Tải bản đầy đủ

đánh giá ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật trên ruộng lúa và các sông, rạch chính tại tỉnh hậu giang tt (1)

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
-oOo-

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Chuyên ngành: Môi trường Đất và Nước
Mã ngành: 9 44 03 03

NGUYỄN PHAN NHÂN

ĐÁNH GIÁ Ô NHIỄM THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
TRÊN RUỘNG LÚA VÀ CÁC SÔNG RẠCH CHÍNH
TẠI TỈNH HẬU GIANG

Cần Thơ - 2018


CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI:
KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN,
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ


Người hướng dẫn chính: PGS. TS. Bùi Thị Nga
Người hướng dẫn phụ: PGS. TS. Phạm Văn Toàn

Luận án được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp
trường
Họp tại: …………………………………….……….
Vào lúc…..giờ …...ngày…….tháng…..năm……….

Phản biện 1:………………………………………….
Phản biện 2:………………………………………….
Phản biện 3:………………………………………….

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
Trung tâm học liệu, Trường Đại học Cần Thơ.
Thư viện Quốc gia Việt Nam.


DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
Bài báo khoa học
1. Nguyễn Phan Nhân, Bùi Thị Nga, Phạm Văn Toàn và Lâm Quang Trung,
2014. Dư lượng hoạt chất Fenobucarb trong nước trên ruộng lúa, kênh nội
đồng và các sông rạch chính tại tỉnh Hậu Giang. Tạp chí Nông nghiệp và Phát
triển Nông Thôn, 9 (1): 52 – 58. ISSN: 1859-4581 (Danh mục cũ là ISSN:
0866-7020).
2. Nguyễn Phan Nhân, Bùi Thị Nga và Phạm Văn Toàn, 2015. Hàm lượng
Fenobucarb trong đất ruộng lúa, trong bùn đáy trên kênh nội đồng và một số
sông rạch chính tại tỉnh Hậu Giang. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông
Thôn, 6 (2): 53 – 60. ISSN: 1859-4581 (Danh mục cũ là ISSN: 0866-7020).
3. Nguyễn Phan Nhân, Phạm Văn Toàn và Bùi Thị Nga, 2015. Hàm lượng hoạt
chất Quinalphos trong đất trên ruộng lúa và trong bùn đáy các sông chính tại
tỉnh Hậu Giang. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn, 13 (1): 30 –
38. ISSN: 1859-4581 (Danh mục cũ là ISSN: 0866-7020).
4. Nguyễn Phan Nhân, Bùi Thị Nga và Phạm Văn Toàn, 2015. Sử dụng thuốc
bảo vệ thực vật và quản lý bao bì chứa thuốc trong canh tác lúa tại tỉnh Hậu
Giang. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, chuyên đề Môi trường và
Biến đổi Khí hậu: 41 – 49. ISSN: 1859-2333.
5. Nguyễn Phan Nhân, Phạm Văn Toàn và Bùi Thị Nga, 2016. Đặc điểm động
vật đáy trên một số thủy vực ảnh hưởng canh tác nông nghiệp tại tỉnh Hậu
Giang. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 42: 65-74. ISSN: 18592333.


6. Nguyễn Phan Nhân, Bùi Thị Nga và Phạm Văn Toàn, 2016. Thành phần loài
động vật không xương sống đáy và mối liên hệ với dư lượng thuốc bảo vệ
thực vật – Nghiên cứu điển hình: Hệ thống kênh nội đồng và sông rạch tỉnh
Hậu Giang. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn, 1: 96 - 103. ISSN:
1859-4581 (Danh mục cũ là ISSN: 0866-7020).
7. Nguyễn Phan Nhân, Bùi Thị Nga, Phạm Văn Toàn và Trần Trung Bảy, 2016.
Dư lượng hoạt chất Propiconazole trong đất ruộng lúa và trong bùn đáy trên
kênh nội đồng tại tỉnh Hậu Giang. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần thơ,
47: 32-39. ISSN: 1859-2333.
8. Nguyễn Phan Nhân, Bùi Thị Nga và Phạm Văn Toàn, 2017. Dư lượng
Propiconazole trong nước trên ruộng lúa và các sông, rạch tại tỉnh Hậu Giang.
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn, 3+4: 120-126. ISSN: 18594581 (Danh mục cũ là ISSN: 0866-7020).


9. Bùi Thị Nga, Võ Xuân Hùng và Nguyễn Phan Nhân, 2013. Thực trạng và
giải pháp quản lý chất thải rắn nguy hại trong canh tác lúa trên địa bàn tỉnh
Hậu Giang. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần thơ, 29: 83 – 88. ISSN:
1859-2333.
10. Phạm Văn Toàn, Nguyễn Phan Nhân và Bùi Thị Nga, 2014. Dư lượng hoạt
chất thuốc bảo vệ thực vật Quinalphos trong nước trên ruộng lúa và sông rạch
ở tỉnh Hậu Giang. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần thơ, 33: 109 – 116.
ISSN: 1859-2333.
Đề tài nghiên cứu khoa học
1. Nguyễn Phan Nhân, Bùi Thị Nga, Nguyễn Công Thuận, Huỳnh Khoa Toàn,
Trần Hoàng Hy và Trần Trung Hiếu, 2014. Nghiên cứu sự phân bố động vật
đáy ở một số thủy vực chính trên địa bàn tỉnh Hậu Giang. Đề tài NCKH cấp
trường, Trường Đại học Cần Thơ, TNCS 2013_21.
2. Nguyễn Phan Nhân và Bùi Thị Nga, 2015. Dư lượng hoạt chất Quinalphos
trong đất ruộng và bùn đáy trên sông rạch chính tại tỉnh Hậu Giang. Đề tài
NCKH cấp trường, Trường Đại học Cần Thơ, TNCS 2014_24.


CHƯƠNG 1

GIỚI THIỆU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, thuốc BVTV đã được sử dụng rất phổ biến, tăng từ
20.300 tấn đến 103.500 tấn ở năm 1991 đến 2012 (Pham Van Toan, 2011;
Tổng cục môi trường, 2013). Nghiên cứu của Blasing (2010) đã chỉ ra rằng
dư lượng cao nhất của fipronil, fenobucarb, cypermethrin và propiconazole
trong đất ruộng lúa tại Đồng Tháp và Cần Thơ lần lượt là 0,9 µg/Kg, 25,1
µg/Kg, 90,2 µg/Kg và 82,4 µg/Kg; trong nước trên ruộng lúa có giá trị cao
nhất là 5,68 µg/L, 5 µg/L, 4,89 µg/L và 0,43 µg/L tương ứng (Pham Van
Toan, 2011). Propiconazole, fenobucarb, quinalphos, cypermethrin và
fipronil cũng được phát hiện trong nước trên các sông, rạch tại Cần Thơ và
An Giang có giá trị cao nhất là 4,76 µg/L; 2,32 µg/L; 1,33 µg/L; 0,77 µg/L
và 0,41 µg/L (Chau et al. 2015). Dư lượng thuốc BVTV đã ảnh hưởng đến
các loài động vật sống trong nước, đặc biệt là động vật đáy (ĐVĐ), (Frank
et al. 2000; DeLorenzo et al. 2001; Frankart et al. 2003; Castillo et al.
2006). Nhiều nghiên cứu trên sông, rạch chịu ảnh hưởng canh tác lúa cho
thấy thuốc BVTV đã làm giảm thành phần loài và số cá thể lớp Insecta và
Malacostraca, trong khi số cá thể lớp Oligochaeta và Gastropoda gia tăng
(Heckmann and Friberg, 2005; Lenwood et al. 2007; Leitao et al. 2007).
Trên thế giới, để đánh giá thủy vực bị ô nhiễm thuốc BVTV, chỉ số
SPEARpesticides (SPEcies At Risk) đã ra đời. Ưu điểm của chỉ số này là đánh
giá dựa vào sự đáp ứng của động vật đáy với dư lượng thuốc, nhưng không
phụ thuộc vào các yếu tố vô sinh (pH, nhiệt độ, TSS…) (Liess and Von Der
Ohe, 2005) hay khác nhau về vùng địa lý (Schafers et al. 2012). Chỉ số được
phát triển ở mức độ loài SPEARpesticide(sp) và mức độ họ SPEARpesticide(fm);
nhưng chỉ số SPEARpesticides(fm) được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia
như Pháp, Đức, Phần Lan, Đan Mạch, Australia, Nga và Costa Rica bởi vì
dễ áp dụng, không đòi hỏi nhiều kỹ năng và nhân lực (Liess et al. 2008;
Beketov et al. 2009; Schafers et al. 2012, Rasmussen et al. 2016).
Ở Việt Nam và Đồng Bằng Sông Cửu Long, ĐVĐ được sử dụng để
đánh giá chất lượng môi trường nước bị ô nhiễm hữu cơ thông qua chỉ số đa
dạng sinh học, BBI (Belgian Biotic Index) và BWMP (Phạm Văn Toàn và
Lê Hoàng Việt, 2008; Nguyễn Công Thuận và ctv. 2010; Dương Trí Dũng
và ctv. 2011). Các nghiên cứu sử dụng ĐVĐ để đánh giá môi trường nước
bị ảnh hưởng bởi thuốc BVTV vẫn còn rất hạn chế.
Tỉnh Hậu Giang có thế mạnh về nông nghiệp với diện tích đất trồng
lúa chiếm 59,5% trong tổng diện tích đất nông nghiệp của Tỉnh (Niên giám
thống kê Hậu Giang, 2015). Mô hình canh tác lúa 3 vụ/năm và 2 vụ/năm đã
tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển, do vậy thuốc BVTV được sử dụng
với liều lượng cao hơn chỉ dẫn và tần suất phun thuốc phổ biến là 7 – 8
lần/vụ. Khảo sát thực tế tại Hậu Giang cho thấy người dân vẫn còn sử dụng
1


nguồn nước sông, rạch cho sinh hoạt; nếu như trong nước mặt tồn lưu thuốc
BVTV thì có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng dân cư tại chỗ và
lân cận (Gandhi and Snedeker, 1999). Từ vấn đề được đề cập, đề tài “Đánh
giá ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật trên ruộng lúa và các sông rạch chính tại
tỉnh Hậu Giang” đã được thực hiện.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu dư lượng thuốc BVTV trong nước trên ruộng lúa, kênh
nội đồng và sông, rạch nhằm đánh giá mức độ ô nhiễm giữa các thủy vực bị
ảnh hưởng bởi thuốc BVTV.
Nghiên cứu dư lượng thuốc BVTV trong đất ruộng lúa và bùn đáy
trên kênh nội đồng, các sông, rạch tiếp nhận nhằm đánh giá tương quan
giữa thuốc BVTV với động vật đáy và xác định chỉ số SPEARpesticides dựa
vào động vật đáy để phản ánh tình trạng của các thuỷ vực có động vật đáy
bị rủi ro với thuốc trên địa bàn tỉnh Hậu Giang.
1.3 Nội dung nghiên cứu
Đánh giá thực trạng sử dụng và quản lý thuốc BVTV ở khu vực lúa 3
vụ/năm và 2 vụ/năm thuộc 3 huyện có diện tích canh tác lúa lớn nhất gồm
Long Mỹ, Vị Thủy và Phụng Hiệp là cơ sở xác định thời gian, vị trí thu
mẫu và các hoạt chất thuốc BVTV được sử dụng phổ biến.
Đánh giá biến động dư lượng thuốc BVTV trong nước, trong đất
ruộng lúa và trong bùn đáy trên kênh nội đồng và sông, rạch tiếp nhận nước
từ kênh nội đồng.
Đánh giá thành phần loài và số lượng cá thể động vật đáy trên ruộng
lúa, kênh nội đồng và sông rạch. Xác định chỉ số SPEARpesticides dựa vào
động vật đáy ở mức độ họ để phản ánh tình trạng các thủy vực có động vật
đáy bị rủi ro với thuốc BVTV tại địa bàn nghiên cứu.
1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu trên ruộng lúa, kênh nội đồng và sông, rạch
thuộc khu vực lúa 3 vụ/năm và 2 vụ/năm tại 3 huyện Long Mỹ, Vị Thuỷ và
Phụng Hiệp; điểm tham chiếu là rạch Mái Dầm tại thị trấn Mái Dầm, huyện
Châu Thành, tỉnh Hậu Giang; đây là khu vực không canh tác lúa.
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Cung cấp số liệu về dư lượng 5 hoạt chất propiconazole, fipronil,
quinalphos, fenobucarb và cypermethrin trong nước mặt, trong đất và bùn
đáy từ ruộng lúa ra kênh nội đồng và sông, rạch tiếp nhận là cơ sở đánh giá
tình hình ô nhiễm thuốc BVTV trong nước, đất và bùn đáy, phục vụ cho
công tác quan trắc dư lượng thuốc trên địa bàn tỉnh Hậu Giang.
Phân tích, đánh giá được mối liên hệ giữa dư lượng thuốc BVTV với
động vật đáy và tình trạng các loại hình thuỷ vực khác nhau bị ảnh hưởng
bởi thuốc dựa vào chỉ số SPEARpesticides.
2


CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ năm 2011 đến năm 2016 trên địa bàn 3
huyện Long Mỹ, Vị Thủy và Phụng Hiệp thuộc tỉnh Hậu Giang.
Trong phạm vi của đề tài, địa điểm nghiên cứu là khu vực canh tác
lúa 3 vụ/năm và 2 vụ/năm. Niên giám thống kê tỉnh Hậu Giang (2012) trên
địa bàn nghiên cứu, diện tích canh tác lúa 3 vụ/năm là 58.808 ha, chiếm
76%, cao hơn so với canh tác lúa 2 vụ/năm là 18.574 ha, chiếm 24%. Khảo
sát chọn vị trí nghiên cứu cho thấy xã Phương Phú – Phụng Hiệp đại diện
cho mô hình canh tác lúa 2 vụ/năm (vị trí Quản Lộ Phụng Hiệp). Các ruộng
lúa ở khu vực này chỉ canh tác vụ Đông – Xuân và Hè – Thu; vụ Thu –
Đông không canh tác lúa là do bị ảnh hưởng bởi mùa lũ và mực nước trên
ruộng ≥50 cm. Khu vực canh tác lúa 3 vụ/năm gồm xã Hoà An – Phụng
Hiệp (Lái Hiếu), xã Long Trị - Long Mỹ (Cái Lớn), thị trấn Kinh Cùng –
Phụng Hiệp (Nàng Mau) và xã Vị Thanh – Vị Thuỷ (Xà No). Ở các khu
vực này, các ruộng lúa canh tác 3 vụ gồm Đông – Xuân, Hè – Thu và Thu –
Đông. Điểm tham chiếu được chọn là rạch Mái Dầm tại thị trấn Mái Dầm –
Châu Thành; đây là khu vực không canh tác lúa và có thế mạnh kinh tế về
thương mại, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp (Bảng 2.1).
Ở mỗi vị trí nghiên cứu, ruộng lúa được chọn thu mẫu giống nhau về
điều kiện và kỹ thuật canh tác. Kênh nội đồng được chọn thu mẫu phải nhận
nước thải trực tiếp từ các ruộng lúa khảo sát. Đoạn sông, rạch được chọn phải
nhận nước thải trực tiếp từ kênh nội đồng khảo sát. Các đoạn sông, rạch này
thuộc sông Lái Hiếu, Cái Lớn, Nàng Mau và Xà No đã cung cấp và tiếp nhận
nước thải từ các ruộng lúa 3 vụ/năm; kênh Quản Lộ Phụng Hiệp là từ các
ruộng lúa 2 vụ/năm; đây cũng là hệ thống sông, rạch phục vụ tưới tiêu nông
nghiệp cho toàn tỉnh Hậu Giang. Rạch Mái Dầm nhận nguồn nước từ các sông,
rạch này khi triều xuống. Tọa độ các điểm thu mẫu được thể hiện ở Bảng 2.1.
Bảng 2.1 Toạ độ các điểm thu mẫu trên ruộng lúa, kênh nội đồng và sông, rạch
Khu vực
Ruộng lúa
Vị trí
nghiên cứu nghiên cứu
(R)
9044’27,10’’B
Khu vực Lái Hiếu
105039’58,80’’Đ
canh tác lúa
9044’27,10’’B
3 vụ/năm
105039’58,80’’Đ
9044’38,39’’B
105039’54,95’’Đ
9041’20,00’’B
Cái Lớn
105036’80,00’’Đ
9041’20,55’’B
105036’23,30’’Đ
9041’25,28’’B
105036’20,13’’Đ

Kênh nội đồng
(K)
9045’14,35’’B
105039’51,15’’Đ
9044’32,63’’B
105039’55,79’’Đ
9044’40,32’’B
105039’52,72’’Đ
9041’38,02’’B
105036’11,32’’Đ
9041’36,88’’B
105036’11,45’’Đ
9040’47,78’’B
105036’13,19’’Đ

3

Sông, rạch
Địa bàn
nghiên cứu
(S)
9045’00,97’’B
Hoà An –
105039’50,57’’Đ Phụng Hiệp
9044’59,00’’B
105039’46,85’’Đ
9044’56,07’’B
105039’41,23’’Đ
9041’43,24’’B Long Trị –
105036’09,42’’Đ
Long Mỹ
9041’42,95’’B
105036’07,95’’Đ
9041’44,18’’B
105036’10,51’’Đ


9049’47,56’’B
Khu vực Nàng Mau
105038’34,37’’Đ
canh tác lúa
9049’43,48’’B
3 vụ/năm
105038’36,46’’Đ
9049’45,24’’B
105038’36,82’’Đ
9051’35,22’’B
Xà No
105035’49,18’’Đ
9051’41,85’’B
105033’03,95’’Đ
9051’44,82’’B
105033’05,41’’Đ
9041’52,65’’B
Khu vực Quản Lộ
105043’27,00’’Đ
canh tác lúa Phụng
9041’51,21’’B
2 vụ/năm Hiệp
105043’31,04’’Đ
9041’52,05’’B
105043’32,97’’Đ
Khu vực
Mái Dầm
không canh
tác lúa
(Điểm tham
chiếu)
-

9049’45,47’’B
105038’34,20’’Đ
9049’43,12’’B
105038’35,77’’Đ
9049’43,38’’B
105038’36,37’’Đ
9051’39,73’’B
105033’01,06’’Đ
9051’40,03’’B
105033’01,69’’Đ
9051’43,24’’B
105033’05,11’’Đ
9041’54,63’’B
105043’26,52’’Đ
9041’55,64’’B
105043’28,78’’Đ
9041’56,29’’B
105043’29,44’’Đ
-

9049’37,63’’B Kinh Cùng –
105038’32,09’’Đ Phụng Hiệp
9049’38,14’’B
105038’34,94’’Đ
9049’38,34’’B
105038’36,65’’Đ
9051’46,11’’B Vị Thanh –
105033’24,06’’Đ
Vị Thuỷ
9051’41,82’’B
105033’20,51’’Đ
9051’41,20’’B
105033’19,03’’Đ
9041’57,05’’B Phương Phú –
105045’26,87’’Đ Phụng Hiệp
9041’55,78’’B
105045’25,26’’Đ
9041’54,38’’B
105045’23,39’’Đ
9056’07,78’’B Mái Dầm –
105052’17,74’’Đ Châu Thành
9056’07,61’’B
105052’17,54’’Đ
9056’07,19’’B
105052’17,08’’Đ

Ghi chú: Hệ tọa độ DMS [độ ( ): phút (’): giây (’’)]; B: vĩ Bắc; Đ: kinh Đông.
0

2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Nội dung 1: Đánh giá thực trạng sử dụng và quản lý thuốc BVTV
Thực trạng sử dụng và quản lý thuốc BVTV dựa vào phỏng vấn trực tiếp
nông hộ ở 3 huyện thuộc tỉnh Hậu Giang. Mỗi huyện chọn 3 xã có diện tích lúa lớn
nhất để phỏng vấn. Tổng số hộ được phỏng vấn là 360 hộ; trong đó 30 hộ được
phỏng vấn từ 12/2011-01/2012 là cơ sở để xây dựng đề cương nghiên cứu cho luận
án; 270 hộ được phỏng vấn từ 08/2012-01/2013 và 60 hộ từ 12/2013-02/2014 là cơ
sở để đánh giá tình hình sử dụng và quản lý thuốc BVTV theo thời gian.
Tổng hợp kết quả phỏng vấn đã xác định được hoạt chất thuốc BVTV
được sử dụng phổ biến tại địa bàn để tiến hành thu mẫu; xác định thời gian
và vị trí thu mẫu trên ruộng lúa, kênh nội đồng và sông, rạch.
Kết quả phỏng vấn đã xác định lượng thuốc BVTV được sử dụng trên
đơn vị diện tích (Kg/ha). Công thức tính toán như sau:

(Nguồn: Chau et al. 2015)

Trong đó, A là tổng lượng thuốc sử dụng/diện tích (Kg/ha). Ap là
lượng hoạt chất sử dụng/diện tích (Kg/ha). Mp là lượng hoạt chất của mỗi
loại thuốc (Kg/Kg; Kg/L). St là tổng diện tích lúa (ha). Mi là liều lượng sử
dụng thuốc mỗi hộ (Kg/ha; L/ha). Si là diện tích lúa mỗi hộ (ha).
4


2.2.2 Nội dung 2: Thu mẫu và phân tích thuốc BVTV trong nước, trong đất và bùn đáy
a. Thời điểm thu mẫu nước, đất và bùn đáy
Mẫu nước, đất và bùn đáy được thu trên ruộng lúa, kênh nội đồng và
sông, rạch ở khu vực lúa 3 vụ/năm và 2 vụ/năm. Ở năm 2012–2013, mẫu phân
tích cypermethrin, quinalphos và fenobucarb được thu ở vụ lúa Đông–Xuân,
Hè–Thu và Thu–Đông. Năm 2014–2015, mẫu phân tích propiconazole và
fipronil chỉ được thu ở vụ Đông–Xuân (Bảng 2.2). Thời điểm thu mẫu là 55
ngày tuổi lúa bởi vì ở thời điểm này các hoạt chất nghiên cứu được sử dụng với
tần suất là 1–4 lần; sau đó, không được sử dụng.
Bảng 2.2 Thời điểm, nội dung và phương pháp thu mẫu
Thời điểm
Đông – Xuân
(10/2012 – 01/2013)

Hè – Thu
(02/2013 – 05/2013)

Thu – Đông
(06/2013 – 09/2013)

Đông – Xuân
(09/2014 – 01/2015)

Nội dung thu mẫu
- Mẫu nước phân tích
cypermethrin, quinalphos và
fenobucarb.
- Mẫu đất, bùn đáy phân tích
cypermethrin, quinalphos và
fenobucarb.
- Mẫu động vật đáy
- Mẫu nước phân tích
cypermethrin, quinalphos và
fenobucarb.
- Mẫu đất, bùn đáy phân tích
cypermethrin, quinalphos và
fenobucarb.
- Mẫu động vật đáy
- Mẫu nước phân tích
cypermethrin, quinalphos và
fenobucarb.
- Mẫu đất, bùn đáy phân tích
cypermethrin, quinalphos và
fenobucarb.
- Mẫu động vật đáy
- Mẫu nước phân tích
propiconazole và fipronil.
- Mẫu đất, bùn đáy phân tích
propiconazole và fipronil.

Phương pháp thu mẫu
- Tiêu chuẩn ngành 10 TCN
386 – 99.
- Quy trình Akerblom (1995).

- Tiêu chuẩn MRC [Mekong
river commission] (2010).
- Tiêu chuẩn ngành 10 TCN
386 – 99.
- Quy trình Akerblom (1995).

- Tiêu chuẩn MRC [Mekong
river commission] (2010).
- Tiêu chuẩn ngành 10 TCN
386 – 99.
- Quy trình Akerblom (1995).

- Tiêu chuẩn MRC [Mekong
river commission] (2010).
- Tiêu chuẩn ngành 10 TCN
386 – 99.
- Quy trình Akerblom (1995).

b. Phương pháp thu mẫu và phân tích thuốc BVTV trong nước.
- Phương pháp thu mẫu nước
Mẫu nước được thu theo tiêu chuẩn ngành 10 TCN 386-99 quy định
về phương pháp lấy mẫu kiểm định chất lượng và dư lượng thuốc BVTV
(Bảng 2.2). Mẫu được thu ở độ sâu 20 cm tính từ mặt nước.
5


Hình 2.1 Sơ đồ các điểm thu mẫu ở mỗi vị trí nghiên cứu
Ghi chú: S: Sông, rạch; K: Kênh nội đồng; R: ruộng lúa; : điểm thu mẫu;

: mương bao ruộng lúa

Trên ruộng lúa, 3 mẫu tổ hợp được thu trên 3 ruộng lúa. Ở mỗi ruộng
lúa, mẫu tổ hợp gồm 5 mẫu đơn được thu theo đường Zic-zac trên các
mương bao ở đầu, giữa và cuối ruộng lúa; sau đó trộn lại. Trên kênh nội
đồng, thu 3 mẫu tổ hợp cách nhau từ 100 – 500 m. Trên sông, rạch thu 3
mẫu tổ hợp cách nhau từ 500 – 1.000 m (Hình 2.1). Điểm tham chiếu chỉ
thu 3 mẫu tổ hợp trên rạch Mái Dầm, mỗi mẫu các nhau từ 500 – 1.000 m.
Mỗi mẫu tổ hợp gồm 5 mẫu đơn có thể tích là 1 L/mẫu, được trộn
đều trong xô làm bằng kim loại không rỉ sét và thu 1 L nước. Sau đó, acid
hóa mẫu bằng dung dịch HCl đưa pH về 2 – 2,5 và trữ lạnh tạm thời. Mẫu
được trữ ở 4 0C tại phòng thí nghiệm và phân tích trong 1 tuần.
Số mẫu nước được thu ở năm 2012 – 2013 là 144 mẫu/3 vụ lúa. Năm
2014 – 2015, số mẫu nước là 48 mẫu/1 vụ lúa.
Các chỉ tiêu nhiệt độ, pH, độ dẫn điện (EC) và nồng độ oxy hòa tan
(DO) trong nước được đo trực tiếp tại hiện trường.
- Phương pháp phân tích thuốc BVTV trong nước
Dư lượng các hoạt chất nghiên cứu trong nước được chiết tách và
phân tích theo phương pháp Laabs et al. (2007) trích dẫn của Pham Van
Toan et al. (2013) và được hiệu chỉnh để đạt độ thu hồi (%recovery) ≥70%.
Mẫu được chiết tách theo phương pháp chiết pha rắn bằng cột lọc
Strata C18-E (500 mg). Hoạt chất δ-HCH được sử dụng làm chất đồng hành
để tính độ thu hồi. Việc xác định dư lượng thuốc BVTV trong mẫu dựa vào
các hoạt chất chuẩn và chất nội chuẩn Fluorene – D10.
c. Phương pháp thu mẫu và phân tích thuốc BVTV trong đất, bùn đáy
- Phương pháp thu mẫu đất, bùn đáy
Mẫu tổ hợp đất và bùn đáy được thu ngay sau khi đã thu mẫu nước
tại cùng vị trí thu mẫu nước (Hình 2.1). Mẫu được thu theo quy trình
Akerblom (1995) ở độ sâu 20 cm (Bảng 2.2).
6


Mẫu đất và bùn đáy tổ hợp gồm 5 mẫu đơn có khối lượng tương đối
bằng nhau và trộn đều trong xô kim loại không rỉ sét. Mẫu phân tích thuốc
được chứa trong giấy nhôm với khối lượng khoảng 300 g. Sau khi thu, mẫu
được trữ lạnh tạm thời và chuyển về phòng thí nghiệm. Mẫu được trữ trong
điều kiện -200C và phân tích trong 1 – 2 tuần.
Số mẫu đất và bùn đáy được thu ở năm 2012 – 2013 là 144 mẫu/ 3 vụ
lúa. Năm 2014 – 2015, số mẫu được thu là 48 mẫu/1 vụ lúa.
Các chỉ tiêu pH, EC, thành phần cơ giới và chất hữu cơ trong đất và
bùn đáy được thu và phân tích theo TCVN 5979:2007; TCVN 6650:2000;
TCVN 5257:1990 và phương pháp chuẩn độ Walkley-Black.
- Phương pháp phân tích thuốc BVTV trong đất và bùn đáy
Dư lượng thuốc BVTV trong đất, bùn đáy được chiết tách và phân
tích theo phương pháp Laabs et al. (1999) trích dẫn của Blasing (2010) và
được hiệu chỉnh bởi đề tài. Chất đồng hành δ-HCH được đưa vào mẫu để
tính toán độ thu hồi (%recovery) ≥ 70%.
Các hoạt chất nghiên cứu được phân tích bằng máy sắc ký khí Shimadzu
GC - 2010 ghép với khối phổ Shimadzu GCMS - QP2010, có tích hợp bộ tiêm
mẫu tự động Shimadzu AOC – 20S. Máy sắc ký khí được lắp đặt cột dẫn mao
quản Rxi@5Sil MS W/Inter: dài 30 m, đường kính trong 0,25 mm và độ dày
0,25 m. Khí He-li được sử dụng làm khí mang với tốc độ dòng không đổi là
1,0 mL/phút. Chương trình nhiệt được áp dụng như sau: (1) Nhiệt độ ban đầu 80
0
C được giữ trong 2 phút; (2) tăng nhiệt độ lên với tốc độ 15 0C/phút đến 180 0C;
(3) tiếp tục tăng nhiệt độ với tốc độ 10 0C/phút đến 250 0C và giữ trong 2 phút;
(4) tăng nhiệt độ lên với tốc độ 10 0C đến 300 0C và giữ trong 5 phút. Nhiệt độ
của buồng tiêm được hiệu chỉnh ở 250 0C. Thể tích mỗi lần tiêm là 1 µL.
Dư lượng thuốc BVTV được xác định theo phương pháp nội suy với
chất nội chuẩn là Fluorene-D10. Phương trình đường chuẩn được xây dựng
dựa trên 5 mức nồng độ là 0,005; 0,01; 0,05; 0,1 và 0,5 ppm với hệ số xác
định R2 = 0,999 (propiconazole); R2 = 0,9999 (fipronil); R2 = 0,9993
(quinalphos); R2 = 0,9997 (fenobucarb) và R2 = 0,999 (cypermethrin).
2.2.3 Nội dung 3: Thu mẫu, phân tích động vật đáy (ĐVĐ)
a. Phương pháp thu mẫu động vật đáy (ĐVĐ)
Mẫu động vật đáy được thu cùng vị trí và ngay sau khi đã thu mẫu
nước, đất và bùn đáy (Hình 2.1). Thời điểm thu mẫu ĐVĐ là 3 vụ lúa Đông
– Xuân, Hè – Thu và Thu – Đông ở năm 2012 – 2013. Phương pháp thu
mẫu ĐVĐ theo tiêu chuẩn của MRC [MEKONG RIVER COMMISSION]
(2010): Sử dụng gàu Ekman để thu mẫu động vật đáy (Bảng 2.2).
Mẫu sau khi thu cho vào sàn ĐVĐ có kích thước mắt lưới là 0,5 mm
để loại bỏ rác và bùn; sau đó cho vào bọc nylon và bảo quản bằng dung
dịch formol 8%.
Số mẫu ĐVĐ được thu là 144 mẫu/ 3 vụ lúa của năm 2012 – 2013.
7


b. Chỉ số đa dạng Shannon-Wienner (H’)
Công thức tính chỉ số đa dạng Shannon – Wienner (H’).

(Nguồn: Shannon and Wienner, 1964)

Trong đó: ni là số lượng cá thể loài i; n là tổng số lượng cá thể ĐVĐ.
c. Xác định chỉ số SPEARpesticides dựa vào ĐVĐ ở mức độ họ phản
ánh tình trạng thuỷ vực bị ảnh hưởng bởi thuốc BVTV
Trong phạm vi nghiên cứu, chỉ số SPEARpesticides ở mức độ họ ĐVĐ được
sử dụng để đánh giá tình trạng thuỷ vực bị ảnh hưởng bởi thuốc BVTV. Theo
nghiên cứu Beketov et al. (2008, 2009) đánh giá khả năng ứng dụng của chỉ số
SPEARpesticides ở mức độ họ và SPEARpesticides ở mức độ loài khác biệt không có ý
nghĩa thống kê về giá trị. Chỉ số SPEARpesticides ở mức độ họ ĐVĐ dễ ứng dụng
và phù hợp với nhiều quốc gia khác nhau về vùng địa lý và khí hậu (Beketov et
al. 2008, 2009; Schafers et al. 2007, 2011; Rasmussen et al. 2016). Xác định các
họ ĐVĐ bị rủi ro với thuốc BVTV dựa vào nghiên cứu của Beketov et al.
(2008) hoặc của Trung tâm Nghiên cứu Môi trường (The UFZ, 2016).
Chỉ số SPEARpesticides được xác định theo công thức:

(Nguồn: Beketov et al. 2009)

Trong đó, n là số lượng họ động vật đáy; xi là số cá thể họ thứ i; y = 0
là họ ĐVĐ không bị rủi ro với thuốc; y = 1 là họ ĐVĐ bị rủi ro với thuốc.
Bảng 2.3 Tình trạng thuỷ vực bị ảnh hưởng bởi thuốc BVTV

Chỉ số SPEARpesticides
SPEARpesticides ≤ 11
11 < SPEARpesticides ≤ 22
22 < SPEARpesticides ≤ 33
33 < SPEARpesticides ≤ 44
SPEARpesticides > 44

Tình trạng thuỷ vực bị ảnh hưởng bởi thuốc BVTV
Thuỷ vực bị ảnh hưởng bởi thuốc BVTV có ĐVĐ không
bị rủi ro với thuốc chiếm ưu thế.
Thuỷ vực bị ảnh hưởng bởi thuốc BVTV có ĐVĐ
không bị rủi ro nhiều hơn ĐVĐ bị rủi ro với thuốc.
Thuỷ vực bị ảnh hưởng bởi thuốc BVTV có số lượng
ĐVĐ bị rủi ro và ĐVĐ không bị rủi ro với thuốc chênh
lệch không đáng kể.
Thuỷ vực có tiềm năng bị ảnh hưởng bởi thuốc BVTV.
Thuỷ vực chưa bị ảnh hưởng bởi thuốc BVTV.
(Nguồn: Beketov et al. 2009)

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thực trạng sử dụng thuốc BVTV tại khu vực nghiên cứu
Thực trạng sử dụng thuốc BVTV qua phỏng vấn 256 hộ ở khu vực lúa
3 vụ/năm (chiếm 71%) và 104 hộ ở khu vực lúa 2 vụ/năm (chiếm 29%) cho
thấy có 97 tên thương mại thuộc 64 hoạt chất và 32 nhóm thuốc được sử
dụng. Tỷ lệ sử dụng các nhóm thuốc BVTV được thể hiện ở Bảng 3.1.
8


Bảng 3.1 Phần trăm sử dụng (%) các nhóm thuốc BVTV từ 2011-2014

Nhóm thuốc BVTV

Công dụng

Triazole
Triazolobenzothiazole
Strobilurin
Phosphorothiolate
Benzimidazole
Dithiocarbamate
Cyanoacetamide oxime
Chloronitrophenol
Chloroacetamide
Pyrimidine
Anilide
Aryloxyphenoxypropionate
Pyrimidinyl carboxy compound
Triazopyrimidine sulfonamide
Alkylchlorophenoxy
Sulfonylurea
Pyrazole
Quinolinecarboxylic acid
Bipyridylium
Neonicotinoid
Anthranilic diamide
Lân hữu cơ
Oxadiazine
Phenylpyrazole
Cúc tổng hợp
Pyridine
Carbamate
Pyridazinone
Benzene-dicarboxamide
Benzoylurea
Micro-organism derived
Khác

Trừ bệnh
Trừ bệnh
Trừ bệnh
Trừ bệnh
Trừ bệnh
Trừ bệnh
Trừ bệnh
Trừ bệnh
Trừ cỏ
Trừ cỏ
Trừ cỏ
Trừ cỏ
Trừ cỏ
Trừ cỏ
Trừ cỏ
Trừ cỏ
Trừ cỏ
Trừ cỏ
Trừ cỏ
Trừ sâu
Trừ sâu
Trừ sâu
Trừ sâu
Trừ sâu
Trừ sâu
Trừ sâu
Trừ sâu
Trừ sâu
Trừ sâu
Trừ sâu
Sinh học

Tỷ lệ sử dụng (%)
2011-2012 2012-2013 2013-2014
30,1
31
33
11,8
11,7
7,3
5,4
4
1,9
0,3
2,2
0,1
0,1
1,2
0,1
4,8
8,8
8,6
8,3
8
0,8
2
3,6
0,6
0,8
1,2
0,4
0,4
0,4
2,4
0,3
0,1
0,1
0,1
0,2
0,1
3,7
3,8
1,2
3,7
1,4
9,6
2,9
2,4
3,6
1,4
4,2
3,6
1,2
1,6
1,2
1
1,3
1,2
0,9
1,3
4,9
0,2
0,4
0,2
0,1
0,1
1,3
9,6
2,1
0,7
19,3
8
9,8

Ghi chú: Khác: là nhóm thuốc BVTV không tìm thấy trong danh mục của PPDB [Pesticide Properties DataBase] (2016).

Hoạt chất propiconazole (thuộc nhóm triazole) được sử dụng phổ biến
nhất ở 3 giai đoạn khảo sát. Đối với thuốc trừ sâu, hoạt chất quinalphos (lân
hữu cơ), cypermethrin (cúc tổng hợp) và fenobucarb (carbamate) được sử
dụng phổ biến ở giai đoạn 2011-2012 và 2012-2013. Ở giai đoạn 2013-2014,
tỷ lệ sử dụng của 3 hoạt chất này chênh lệch không đáng kể so với giai đoạn
2012-2013. Tỷ lệ sử dụng của fipronil (phenylpyrazole) cao hơn so với các
hoạt chất trừ sâu khác, ngoại trừ indoxacarb (Oxadiazine). Nhiều nghiên cứu
về ảnh hưởng của thuốc đối với ĐVĐ cho thấy cypermethrin, quinalphos và
fenobucarb (ngưỡng gây ảnh hưởng là ≥0,1 µg/L) có độc tính cao hơn so với
fipronil (≥16 µg/L) và propiconazole (>500 µg/L), (Bacci et al. 1987;
9


Siegfried, 1993; Ward et al. 1995; Moore et al. 1998; Karen et al. 2001;
Akerblom, 2004; Stark and Vargas, 2005; Rasmussen et al. 2012). Trong
phạm vi nghiên cứu, đề tài đã đánh giá biến động dư lượng cypermethrin,
quinalphos và fenobucarb ở 3 vụ lúa của năm 2012-2013 và mối liên hệ với
ĐVĐ theo thời gian. Biến động dư lượng propiconazole và fipronil chỉ được
khảo sát ở 1 vụ lúa năm 2014–2015 có vượt ngưỡng gây ảnh hưởng đến ĐVĐ.
Nông dân ở khu vực lúa 3 vụ/năm sử dụng thuốc BVTV cao hơn so với
ở khu vực lúa 2 vụ/năm. Cụ thể, số hoạt chất được sử dụng là 57 và 44 tương
ứng. Tần suất phun thuốc ≥ 9 lần/vụ ở khu vực lúa 3 vụ/năm cao hơn so với
khu vực lúa 2 vụ/năm, chiếm 17,9% và 11% tương ứng. Tỷ lệ thuốc được pha
cao hơn hướng dẫn trên nhãn lần lượt là 53,1% và 40,3%. Lượng thuốc được
sử dụng ở khu vực lúa 3 vụ/năm là 3,88 Kg/ha cao hơn khu vực lúa 2 vụ/năm
là 2,58 Kg/ha; trong đó, thuốc trừ bệnh được sử dụng cao nhất lần lượt là 1,8
và 1,45 Kg/ha; tiếp theo là trừ cỏ là 0,94 và 0,59 Kg/ha, trừ sâu là 0,56 và
0,32 Kg/ha và loại thuốc khác (0,58 và 0,22 Kg/ha).
3.2 Dư lượng các hoạt chất thuốc BVTV trong nước, trong đất và bùn đáy
3.2.1 Dư lượng thuốc BVTV trong nước
Kết quả phân tích đã phát hiện 4/5 hoạt chất nghiên cứu trong nước
gồm propiconazole, quinalphos, fipronil và fenobucarb. Cypermethrin
không được phát hiện trong tất cả mẫu nước khảo sát.
3.2.1.1 Dư lượng thuốc BVTV trong nước trên ruộng lúa
Kết quả phân tích cho thấy dư lượng propiconazole trong nước là cao
nhất có giá trị trung bình là 4,55 ±1,16 µg/L. Đối với thuốc trừ sâu, trung
bình dư lượng quinalphos là 0,38 ±0,15 µg/L cao hơn so với fipronil và
fenobucarb lần lượt là 0,11 ±0,08 µg/L và 0,06 ±0,01 µg/L. Kết quả này
phù hợp với thực trạng sử dụng thuốc tại địa bàn cho thấy tỷ lệ sử dụng
propiconazole > quinalphos > fipronil > fenobucarb.
a. Dư lượng thuốc BVTV trong nước ruộng lúa 3 vụ/năm và 2 vụ/năm

Hình 3.1 Dư lượng thuốc BVTV trong nước trên ruộng lúa 3 vụ/năm và 2 vụ/năm
Ghi chú: n = 12 (3 vụ/năm) và n = 3 (2 vụ/năm): propiconazole và fipronil;
n = 36 (3 vụ/năm) và n = 9 (2 vụ/năm): quinalphos và fenobucarb.

10


Dư lượng fipronil trong nước trên các ruộng lúa 3 vụ/năm là 0,19
±0,08 µg/L, cao gấp 6 lần so với trên ruộng lúa 2 vụ/năm (0,03 ±0,01
µg/L). Hoạt chất propiconazole và fenobucarb có giá trị là 5,23 ±1,39 và
0,08 ±0,01 µg/L trên ruộng lúa 3 vụ/năm cao gấp 3 lần so với trên ruộng lúa
2 vụ/năm là 1,83 ±0,11 và 0,03 ±0,01 µg/L tương ứng. Quinalphos chỉ được
tìm thấy trên ruộng lúa 3 vụ/năm (0,34 ±0,14 µg/L), (Hình 3.1). Kết quả về
thực trạng sử dụng thuốc cho thấy lượng thuốc BVTV được sử dụng ở khu vực
lúa 3 vụ/năm cao hơn so với ở khu vực lúa 2 vụ/năm.
b. Dư lượng thuốc BVTV trong nước trên ruộng lúa theo thời vụ
Kết quả ở Hình 3.2 cho thấy dư lượng thuốc BVTV trong nước đã tăng
từ vụ Đông-Xuân và vụ Hè-Thu đến Thu-Đông với giá trị trung bình tổng
lần lượt là 0,12 ±0,06 µg/L; 0,11 ±0,02 µg/L và 0,47 ±0,19 µg/L, khác biệt
có ý nghĩa thống kê (5%). Nghiên cứu của Pham Van Toan (2011) và Chau
et al. (2015) cũng cho rằng dư lượng thuốc ở vụ Hè-Thu và Thu-Đông cao
hơn so với vụ Đông-Xuân là do lượng thuốc được sử dụng nhiều hơn. Hơn
nữa, vụ Thu-Đông là mùa mưa và lũ đã tăng khả năng lan truyền dư lượng
thuốc trong nước từ các ruộng lúa lân cận vào ruộng lúa khảo sát; kết quả là
dư lượng thuốc ở vụ Thu-Đông thường cao.

Hình 3.2 Biến động dư lượng thuốc BVTV trong nước trên ruộng lúa theo thời vụ

Ghi chú: n = 15; a,b: khác biệt có ý nghĩa thống kê (5%) kiểm định DUNCAN.

3.2.1.2 Dư lượng thuốc BVTV trong nước trên kênh nội đồng
Dư lượng propiconazole trong nước trên kênh nội đồng là cao nhất có
giá trị trung bình là 1,60 ±0,64 µg/L, tiếp theo là hoạt chất quinalphos với
giá trị là 0,18 ±0,05 µg/L. Dư lượng fipronil và fenobucarb chênh lệch
không đáng kể, lần lượt là 0,02 ±0,004 µg/L và 0,05 ±0,01 µg/L. Kênh nội
đồng nhận trực tiếp nước thải từ ruộng lúa trong quá trình canh tác, nên dư
lượng thuốc BVTV trên kênh nội đồng là do lan truyền từ ruộng lúa. Thời
gian giữ nước trong ruộng ngắn, tối đa 5 ngày sau khi phun, đã tăng dư
lượng thuốc BVTV lan truyền ra kênh nội đồng.

11


a. Dư lượng thuốc BVTV trong nước trên kênh nội đồng ở khu vực lúa
3 vụ/năm và 2 vụ/năm
Dư lượng propiconazole trong nước trên kênh nội đồng ở khu vực lúa
3 vụ/năm là 1,86 ±0,81 µg/L cao gấp 3 lần so với ở khu vực lúa 2 vụ/năm
(0,66 ±0,06 µg/L). Quinalphos chỉ được tìm thấy ở khu vực lúa 3 vụ/năm có
giá trị là 0,13 ±0,04 µg/L. Dư lượng fenobucarb và fipronil chênh lệch không
đáng kể giữa 2 khu vực khảo sát (Hình 3.3). Diễn biến dư lượng thuốc BVTV
trong nước trên kênh nội đồng tương tự trên ruộng lúa ở 2 khu vực khảo sát;
có thể thấy rằng dư lượng thuốc trên kênh nội đồng ở khu vực lúa 3 vụ/năm
cao hơn so với 2 vụ/năm là do lượng thuốc được sử dụng (Kg/ha) trên các
ruộng lúa 3 vụ/năm cao hơn so với trên ruộng lúa 2 vụ/năm.

Hình 3.3 Dư lượng thuốc BVTV trong nước trên kênh nội đồng
ở khu vực lúa 3 vụ/năm và 2 vụ/năm
Ghi chú: n = 12 (3 vụ/năm) và n = 3 (2 vụ/năm): propiconazole và fipronil;
n = 36 (3 vụ/năm) và n = 9 (2 vụ/năm): quinalphos và fenobucarb.

b. Dư lượng thuốc BVTV trong nước trên kênh nội đồng theo thời vụ

Hình 3.4 Biến động dư lượng thuốc BVTV trong nước trên kênh nội đồng theo thời vụ

Ghi chú: n = 15; a,b: khác biệt có ý nghĩa thống kê (5%) kiểm định DUNCAN.

12


Diễn biến dư lượng thuốc trong nước trên kênh nội đồng tương tự trên
ruộng lúa theo thời gian, tăng từ vụ Đông-Xuân đến vụ Hè-Thu và ThuĐông, có giá trị trung bình tổng lần lượt là 0,06 ±0,01 µg/L; 0,26 ±0,07 µg/L
và 0,17 ±0,07 µg/L, khác biệt có ý nghĩa thống kê (5%). Vụ Hè-Thu và ThuĐông là mùa mưa và lũ đã tăng khả năng lan truyền lượng thuốc từ ruộng lúa
ra kênh nội đồng. Nghiên cứu của Watanabe et al. (2007) cho thấy tỷ lệ lan
truyền lượng thuốc từ ruộng lúa ra thủy vực lân cận là 5% trong điều kiện
bình thường, nhưng tỷ lệ này có thể tăng 20 – 30% ở mùa mưa.
3.2.1.3 Dư lượng thuốc BVTV trong nước trên sông, rạch
a. Dư lượng các hoạt chất nghiên cứu trong nước trên sông, rạch
Kết quả Bảng 3.2 cho thấy hoạt chất propiconazole được tìm thấy trong
nước trên sông, rạch có giá trị trung bình là 0,42 ±0,28 µg/L, cao hơn so với
hoạt chất quinalphos là 0,12 ±0,04 µg/L. Dư lượng fipronil và fenobucarb
chênh lệch không đáng kể, lần lượt là 0,02 ±0,01 µg/L và 0,03 ±0,01 µg/L.
Dư lượng các hoạt chất nghiên cứu trong nước trên kênh Quản Lộ
Phụng Hiệp, cung cấp nước tưới cho các ruộng lúa 2 vụ/năm, khác biệt
không có ý nghĩa thống kê so với trên sông Cái Lớn, Lái Hiếu, Nàng Mau
và Xà No, cung cấp nước tưới cho các ruộng lúa 3 vụ/năm. Rạch Mái Dầm
(điểm tham chiếu) chỉ phát hiện fenobucarb và fipronil, khác biệt không có
ý nghĩa thống kê so với các sông, rạch còn lại (Bảng 3.2). Sông, rạch có lưu
lượng nước lớn và ảnh hưởng bởi chế độ bán nhật triều (2 lần/ngày) đã góp
phần xáo trộn và pha loãng thuốc BVTV; kết quả là dư lượng thuốc khác
biệt không có ý nghĩa thống kê giữa các vị trí khảo sát. Rạch Mái Dầm nhận
nguồn nước từ các hệ thống sông, rạch khảo sát khi triều xuống, nên đã phát
hiện dư lượng fenobucarb và fipronil trong nước.
Bảng 3.2 Dư lượng thuốc BVTV (µg/L) trong nước trên sông, rạch tại các vị trí nghiên cứu

Khu vực
3 vụ/năm

2 vụ/năm

Vị trí
Cái Lớn
Lái Hiếu
Nàng Mau
Xà No
Quản Lộ
Phụng Hiệp

Điểm tham
Mái Dầm
chiếu
Trung bình

Propiconazole
0,11 ±0,02a
0,05 ±0,05a
0,15 ±0,03a
0,17 ±0,02a

Quinalphos Fenobucarb
0,05 ±0,02b 0,03 ±0,01a
KPH 0,05 ±0,03a
0,05 ±0,02b 0,04 ±0,01a
0,27 ±0,12a 0,02 ±0,003a

Fipronil
0,01 ±0,001a
0,004 ±0,004a
0,02 ±0,001a
0,01 ±0,002a

1,07 ±1,07a

KPH

0,06 ±0,01a

0,06 ±0,04a

KPH

KPH

0,03 ±0,01a

0,003 ±0,001a

0,12 ±0,04

0,03 ±0,01

0,02 ±0,01

0,42 ±0,28

Ghi chú: n = 3 (propiconazole và fipronil); n = 9 (quinalphos và fenobucarb); Trung bình ±SE
a,b: khác biệt có ý nghĩa thống kê (5%) kiểm định DUNCAN theo cột.

b. Dư lượng thuốc BVTV trong nước trên sông, rạch theo thời vụ
Diễn biến dư lượng fenobucarb và quinalphos trong nước trên các sông,
rạch tương tự trên kênh nội đồng và ruộng lúa theo thời gian khảo sát. Trung
bình tổng dư lượng thuốc ở vụ Đông-Xuân là 0,02 ±0,01 µg/L thấp hơn có ý
nghĩa thống kê so với vụ Hè-Thu và Thu-Đông là 0,08 ±0,01 µg/L và 0,16
13


±0,05 µg/L tương ứng (Hình 3.5); điều này là do vụ lúa Hè-Thu và Thu-Đông
là mùa mưa và lũ đã tăng khả năng lan truyền thuốc từ ruộng lúa và kênh nội
đồng ra sông, rạch so với ở vụ Đông – Xuân. Nghiên cứu Shi-yu and Morioka
(2000); Schulz et al. (2001) và Duong Thi Hanh (2015) cho rằng dư lượng
thuốc BVTV trong nước trên sông, rạch ở mùa mưa thường cao hơn mùa khô.

Hình 3.5 Biến động dư lượng thuốc BVTV trong nước trên sông, rạch theo thời vụ

Ghi chú: n = 18; a,b: khác biệt có ý nghĩa thống kê (5%) kiểm định DUNCAN

3.2.1.4 Biến động dư lượng thuốc BVTV trong nước theo loại hình thủy vực
Kết quả ở Hình 3.6, Hình 3.7, Hình 3.8 và Hình 3.9 cho thấy dư lượng
propiconazole, quinalphos, fenobucarb và fipronil trong nước trên ruộng lúa lần
lượt là 4,55 ±1,16; 0,38 ±0,15; 0,06 ±0,01; 0,11 ±0,08 µg/L đã giảm trên kênh
nội đồng là 1,60 ±0,64; 0,18 ±0,05; 0,05 ±0,01; 0,02 ±0,004 µg/L và thấp nhất
trên sông, rạch là 0,42 ±0,28; 0,12 ±0,04; 0,03 ±0,01; 0,02 ±0,01 µg/L, khác
biệt có ý nghĩa thống kê (5%).

Hình 3.7 Biến động dư lượng quinalphos
trong nước theo loại hình thuỷ vực

Hình 3.6 Biến động dư lượng propiconazole
trong nước theo loại hình thuỷ vực

14


Hình 3.9 Biến động dư lượng fipronil
trong nước theo loại hình thuỷ vực

Hình 3.8 Biến động dư lượng fenobucarb
trong nước theo loại hình thuỷ vực

Ghi chú: n = 45 (ruộng lúa, kênh nội đồng); n = 54 (Sông, rạch); a,b: khác biệt có ý nghĩa thống kê (5%) kiểm định DUNCAN.

Ruộng lúa nhận trực tiếp thuốc BVTV từ quá trình phun nên dư
lượng thuốc trong ruộng lúa là cao nhất; chiếm từ 40 – 90% tổng lượng
thuốc sử dụng (Jaeken and Debaer, 2005). Kênh nội đồng và sông, rạch tiếp
nhận thuốc từ ruộng lúa thông qua thải nước, đồng thời cũng chịu ảnh
hưởng bởi chế độ bán nhật triều và lưu lượng nước lớn đã tăng pha loãng
dư lượng thuốc trong nước; kết quả là dư lượng các hoạt chất nghiên cứu
trên kênh nội đồng và sông, rạch thấp hơn trên ruộng lúa.
Nghiên cứu Moore et al. (1998) và Rasmussen et al. (2012) cho rằng
nồng độ quinalphos và fenobucarb ≥0,1 µg/L đã gây ảnh hưởng động vật
đáy; theo đó, có 13,3% và 11,1% mẫu nước trên ruộng lúa; 24,4% và 13,3%
trên kênh nội đồng; 15,6% và 4,4% trên sông, rạch bị nhiễm quinalphos và
fenobucarb vượt ngưỡng. Một vài vị trí trên ruộng lúa và kênh nội đồng đã
nhiễm quinalphos vượt ngưỡng gây độc cấp tính EC50 trong 48 giờ đối với
ĐVĐ (0,6 µg/L), (The PPDB, 2016). Fipronil và propiconazole gây ảnh
hưởng ĐVĐ ở nồng độ ≥16 µg/L và >500 µg/L (Stark and Vargas, 2005;
Karen et al. 2001); theo đó, dư lượng fipronil và propiconazole trên 3 loại
hình thuỷ vực vẫn chưa vượt ngưỡng.
Qui định của Châu Âu về giới hạn nồng độ đơn chất thuốc BVTV
trong nước uống là 0,1 µg/L; theo đó trên sông, rạch khảo sát có 55,6% mẫu
nước bị nhiễm propiconazole vượt ngưỡng, 13% đối với quinalphos, 5,6%
đối với fipronil và 3,7% đối với fenobucarb; điều này có thể gây ảnh hưởng
đến sức khoẻ của người dân địa phương khi vẫn còn sử dụng nguồn nước
này cho mục đích sinh hoạt.
Nhiệt độ trong nước trên 3 loại hình thủy vực khảo sát có giá trị dao
động 26,7 – 31,9 0C; pH là 6,55 – 7,25; EC là 0,15 – 0,23 mS/cm và DO là
1,12 – 3,29 mg/L, khác biệt không có ý nghĩa thống kê (5%) và không
tương quan với dư lượng thuốc BVTV trong nước (p>0,05).
15


3.2.2 Dư lượng các hoạt chất thuốc BVTV trong đất và bùn đáy
3.2.2.1 Dư lượng thuốc BVTV trong đất ruộng lúa
Kết quả phân tích đã phát hiện propiconazole trong đất ruộng lúa có giá trị
trung bình là 179,34 ±15,56 µg/Kg, cao hơn so với cypermethrin là 46,59 ±12,39
µg/Kg. Dư lượng fenobucarb và quinalphos chênh lệch không đáng kể, lần lượt
là 11,58 ±1,32 và 11,43 ±2,40 µg/Kg. Fipronil là thấp nhất với giá trị trung bình
là 6,78 ±1,11 µg/Kg. Dư lượng các hoạt chất nghiên cứu phụ thuộc vào tỷ lệ sử
dụng thuốc, khả năng hấp phụ bởi đất (Koc) và thời gian phân hủy trong đất.
a. Dư lượng thuốc BVTV trong đất ruộng lúa 3 vụ/năm và 2 vụ/năm
Dư lượng propiconazole, cypermethrin, fenobucarb, quinalphos và
fipronil trong đất ruộng lúa 3 vụ/năm là 180,44 ±19,26; 35,25 ±4,58; 15,92
±1,90; 12,85 ±2,71 và 7,27 ±1,31 µg/Kg cao hơn so với ở 2 vụ/năm có giá
trị lần lượt là 174,92 ±17,43; 26,14 ±8,39; 9,52 ±2,14; 2,9 ±1,12 và 4,85
±1,80 µg/Kg (Hình 3.10). Kết quả này phù hợp với thực trạng sử dụng
thuốc BVTV ở khu vực lúa 3 vụ/năm cao hơn so với khu vực lúa 2 vụ/năm
về tần suất phun thuốc, liều lượng pha thuốc cao hơn hướng dẫn trên nhãn
và lượng thuốc BVTV được sử dụng (Kg/ha).

Hình 3.10 Dư lượng thuốc BVTV trong đất ruộng lúa 3 vụ/năm và 2 vụ/năm

Ghi chú: n = 12 (3 vụ/năm) và n = 3 (2 vụ/năm): propiconazole và fipronil
n = 36 (3 vụ/năm) và n = 9 (2 vụ/năm): cypermethrin, fenobucarb và quinalphos

b. Dư lượng thuốc BVTV trong đất ruộng lúa theo thời vụ

Hình 3.11 Biến động dư lượng thuốc BVTV trong đất ruộng lúa theo thời vụ

Ghi chú: n = 15; a,b: khác biệt có ý nghĩa thống kê (5%) kiểm định DUNCAN.

16


Kết quả ở Hình 3.11 cho thấy dư lượng thuốc BVTV trong đất ruộng
lúa khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa vụ lúa Đông-Xuân, Hè-Thu và
Thu-Đông có giá trị trung bình tổng lần lượt là 54,92 ±10,40; 38,34 ±5,88
và 37,01 ±3,06 µg/Kg; điều này là do vụ Hè-Thu và Thu-Đông là mùa mưa
và lũ đã tạo điều kiện cho lượng thuốc trực di từ đất vào nước so với ở vụ
Đông-Xuân. Kết quả là dư lượng thuốc trong nước có xu hướng ngược lại
với dư lượng thuốc trong đất ruộng lúa theo thời gian. Các hoạt chất nghiên
cứu có chỉ số PPBT (Potential for particle bound transport index) ở mức
trung bình đến cao (The PPDB, 2016); chứng tỏ các hoạt chất này có tiềm
năng trực di từ môi trường đất vào môi trường nước.
3.2.2.2 Dư lượng thuốc BVTV trong bùn đáy trên kênh nội đồng
Dư lượng propiconazole trong bùn đáy trên kênh nội đồng là cao
nhất, có giá trị trung bình là 145,23 ±11,15 µg/Kg. Đối với thuốc trừ sâu,
trung bình dư lượng cypermethrin là 44,36 ±9,02 µg/Kg, cao hơn so với các
hoạt chất trừ sâu còn lại. Trung bình dư lượng fenobucarb là 17,30 ±2,82
µg/Kg cao hơn so với quinalphos là 7,43 ±1,74 µg/Kg. Dư lượng fipronil
thấp nhất, là 5,38 ±0,71 µg/Kg.
a. Dư lượng thuốc BVTV trong bùn đáy trên kênh nội đồng ở khu vực
lúa 3 vụ/năm và 2 vụ/năm
Kết quả Hình 3.12 cho thấy dư lượng propiconazole, cypermethrin,
fenobucarb, quinalphos và fipronil ở khu vực lúa 3 vụ/năm là 157,67
±10,48; 58,87 ±25,66; 18,64 ±3,48; 8,26 ±1,93 và 6,17 ±0,71 µg/Kg cao
hơn so với ở khu vực lúa 2 vụ/năm là 95,47 ±19,76; 46,59 ±15,99; 11,94
±1,31; 1,63 ±0,72 và 2,47 ±0,75 µg/Kg. Diễn biến dư lượng thuốc trong
bùn đáy trên kênh nội đồng tương tự trong đất ruộng lúa ở 2 khu vực khảo
sát. Có thể thấy rằng gia tăng lượng thuốc được sử dụng trên ruộng lúa đã
dẫn đến dư lượng thuốc BVTV trên kênh nội đồng cũng tăng theo.

Hình 3.12 Dư lượng thuốc BVTV trong bùn đáy trên kênh nội đồng
ở khu vực lúa 3 vụ/năm và 2 vụ/năm
Ghi chú: n = 12 (3 vụ/năm) và n = 3 (2 vụ/năm): propiconazole và fipronil;
n = 36 (3 vụ/năm) và n = 9 (2 vụ/năm): cypermethrin, fenobucarb và quinalphos.

17


b. Dư lượng thuốc BVTV trong bùn đáy trên kênh nội đồng theo thời vụ
Dư lượng thuốc BVTV trong bùn đáy trên kênh nội đồng khác biệt
không có ý nghĩa thống kê giữa Đông-Xuân, Hè-Thu và Thu-Đông, có giá
trị trung bình lần lượt là 47,28 ±23,96 µg/Kg; 34,36 ±6,67 µg/Kg và 41,47
±10,46 µg/Kg (Hình 3.13). Vụ Hè-Thu và Thu-Đông là mùa mưa và lũ có
thể đã tăng sự hoà tan của thuốc BVTV trong nước. Kết quả phân tích dư
lượng thuốc BVTV trong nước đã tăng theo thời gian khảo sát, trong khi dư
lượng thuốc trong bùn đáy khác biệt không có ý nghĩa thống kê.

Hình 3.13 Biến động dư lượng thuốc BVTV trong bùn đáy trên kênh nội đồng theo thời vụ
Ghi chú: n = 15; a,b: khác biệt có ý nghĩa thống kê (5%) kiểm định DUNCAN.

3.2.2.3 Dư lượng thuốc BVTV trong bùn đáy trên sông, rạch
a. Dư lượng các hoạt chất nghiên cứu trong bùn đáy trên sông, rạch
Kết quả ở Bảng 3.3 cho thấy dư lượng propiconazole trong bùn đáy trên
các sông, rạch cao nhất, chiếm 86,18 ±10,67 µg/Kg, tiếp theo là cypermethrin
với giá trị trung bình là 43,75 ±5,64 µg/Kg và fenobucarb là 19 ±2,19 µg/Kg.
Dư lượng quinalphos và fipronil chênh lệch không đáng kể. Dư lượng các hoạt
chất nghiên cứu khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa các sông, rạch khảo
sát gồm sông Cái Lớn, Lái Hiếu, Nàng Mau, Xà No và kênh Quản Lộ Phụng
Hiệp. Rạch Mái Dầm đã phát hiện cypermethrin, fenobucarb và quinalphos,
khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với trên các sông rạch còn lại.
Bảng 3.3 Dư lượng thuốc BVTV (µg/Kg) trong bùn đáy trên sông, rạch tại các vị trí nghiên cứu

Khu vực
Vị trí
3 vụ/năm Cái Lớn
Lái Hiếu
Nàng Mau
Xà No
2 vụ/năm Quản Lộ
Phụng Hiệp
Điểm tham
Mái Dầm
chiếu
Trung bình

Propiconazole Cypermethrin Fenobucarb Quinalphos
Fipronil
117,51 ±16,43a
KPH
11,95 ±1,68b 1,48 ±0,11 b 11,67 ±2,83a
113,71 ±14,42a 35,24 ± 9,55a 22,64 ±4,26b 2,96 ±1,96ab 3,49 ±1,56b
115,93 ± 8,87a 78,59 ±25,38a 14,20 ±2,10b 2,45 ±0,29ab 1,39 ±1,39b
89,01 ±11,78a 43,98 ± 3,91a 39,12 ±8,41a 6,44 ±0,84a
0,96 ±0,29b
81,48 ± 9,18a

42,40 ± 8,49a 20,57 ±3,02b

6,28 ±1,97a

KPH

27,63 ± 2,32a

3,96 ±1,65ab

KPH

86,18 ±10,67

43,75 ± 5,64

4,45 ±0,58

4,59 ±1,46

5,53 ±1,01c
19,00 ±2,19

0,83 ±0,56b

Ghi chú: n = 3 (propiconazole, fipronil); n = 9 (fenobucarb, quinalphos, cypermethrin); Trung bình ±SE.
a,b: khác biệt có ý nghĩa thống kê (5%) kiểm định DUNCAN theo cột.

18


Sông, rạch có lưu lượng nước lớn và ảnh hưởng bởi chế độ bán nhật
triều đã góp phần pha loãng dư lượng thuốc trong nước trước khi được hấp
phụ bởi bùn đáy; vì vậy, dư lượng của các hoạt chất nghiên cứu khác biệt
không có ý nghĩa thống kê giữa các sông, rạch khảo sát.
b. Dư lượng thuốc BVTV trong bùn đáy trên sông, rạch theo thời vụ
Kết quả Hình 3.14 cho thấy dư lượng fenobucarb trong bùn đáy trên
sông, rạch tăng từ vụ Đông-Xuân đến vụ Hè-Thu và Thu-Đông; trong khi
dư lượng quinalphos và cypermethrin khác biệt không có ý nghĩa thống kê
theo thời gian khảo sát. Dư lượng thuốc BVTV trong bùn đáy ở vụ ThuĐông là 56,90 ±7,26 µg/Kg cao hơn có ý nghĩa thống kê so với vụ Hè-Thu
là 32,38 ±7,00 µg/Kg, nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với vụ
Đông-Xuân là 39,68 ±12,49 µg/Kg.

Hình 3.14 Biến động dư lượng thuốc BVTV trong bùn đáy trên sông, rạch theo thời vụ
Ghi chú: n = 18; a,b: khác biệt có ý nghĩa thống kê (5%) kiểm định DUNCAN.

3.2.2.4 Biến động dư lượng thuốc BVTV trong đất và bùn đáy theo loại hình thủy vực
Kết quả Hình 3.15 và Hình 3.16 cho thấy dư lượng propiconazole và
quinalphos trong đất ruộng lúa là 179,34 ±15,56 và 11,43 ±2,40 µg/Kg đã
giảm trên kênh nội đồng là 145,23 ±11,15 và 7,43 ±1,74 µg/Kg và trên sông,
rạch là 86,18 ±10,67 và 4,45 ±0,58 µg/Kg; khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Trong khi đó, dư lượng cypermethrin, fipronil và fenobucarb khác biệt không
có ý nghĩa thống kê giữa 3 loại hình thuỷ vực khảo sát (Hình 3.17; Hình 3.18
và Hình 3.19). Ruộng lúa là nơi nhận trực tiếp dư lượng thuốc BVTV từ quá
trình phun của nông hộ, nên dư lượng thuốc trên ruộng lúa cao nhất, tiếp theo
là kênh nội đồng và sông, rạch là nơi nhận gián tiếp dư lượng thuốc BVTV.
Nghiên cứu Schulz and Liess (2001) cho rằng dư lượng cypermethrin
≥0,2 µg/Kg đã ảnh hưởng ĐVĐ. Ngưỡng gây độc cấp tính đối với ĐVĐ của
cypermethrin (EC50= 0,3 µg/L) và quinalphos (EC50= 0,6 µg/L) thấp hơn so
với propiconazole (EC50= 10,2 mg/L) và fipronil (EC50= 0,2 mg/L), (The
PPDB, 2016). Theo đó, dư lượng cypermethrin và quinalphos trong đất, bùn
đáy trên 3 loại hình thuỷ vực khảo sát đã ảnh hưởng ĐVĐ; trong khi
propiconazole và fipronil vẫn chưa vượt ngưỡng.
19


Hình 3.15 Biến động dư lượng propiconazole
trong đất, bùn đáy theo loại hình thủy vực

Hình 3.16 Biến động dư lượng quinalphos
trong đất, bùn đáy theo loại hình thủy vực

Hình 3.17 Biến động dư lượng cypermethrin
trong đất, bùn đáy theo loại hình thủy vực

Hình 3.18 Biến động dư lượng fipronil
trong đất, bùn đáy theo loại hình thủy vực

Hình 3.19 Biến động dư lượng fenobucarb trong đất, bùn đáy theo loại hình thủy vực

Kết quả phân tích tương quan cho thấy dư lượng thuốc BVTV trong đất,
bùn đáy tương quan thuận với dư lượng thuốc BVTV trong nước (R = 0,78;
p<0,01). Ngoài ra, dư lượng thuốc BVTV trong đất, bùn đáy tương quan thuận
với hàm lượng chất hữu cơ (R=0,69; p<0,05) và phần trăm cấp hạt sét+limon
(R = 0,67, p < 0,05), nhưng tương quan nghịch với phần trăm cấp hạt cát (R = 20


0,67, p < 0,05); pH (R = -0,56, p < 0,05) và EC (R = -0,48, p > 0,05). Hàm
lượng chất hữu cơ và phần trăm cấp hạt sét+limon càng cao thì khả năng hấp
phụ dư lượng thuốc bởi đất, bùn đáy càng cao và giá trị pH đất càng thấp;
ngược lại đối với phần trăm cấp hạt cát.
3.3 Thành phần và số lượng cá thể động vật đáy
3.3.1 Thành phần loài ĐVĐ tại khu vực nghiên cứu
Kết quả Hình 3.20 cho thấy thành phần loài thuộc lớp Insecta đã giảm
từ vụ lúa Đông-Xuân đến vụ Hè-Thu và Thu-Đông; trong khi số loài thuộc
lớp Gastropoda tăng theo thời gian khảo sát. Dư lượng quinalphos,
cypermethrin và fenobucarb trên ruộng lúa, kênh nội đồng và sông, rạch đã
tăng theo thời gian. Kết quả nghiên cứu cũng tìm thấy thành phần loài ĐVĐ
đã tăng từ ruộng lúa đến kênh nội đồng và sông, rạch chiếm lần lượt là 15
loài, 32 loài và 43 loài tương ứng với dư lượng thuốc BVTV đã giảm.

Hình 3.20 Thành phần loài ĐVĐ tại khu vực nghiên cứu theo thời vụ

3.3.2 Số lượng cá thể ĐVĐ (cá thể/m2) theo loại hình thủy vực
Bảng 3.4 Số lượng cá thể ĐVĐ (cá thể/m2) ở các thủy vực khảo sát theo thời vụ
Đông-Xuân
Hè-Thu
Lớp/ Họ
Loài
R
K
S
R K
S
Bivalvia
10
13 99
0
4 154
Pisidiidae
Pisidium sp.
10
2
0
0
0
0
Cyrenidae
Corbicula baudoni
0
0
3
0
1
35
Corbicula castanea
0
7 51
0
0
9
Corbicula tenuis
0
0
0
0
1
18
Mytilidae
Limnoperna fortunei
0
0
0
0
0
2
Solecurtidae
Novaculina siamensis
0
0
0
0
1
85
Unionidae
Lanceolaria bilirata
0
0
0
0
0
3
Lanceolaria grayii
0
4
1
0
0
0
Unio douglasiae
0
0
0
0
1
2
Sinohyriopsis sp.
0
0 44
0
0
0
Gastropoda
28
18
8
87 28
10
Ampullariidae Pomacea canaliculata
13
1
0
51
1
0
Assimineidae
Assiminea translucens
1
3
0
0
0
0
Lymnaeidae
Lymnaea swinhoei
0
0
1
0
0
0

21

Thu-Đông
R
K S
0
5 49
0
0 0
0
0 5
0
3 35
0
0 1
0
0 0
0
0 0
0
0 0
0
1 0
0
1 7
0
0 1
29
24 12
1
3 0
0
3 1
0
0 1


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×