Tải bản đầy đủ

bước qua lời nguyền word (1)

BƯỚC QUA LỜI NGUYỀN
NHÓM 3
I.






Thi pháp nhân vật:

Tên địa chủ độc ác, bóc lột nhân dân:
 Lão Hứa tên địa chủ độc ác dồn nhân dân vào bước đường cùng: “Sau đêm
chánh tổng chết hụt vì lựu đạn du kích, lão Hứa lấy cớ điệu ông tôi ra đình, bắt
xin lỗi chính quyền vì chót đẻ ra bố tôi. Ông tôi không nghe. Lão Hứa sai tuần
đem diêm đến đốt nhà ông tôi. Đến đêm, lão Hứa xua lệ ập đến, trói nghiến ông
tôi kéo ra đình”.
 Thấy cái miếng đất “gan chó” trở nên màu mỡ riêu cua, chánh tổng xin quan
huyện cho đặt lý trưởng. Lão Hứa nhảy tót lên ngồi mâm nhất. Cũng bắt đầu từ đó
chữ “Đồng” mất hẳn ý nghĩa bởi làng bị cắt thành năm bảy miếng, do năm bảy
ông anh bà chị “hùng cứ một phương”. Tuy nhiên tất cả đều bị đặt dưới sự kiềm

toả của lão Hứa.
Tên địa chủ lẽo mép:


Kìa cậu Tư, tôi cắn cỏ lạy cậu. Cậu thử hỏi ông nhà xem, có phải có lúc tôi đã tử
tế với ông nhà không?



Cậu cứ lớn lên đi cậu sẽ hiểu tôi chả là cái gì trước số phận, trước thời thế. Tôi có
trực tiếp đánh ông cậu đâu. Cuộc đời cũ nó ắt phải như thế.



Cuối cùng chết ở một nơi “có một mô đất bẹp dí ở rìa khu bình dân, sát mép
nước. Tuồng như nó cố tình lút xuống để người sống khỏi ngứa mắt”.



Lão chết hồi năm kia sau 7-8 năm ỉa đái ra quần. Làng không cho lão vào nghĩa
địa nên lão đành tạm ở đấy. Hồi đưa tang lão, thối khắp làng đến nỗi ruồi xanh
đuổi theo quan tài đông hơn ong vỡ tổ. Mấy ngày sau tháng khí còn chưa hết
khiến mấy chục con chó hóa dại một lúc rồi theo lão cả.

Nhân vật hiền lành cam chịu mọi uất ức
 Quý Anh cô gái hiền lành nhưng luôn bị bạn bè trêu chọc và ăn hiếp chỉ vì là cha

là địa chủ.


Một hòn đất nát bay thẳng vào mặt con bé: “Khai mau!”. Lại một hòn
nữa rồi cả trận mưa đất trút lên toàn thân Quý Anh. Nó vội ngồi ngụp
xuống, đưa tay gỡ đất và xoa lên vết thương. Không hé nửa lời.













Là người con gái chung thủy: “ Chờ nhau ngần ấy năm… thời buổi này không dễ
có mấy người”.

Nhân vật nghèo nàn, bị áp bức, có mối thù hận sâu nặng:


Ông tổ 4 đời nhân vật tôi vốn nghèo nàn nhưng giỏi chữ nho nên được đám hào lí
nể trọng: “Sau vụ cha con lão Lý Bá khuynh gia bại sản chỉ vì một bài thơ của cụ,
thì cụ bốn đời của tôi bị liệt vào hạng nguy hiểm cho đám chức sắc từ Chánh tổng
trở xuống”.



Chú Hai, chú Ba của nhân vật tôi chết vì một bát cơm nguội.


Chú Ba “chết lã trong giấc ngủ” khi chờ anh mình đem cơm về.



Chú Hai chết vì “Chú tôi ăn cắp ngô non bị đám Trương tuần chôn sống.
Rồi chính họ lại bới chú tôi lên – cho khỏi thối làng – bó chiếu giúp bố
tôi. Bố tôi kể đêm ấy mưa bão, bố tôi vác chú Hai về đến nhà cũng vừa
sáng. Sẵn có cái hố ngập nước, bố tôi thả tõm chú Hai xuống đó, mắt chú
tôi vẫn mở trừng trừng”.

Chính vì điều này mà gia đình nhân vật tôi có mối thù sâu nặng với lão Hứa.


Sẵn mối thù “bố nợ con trả” ông tôi bị chèn ép suốt một đời. Tuy thế ông nội
cũng nuôi chí lớn lắm.



Chuyện ông tôi bị lão Hứa đánh giập phổi là chuyện sau này. Chỉ biết rằng lúc
hấp hối, ông tôi dặn lại truyền cho con cháu: “Còn làng Đồng thì còn mối thù với
thằng Hứa và con cháu hắn”.

II.


Có hôm mặt nó tím bầm. Cũng có bận nó khóc, còn đa phần nó đều gắng
chịu đựng, một sự chịu đựng mà ngay cả lúc lớn tôi vẫn không sao giải
thích được.

Chi tiết nghệ thuật:

Chi tiết “mỗi ngày bố tôi kể lại cho tôi nghe một chuyện thời xưa bề sự tàn ác của lão
Hứa…lão Hứa và con cháu lão là kẻ thù truyền kiếp”. Mối thù này đã phần nào hé mở ra
cho ta thấy được mối thù giai cấp lúc bấy giờ. Và hơn hết đó chính là mối thù giữa giai
cấp nông dân và địa chủ. Gia đình nhân vật “tôi” đại diện cho giai cấp bị trị, nông dân;
gia đình lão Hứa đại diện cho giai cấp thống trị, địa chủ. Mối thù hận đã được miêu tả
một cách sâu sắc để chúng ta nhìn nhận được rằng nó không chỉ tồn tại ở một thế hệ mà
nó được kéo đai qua nhiều thế hệ, khiến cho những thế hệ sau này như mang trong người
một gánh nặng, không dễ dàng vứt bỏ được.
Chi tiết “ Bố tôi gục xuống và khi ngẩng lên tôi tưởng như không tin vào mắt mình, mặt
ông bị vò nát bởi hảng trăm nếp gấp khắc nghiệt. Trên khuôn mặt ấy tôi thấy lại quá khứ




vật vã đẫm máu và nước mắt…” lời nguyền độc địa vẫn còn in hằn trên những gương mặt
đã gần như tàn tạ của người cha đau khổ, bị vằm nát.
Chi tiết “ sống lủi thủi như con chó lạc loài” “hiền lành mà nhu mì như hòn đất”, “gặp
đứa trẻ lên sáu cũng nhất nhất đều lên tiếng chào trước” kẻ gây ra tội ác, đau khổ cho
người khác đã phải chịu nỗi khổ sở, dằn vặt cho đến cái chết cũng đầy tủi nhục và khốn
cùng.
Chi tiết khi thấy cảnh Qúy Anh không khóc, cam chịu để yên bọn trẻ nhà bần nông quất
roi, nếm đất vào người, Tư rất ngạc nhiên và hình ảnh đôi mắt trong veo đó cứ ám ảnh
vào tâm trí. Với Tư đôi mắt đó biểu thị một thứ gì đó thuần khiết, trong sáng, vô tội. Và
khi đôi mắt của Qúy Anh xuất hiện bên cạnh lão Hứa – “ trông nó đối nghịch gay gắt với
lão bố phàm tục”.Và trong đầu cậu xuất hiện những suy nghĩ “ Cậu và tôi và những mùa
vàng rực nắng, chúng ta cùng là con đẻ của một cuộc đời không thù hận”. Phải rồi, nếu
không thù hận thì Tư sẽ kết thân với Qúy Anh như mọi đứa trẻ khác, chứ không phải là
sự dằn vặt của một tâm hồn bé bỏng đứng giữa thù hận đời trước với những tình cảm
trong sáng này. Và tình cảm trong sáng ấy dường như đã trở thành một tình yêu. Và điều
này đã khiến Tư từng bước “ bước qua lời nguyền”. Thưở nhỏ, cậu cởi trói cho Qúy Anh
khi đang bị trói vào cọc phi lao và chạy trốn cùng. Đến tuổi thiếu niên, cậu sẵn sàng lao
vào những cuộc cãi vã với bố mình để bênh vực Quý Anh, thẳn thắng thừa nhận tình yêu
của mình với mẹ. Điều lớn nhất trong tình yêu của nhân vật Tư dành cho Quý Anh là một
sự can đảm bước qua mọi lời nguyền độc địa của mảnh đất chết tiệt. Cậu thừa nhận tình
cảm của mình chính là bước qua lời nguyền dòng họ, vượt qua sự thù hận để bảo vệ tình
yêu của mình.“ Tôi và Quý Anh, hai kẻ trong trắng như nhau, tỗi lỗi như nhau ( vì cả hai
đều là thế hệ gánh chịu lời nguyền và thấm đẫm nỗi đau của cả mấy thế hệ) cùng bước
qua lời nguyền “ trai gái trong làng không được phép lấy nhau”, bước qua những hận thù
nhiều thế hệ để chứng tỏ tình yêu của mình. Tình yêu ấy cuối cùng cũng đã được chấp
thuận phần nào.
III.

Không gian và thời gian nghệ thuật:

1. Không gian

Tạ Duy Anh đã tạo một không gian nghệ thuật hết sức đặc sắc, góp phần tạo nên cốt truyện
mới lạ và độc đáo.
1.1 Không gian làng quê

Không gian quen thuộc mà ta bắt gặp trong các tác phẩm là không gian làng quê gắn với
phong tục tập quán không gian làng Đồng. Ngôi làng đã in sâu vào tuổi thơ cậu bé Tạ Duy Anh
đã in hắn lên những trang viết của tác giả. “Đó là làng tôi,làng Đồng Trưa của tôi,đấy là đất
nước thu nhỏ,vũ trụ thu nhỏ. Làng ấy đất nước ấy vủ trụ ấy là nơi tôi sinh ra,tôi khám phá,tôi
viết,đủ cho tôi viết đến hết đời”. Và quả đúng như vậy, chính quê hương là mạch ngầm sáng tác
vô tận của Tạ Duy Anh.


1.2 Không gian phố thị gắn với sự đổi thay của con người

Văn xuôi sau đổi mới nói chung đã phát hiện bổ sung một hình thức mới của mối qua hệ
con người với lịch sử. Đó là sự “lệch pha” sự không thống nhất giữa con người trong sự phát
triễn của xã hội với bao nhiêu cám dỗ và bất trắc họ đã đổi thay và quên đi những giá trị đích
thực của mình.
Con người cái nhân cũng được thể hiện rõ nhất trong sự tự nhận thức chính mình, hiểu được
chính mình cùng những khát vọng tự do, yêu thương của con người. Trong sự đối đáp với người cha
sau 10 năm bỏ làng ra đi, anh Hai Duy nói: “ Con học được nhiều thứ. Nhưng cái quý nhất là cuộc
đời con phải biết tự định đoạt lấy mình.”. Và con người đã tự giải thoát cho chính mình: “ Chưa bao
giờ tôi căn ghét đồng loại đến thế. Nữa đêm tôi lẻn dậy trốn khỏi nhà cùng vơi cây vồ sàn bằng gỗ
lim. Đây rồi.sự ngu ngốc, thói dởm đời,lòng thù hận,đều vì những cây nấm độc này. Tôi đập nát bảy
chiếc miếu thờ để suốt đêm ấy ngồi khóc âm thầm như kẻ bị ruồng bỏ”.
Trong cuộc sống hiện đại Tạ Duy Anh đã miêu tả một kiểu người mới mẽ. Con người với
những đổi thay đó là sự thờ ơ của con người chỉ mãi chạy theo cuộc sống ngày càng làm cho họ
mắc những căn bệnh lạ như bệnh “ mất vị giác lâu ngày”. Đó là sự trơ lì về mặt xúc cảm,đó là sự
bàng quan trước cuộc sống. Đó là những cái mặt lạ do gắn quá lâu mà không thể gỡ ra được nữa
hay là cả lời nói chỉ dùng để nói những lời xu nịnh không dám nói thực với lòng mình mà dần
dần yết hầu to dần ra,lưỡi tuồng cả khuông miệng.
Tuy nhận ra con người là sự giả dối, sự gian nanh nhưng chúng ta vẫn cứ phải sống theo
cách đó bởi cuộc sống này hết sức phức tạp. Thật ra trong chính cuộc sống hằng ngày thương và
nhất là trong cơ chế thị trường với rất nhiều mối quan hệ phức tạp mỗi chúng ta mỗi ngày phải
đóng rât nhiều vai giả.Đó là thông điệp mà nhà văn Tạ Duy Anh muốn gửi đến độc giả.
2. Thời gian nghệ thuật
2.1 Thời gian đồng hiện.

Truyện ngắn Tạ Duy Anh là sự liên tục của thời gian bởi vì các sự kiện luôn được tác giả
sắp đặt kề nhau.Đôi khi cũng là sự đảo ngược trật tự thời gian câu chuyện để nhân vật hồi tưởng
lại về một thời điểm hiện tại của quá khứ.Hồi tưởng chính là sự quay về quá khứ để nhận thức lại
sự việc đồng thời cũng là sự sống lại với cái “hiện tại” của quá khứ.Và mơ ước tương lai cũng là
sống với “hiện tại” của tương lai trong hiện tại.


Thời gian có sự xáo trộn giữa những thời điểm của quá khứ hiện tại.Từ hiện tại mà người kể
chuyện kể về quá khứ xa xưa của mình đôi khi câu chuyện kể lại từ một nhân vật khác lại kể lại
chuyện quá khứ.
Từ đầu tác phẩm kể về nhân vật “tôi”: “ Năm tôi lên bảy tuổi, tôi đã được giáo dục khá cẩn
thận về vị trí mà tôi đang chiếm một khoảng tí teo giữa cuộc đời mênh mông này. Tôi phải nhớ
rằng thành phần gia đình mình bần nông”. Cái quá khứ có những ký ức của làng quê những con
người nhỏ bé và cả Qúy Anh nửa. Rồi thời gian dịch chuyển tới hiện tại khi nhân vật “tôi” lưu
lạc xa quê giờ mới trở về làng quê ghi bao dấu ấn:
“Sau trọn mười năm, kể từ ngày khóc thầm ra đi, tôi lại trở về cái nơi ghi dấu mãi tuổi thơ
cay đắng của tôi.Bố tôi già đi ghê gớm.Tóc ông bạc như cước, xơ xác trên chiếc trán bị thời
gian đào rảnh lô xô”.
Trở về làng quê là bao ký ức của quá khứ hiện về, nhưng câu chuyện đẫm máu của bố kể:
“Trong những câu chuyện bố tôi kể [...] ông dặn mẹ tôi sau này phải đẻ ít nhất 3 thằng con
trai”. Đây là đoạn kể về mối thù không đội trời chung từ thời “ông tổ bốn đời” cho đến đời cha,
đời chú giữa hai gia đình nhân vật Tư và lão Hứa.
Những kỷ niệm với người con gái có tên Qúy Anh: “Năm tôi lên mười gia đình tôi đang ở
thời kỳ đại thịnh [...] quằn quại trong nỗi ân hận đành chịu mang tội với ông và chú Hai tôi” .
Đây là đoạn hồi ức của nhân vật “tôi” vào khoảng năm lên mười tuổi, gia đình Quý Anh xa sút,
sống lủi thủi qua ngày. Đồng thời cũng nhớ lại những cảm xúc đầu tiên của mình với cô thiếu nữ
Quý Anh xinh xắn. Tình yêu thiêng liêng của họ đã vượt qua bao khó khăn và cả lời nguyền của
làng Đồng “con trai con gái cùng làng không được lấy nhau”. Họ đã đến với nhau bằng một tình
yêu trong sáng không hề vụ lợi tâm hồn họ trong sáng đến lạ thường “Sau này lớn lên nhất định
cháu với cậu đẻ chung một đứa con”.
Cả một quá khứ từ xưa từ thưở làng Đồng sinh ra như thế nào từ lời kể của “Bố tôi kể:
Làng Đồng xưa kia vốn chỉ là bãi đất bằng dùng làm để nơi cày bừa nhà chánh tổng. Trong năm
gia đình đầu tiên đặt tên “ Đồng”cho làng tôi có ông tổ bốn đời của tôi. “Đồng” có nghĩa là
cùng một lòng cùng một chí hướng và cùng lấy một họ. Về sau dân tứ chiếng kéo đến.Đôi vợ
chồng phu phen phiêu bạt trên đường kiếm ăn; một ông cướp chán nghề, quàng vào một ả nào
đó tự dưng thích sống yên ổn.Rồi có khi ông mõ làng khác bị đuổi, đến xin giữ nguyên nghề làng
rộng ra cho đến bây giờ”. Kể về nguồn gốc của làng Đồng từ thời nó mới chỉ là một bãi đất
trống, về lời nguyền “con trai con gái trong làng không được lấy nhau”. Bị phản đối, bị cấm đoán


từ gia đình và dòng tộc nhân vật “tôi” trong truyện đã chọn cách bỏ nhà ra đi, đập nát bảy chiếc
miếu thờ cũng như đập nát sự ngu ngốc, lòng thù hận của những con người nơi đây.
“Bây giờ các vị đã nằm cả ở đây, nơi trước kia chỉ là cái gò con người [...] tôi biết tóc bố tôi
bạc đi một cách khủng khiếp một phần vì những đau khổ tôi trút lên cuộc đời Người”. Dòng thời
gian về với hiện tại, đứng giữa khu nghĩa địa – nơi chôn vùi những con người, những định kiến
của mười năm trước nhân vật nhớ về cái đêm anh và Quý Anh bị bủa vây bằng giáo mác, bằng
nỗi căm ghét phi lý.
“Mọi việc tôi làm trong kì nghỉ phép đều không lọt mắt bố tôi [...] bố tôi gục xuống như vừa bị
cả khối nặng khủng khiếp đè lên vai.Hình như ông đã khóc được”. Thời gian nghỉ phép của Tư
sắp hết anh chuẩn bi lên đường, người cha tuy vẫn chưa đủ can đảm bước qua lời nguyền nhưng
cũng đã đồng ý cho Quý Anh về làm dâu nhà mình (mặc dù là sau khi ông chết). Những ân oán,
những định kiến có thể từ nay sẽ được chấm dứt.
Truyện ngắn sử dụng thời gian đồng hiện có quyền uy cực lớn từ quá khứ người kể
chuyện có tầm bao quát luôn cả hiện tại không những thế làn cho câu chuyện hấp dẫn lôi cuốn
trong các sự kiện.Giúp bạn đọc lý giãi nguyên nhân và hệ quả của nhưng mâu thuẩn trong tác
phẩm.
Tóm lại:


Trong “bước qua lời nguyền” có sự đan xen giữa quá khứ và hiện tại. Mô hình thời gian
theo cấu trúc toàn bộ truyện ngắn là quá khứ - hiện tại – quá khứ - hiện tại. Các sự kiện
được kể không tuân theo trình tự trước sau (đảo thuật), có nhiều sự kiện gối đầu lên



nhau.
Đoạn mở đầu là cảnh tượng Quý Anh bị bạn bè bắt nạt và coi thường vì là con của một
địa chủ - kẻ bóc lột nhân dân. Tác giả chọn khúc thời gian này đưa lên đầu tác phẩm cũng
mang nhiều dụng ý, nhằm gây ấn tượng cho độc giả. Đoạn này có thể được coi là lý lịch



trích ngang của các nhân vật.
Sự sai trật niên biểu đồng thời với sự tái điệp thời gian càng rõ và dày đặc hơn trong từng
phần nhỏ của tác phẩm. Cứ ở mỗi thời điểm hiện tại, nhân vật lại có ký ức hiện về. Sự vật
hay cảnh huống hiện tại đều chứa đựng đầy ắp cả quá khứ. Sự trộn lẫn thời gian đó khiến
cho ta có cảm giác như con người đang trôi trong một không gian - thời gian vô tận, mờ
ảo.




Tổ chức thời gian đồng hiện theo kĩ thuật dòng ý thức, trong một chừng mực nhất định là
chiến lược trần thuật của tác giả nhằm soi chiếu cặn kẽ con người hiện đại với nhiều
chiều. Cách tổ chức thời gian phi tuyến tính, sự lắp ghép thời gian hiện thực, thời gian
tâm tưởng làm cho hiện thực rộng hơn, hiện thực tâm hồn con người sâu hơn.
2.2 Thời gian tâm tưởng
Tạ Duy Anh còn thành công khi khai thác và đi vào chiều sâu tâm lý nhân vật những buồn

vui đâu khổ và những ký ức xen lẫn nhau trong tác phẩm.
Tạ Duy Anh sử dụng rất nhiều trạng từ chỉ thời gian đã qua mang tính chất hồi ức như: Hồi
ấy, từ lâu, khi đó… nhiều nhất là từ “Bố kể” hoặc một ai đó kể lại… không gian tâm lý tâm
tưởng giúp đọc giả hướng về một thời xa xưa đó. Sự bừng sáng lên của tình yêu mặc dù chẳng
thích thú với nhưng biến thể của quá khứ nhưng ông chấp nhận nó như một phần cuộc sống này.
Tạ Duy Anh thông cảm với những số phận đau khổ là người phụ nữ “chàng thong cảm với hai
người đàn bà” “ Cậu không sống kiếp của chị cậu chẳng thể hiểu được”.
Con người Tạ Duy Anh biết tha thứ, đặc biệt cách giải thoát cho mình và cả những con
người đã một thời gây bao đau khổ cho mình: “Nhân danh những người thân của tôi, nhân
danh sự khốn khổ của con người tôi tha thứ cho ông và xin ông tha thứ” . Trong cái quá khứ ấy
con người qua thời gian mặc dù họ nhận ra họ thất bại song họ chẳng bao giờ họ chấp nhận hoặc
thừa nhận điều đó.
Những tiềm thức trong tâm tưởng đặc biệt hơn nữa dòng hồi ức của chính nhân vật là người
trần thuật kể lại là câu chuyện của cả nhân vật trong câu chuyện như người cha kể lại cuộc đời
cay đắng của mình từ thưở ông tổ bốn đời và cả cái chết của người chú.
Họ cứ luẩn quẩm trong cái vòng trầm luân trần gian ấy một cái vòng đó mà họ đấu đa nhau
từng li tưng tí một làm cho làng Đồng nhỏ bé một thời huy hoàng giờ đây lầy lội tăm tối, thù hận
đến nỗi nhà văn hóa hóa thành nơi vừa nhốt người vừa, vừa nhốt lợn, ghế đá bị đập què chân,gãy
lưng,sân bong thành nơi cho trẻ con và cho phóng uế. Chú Hỗ là người luôn đấu tranh chống lại
những bất công phi lí đó cũng trở thành phần tử nguy hiểm.
Nhân vật tôi viết lại chính ký ức của mình, tình yêu,nơi làng quê gắn liền với tuổi thơ những
ký ức tuôn chảy theo dòng cảm xúc. Đó là một thời khắc sâu vào tâm cảm của mình là tuổi thơ
với bao kỷ niệm như bao đứa trẻ trên đất nước Việt Nam những ngày chăn trâu thả diều “Cánh
diều trẻ con của tôi mền mại như cánh bướm, thanh sạch không hề vụ lợi.Trong khi người lớn
chạy bật móng chân để rong diều thì đám mục đồng chúng tối sướn đến phát dại khi nhìn lên


trời. Sáo luông ngỗng vi vu trầm bổng. Sáo đơn rồi sáo kép,sáo bè…như gọi thấp xuống những
vì sao sớm. Ban đêm trên bãi thã diều thật không có gì huyền ảo hơn. Có cảm giác diều đang
trôi trên giãi ngân hà” những ký ức tuổi thơ ngọt ngào và đầy thơ mộng với những mơ ước về
chàng hoàng tử, nàng tiên xinh đẹp.
Thêm vào đó là những trận đòn soi của tụi trẻ dành cho cô bé Qúy Anh không có tội tình gì
nhưng cam chịu đáng thương. Nó cam chịu đến kỳ lạ. Thế rồi tình yêu cũng chớm nở trong tâm
hồn của Cậu Tư và Qúy Anh hai người hai thế giới khác nhau do các bậc cha chú tạo ta một bức
tường vô hình ngăn cản họ. Thế nhưng họ lại gặp nhau ở một điểm chung là họ mang trong mình
một tình yêu nồng cháy đốt cháy cái lới nguyền trói chặt con ngươi bao đời nay. Một tình yêu
không vụ lợi toan tính họ sẳn sang lam tất cả để bảo vệ tình yêu ấy.
Sau bao năm trở về lại làng quê khi nhắc đến cái tên Qúy Anh “ Qúy Anh – ký ức tôi chồm dậy
như con ngựa chưa thuần. Phút chốc những kỷ niệm mặn chát của tôi một thời vụt hiện lên tươi rói
như vết thương đang ứa máu” .Thời gian của cả một thời xưa lắm hiện về cái thời của ông tổ bốn
đời. Men theo dòng ký ức ta thấy một thực tại khác hoàn toàn khác một làng Đồng khác giữa hai thế
lực bủa vây bởi lời nguyền truyền từ đời khác lại.
Thời gian tâm tưởng trong tác phẩm của Tạ Duy Anh là những hồi ức về quá khứ, những sự
việc được nhớ lại theo mạch cảm xúc. Ký ức như là con đường để tác giả nhận thức và biểu hiện
thực tại. Ký ức là một sự tìm kiếm thời gian đã đi qua cuộc đời nhân vật.
IV.
-

Thi pháp cốt truyện:

Trong tác phẩm “ Bước qua lời nguyền” tác giả đã mô tả lại một ngôi làng trong những năm
trước cách mạng, sau cải cách ruộng đất và trong những năm đổi mới.
Làng Đồng được mô tả trong hai khoảng thời gian:
+ Đầu tiên là giai đoạn làng trước cách mạng. Làng Đồng như một xã hội nông thôn thu nhỏ
với những lý tưởng, lý hào, lính lệ, trai đinh, những kẻ cố nông, cùng đinh, phu phen, dân tứ
phương phiêu bạt. Đã là làng thì phải có tôn ti trật tự. Đó là một làng quê được đặt dưới sự
cai trị của một lý trưởng ( Lão Hứa), dưới lý trưởng là những “ năm, bảy ông anh bà chị mỗi
người hùng cứ một phương”. Nơi những kẻ địa chủ ra sức bóc lột người dân, đối xử không
bằng loài vật, đến chén cơm nguội trên tay cũng giật xuống, đổ cho chó ăn đẩy người ta đến
bước đường cùng. Bên cạnh hệ thống tôn ti là những luật lệ hà khắc: kẻ trộn cắp, ăn cướp
phải bị chon sống, con làm phản thì cha bị địu ra đình xin lỗi cả làng, chính quyền vì đẻ ra
đứa phản nghịch,..
+ Khoảng thời gian thứ hai là sau cải cách ruộng đất, làng Đồng sau cuộc cải cách ruộng đất
có những thay đổi. Hệ thống tôn ti trật tự bị phá vỡ, thay vào đó là những trật tự mới. Dù là
cải cách ruộng đất, đổi mới xã hội thế nhưng cách nghĩ phiến diện, công thức về con người
và bản chất con người cùng với cách tư duy bảo thủ đã khiến cho làng Đồng không thoát ra


-

-

-

-

khỏi “lời nguyền”, những người trong làng cứ nhòm ngó tổ tiên của từng nhà rồi quy kết cho
con cháu, nhồi nhét vào đầu thế hệ trẻ những điều đại loại như tổ tiên nó xấu xa thì con cháu
cũng xấu xa … Cứ cách nhìn ngó vào mâm cơm của từng nhà mặc kệ làng xóm tiêu điều như
thế đã khiến cho làng Đồng sau mười năm ( kể từ lúc nhân vật Tư ra đi và trở về) trở nên
khủng khiếp “ mấy chục năm xây dựng mà cứ xác xơ như trong cảnh tắt đèn”.
Trải dài từ đầu đến cuối tác phẩm “ Bước qua lời nguyền” của Tạ Duy Anh là sự xuất hiện
của những mối thù hận – nguyên nhân phát sinh của những lời nguyền. Có hai lớp thù hận
trong tác phẩm là thù hận dòng họ và thù hận giai cấp. Mối thù hận đó như những sợi dây
xích tồn tại rất lâu, từ lúc làng Đồng ra đời, và keo dài từ thế hệ này sang thế hệ khác và chưa
tháo gỡ được.
Hận thù dòng họ ở đây chính là mối thù hận của nhà nhân vật Tư và nhà Quý Anh. Mối thù
kéo dài những bốn thế hệ. Chính từ mối thù giữa hai dòng họ mà ta có thể nhận thức được
mối thù giai cấp. Ở đây chính là mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ. Đại diện cho hai giai
cấp chính là hai dòng họ, gia đình nhân vật tôi đại diện cho giai cấp bị trị, nông dân và gia
đình lão Hứa đại diện cho giai cấp thống trị địa chủ. Tạ Duy Anh miêu tả mối hận thù của hai
dòng họ một cách sâu sắc nhằm để người đọc hình dung ra được lớp hận thù thứ hai. Đồng
thời để chúng ta nhận thấy rằng mâu thuẫn giai cấp không chỉ tồn tại trong một thế hệ mà kéo
dài nhiều đời, khiến cho đời sau gánh lấy một gánh nặng, không dễ dàng vứt bỏ được.
Trong tác phẩm “ Bước qua lời nguyền”, Tạ Duy Anh đã xây dựng một mối tình trong cảnh
nghịch lý theo motip Romeo và Juliet. Tình yêu trong tác phẩm được ra đời và nuôi dưỡng
ngay trong lòng những định kiến. Một tình yêu trong sáng như thiên thần ấy vậy mà khiến
cho tâm tưởng nhân vật tôi luôn phải đau đáu, ám ảnh bởi mối thù sâu nặng của dòng họ.
Cũng chính tình yêu với Quý Anh mà nhân vật cậu Tư đã hơn một lần “ bước qua lời
nguyền”.
Điều lớn nhất trong tình yêu của nhân vật Tư dành cho Quý Anh là một sự can đảm bước qua
mọi lời nguyền độc địa của mảnh đất chết tiệt. Cậu thừa nhận tình cảm của mình chính là
bước qua lời nguyền dòng họ, bước qua sự thù hận dòng họ, vượt qua sự thù hận để bảo vệ
tình yêu của mình. Cùng bước qua lời nguyền “ trai gái trong làng không được phép lấy
nhau”, bước qua những hận thù nhiều thế hệ để chứng tỏ tình yêu của mình, tình yêu ấy cuối
cùng cũng được chấp nhập phần nào.
→ Có thể nói thi pháp cốt truyện trong truyện “ Bước qua lời nguyền” được Tạ Duy Anh viết
hết sức là sâu sắc, ông viết về nông thôn , phản ánh những cách nghĩ của người dân nông
thôn nhưng ẩn nấp đằng sau đó là cách nhìn nhận đứng trên lập trường tiến bộ để phê phán
xã hội với những nghịch lý và duyệt lại những sai lầm trong quá khứ, Tạ Duy Anh đã miêu tả
mối hận thù sâu sắc nhằm chỉ ra cách suy nghĩ phiến diện, công thức, một chiều về bản chất
con người.
V.
Thi pháp lời văn nghệ thuật:
V.1 Ngôn ngữ
V.1.1 Ngôn ngữ đời thường
Một điều mà trong các tác phẩm của mình Tạ Duy Anh đã sử dụng ngôn ngữ rất dung dị, đời
thường, bên cạnh đó ngôn ngữ truyện ngắn Tạ Duy Anh luôn luôn thể hiện bề mặt thô nhám của
đời sống bình thường. Đó là thứ ngôn ngữ đời thường nhưng có phần dung tục. Ngôn ngữ này


ngườita còn gọi là ngôn ngữ “đen” thứ ngôn ngữ suồng sã. Đó là cách nhà văn viết thoe kiểu
hiện thực để làm người đọc hiểu hơn về tính đa thể của cuộc sống con người. Với Tạ Duy Anh
bạn đọc lắm lúc sờn gai ốc vì những con chữ bạo thường trở nên thô thiển.
“Chết cha con Sừng Măng đi! Chết cha quân bóc lột đi!”
“Mày sắp quên mối thù rồi đấy. Chẳng qua thời nay là thời của Bần-cố nông thì lão phải chịu
đấy con ạ. Mẹ tiên sư, giá lúc nó xua tuần đến đốt nhà ông nội mà mày được chứng kiến nhỉ!”
“Để nịnh bố tôi, ông Tư Vê đã ỉa vào cửa nhà lão cả đống tướng.”
Đó là cách nhà văn phản ánh cái thật ở Tạ Duy Anh khác với nhà văn khác.Vì cái thật không thể
thật nếu nó không được diễn đạt đúng là nó.Bởi thứ ngôn ngữ này mới hột tả hết các loại người
trong xã hội.Họ sử dụng hết vốn từ sẵn có của mình, thả lỏng dây cưng cho ngôn ngữ thoải mái
tuôn ra.Chính lối sống hiện đại, mỗi nhà sống với nhau khép kín làm cho họ không hiểu nhau
đúng hơn họ không hiểu được cuộc sống của nhau.
Bên cạnh thứ ngôn ngữ này cũng hiện diện của ngôn ngữ ngọt ngào của tình yêu, nó vi phạm
mọi nguyên tắc ngữ pháp bởi tình yêu không tuân theo cái gì có sẵn “- Con nói thật đi, có đúng
con giăng dện với con Quý Anh không?- Con yêu cô ấy.”
Trong tác phẩm của ông hầu như viết về người nông dân họ vẫn giữ được những mộc mạc, chân
tình, họ xưng hô với nhau như những người ruột thịt
“- Cậu Tư bao nhiêu tuổi?
- Mười lăm… còn mày?
- Cháu mười bốn.
- Sao mày nhớn thế?
- Cháu là con gái mà. Cậu Tư xem này”.
V.1.2 Ngôn ngữ đối thoại
Đối thoại cũng cách nhà văn dùng để miêu tả tính cách nhân vật qua lời lẽ, đối thoại với người
khác.Đối thoại là cách giao tiếp giữa các nhan vật. Từ đấy ta có thể nhận thấy họ suồng sã, thân
mật hay thô ráp.
Trong Bước qua lời nguyền, ông sử dụng cách đối thoại dày đặc có ý nghĩa đặc biệt đối thoại
giúp người ta xích lại gần nhau hơn, họ tâm tình hoặc giải bày tâm sự với nhau.Chẳng hạn như
cuộc nói chuyện ngây ngô của Quý Anh và cậu Tư.
Nhưng đôi khi đối thoại cũng đem lại hiệu quả trái ngược nhau không làm họ xích gần lại nhau
mà đẩy họ ra xa nhau, không ai hiểu ai, không ai quan tâm tới cuộc sống của nhau chứ đừng nói
đến cảm thông nhau. Nó thể hiện trang thái vỡ vụn, phân ra của thế giới hiện đại, vừa khắc đậm
trạng thái cô đơn, tha hóa của nhân vật. Mỗi nhân vật là một thế giới riêng xa lạ với động loại
với chính mình.
“- Mày phải thôi ngay hoặc tao thắt cổ tao chết.
- Thì thôi! – Tôi gắt lên – Con trai mẹ chả cao giá lắm đâu.”
Đối thoại đôi khi chỉ vài ba từ thôi có vẻ cụt lũn như thế nhưng nó lại mang ý nghĩa nhất định
nào đó của chủ thể người nói và người tiếp nhận.
“- Tại sao con Quý Anh nó không đến?
- Cô ấy sợ.”
5.1.3 Ngôn ngữ độc thoại nội tâm:
Nếu đối thoại là một chách miêu tả nhân vật trong sự đối mặt của nó với người khác thì độc
thoại là khu vực ngôn ngữ nhạy cảm để nhân vật tự nói với chính mình.Độc thoại nội tâm trở
thành thủ pháp nghệ thuật hiệu quả khi diễn tả quá trình tự ý thức của nhân vật, cho phép đi sâu
vào thế giới nội tâm đầy bí ẩn của nhân vật.


Lời độc thoại thường gắn với nhân vật tự ý thức với những trạng thái tâm lý tư tưởng căng
thẳng. Có thể thấy Tạ Duy Anh có điểm song trùng “ tôi “ nhân vật người kể chuyện và bóng
hình cái tôi tác giả.
Trong Bước qua lời nguyền, đan xen giữa câu chuyện được kể là dòng hồi ức chiêm nghiệm của
nhân vật tôi về người cha của mình. Cái mảnh đất mà in dấu biết bao kỷ niệm của nhân vật “ tôi”
nhưng cũng mang lại những chấn thương về tinh thần cho nhân vật “ Mãnh đất chết tiệt! Tôi
muốn gào thật to vào bầu trời thắm sâu, tôi muốn gào đến tận âm ti địa ngục cho quỷ thần nghe
thấy”.
Lời độc thoại nội tâm của nhân vật là thể hiện những luồng tư tưởng, tình cảm trái chiều phức
tạp. Chân dung hiện lên qua những lời độc thoại của nhân vật bởi đây là khu vực nhạy cảm nhất
và thoải mái nhất để nhân vật nói lên những suy tư riêng kín của mình.
Đó là những tiếng nói bề sâu tâm hồn của nhân vật do vậy việc tổ chức những tiếng nói khác
nhau trong tác phẩm là để nhân vật chìm sâu trong thế giới riêng của mình. Chính nhân vật cũng
chấp nhận những suy nghĩ sâu kín trong tâm hồn họ, những câu hỏi đặt ra thường không có câu
trả lời “Cũng có bận nó khóc, còn đa phần nó đều gắng chịu đựng, một sự chịu đựng mà ngay
cả lúc lớn tôi vẫn không sao giải thích được.”
Tạ Duy Anh tập trung vào miêu tả tính cách nhân vật theo một cách rất khác. Ông đặc biệt chú
trọng tổ chức ngôn ngữ đối thoại nội tâm.Miêu tả nhân vật trong dòng độc thoại nội tâm còn lý
giải biết bao suy tư thầm kín của thế giới nội tâm nhân vật.
V.2 Giọng điệu trần thuật:
V.2.1 Giọng điệu chiêm nghiệm, triết lý:
Trong tác phẩm của mình Tạ Duy Anh tự tách mình ra khỏi nhân vật để nhân vật tự bộc lộ bằng
giọng điệu của chính mình.Với giọng chiêm nghiệm những vấn đề nhân sinh, thế sự như ý nghĩa
cuộc đời, sự lựa chọn cách sống, vấn đề lương tâm, đạo đức… được trao đổi nhiều, mỗi nhân vật
được quan niệm như một lập trường chủ thể độc lập. Mỗi phát ngôn của họ đều đươc tự do không
hề bị hạn chế bởi chủ thể sáng tạo. “Tôi để tuột thanh kiếm tráng sĩ vì một lời khẩn nguyện dâng
lên từ đất: “Cậu và tôi… và những mùa vàng rực nắng, chúng ta cùng là con đẻ của một cuộc
đời không thù hận.”
Trong tác phẩm của mình nhà văn là người kể chuyện như muốn bạn đọc cùng luận bàn, suy
ngẫm những vấn đề về con người và cuộc sống hiện thực hôm nay diễn ra.
Tạ Duy Anh luôn đặt nhân vật của mình “mấp mé bên lằn ranh giới Thiện – Ác” buộc con người
phải lựa chọn. Trước cuộc đời đầy rẫy những cảnh phí lý nhưng điểm chung lớn nhất mà tác giả
hướng đến là để nhân vật nghiêng về cái Thiện, thấu cảm những việc làm sai trái của quá khứ. Tạ
Duy Anh làm sáng tỏ và khám phá thế giới bí ẩn của dục vọng con người cá nhân mà ẩn ý thức
cao đẹp của một tâm hồn luôn hướng đến đó là thế hệ trẻ thế hệ tương lai. Con người không thể
chối bỏ những sai lầm, song làm sao đủ dũng cảm nhận cái sai lầm đó, đủ tri thức để đối mặt với
những phần thể khuất lấp, những ước muốn cá nhân thầm kín là sự thành thật với chính mình và
rút ra con đường trưởng thành, cải tạo chúng theo chiều hướng tốt đẹp hơn.
“Hẳn lúc ấy tôi chỉ cảm thấy có gì đó khác thường đã xảy ra trong trái tim bé con của tôi. Nhưng
khi tôi bắt đầu hiểu cuộc đời, tôi cứ nhớ có một lời khấn thầm như thế ngấm vào tôi.Có thể nó
đến bằng một giấc mơ thanh sạch ở tuổi chớm lớn.Nhưng bao giờ lời khấn thầm ấy cũng đi cùng
hình ảnh Quý Anh quỳ trước tôi từ buổi ấy. “Cậu và tôi…” lẽ nào điều ấy đã xảy ra khi vào một
đêm nào đó tôi úp mặt lên gối khóc nức nở, quằn quại trong nỗi ân hận đành chịu mang tội với
ông và chú Hai tôi.”


Những cuộc đối thoại diễn ra dồn dập, câu hỏi và lời giải đáp cứ tiếp nối khiến ngôn ngữ nhân vật
cuộn xoắn, kết chuỗi tạo ra sinh khí và sức lôi cuốn độc giả.Bởi sau những cuộc đối thoại ấy câu
trả lời như vẫn còn để ngỏ chưa hoàn tất đề tác giả, người trần thuật, nhân vật và độc giả cùng suy
ngẫm chiêm nghiệm về con người thời thế của hôm qua và ngày nay.Dù ở đâu, ở không gian nào,
bằng lời thoại trải nghiệm chứa đầy nỗi niềm, suy tư nhân vật đã kéo người đọc gần mình hơn để
tâm sự và giải bày.
Trong Bước qua lời nguyền, đan xen giữa câu chuyện được kể là dòng hồi ức và chiêm nghiệm
của nhân vật “tôi”. “Tôi” vừa lý giải bi kịch của người cha, của bản thân của thời đại vừa bộc lộ
tư tưởng của một thế hệ mới, dũng cảm bước qua thành trì của quá khứ yêu thương và quên thù
hận.
Mỗi chúng ta khi sinh ra và lớn lên đều chiêm nghiệm trong cuộc sống mình những bài học cho
bản thân những triết lý cho cuộc sống. Cả những điều thật sự ngay một lúc trong một thời điểm
cũng làm cho con người chiêm nghiệm.
“Hóa ra có những thứ thuộc về bản sắc thật sự, nghĩa là cứ bất chấp thời gian biến động xã hội…
nó cứ trơ ra, không sức mạnh vật chất, tinh thần nào thay đổi được”. Những thứ thuộc về những
gì ăn sâu bám rễ trong nội tại của nó không dễ gì thay đổi được.Dù hiện thực cuộc sống có bề
bộn, nghiệt ngã như thế nào, nhưng trong truyện ngắn của ông luôn hướng tới cái kết có hậu.
Tạ Duy Anh gửi gắm những trăn trở của mình trong cuộc thi đấu giữa hai con trâu. Tác giả ngụ ý
muốn bày tỏ quan niệm nhân sinh khi kéo câu chuyện dài ra. Con thua thì đã thấy kết cục nhưng
con thắng thì kết cục sẽ ra như thế nào? Tác giả về làng sau mười năm và chứng kiến cái chết của
con Sừng Măng kẻ chiến thắng khốn khổ hơn rất nhiều. Và dưới cái chết nó cảm thận con người
là một bầy quỷ dữ “trong biển sương mù, nó thấy loáng thoáng vài hình ảnh đi lại vừa trầm ngâm
vừa sốt ruột. Nó đoán là bầy quỷ dữ được vua quỷ sai đến mang nó đi…” Tạ Duy Anh đã nghiệm
ra những triết lý trong cuộc sống và về chính con người: Đời người ngắn ngủi, có sinh hẳn có tử,
chẳng ai sống với nhau mãi được, vậy vì sao phải sống với nhau một cách tàn ác, nghi kị như vậy
để rồi đày đọa mình vào khổ cực.
V.2.2 Giọng điệu hài hước, dí dỏm
Một trong những hiệu quả thẩm mỹ của giọng điệu hài hước là khả năng đem đến tính bất
ngờ.Trong cấu trúc tác phẩm của mình Tạ Duy Anh đã có ý thức cài đặt những cuộc đối thoại
sinh động, giàu kịch tính vào mục đích tạo hài, một cái hài dí dỏm mà sâu cay. Nó không chỉ hài
hước mà còn chứa đựng trong đó một sự thâm thúy đầy chất nhân văn.Nhà văn không thiên về vẻ
bề ngoài của nhân vật mà thiên về phát hiện tâm lý của các nhân vật qua tuyến đối thoại.
“- Cháu mặc quần “con” rồi đấy.
- Để làm gì?
- Cậu chả biết được. Mới lại phải tội chết… Sau này lớn nhất định cháu với cậu đẻ chung một
đứa con. Chỉ cần cậu sờ vào ngực cháu như lúc nãy là cháu đẻ.”
Lời đọc thoại trong truyện ngắn Tạ Duy Anh được cấu trúc dưới hình thức tranh luận ngầm trong
tâm hồn nhân vật, tạo ra sự đối thoại gián tiếp là dấu hiệu đáng ghi nhận ở phương diện giọng
điệu trần thuật của ông.Ở đây cái tôi người kể chuyện tranh luận đối đáp với nhau.Tác phẩm hòa
tấu trong nhịp đối thoại như một cái cớ kích thích sự bộc phát của dòng ý thức độc thoại.
V.2.3 Giọng điệu tâm tình, chia sẻ:
Trong đối thoại nội tại thẩm thấu các từng ngữ nghĩa, lời nói của nhân vật ở thì hiện tại hôm nay.
Trong các tác phẩm của mình tác giả đã làm cho cái tôi của người trần thuật không những chỉ là nhân
chứng của một thời đã qua mà còn là cái “tôi” chứng kiến một thời đại đang tới: lạ lẫm nhưng không
thể không xem xét. Lời thoại luôn thể hiện một sự nếm trải của người kể chuyện như muốn đúc kết


một vấn đề của thời đại, của nhân sinh sau một thời gian tự nghiệm. Qủa thật người kể chuyện thông
qua nhân vật đã đúc kết được một điều có thể nói là quan trọng nhất trong đời sống ngày nay, đó là:
hãy biết bao dung, độ lượng hơnvới chính mình và đồng loại vì có như vậy ta mới sống thanh thản và
hạnh phúc hơn. Tâm tình và chia sẻ là giọng điệu mà Tạ Duy Anh lựa chọn trong các tác phẩm của
mình.
Bởi trong các tác phẩm của mình Tạ Duy Anh đã dùng ngôi kể thứ nhất đa giọng điệu của người trần
thuật giọng chiêm nghiêm triết lí, giọng hài hước dí dỏm, giọng tâm tình chia sẻ…nhân vật chia sẻ
cùng nhau nhửng điều tưởng chừng như bình thường nhưng lại rất quý trong cái xã hội xô bồ này.
Tạ Duy Anh chia sẻ vớinhững lo âu thường trực của nhà văn trước sự lệch pha giữa văn minh và văn
hóa. Các nhân vật chia sẻ với nhau, nhưng điều mà trong cái xã hội bây giờ hiếm và quý trọng giữa
con người:
“- Có làm sao không hở mẹ?
- Chuyện bình thường, con trai mẹ ạ. Từ giờ con là một chàng trai và phải có trách nhiệm với việc
làm của mình.
Tôi đã giã từ tuổi thơ bằng một giấc mơ.”
Dù ở thời đại nào cũng cần có sự chia sẽ và cảm thông giữa con người với nhau. Chính điều ấy lại là
sợi dây nối kết con người gần nhau hơn.
“- Chờ nhau ngần ấy năm… thời buổi này không dễ có mấy người.Anh chị đã quyết, tôi cũng không
dám cản.Nhưng tôi chỉ xin ở anh một yêu cầu.
- Vâng, bố cứ nói.
- Anh cứ đợi khi nào tôi chết hẵng đưa nó về ở nhà này. Tôi biết nói ra điều này không xứng đáng với
một ông bố.Nhưng tôi không thể… anh hiểu ý nguyện của tôi chứ?”
Tình yêu là chủ đề không có gì mới lạ song đối với văn nghệ sĩ đã ngoại tứ tuần thì cũng khá đặc biệt.
Tình yêu được Tạ Duy Anh miêu tả rất chân thật và trong sáng. Được nói ra khá công khai nhưng
cũng khá rụt rè như chính cái tôi tứ tuần của tác giả và cái hay chính là ở đó. Tạ Duy Anh đề cao
những sự trong sáng của tình yêu không hề vụ lợi dung tục tầm thường. Trong Bước qua lời nguyền
Quý Anh và cậu Tư đã dùng tình yêu để thoát khỏi những hoản cảnh bế tắc lạc loài mà loài người
đang vướn phải.
“Tôi và Quý Anh, hai kẻ trong trắng như nhau đã bước qua lời nguyền, đã ân xá cho nhau trong sự
chứng kiến của các thiên thần. Và đêm ấy các vị đã bọc chặt chúng tôi bằng giáo mác, bằng nỗi căm
ghét phi lý.Dưới ánh đuốc, các vị có thể thấy rõ dù chết chúng tôi cũng không rời nhau.”
VI.

Thi pháp hình tượng tác giả:

“ Bước qua lời nguyền “ khá nổi tiếng và được xem như một cái mốc trong sự nghiệp của
Tạ Duy Anh. Đánh dấu sự nghiệp văn chương của ông trong thời kì đổi mới với khuynh
hướng văn học đấu tranh phê phán xã hội, duyệt lại những sai lầm trong quá khứ.


“ Bước qua lời nguyền “ Tạ Duy Anh đã xây dựng một hệ thống đề tài đa dạng: Đề tài về
xã hội nông thôn và đề tài thù hận. Với đề tài xã hội nông thôn tác giả đã mô tả lại một
ngôi làng trong những năm trước cách mạng, sau cuộc cải cách ruộng đất và trong những
năm đổi mới.
“ Bước qua lời nguyền là một truyện ngắn viết về nông thôn, phản ánh cách nghĩ của
người dân nông thôn nhưng ẩn nấp đằng sau đó là cách nhìn nhận đứng trên lập trường
tiến bộ để phê phán xã hội với những nghịch lý và duyệt lại những sai lầm trong quá khứ.
Chủ đề chính của tác phẩm đó là đấu tranh phê phán những sai lầm của xã hội. Tạ Duy
Anh đã mô tả mối hận thù sâu sắc nhằm chỉ ra cách suy nghĩ phiến diện,một chiều về
bản chất con người. Tư tưởng của tác giả thông qua xuyên suốt nội dung truyện chính là
nhận thức về con người và bản chất con người. Bước qua lời nguyền chính là bước qua
những định kiến sai lầm, những nhận thức phiến diện của con người. Tạ Duy Anh cũng
đã nói rất nhiều về thù hận nhưng không phải để thù hận nhiều hơn mà mong muốn của
tác giả là sự tha thứ trong mỗi con người để tương lai sang sủa hơn, nơi con người đối sử
với nhau nhân văn hơn.
*Cái nhìn nghệ thuật của tác giả Tạ Duy Anh
Cái nhìn nghệ thuật là phong cách cảm quan, phát hiện và tiếp nhận, nghiền ngẫm và xử
lí kĩ nguồn liệu và trạng thái của hiện thực cuộc sống trong sáng tạo nghệ thuật.
Với cái nhìn nghệ thuật của tác giả, thông qua tác phẩm ta có thể nhận thấy. Vẫn là mô típ
quen thuộc theo kiểu Remeo và Juliet với mối thù hai dòng họ trên vai và tình yêu trong
tim, tuy truyện ngắn này thực sự là sự tái hiện bức tranh tràn cánh nông thôn Việt Nam
những năm 1950-1970 đầy máu và nước mắt. Khác với thời đại của Romeo và Juliet, tình
yêu ở thời đại mới không chấp nhận cái chết. Tình yêu mới giống như thứ nước thánh gột
rửa tâm hồn con người.
Có thể nói cái nhìn của Tạ Duy Anh là cái nhìn của sự lên án về những “ lời nguyền“,
những tư duy phiến diện lạc hậu, bên cạnh đó còn là ý muốn vươn lên, đấu tranh phê
phán những nghịch lý cùng những sai lầm trong quá khứ.
Tạ Duy Anh là nhà văn bảo vệ cái đẹp cái thiện và giữ vững niềm tin cho con người
không sa vào chất dọng cay đắng hay cười cợt mỉa mai. Đôi khi nhà văn cười những thối
xấu của người đời, cái cười tẩy sạch và thanh lọc, tự chế giễu như một sự tự ý thức về
bản than, định vị trong cuộc đời mà giữ cho lòng bình an. Trong tác phẩm, nhà văn là
người kể chuyện như muốn bạn đọc cùng bàn luận, suy ngẫm những vấn đề về con người
và cuộc sống hiện thực hôm nay đang diễn ra. Tạ Duy Anh luôn đặt nhân vật của mình “
mấp mé giữa ranh giới thiện-ác buộc con người phải lựa chọn. Trước cuộc đời đầy rẫy


những cảnh phi lý nhưng điểm chung lớn nhất của tác giả muốn hướng đến là để nhân vật
thiên về cái thiện, thấu cảm với những việc làm sai trái của quá khứ. Tạ Duy Anh làm
sáng tỏ và khám phá thới giới bí ẩn của dục vọng con người và cá nhân mà ẩn ý thức cao
đẹp của một tâm hồn luôn hướng đến đó là cả thế hệ tương lai. Con người không thể chối
bỏ những sai lầm, sống làm sao đủ dũng cảm nhận cái sai lầm đó,đủ tri thức để đối mặt
với những tác phẩm khuất lấp, những ước muốn cá nhân thầm kính là sự thành thật với
chính mình và rút ra con đường trưởng thành, cải tạo chúng theo chiều hướng tốt đẹp
hơn. Những cuộc đối thoại diễn ra dồn dập, câu hỏi và lời giải đáp cứ tiếp nối khiến ngôn
ngữ nhân vật cuộn xoắn , kết chuỗi tạo ra sinh khí và sức lôi cuốn độc giả. Bởi sau những
cuộc hội thoại ấy câu trả lời như vẫn còn để ngỏ chưa hoàn tất để tác giả , người trần
thuật, nhân vật và đọc giả cùng suy ngẫm , chiêm nghiệm về con người thời thế của hôm
nay và ngày mai. Dù ở đâu , ở không gian nào, bằng lời thoại trải nghiệm chứa đầy nổi
niềm, suy tư nhân vật đã kéo người đọc gần mình hơn để tâm sự và giải bài. Vẫn là vấn
đề xoay quanh cái “ tôi” bản ngã và cuộc chiến giữa cái thiện và cái ác, cùng với sự tha
hoá về đạo đức và nhân phẩm… nhưng được nhìn nhận dưới góc nhìn mới, trong một
giọng tự vấn đầy đủ hơn . Sự chiêm nghiệm ấy rút ra từ trong những điều bình dị đời
thường. Giọng điệu triết lý nhân vật, người kể chuyện xưng “tôi” trong những lời triết lý
như một sự đắn đo, tranh chấp giữa các phạm trù: được-mất, đúng-sai, phải-trái… nhưng
nó không phải là những kết luận cuối cùng mà là sự chấm lửng nghi hoặc tạo ra cho
người đọc một khoảng trống để liên tưởng các vấn về con người và mối quan hệ xã hội.
Đặc biệt Tạ Duy Anh rất thích liệt kê một cách giản lược nhiều chi tiết bình luận đánh
giá. Nhưng hay hơn cả là việc áp dụng được rất nhiều câu triết lý qua suy nghiệm bản
than về cuộc sống con người và nhân sinh xã hội. Trong tác phẩm của mình tác giả với
dụng ý triết lý đã sử dụng rất thành công những câu thành ngữ tục ngữ cùa dân gian. Với
bước qua lời nguyền đan xen giữa câu chuyện được kể còn là dòng hồi ức và chiêm
nghiệm của nhân vật “tôi” . “Tôi” vừa lí giải bi kịch người cha, của bản than, của thời
đại vừa bộc lộ tư tưởng của một thế hệ mới, dũng cảm bước qua thành trì quá khứ thời
gian và quên thù hận. Mỗi người trong chúng ta từ khi sinh ra và lớn lên đều chiêm
nghiệm cho bản thân những bài học triết lí về cuộc sống . Những đều thật sự ngay trong
một lúc, một thời điểm cũng vậy “ hoá ra những thứ thuộc về bản sắc thật sự, nghĩa là cứ
bất chấp thời gian biến động xã hội… nó cứ trơ ra không sức mạnh vật chất, tinh thần,
nào thay đổi được” . Những cuộc hội thoại mang dáng dấp triết lí , lí luận sâu sắc nhưng
có điều gì đó khác thường trong cách nói chuyện: “ nếu đây là cuộc gặp gở cuối cùng
giữa tôi và ngài…đáng bị vấy bẩn lâu hơn. Nếu như nhân vật trí thức của Nam Cao
thường đại diện cho một tầng lớp trong xã hội thì ngược lại nhân vật của Tạ Duy Anh là
những tên mượn danh tri thức.Chất giọng giả giọng trí thức này cũng mang một triết lí.
Tạ Duy Anh luôn khao khát đi tìm cái chân lí mà ông dũng cảm lao vào những vấn đề gai


góc của xã hội, không ngừng đặt câu hỏi và tìm lời đáp . Qua đó cũng thể hiện ý thức làm
mới mình trong sang tác nghệ thuật của Tạ Duy Anh.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x