gốc và lãi.
Lợi ích của doanh nghiệp
Đối với các khoản vốn vay trung và dài hạn, các ngân hàng thương mại luôn
đòi hỏi tài sản đảm bảo ( thế chấp hoặc cầm cố) và chỉ cho vay tối đa là 80%
tổng chi phí thực hiện dự án, nhưng đối với kênh cho thuê tài chính, doanh
nghiệp chẳng những không cần ký quỹ đảm bảo hay tài sản thế chấp mà còn có
thể được tài trợ đến 100% vốn đầu tư.
Lãi suất hoàn toàn dựa trên sự thỏa thuận của 2 bên: cho vay và đi vay tài
chính. Kênh tín dụng này cho phép doanh nghiệp được hoàn toàn chủ động
trong việc lựa chọn máy móc thiết bị, nhà cung cấp, cũng như mẫu mã chủng
loại phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp mình.
Ngoài ra nếu doanh nghiệp đầu tư mua tài sản mà thiếu vốn lưu động thì có
thể bán lại cho công ty cho thuê tài chính và sau đó công ty sẽ cho doanh

10


nghiệp thuê lại. Như vậy doanh nghiệp vừa có vốn lưu động cho hoạt động sản
xuất kinh doanh mà vẫn được sử dụng tài sản.
Khi kết thúc thời hạn thuê, doanh nghiệp được quyền ưu tiên mua lại tài sản
với giá trị danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản tại thời điểm mua lại.
Hoạt động cho thuê tài chính còn có một ưu điểm vô cùng quan trọng nữa đó
là: lợi ích được hưởng từ tấm chắn thuế.
Tài sản cho thuê tài chính vẫn thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê nên bên
cho thuê được phép khấu hao tài sản đó, làm giảm thuế thu nhập phải nộp. Mặt
khác, bên đi thuê phải trả chi phí thuê, chi phí đó được khấu trừ trước thuế nên
cũng làm giảm thuế thu nhập mà doanh nghiệp phải nộp. Như vậy cả hai doanh
nghiệp đều nhận được lợi ích từ tấm chắn thuế.
Qua những nét phác họa cơ bản trên, theo tôi kênh tín dụng cho thuê tài
chính có thể là một sự lựa chọn tốt cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi có nhu
cầu. Nhất là trong thời điểm khó khăn như hiện nay đã được phân tích ở trên.

KẾT LUẬN
Ngay cả sau khi tìm hiểu kỹ các phương pháp huy động vốn cho doanh
nghiệp, nhiều người vẫn phân vân không biết đâu là phương pháp tốt nhất. Câu trả
lời là tùy thuộc vào từng tình huống. Nguồn vốn tài chính, các chủ đầu tư tiềm
11


năng, tình trạng tín dụng, kế hoạch kinh doanh, tình hình thuế, tình trạng đóng
thuế của các chủ đầu tư, và loại hình doanh nghiệp chúng ta muốn kinh doanh…
sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyết định phương pháp huy động vốn của chúng ta.
Xem xét kế hoạch kinh doanh một cách cẩn thận và hỏi ý kiến tư vấn của các
chuyên gia để giúp chúng ta đưa ra được quyết định tốt nhất cho bản thân và cho
doanh nghiệp.
Xin chân thành cám ơn Thầy: TS. Đặng Ngọc Đại đã mang lại cho em
những cái nhìn đầy đủ hơn với môn học Tài chính doanh nghiệp, dù thời gian
tương đối ngắn nhưng em đã lĩnh hội được những điều cơ bản nhất.
Do thời gian, khả năng có hạn bài tiểu luận của em không tránh khỏi những
thiếu sót, hy vọng sẽ được thầy chỉ điểm thêm để bản thân có được nền về Quản
trị

Tham khảo :
Bài xuất bản trên báo Đất Việt
Bài viết được cung cấp bởi Công ty Chứng khoán Habubank (HBBS)
Theo Business Knowledge Resource

12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×