Tải bản đầy đủ

Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến sinh con tại nhà của bà mẹ dân tộc Xơ Đăng tại 3 xă thuộc huyện Tu Mơ Rông tỉnh Kon Tum năm 2016 (FULL TEXT)

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
SỞ Y TẾ
---*---

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN
SINH CON TẠI NHÀ CỦA BÀ MẸ DÂN TỘC XƠ ĐĂNG
TẠI 3 XÃ THUỘC HUYỆN TU MƠ RÔNG TỈNH KON
TUM NĂM 2016

Chủ nhiệm đề tài: BÙI VĂN ĐỐ

Trung tâm Y tế Tu Mơ Rông

Cộng sự:
LÊ TRÍ KHẢI

Sở Y tế tỉnh Kon Tum

NGUYỄN BÁ KHÁNH

Trung tâm Y tế Tu Mơ Rông


LƯU HÙNG TRUNG

Trung tâm Y tế Tu Mơ Rông

PHAN THỊ THU CÚC

Trung tâm Y tế Tu Mơ Rông

KON TUM - 2017


ii

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN…………………………………………..……..…………………..……………

i

MỤC LỤC…………………………………………….………….……….…….………………

ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT……………………….………..……………………

v

DANH MỤC BẢNG……………………..…………………….………..……………………

vi

DANH MỤC HÌNH…………………………………………….………..……………………

viii

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU………………………………………….………………………

ix

ĐẶT VẤN ĐỀ………………………………………..…….………….…………….…………



1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU………………………….…..…….……………………………

3

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................................... 4
1.1. Các khái niệm, thông tin, số liệu về CSSKSS và sinh con tại nhà ........................ 4
1.1.1. Các khái niệm…………………………………………………………………

4

1.1.2. Thực trạng sinh con tại nhà trên thế giới và Việt Nam ......................................
8
1.2. Các nghiên cứu có liên quan đến sinh con tại nhà……………….…...……………

11

1.2.1. Trên thế giới .......................................................................................................
11
1.2.2. Tại Việt Nam ………….…………………..……….…..………………………

13

1.3. Khung lý thuyết nghiên cứu ................................................................................. 17
1.4. Địa bàn nghiên cứu ................................................................................................ 18
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................ 20
2.1. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................................ 20
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn ...........................................................................................
20
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ .............................................................................................
21
2.2. Thiết kế nghiên cứu ............................................................................................... 21
2.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ......................................................................... 21
2.3.1. Địa điểm nghiên cứu: .........................................................................................
21
2.3.2. Thời gian nghiên cứu: ........................................................................................
21
2.4. Cỡ mẫu................................................................................................................... 21
2.4.1. Nghiên cứu định lượng .......................................................................................
21
2.4.2. Nghiên cứu định tính ..........................................................................................
21


iii

2.5. Phương pháp chọn mẫu ......................................................................................... 22
2.5.1. Nghiên cứu định lượng .......................................................................................
22
2.5.2. Nghiên cứu định tính ..........................................................................................
22
2.6. Biến số, chỉ số, nội dung nghiên cứu..................................................................... 22
2.7. Kỹ thuật và công cụ thu thập thông tin ................................................................. 27
2.7.1. Kỹ thuật thu thập thông tin .................................................................................
27
2.7.2. Công cụ thu thập thông tin .................................................................................
27
2.8. Quy trình thu thập số liệu và khống chế sai số ...................................................... 27
2.9. Quản lý, xử lý và phân tích số liệu, khống chế sai số ........................................... 29
2.9.1. Phương pháp làm sạch và quản lý số liệu ..........................................................
29
2.9.2. Xử lý và phân tích số liệu định lượng, thông tin định tính ................................
29
2.10. Đạo đức nghiên cứu ............................................................................................. 31
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ......................................................................... 32
3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu ............................................................ 32
3.2. Thực trạng sinh con tại nhà của các bà mẹ dân tộc Xơ Đăng ............................... 32
3.2.1. Các thông tin chung của bà mẹ ..........................................................................
32
3.2.2.Thông tin gia đình bà mẹ .....................................................................................
34
3.2.3. Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản ..................................
36
3.2.4. Về phía cộng đồng ..............................................................................................
40
3.2.5. Thực trạng sinh con tại nhà ................................................................................
40
3.3. Một số yếu tố liên quan đến sinh con tại nhà của các bà mẹ................................. 48
3.3.1. Phân tích đơn biến ..............................................................................................
49
3.3.2. Phân tích đa biến ................................................................................................
51
Chương 4. BÀN LUẬN ................................................................................................ 54
4.1. Thực trạng sinh con tại nhà của bà mẹ dân tộc Xơ Đăng. ..................................... 54
4.1.1. Tỷ lệ sinh con tại nhà và một số đặc điểm cá nhân của các bà mẹ ...................
54
4.1.2. Một số đặc điểm về gia đình bà mẹ ....................................................................
57
4.1.3. Thực trạng sử dụng các dịch chăm sóc sức khỏe sinh sản .................................
58
4.1.4. Về phía cộng đồng ..............................................................................................
63


iv

4.1.5. Thực trạng sinh con tại nhà ................................................................................
64
4.2. Một số yếu tố liên quan đến sinh con tại nhà ........................................................ 69
4.3. Một số kết quả can thiệp của các chương trình dự án đã triển khai ...................... 70
4.4. Một số hạn chế nghiên cứu .................................................................................... 71
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 73
5.1. Thực trạng sinh con tại nhà ................................................................................... 73
5.2. Một số yếu tố liên quan đến sinh con tại nhà ........................................................ 73
KHUYẾN NGHỊ .......................................................................................................... 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................ 75
Phụ lục 1. Phiếu phỏng vấn .......................................................................................... 79
Phụ lục 2. Hướng dẫn thảo luận nhóm bà mẹ sinh con tại nhà .................................... 85
Phụ lục 3. Hướng dẫn phỏng vấn sâu Trưởng trạm Y tế xã ......................................... 87
Phụ lục 4. Hướng dẫn phỏng vấn sâu cô đỡ thôn bản .................................................. 89
Phụ lục 5. Hướng dẫn phỏng vấn sâu phụ nữ thôn....................................................... 91
Phụ lục 6. Hướng dẫn phỏng vấn sâu Trưởng thôn ...................................................... 93
Phụ lục 7. Hướng dẫn phỏng vấn sâu chuyên trách huyện .......................................... 95
Phụ lục 8. Hướng dẫn phỏng vấn sâu bà mẹ sinh con tại nhà ...................................... 97
Phụ lục 9. Hướng dẫn phỏng vấn sâu bà mẹ sinh con tại CSYT ................................. 99


v

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BPTT

Biện pháp tránh thai

CBYT

Cán bộ y tế

CĐTB

Cô đỡ thôn bản

CSSKSS

Chăm sóc sức khỏe sinh sản

CSYT

Cơ sở y tế

CTV

Cộng tác viên

ĐTNC

Đối tượng nghiên cứu

ĐTV

Điều tra viên

GSV

Giám sát viên

KHHGĐ

Kế hoạch hóa gia đình

LMAT

Làm mẹ an toàn

MMR

Tỷ suất tử vong mẹ: Maternal Mortality Rate

NHS

Nữ hộ sinh

PVS

Phỏng vấn sâu

SKSS

Sức khoẻ sinh sản

TĐCM

Trình độ chuyên môn

TĐHV

Trình độ học vấn

THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thông

TLN

Thảo luận nhóm

TTB

Trang thiết bị

TYT

Trạm Y tế

TTYT

Trung tâm Y tế

UNICEF

Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc: The United Nations Children's
Fund

UNFPA

Qũy dân số Liên Hiệp Quốc: United Nations Population Fund

WHO

Tổ chức Y tế thế giới: World Health Organization

YSSN

Y sỹ sản nhi


vi

DANH MỤC BẢNG

Bảng

Tên bảng

Trang

1.1

Tình hình sinh con tại nhà tại các xã trên địa bàn huyện .........

11

3.1

Địa điểm sinh của bà mẹ chọn vào nghiên cứu

32

3.2

Tuổi và tôn giáo của bà mẹ.......................................................

32

3.3

Trình độ học vấn và nghề nghiệp của bà mẹ ....

33

3.4

Tình trạng hôn nhân và số con của bà mẹ.................................

34

3.5

Trình độ học vấn và nghề nghiệp của chồng các bà mẹ….......

34

3.6

Những người chung sống với bà mẹ…. ...............................

35

3.7

Kinh tế gia đình bà mẹ.....................................................

35

3.8

Khám thai của bà me ̣ trong khi mang thai ...............................

36

3.9

Số lần khám thai và nơi khám thai của bà mẹ .........................

36

3.10

CBYT tư vấn đến CSYT sinh con và bà mẹ tiêm phòng uốn
ván………………………………………………....................

38

3.11

Tin tưởng trình độ chuyên môn của CBYT ………………...

39

3.12

Sự bất đồng về ngôn ngữ giữa bà mẹ với CBYT …………

39

3.13

Khoảng cách từ nhà bà mẹ tới CSYT ......................................

40

3.14

Phong tục sinh con tại nhà và sự vận động của già làng, chính
quyền địa phương……………………………………………

40

3.15

Lý do sinh con tại nhà ……………………………………......

41

3.16

Người quyết định chọn nơi sinh cho bà mẹ .............................

42

3.17

Chuẩn bị trước sinh …..............................................................

42

3.18

Người đỡ đẻ cho bà mẹ sinh con tại nhà ..................................

43

3.19

Dụng cụ cắt rốn, tiệt khuẩn dụng cụ cắt rốn và vật liệu buộc
rốn cho trẻ ............................................................................

44

3.20

Chất sát khuẩn rốn và vật liệu băng rốn cho trẻ.......................

45

3.21

Thời gian bà mẹ cho trẻ bú sữa mẹ sau sinh ............................

46

3.22

Dấu hiệu bất thường bà mẹ gặp phải sau sinh ……..................

47


vii

Bảng
3.23

3.24

Tên bảng

Trang

Mối liên quan giữa các thông tin chung của bà mẹ với sinh
con tại nhà ................................................................................

48

Mối liên quan giữa kinh tế gia đình, môi trường chung sống
của bà mẹ với sinh con tại nhà ………………………….……

49

3.25

Mối liên quan giữa các dịch vụ y tế với sinh con tại nhà .........

49

3.26

Liên quan khoảng cách từ nhà tới CSYT với sinh con tại nhà

50

3.27

3.28

Mối liên quan giữa phong tục và sự vận động của già làng,
chính quyền địa phương với sinh con tại nhà ..........................

50

Mô hình hồi quy logistic đa biến phân tích mối liên quan giữa
việc sinh con tại nhà với các yếu tố liên quan..........................

51


viii

DANH MỤC HÌNH

Hình

Tên hình

Trang

1.1

Khung lý thuyết nghiên cứu ...............................................................

17

3.1

Tỷ lệ sinh con tại nhà ……………………………………………….

41


ix

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Tu Mơ Rông là một huyện miền núi của tỉnh Kon Tum và là huyện nghèo theo
Nghị quyết 30a của Chính phủ. Theo báo cáo của Trung tâm Y tế huyện, năm 2016 tỷ
lệ sinh con tại nhà trên địa bàn huyện còn khá cao, chiếm tỷ lệ 58,3%. Để tìm hiểu
thực trạng sinh con tại nhà như thế nào? Có những yếu tố nào liên quan đến việc sinh
con tại nhà của các bà mẹ dân tộc Xơ Đăng? Chúng tôi thực hiện đề tài “Thực trạng và
một số yếu tố liên quan đến sinh con tại nhà của bà mẹ dân tộc Xơ Đăng tại 3 xã thuộc
huyện Tu Mơ Rông tỉnh Kon Tum năm 2016” với các mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng
sinh con tại nhà của bà mẹ dân tộc Xơ Đăng tại 3 xã thuô ̣c huyện Tu Mơ Rông tỉnh
Kon Tum năm 2016; (2) Xác định một số yếu tố liên quan đến sinh con tại nhà của bà
mẹ dân tộc Xơ Đăng tại 3 xã thuô ̣c huyện Tu Mơ Rông tin̉ h Kon Tum năm 2016.
Đối tượng nghiên cứu là 293 bà mẹ dân tộc Xơ Đăng sinh con trong năm 2016
và 29 người có vai trò quyết định hoặc có ảnh hưởng hoặc hiểu rõ việc sinh con tại nhà
của bà mẹ dân tộc Xơ Đăng tại 3 xã Đăk Hà, Đăk Tờ Kan, Đăk Na. Đây là 3 xã có số
lượng phụ nữ đẻ nhiều nhất và tỷ lệ đẻ tại nhà cao nhất so với các xã trên địa bàn
huyện. Thời gian nghiên cứu từ tháng 11/2016 đến tháng 7/2017. Thiết kế nghiên cứu
mô tả cắt ngang và mô tả hồi cứu, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết
hợp với định tính. Thu thập thông tin bằng cách phỏng vấn trực tiếp, phỏng vấn sâu và
thảo luận nhóm.
Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ sinh con tại nhà khá cao so với toàn tỉnh (66,6% so
với 22,3%); tỷ lệ bà mẹ khi sinh được cán bộ y tế hỗ trợ rất thấp (13,9%); chỉ có
10,8% bà me ̣ sử du ̣ng gói đỡ đẻ sạch khi sinh con ta ̣i nhà; vẫn còn 14,8% dùng cật nứa
và 59,5% dùng dao lam để cắt rốn cho trẻ. Các yếu tố có liên quan đến sinh con tại nhà
là theo đạo Thiên Chúa giáo, phong tục và ở xa cơ sở y tế trên 5 km. Nghiên cứu đưa
ra một số khuyến nghị cầ n tăng cường truyề n thông, vận động các bà mẹ tới cơ sở y tế
sinh con; trường hợp bà mẹ kiên quyết sinh tại nhà thì cần có sự hỗ trợ của cô đỡ thôn
bản; tăng cường sử dụng gói đỡ đẻ sạch đối với những trường hợp sinh con tại nhà.


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thời gian qua, ngành y tế đã có nhiều nỗ lực để người dân không ngừng
được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) thông qua nhiều
chương trình, dự án khác nhau, đặc biệt ưu tiên ở khu vực miền núi và đồng bào dân
tộc thiểu số. Tuy nhiên, ở khu vực miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số, do việc tiếp
cận với các dịch vụ CSSKSS còn hạn chế, nên vẫn còn một tỷ lệ nhất định phụ nữ
sinh con tại nhà, đặc biệt là phụ nữ dân tộc thiểu số, với sự trợ giúp của những người
không được đào tạo về đỡ đẻ an toàn như bà mụ vườn hoặc người thân trong gia đình.
Những người đỡ đẻ này không có kiến thức và thực hành đúng về đỡ đẻ an toàn, việc
đỡ đẻ chủ yếu làm theo thói quen hay kinh nghiệm. Nếu gặp phải các tai biến sản
khoa, hay các ca đẻ khó họ sẽ không biết cách hoặc không có phương tiện xử lý kịp
thời. Bên cạnh đó, việc sinh con tại nhà không có dụng cụ tiệt trùng, dụng cụ y tế cần
thiết sẽ dễ bị nhiễm khuẩn, băng huyết, đứa trẻ mới sinh ra không được chăm sóc
đúng cách sẽ yếu ớt, dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, suy dinh dưỡng, còi xương, chậm
phát triển tinh thần và có thể dẫn đến tử vong [2].
Tỷ lệ sinh con tại nhà trong các nghiên cứu ở vùng miền núi giai đoạn 2006 2011 dao động từ 23 - 54%, cụ thể hơn, trong nghiên cứu của Đinh Thị Phương Hòa
(2008) cũng cho thấy tỷ lệ bà mẹ dân tộc thiểu số ở 5 tỉnh Tây Nguyên sinh con tại nhà
khá cao là 64% [13].
Kon Tum là một trong 5 tỉnh Tây nguyên với dân số tính đến ngày 31/12/2016
là 510.902 người, với 28 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó có 7 dân tộc tại chỗ
(Xơ Đăng, Ba Na, Gia Rai, Giẻ Triêng, Brâu, Rơ Măm, Hrê); dân tộc thiểu số chiếm
54% dân số toàn tỉnh, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 18,6 ‰ [6].
Huyện Tu Mơ Rông là một trong 10 huyện, thành phố của tỉnh Kon Tum và là
huyện nghèo theo Nghị quyết 30a của Chính phủ, dân số toàn huyện tính đến ngày
31/12/2016 là 25.987 người, dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 97%, chủ yếu là dân tộc Xơ
Đăng, với nhiều phong tục tập quán lạc hậu và thói quen sinh đẻ tại nhà; kinh tế khó
khăn, người dân lo mưu sinh cuộc sống, ít quan tâm chăm sóc sức khỏe, ít sử dụng các
dịch vụ y tế khi bệnh, tật chưa ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe. Đặc biệt là vấn đề


2

CSSKSS đối với phụ nữ người dân tộc Xơ Đăng, thực trạng mức sinh cao và phong
tục tập quán lạc hậu làm ảnh hưởng không nhỏ đến công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ
và trẻ em tại địa phương. Theo số liệu báo cáo của TTYT huyện Tu Mơ Rông năm
2016, tỷ lệ bà mẹ sinh con tại nhà trên địa bàn huyện là 58,3%; có 1 ca bị tai biến sản
khoa (vỡ tử cung) và 1 ca tử vong mẹ (bà mẹ mang thai 5 tháng tử vong ở nhà không
rõ nguyên nhân) [26]. Đây là vấn đề tồn tại mà địa phương cần quan tâm để đưa ra các
giải pháp can thiệp phù hợp. Để trả lời cho các câu hỏi: Tỷ lệ sinh con tại nhà của bà
mẹ dân tộc Xơ Đăng trên địa bàn huyện Tu Mơ Rông thực tế là bao nhiêu? Lý do sinh
con tại nhà là gì? Ai là người đỡ đẻ cho sản phụ? Tai biến thường gặp khi sinh con tại
nhà gồm những loại nào? Có những yếu tố nào liên quan đến việc sinh con tại nhà của
các bà mẹ dân tộc Xơ Đăng?; chúng tôi tiến hành đề tài "Thực trạng và một số yếu tố
liên quan đến sinh con tại nhà của bà mẹ dân tộc Xơ Đăng tại 3 xã thuộc huyện Tu Mơ
Rông tỉnh Kon Tum năm 2016”. Hy vọng với những kết quả nghiên cứu có được sẽ là
cơ sở để đề xuất và áp dụng các giải pháp phù hợp làm hạn chế đến mức thấp nhất bà
mẹ dân tộc Xơ Đăng sinh con tại nhà, góp phần cải thiện công tác CSSKSS trên địa
bàn huyện.


3

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mô tả thực trạng sinh con tại nhà của bà mẹ dân tộc Xơ Đăng tại 3 xã thuộc
huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum năm 2016.
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến sinh con tại nhà của bà mẹ dân tộc Xơ
Đăng tại 3 xã thuộc huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum năm 2016.


4

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Các khái niệm, thông tin, số liệu về chăm sóc sức khoẻ sinh sản và sinh con
tại nhà
1.1.1. Các khái niệm
1.1.1.1. Sức khoẻ sinh sản (SKSS): Theo WHO, “Sức khỏe sinh sản là trạng
thái khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và hòa hợp xã hội về tất cả các phương diện liên
quan đến hệ thống sinh sản trong suốt các giai đoạn của cuộc đời” [46].
Cũng theo WHO, chăm sóc SKSS là một tập hợp các phương pháp, kỹ thuật và
dịch vụ nhằm giúp cho con người có tình trạng SKSS khỏe mạnh thông qua việc
phòng chống và giải quyết những vấn đề liên quan đến SKSS. Điều này cũng bao gồm
cả sức khỏe tình dục với mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống và mối quan hệ giữa
con người với con người mà không chỉ dừng lại ở chăm sóc y tế và tư vấn một cách
đơn thuần cho việc sinh sản và những nhiễm trùng qua đường tình dục [46].
1.1.1.2. Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản: Được hiểu là dịch vụ tuân theo
quy trình kỹ thuật được quy định trong Chuẩn Quốc gia về các dịch vụ CSSKSS, đáp
ứng được nhu cầu và mong đợi của khách hàng, đồng thời giúp người cung cấp dịch
vụ đạt được kết quả, hiệu quả cao, được khách hàng tin tưởng lựa chọn dịch vụ, từ đó
chất lượng dịch vụ ngày càng nâng cao [10].
1.1.1.3. Làm mẹ an toàn (LMAT): Là tất cả phụ nữ đều được nhận sự chăm sóc
cần thiết để được hoàn toàn khoẻ mạnh trong suốt thời gian mang thai, sinh đẻ và sau
đẻ; bao gồm cả điều trị cấp cứu sản khoa khi có tai biến xảy ra. LMAT là một lĩnh vực
ưu tiên trong chăm sóc sức khoẻ của các nước trên thế giới [2].
1.1.1.4. Quản lý và chăm sóc thai nghén:
* Quản lý thai nghén: Là biê ̣n pháp giúp cán bô ̣ y tế nắ m đươ ̣c số người có
thai trong từng thôn, làng, trong đó ai có thai bin
̀ h thường, ai có thai nguy cơ cao,
viê ̣c khám thai của thai phu ̣ như thế nào; hàng tháng có bao nhiêu người đẻ ta ̣i tra ̣m
hoă ̣c phải đẻ ở tuyế n trên; theo dõi chăm sóc bà me ̣ khi sinh đẻ và sau đẻ cho đế n
khi hế t thời kỳ hâ ̣u sản [3].


5

* Khám thai đầy đủ 3 lần: Là số phụ nữ mang thai được cán bộ y tế khám
thai từ 1 lần trở lên trong mỗi kỳ của 3 kỳ thai của lần đẻ này (chỉ tính cho những lần
đến khám vì lý do thai nghén chứ không tính lần đến khám khi đã chuyển dạ đẻ hoặc
khám bệnh thông thường) [10]. Lầ n thứ nhấ t thực hiê ̣n trong 3 tháng đầ u với mu ̣c
đích xác đinh
̣ tuổ i thai, đăng ký quản lý thai nghén sớm, phát hiê ̣n những bấ t thường
và những biế n chứng sớm như nôn nă ̣ng hoă ̣c các bê ̣nh lý chảy máu sớm [3]. Lầ n thứ
2 khám vào 3 tháng giữa để đánh giá sự phát triể n của thai, phát hiê ̣n thai nghén có
nguy cơ cao và tiêm phòng uố n ván. Lầ n thứ 3 khám thai trong 3 tháng cuố i để theo
dõi sức khỏe của mẹ và sự phát triển của thai nhi, dự đoán việc sinh nở và phòng ngừa
những bất trắc trong quá trình chuyển dạ [3]. Ngoài ra, Bô ̣ Y tế cũng khuyế n cáo chấ t
lươ ̣ng bảo vê ̣ thai tăng lên theo số lầ n khám thai. Người me ̣ nên khám thai mỗi tháng
1 lầ n cho đế n khi đươc̣ 28 tuầ n tuổ i, sau đó cứ hai tuầ n mô ̣t lầ n cho đế n khi đươ ̣c 36
tuầ n tuổ i và sau đó nên khám hàng tuầ n cho đế n tuầ n thứ 40 [3].
* Chăm sóc trước sinh: Là những nhiệm vụ đáp ứng việc chăm sóc sản khoa
cho người phụ nữ tính từ thời điểm có thai cho đến khi đẻ nhằm đảm bảo cho quá
trình mang thai được an toàn, sinh con khoẻ mạnh và được chuẩn bị nuôi dưỡng tốt.
Chăm sóc trước sinh có vai trò quan tro ̣ng nhằ m phát hiê ̣n và quản lý hiê ̣u quả các
dấ u hiê ̣u bấ t thường từ sớm, hay những yế u tố nguy cơ đố i với bê ̣nh tâ ̣t và tử vong
trong quá trình mang thai [2].
* Chăm sóc trong khi sinh: Là chăm sóc trong giai đoa ̣n chuyể n da ̣, đươ ̣c tin
́ h
từ khi sản phu ̣ bắ t đầ u có dấ u hiê ̣u chuyể n da ̣ (ra dich
̣ hồ ng hoặc vỡ ố i) cho đế n khi thai
nhi và rau ra khỏi cơ thể người phu ̣ nữ. Tăng tỷ lê ̣ sinh con ta ̣i cơ sở y tế là mô ̣t yế u tố
quan tro ̣ng làm giảm các rủi ro cho sức khoẻ bà me ̣ và trẻ nhỏ. Chăm sóc y tế phù hơ ̣p
với môi trường vê ̣ sinh trong khi sinh có thể làm giảm các rủi ro tai biế n hoă ̣c nhiễm
trùng có thể dẫn đế n bê ̣nh tâ ̣t hoă ̣c tử vong cho mẹ và bé [2].
* Chăm sóc sau sinh: Là những chăm sóc tính từ sau khi cuộc đẻ được hoàn tất
đến 42 ngày sau đẻ, phát hiện những bất thường để xử trí, hướng dẫn bà mẹ chăm sóc
trẻ sơ sinh khoẻ mạnh [2]. Chăm sóc sau sinh bao gồ m viê ̣c theo dõi và chuyể n tuyế n
điề u tri ̣ cho bà me ̣ nế u có biế n chứng như băng huyế t, đau, nhiễm khuẩ n, ngoài ra còn


6

bao gồ m cả tư vấ n nuôi con bằ ng sữa me ̣, dinh dưỡng thời kỳ nuôi con, các tư vấ n về
chăm sóc sơ sinh và kế hoa ̣ch hoá gia đin
̀ h [2].
1.1.1.5. Những tai biến sản khoa thường gặp, tử vong mẹ và tử vong sơ sinh:
* Những tai biến sản khoa thường gặp: Là những biến chứng có thể xảy ra và là
nguyên nhân trực tiếp đe dọa sức khỏe, tính mạng của người mẹ và thai nhi trong thời
kỳ thai nghén, kể từ ngày đầu mang thai cho đến 42 ngày của thời kỳ hậu sản [3].
Băng huyết sau sinh: Theo WHO, băng huyết là khi lượng máu chảy ra từ
đường sinh dục sau đẻ từ 500 ml trở lên [3].
Tiền sản giật: Sản giật là biến chứng của nhiễm độc thai nghén, độ 70% sản giật
xảy ra ở 3 tháng cuối, 20% trong chuyển dạ và từ 1 đến 5% trong thời kỳ hậu sản, chủ
yếu trong 48 giờ đầu sau đẻ. Sản giật biểu hiện bằng những cơn giật qua 4 giai đoạn,
có thể gây tử vong mẹ và con trong cơn sản giật [3].
Nhiễm trùng hậu sản: Là những nhiễm trùng đường sinh dục xảy ra khi bắt đầu
vỡ ối, trong chuyển dạ hoặc trước ngày thứ 42 sau đẻ với hai hoặc nhiều dấu hiệu dưới
đây: Một là đau tiểu khung; hai là nhiệt độ cơ thể từ 38oC trở lên ở một thời điểm nào
đó trong 24 giờ của ngày; ba là dịch âm đạo ra bất thường, ví dụ có mủ; bốn là khí hư
âm đạo có mùi bất thường; năm là co hồi tử cung chậm (nhỏ hơn 2cm/ngày, trong 8
ngày đầu từ 20 cm xuống 2 cm trên khớp vệ) [3].
Vỡ tử cung: Là một tai biến sản khoa rất nguy hiểm cho cả mẹ và con, nếu
không phát hiện và xử trí kịp thời sẽ gây tử vong cho mẹ và thai nhi. Có thể vỡ tử cung
trong thời kỳ thai nghén, nhưng thường gặp vỡ tử cung trong khi chuyển dạ. Hiện nay
nhờ có sự đăng ký, quản lý thai nghén tốt, nhờ có kháng sinh và các kỹ thuật gây mê,
hồi sức hiện đại, có chỉ định mổ đúng lúc, hạn chế được các thủ thuật thô bạo, do đó
làm giảm được tỷ lệ vỡ tử cung [3].
Uốn ván sơ sinh: Là tình trạng nhiễm nha bào uốn ván của trẻ sau khi sinh ra,
biểu hiện bằng các triệu chứng như quấy khóc, bỏ bú hoặc co giật từ ngày thứ 3 đến
ngày thứ 28, thường nhiễm do quá trình cắt và chăm sóc trẻ, do dụng cụ cắt rốn không
đảm bảo vệ sinh và nhiễm nha bào uốn ván [3].
* Tử vong mẹ: Những trường hợp phụ nữ tử vong trong thời kỳ mang thai
hoặc 42 ngày sau khi chấm dứt thai nghén vì bất kỳ lý do gì trừ nguyên nhân tử


7

vong do tai nạn và tự tử. Tỷ suất tử vong mẹ (MMR) là tổng số ca tử vong mẹ trên
100.000 trẻ đẻ sống. Tỷ số này cho biết nguy cơ tử vong mẹ trong thời gian mang
thai và sau sinh [31].
* Tử vong sơ sinh: Là những trường hợp trẻ bị tử vong trong vòng 28 ngày đầu
sau đẻ trên 1000 trẻ đẻ sống trong năm [31].
1.1.1.6. Sinh con tại nhà: Sinh con tại nhà được diễn ra khi người phụ nữ lựa
chọn sinh tại nhà thay vì đến CSYT. Có một số phụ nữ thích sinh con tại nhà vì rất
nhiều lý do. Ví dụ như người mẹ sẽ tự do hơn khi di chuyển, ăn uống và tắm giặt.
Người mẹ cũng cảm thấy thoải mái trong lúc sinh khi được ở bên cạnh những người
yêu thương trong một không gian thân thuộc. Tuy nhiên, việc sinh con tại nhà cũng có
thể có những khó khăn và rủi ro nhất định [39].
1.1.1.7. Người đỡ đẻ có kỹ năng, cô đỡ thôn bản, mụ vườn và gói đỡ đẻ sạch:
* Ngườ i đỡ đẻ có kỹ năng: Đươ c̣ coi là nhân viên y tế bao gồ m NHS, bác sỹ
hay điề u dưỡng là nhữ ng ngườ i đã đươ c̣ đào ta ̣o bài bả n để có thể có cá c kỹ năng
cầ n thiế t để chỉ huy cuô ̣c đẻ thường và chăm só c thai phu ̣ thời kỳ hâ ̣u sản [39].
* Cô đỡ thôn bản: Là những phụ nữ người địa phương tại các thôn bản, được
đào tạo những kỹ năng cơ bản trong phát hiện và quản lý thai nghén, đỡ đẻ sạch và an
toàn, chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh ngay sau sinh; tư vấn và thuyết phục người dân
đến khám thai tại các cơ sở y tế, góp phần hiệu quả vào chương trình LMAT nhằm
giảm tử vong mẹ và tử vong sơ sinh ở vùng nông thôn, miền núi [39].
* Mụ vườn: Mụ vườn là từ thường dùng trong dân gian để chỉ những người
đỡ đẻ cho phụ nữ ở nhà, chỉ có kinh nghiệm chứ không được đào tạo qua trường
lớp về đỡ đẻ.
* Gói đỡ đẻ sạch: Là sản phẩm y tế với công dụng cung cấp đầy đủ các thành
phần cần thiết phục vụ cho một cuộc đẻ thường tại tuyến y tế cơ sở [9].
Các thành phần trong “Gói đẻ sạch” đã được tiệt trùng, tiện lợi, dễ dàng sử
dụng, bảo đảm an toàn vệ sinh, đặc biệt đối với các trạm y tế ở vùng sâu, vùng xa. Đây
là sản phẩm được Bộ Y tế chuẩn hoá và khuyến cáo sử dụng ở tuyến y tế cơ sở [9].


8

1.1.2. Thực trạng sinh con tại nhà trên thế giới và Việt Nam
1.1.2.1. Trên thế giới
Trên thế giới việc sinh con cũng như lựa chọn nơi sinh thực sự do người phụ nữ
quyết định. Theo nghiên cứu của Banyana Cecilin và Rosemary Crow (2003) về
những thông tin sẵn có cho bà mẹ lựa chọn nơi sinh ở miền Đông Nam nước Anh. Ở
đây phụ nữ được trao quyền bằng việc họ được cung cấp đầy đủ thông tin thích hợp về
tất cả các dịch vụ CSSKSS và họ có quyền lựa chọn nơi sinh của mình [38]. Nghiên
cứu năm 2006 của Berit Nordstrom và Anna-Karin Edberg Ingela Sjoblo tại Thụy
Điển về sinh con tại nhà cho thấy người phụ nữ tự quyết định dựa vào kinh nghiệm
bản thân, đó là sự đảm bảo sự tự quyết và tin tưởng vào khả năng, đức tin của họ vào
thế lực tâm linh tự nhiên, tuy nhiên nghiên cứu này cũng đồng ý việc sinh con theo
cách riêng của bà mẹ với điều kiện môi trường đảm bảo và có sự hỗ trợ của người
xung quanh khi cần thiết [43].
Nghiên cứu của Nikodem C (2002) cho thấy rằng chi phí cho một ca đẻ thường
khi sinh tại nhà bằng 68% so với chi phí 1 ca đẻ tại bệnh viện. Tuy nhiên tỷ lệ sinh con
tại nhà của các nước này là rất thấp vì các bà mẹ luôn có thói quen sử dụng các dịch vụ
y tế tại bệnh viện. Hầu hết các bà mẹ đều có dự định sinh tại bệnh viện và họ cho rằng
không nên thay đổi quyết định này [41].
Kết quả của một nghiên cứu tại Mỹ năm 2009 về việc sinh con tại nhà cho thấy
có 62% các ca sinh tại nhà có sự hỗ trợ của NHS, 33% được đỡ bởi nhân viên y tế
hoặc thành viên trong gia đình, sinh con tại nhà phổ biến hơn ở phụ nữ từ 35 tuổi trở
lên và đã có nhiều lần sinh con. Lý giải cho kết quả này là vì 93% các ca sinh này đã
có kế hoạch sinh con tại nhà trước, nơi mà họ cảm thấy môi trường thân thuộc với gia
đình, bạn bè và với văn hoá, tôn giáo của họ. Hơn nữa những bà mẹ này ở vùng nông
thôn nên không có phương tiện vận chuyển và chi phí cho việc sinh con ở nhà chỉ
bằng 1/3 chi phí sinh con tại bệnh viện [37]. Nghiên cứu năm 2002 của N.Jshikawa,
Ksimon tại một trại tị nạn ở Karen - Thái Lan thấy rằng, trên 50% sản phụ đẻ tại nhà,
có 89 phụ nữ được khám thai và tư vấn tại bệnh viện nhưng chỉ có 27 người (30%) đẻ
tại bệnh viện, số còn lại (70%) đẻ tại nhà [35].


9

Tại huyện Rakai, Uganda có tới 64% các bà mẹ sinh con tại nhà, chỉ có 36% số
bà mẹ sinh con tại CSYT. Số ca đẻ được CBYT đỡ chỉ có 38%, bà mụ vườn là 15%,
người thân trong gia đình và hàng xóm đỡ là 35%, bà mẹ phải tự đỡ là 12% [32]. Còn
ở huyện Mukono, Uganda, một nghiên cứu năm 2010 cho kết quả tỷ lệ sinh con tại nhà
là 10% trong số đó có 18% bà mẹ được bà mụ vườn đỡ đẻ [33].
1.1.2.2. Tại Việt Nam
Trong đánh giá thực trạng chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em cho người Thái ở
Sơn La năm 2010 có tới 80,7% bà mẹ sinh con tại nhà [14]. Tuy người dân tộc thiểu số
ở miền núi phía Bắc như dân tộc Dao vẫn duy trì tập quán sinh con tại nhà nhưng họ
đã bắt đầu tìm đến CSYT trong trường hợp đẻ khó [15]. Còn như phụ nữ H’Mông ở
Hà Giang thì đa số sinh con tại nhà với sự có mặt của người thân, họ cho rằng đau đớn
khi trở dạ là tự nhiên và cần thiết để có thể đẻ nhanh, bà đỡ có thể là một nữ hộ sinh
chuyên nghiệp, có thể là mẹ đẻ của thai phụ hoặc bất cứ người nào có kinh nghiệm đỡ
đẻ, thậm chí tệ hơn là thai phụ tự đỡ đẻ và cắt rốn bằng một mẩu tre sắc nhọn hoặc
bằng liềm [29]. Với mục đích giảm tử vong mẹ và tử vong sơ sinh từ việc sinh con tại
nhà, mô hình can thiệp sử dụng cô đỡ thôn bản người dân tộc tham gia chương trình
LMAT ở Hà Giang, Ninh Thuận, Kon Tum đã được đánh giá là hiệu quả, được cộng
đồng chấp nhận và phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, địa lý của vùng
miền núi [11].
Ở vùng nông thôn và đồ ng bằ ng đa số phu ̣ nữ đẻ ta ̣i nhà đề u có sự trơ ̣ giúp của
bà đỡ hoă ̣c nữ hô ̣ sinh. Trong các phu ̣ nữ đẻ ta ̣i nhà thì 35,4% số bà me ̣ đươ ̣c nhâ ̣n gói
đỡ đẻ sa ̣ch, nhưng ho ̣ chỉ sử du ̣ng mô ̣t phầ n du ̣ng cu ̣ trong gói đỡ đẻ sa ̣ch này [28].
Nghiên cứu dân tô ̣c Vân Kiề u ta ̣i Quảng Bình cho thấ y chỉ có 27,8% bà me ̣ sử du ̣ng
gói đỡ đẻ sa ̣ch trong cuô ̣c đẻ, gói đỡ đẻ sa ̣ch đa số đươ ̣c cấ p cho các bà me ̣ trước sinh
nhưng phầ n lớn các bà me ̣ không có thói quen sử du ̣ng, họ thường dùng các vâ ̣t liê ̣u
khác cắ t rố n cho trẻ và thường băng rố n cho trẻ bằ ng chỉ khâu, các vâ ̣t liê ̣u sử du ̣ng
không đươ ̣c tiệt trùng, vê ̣ sinh y tế [16].
Thực trạng này cho thấy tình trạng sinh con tại nhà ở người dân tộc thiểu số ở
vùng sâu, vùng xa vẫn còn khá cao, điều này tiềm ẩn nhiều nguy cơ, nguy hiểm cho
sức khỏe bà mẹ và trẻ em.


10

1.1.2.3. Tại tỉnh Kon Tum
Kon Tum là tỉnh miền núi, nằm ở phía Bắc Tây Nguyên, có diện tích tự nhiên
9.689,61 km2, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía Nam giáp tỉnh Giai Lai, phía
Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Tây giáp hai nước Lào và Campuchia với đường
biên giới dài 280,7 km. Toàn tỉnh có 9 huyện và 1 thành phố với 102 xã, phường, thị
trấn (trong đó có 61 xã đặc biệt khó khăn) và 859 thôn, tổ dân phố. Tính đến ngày
31/12/2016 dân số trung bình của tỉnh là 510.902 người, với 78.165 hộ gia đình, dân
tộc thiểu số chiếm 54%, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 18,6‰. Tỷ lệ hộ nghèo toàn
tỉnh: 26,11%. Kinh tế nông, lâm nghiệp là chính, thu nhập bình quân đầu người năm
32,16 triệu đồng. Toàn tỉnh có 59 xã, phường, thị trấn đã được công nhận đạt Bộ tiêu
chí quốc gia về y tế xã, chiếm tỷ lệ 57,8% [6].
Công tác CSSKSS trên địa bàn tỉnh trong những năm qua luôn được quan
tâm, chú trọng và đã đạt được những kết quả nhất định. Cụ thể là tỷ lệ sinh con thứ
3 là 20,1%, tỷ lệ phụ nữ đẻ được quản lý thai đạt 98%, tỷ lệ phụ nữ đẻ được khám
thai 3 lần trong 3 thời kỳ thai nghén 88,4%, tỷ lệ phụ nữ đẻ được cán bộ y tế đỡ đạt
90%, tỷ lệ phụ nữ đẻ và trẻ sơ sinh được chăm sóc sau sinh 85,2%. Tỷ lệ sinh con
tại nhà 22,3%. Tuy nhiên kết quả này có sự chênh lệch nhiều giữa các huyện trên
địa bàn tỉnh; tại các huyện vùng sâu, vùng xa, huyện đặc biệt khó khăn, nhất là
những địa bàn có nhiều người dân tộc thiểu số sinh sống vẫn còn nhiều tồn tại như
tỷ lệ khám thai đủ 3 lần thấp, tỷ lệ sinh con tại nhà cao,… đây là những yếu tố tiềm
ẩn nhiều nguy cơ tai biến cho bà mẹ và trẻ em; ảnh hưởng đến công tác CSSKSS
chung của toàn tỉnh [25].
1.1.2.4. Tại huyện Tu Mơ Rông
Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn huyện luôn được quan tâm,
đầu tư về cơ sở vật chất, TTB, đội ngũ cán bộ hàng năm được đào tạo nâng cao trình
độ chuyên môn phần nào đã đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân
trên địa bàn huyện. Tuy nhiên, công tác CSSKSS trên địa bàn huyện vẫn còn nhiều
hạn chế và vấn đề tồn tại. Kết quả báo cáo sinh con tại nhà ở các xã trên địa bàn
huyện như sau:


11

Bảng 1.1. Tình hình sinh con tại nhà tại huyện Tu Mơ Rông năm 2016
Tên cơ sở

STT

Tổng số PN đẻ

Số đẻ tại nhà

Tỷ lệ %

1

Đăk Hà

145

85

58,6

2

Đăk Na

70

48

68,6

3

Đăk Rơ Ông

75

37

49,3

4

Đăk Sao

56

26

46,4

5

Đăk Tờ Kan

90

62

68,9

6

Măng Ri

43

25

58,1

7

Ngọc Lây

49

28

57,1

8

Tê Xăng

30

16

53,3

9

Ngọc Yêu

25

14

56,0

10

Tu Mơ Rông

41

23

56,1

11

Văn Xuôi

21

12

57,1

645

376

58,3

Tổng số

Bảng 1.1 cho thấy tỷ lệ sinh con tại nhà chung trên địa bàn huyện là 58,3%,
trong đó tại 3 xã Đăk Tờ Kan, Đăk Na và Đăk Hà là cao nhất, theo thứ tự lần lượt là
68,9%, 68,6% và 58,6% [26].
1.2. Các nghiên cứu có liên quan đến sinh con tại nhà
1.2.1. Trên thế giới
Bằng thiết kế nghiên cứu định tính và định lượng, các yếu tố ảnh hưởng đến
việc sinh con tại nhà của các bà mẹ vùng nông thôn Tanzania (2007) là không có tiền
ăn ở đi lại, không có phương tiện vận chuyển, chuyển dạ nhanh, thái độ nhân viên y tế,
phong tục tập quán và người quyết định trong hộ gia đình; có sự khác biệt đáng kể
giữa các nhóm dân tộc thiểu số đối với nơi sinh; phụ nữ sống trong các hộ gia đình có
chủ hộ nam giới ít có khả năng để sinh con tại một CSYT hơn so với phụ nữ trong các
hộ gia đình do phụ nữ làm chủ; các bà mẹ có trình độ học vấn cao hơn có nhiều khả
năng sinh con tại CSYT hơn những phụ nữ có trình độ học vấn thấp; nghiên cứu này
nhấn mạnh vai trò của giới và ảnh hưởng của gia đình đến sinh con tại nhà [40].


12

Các đặc điểm của cá nhân bà mẹ và gia đình được nhấn mạnh trong nghiên cứu
ở Thụy Điển, sinh con tại nhà nhiều khả năng xảy ra ở phụ nữ có 4 con trở lên (OR =
3,7), thu nhập gia đình dưới mức trung bình (OR = 2,9), không đi làm ở bên ngoài (OR
= 2,4), và phụ nữ trên 35 tuổi (OR = 1,7) [34]. Nghiên cứu các yếu tố liên quan đến
lựa chọn nơi sinh ở Mukono, Uganda (2010), cho rằng tuổi là rất quan trọng trong việc
đưa ra quyết định các vấn đề sức khỏe sinh sản [32].
Áp lực từ người chồng, bố mẹ chồng/bố mẹ đẻ và họ hàng, hàng xóm đóng vai
trò quan trọng trong việc lựa chọn nơi sinh của các bà mẹ. Trong nghiên cứu của
B.Amooti-Kagum, F.Nuwaha chỉ có 58% bà mẹ nói rằng việc lựa chọn nơi sinh là do
bà mẹ quyết định, còn lại 42% là do người thân trong gia đình như chồng, bố mẹ
chồng hoặc bố mẹ đẻ quyết định lựa chọn nơi sinh [32]. Các bà mẹ phụ thuộc vào
quyết định lựa chọn nơi sinh của người thân có xu hướng sinh con tại nhà cao hơn các
bà mẹ tự quyết. Vì vậy để các bà mẹ sinh con tại CSYT nhiều hơn thì cần sự tham gia
của gia đình sản phụ. Cũng trong nghiên cứu này, thói quen sử dụng các dịch vụ y tế
cũng được xác định như những yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn nơi sinh. Thói quen
thường do những hành vi trước đây được lặp đi lặp lại, hiện tại những hành vi này qua
thời gian dài sẽ tạo nên thói quen. Việc lựa chọn nơi sinh chịu ảnh hưởng của nơi đẻ
trong những lần mang thai trước và chịu ảnh hưởng bởi những kinh nghiệm của mẹ
chồng hoặc mẹ đẻ. Một bà mẹ đã sinh con tại nhà ở lần sinh trước nếu không gặp
những tai biến, biến chứng gì thì họ lại lựa chọn nơi sinh lần sau là tại nhà [32].
Nghiên cứu của Johanne Sundby và cộng sự (2006) về các yếu tố ảnh hưởng
đến việc lựa chọn nơi sinh của phụ nữ ở Malawi cho thấy, nhân tố chính ảnh hưởng
đến lựa chọn nơi sinh là đến từ các dịch vụ y tế như tinh thần thái độ phục vụ,
phương tiện, dụng cụ và sự tin tưởng của họ đối với trình độ của CBYT; thứ hai là
khía cạnh văn hóa như ảnh hưởng bởi người đưa ra quyết định, hiểu biết về dấu hiệu
nguy hiểm và truyền thông khi mang thai và sinh con là quan trọng; cuối cùng là rào
cản từ khoảng cách, phương tiện và chi phí đến CSYT cũng dẫn đến việc sinh con tại
nhà [42]. Các bà mẹ sẽ đến CSYT đó sinh con nếu họ tin rằng CSYT đó có tinh thần
thái độ phục vụ, CSVC, TTB và trình độ chuyên môn tốt. Ngược lại nếu bà mẹ
không tin tưởng CSYT đó thì họ có xu hướng sinh con tại nhà nhiều hơn [42].


13

Nghiên cứu của B.Amooti-Kagum, F.Nuwaha cũng chỉ ra rằng thai nghén
bình thường hay không bình thường cũng là yếu tố liên quan trong việc lựa chọn nơi
đẻ, thường thì khi các bà mẹ đi khám thai được CBYT trả lời thai nghén bình
thường thì họ sẽ chọn nơi sinh là ở nhà; các bà mẹ quan niệm rằng mang thai là hiện
tượng tự nhiên vì vậy việc sinh đẻ cũng là tự nhiên không cần phải đến CSYT, chỉ
cần sinh tại nhà là được [32].
1.2.2. Tại Việt Nam
1.2.2.1. Các yế u tố đă ̣c trưng cá nhân của đố i tượng nghiên cứu
Các yế u tố nhân khẩ u ho ̣c: Các yếu tố nhân khẩu học liên quan đến lựa chọn
nơi sinh của bà mẹ như nhóm phụ nữ dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, nghề
nghiệp và điều kiện kinh tế gia đình được đề cập đến khá nhiều trong các nghiên cứu.
Nghiên cứu ở Nam Đông, Thừa Thiên Huế, cho thấy thông tin liên lạc gặp nhiều khó
khăn vì các bà mẹ là người dân tộc thiểu số, mù chữ và tại địa phương lại không có
các phương tiện truyền thông đại chúng là những trở ngại khiến bà mẹ khó tiếp cận
các dịch vụ y tế [1]. Bà mẹ ngại và xấu hổ khi sinh nở, đặc biệt là những nam giới đỡ
đẻ; ý kiến của chồng và bố mẹ chồng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc quyết
định nơi sinh [45]. Sự hỗ trợ tinh thần từ phía gia đình người thân, họ hàng đặc biệt
là có bà đỡ dân gian cũng ảnh hưởng đến sự lựa chọn nơi sinh của các bà mẹ, đôi khi
sự hỗ trợ này lại lớn hơn sự sợ hãi về các tai biến của các bà mẹ [45].
Đố i tươ ̣ng chung số ng: Áp lực từ người chồng, bố mẹ chồng/bố mẹ đẻ và họ
hàng, hàng xóm đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn nơi sinh của các bà mẹ.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thường có tới 50% bà mẹ không tự quyết nơi sinh cho
mình mà phụ thuộc vào người khác trong gia đình [21]. Các bà mẹ phụ thuộc vào
quyết định lựa chọn nơi sinh của người khác có xu hướng sinh con tại nhà cao hơn
những người tự quyết định nơi sinh của mình.
Số lần sinh con: Số lầ n sinh con ảnh hưởng đến việc lựa chọn nơi sinh của các
bà mẹ, các bà mẹ càng có nhiều con thì tỷ lệ sinh con tại nhà càng cao; những bà mẹ
làm nương/làm rẫy, công việc bận rộn có nguy cơ sinh con tại nhà cao gấp 4,5 lần so
với các bà mẹ có công việc khác [1].


14

1.2.2.2. Các yế u tố từ phía dich
̣ vụ y tế
Thực hành khám thai và số lầ n khám thai: Thực hành khám thai và số lần khám
thai là một dịp để thực hiện truyền thông, giáo dục sức khoẻ, tiêm phòng uốn ván,
hướng dẫn bà mẹ chăm sóc thai nghén cũng như phát hiện các dấu hiệu nguy hiểm phải
đến CSYT để xử trí kịp thời. Nghiên cứu của Đinh Phương Hoà (2008) về hành vi tìm
kiếm dịch vụ chăm sóc sức khoẻ của phụ nữ dân tộc thiểu số Tây Nguyên chứng minh
rằng không đi khám thai là nguyên nhân đẻ tại nhà do không ước lượng được trước ngày
sinh nên đã không đến kịp CSYT để sinh con [13].
Các yếu tố về chất lượng dịch vụ của CSYT bao gồm, trình độ chuyên môn của
CBYT, tinh thần thái độ phục vụ, điều kiện cơ sở vật chất, TTB cũng ảnh hưởng đến
sự lựa chọn nơi sinh của bà mẹ [21].
Các yếu tố thuộc về dịch vụ y tế được đề cập trong Nghiên cứu của Võ Văn
Thắng và cộng sự (2004) tìm hiểu những rào cản đối với việc sử dụng các dịch vụ
Chăm sóc bà mẹ và kế hoạch hoá gia đình (MCFP) ở các bà mẹ người Kinh nghèo và
người dân tộc Ka-tu tại Nam Đông, Thừa Thiên Huế. Nhiều rào cản đã xác định được
như chi phí điều trị, chất lượng trang thiết bị, phong tục sinh con ở nhà mà không có
sự giúp đỡ của CBYT có chuyên môn [45].
Nơi khám thai cũng là yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn nơi sinh của sản phụ
theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thường cụ thể các sản phụ đẻ tại trạm có tỷ lệ khám
thai cao hơn các sản phụ đẻ tại nơi khác [21]. Những bà mẹ không đi khám thai có
nguy cơ đẻ tại nhà cao gấp 4 lần bà mẹ đi khám thai, việc đi khám thai 3 lần trở lên
nguy cơ đẻ tại nhà giảm 20% so với bà mẹ đi khám thai dưới 3 lần [1].
1.2.2.3. Các yế u tố từ phía cộng đồ ng
Yế u tố phong tu ̣c tâ ̣p quán: Rào cản về phong tục tập quán được nhấn mạnh
trong can thiệp sử dụng dịch vụ sinh đẻ của phụ nữ dân tộc Tây Nguyên. Quan niệm
cho là “sinh đẻ là một hiện tượng tự nhiên, không cần can thiệp y tế” hay sinh đẻ là
một vấn đề riêng tư “chỉ có chồng được phép nhìn” và quyết định về sử dụng dịch vụ y
tế phụ thuộc vào người chồng [13]. Người dân tộc thiểu số có rất nhiều phong tục tập
quán rườm rà và phức tạp cho phụ nữ trong quá trình sinh nở, gây cản trở không nhỏ
đến quyết định sinh con tại CSYT. Phong tục tập quán cũng là yếu tố ảnh hưởng đến


15

việc sinh con tại nhà, theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Bích (2012), cộng đồng
có phong tục sinh con tại nhà thì có nguy cơ sinh con tại nhà cao gấp 10 lần [1], [14].
Các bà mẹ người dân tộc thiểu số ít được chăm sóc sức khoẻ, cũng như có nhiều nguy
cơ sức khoẻ hơn bà mẹ người Kinh. Khi mà họ đang sống trong tình trạng kinh tế
nghèo khó, trình độ học vấn thấp và sự hạn chế trong nhận thức. Tất cả các điều đó kết
hợp với phong tục tập quán lạc hậu của cộng đồng chính là những trở ngại trong việc
tiếp cận với các biện pháp và phương tiện chăm sóc sức khoẻ hiện đại, cũng như cản
trở đến việc thực hành chăm sóc sức khoẻ một cách an toàn [8], [15], [23].
Phong tu ̣c đẻ ta ̣i nhà đươ ̣c tìm thấ y trong nhiề u nghiên cứu ở Viê ̣t Nam liên
quan đế n sinh đẻ của bà me ̣ dân tô ̣c thiể u số [1], [14]. Cũng đẻ ta ̣i nhà nhưng người
dân tô ̣c Vân Kiề u ở Quảng Bình cho rằ ng sinh đẻ là viê ̣c không sa ̣ch sẽ nên khi sinh
bà me ̣ đươ ̣c dựng mô ̣t cái chòi ca ̣nh nhà để sinh đẻ, sau khoảng 1 tuầ n thì me ̣ và con
mới đươ ̣c vào nhà bằ ng lễ cúng xua tan xui rủi. Me ̣ đẻ xong sau khoảng 30 phút cho
cả me ̣ và bé tắ m luôn bằ ng nước ấ m [12]. Đố i với các bà me ̣ và người đỡ đẻ dân tô ̣c
H’Mông và Khơ Mú ở Nghê ̣ An, tư thế quỳ đẻ đươ ̣c thực hiê ̣n từ lâu đời và đa số
thực hiê ̣n bằ ng cách này, điề u này bà me ̣ sẽ không để lô ̣ vùng kín của mình và ho ̣ chỉ
cầ n 1 người đỡ lưng cho “có sức ră ̣n đẻ”, ho ̣ có phong tu ̣c tắ m và hơ lá sau sinh [1].
Quan niê ̣m đươ ̣c bà mu ̣ vườn đỡ là mô ̣t may mắ n: Viê ̣c đươ ̣c bà mu ̣ vườn đỡ
cũng là mô ̣t may mắ n và dễ đẻ nhờ can thiê ̣p như xoa bu ̣ng hay xoay bu ̣ng và đắ p lá
lên trán sau sinh cho ra sa ̣ch [7].
Kiêng cữ sau sinh: Qua mô ̣t tuầ n bà mu ̣ vườn là m lễ vái tổ và đưa sản phu ̣
vào nằ m trong nhà, xông hơi bằ ng than và từ đó hế t kiêng cữ. Sau đó người ta treo
nhánh xương rồ ng trước cổ ng ra vào, 7 ngày cho con trai và 9 ngà y cho con gái. Đủ
ngày thì hố t bế p nhổ co ̣c, có nơi không đinh
̣ ngà y, mà treo cho đế n khi hế t kiêng
cữ. Sau 3 ngà y, bà me ̣ ra suố i tắ m vì quan niê ̣m sinh nở là dơ bẩ n nên cầ n đươc̣ gô ̣i
rử a. Nghiên cứ u bà me ̣ dân tô ̣c Vân Kiề u có phong tu ̣c nằ m lử a, hơ lửa, chườm
nóng trong vòng 1 tháng, nằ m lử a theo bà me ̣ bu ̣ng sẽ không bi ̣ to, sau khi về già
đỡ bê ̣nh tâ ̣t [16]. Nghiên cứ u ta ̣i tỉnh Hưng Yên cho thấ y quan niê ̣m “3 tháng 10
ngà y chưa hế t tuầ n chay gái đẻ”, thời kỳ sau sinh có rấ t nhiề u cái phải kiêng cữ
như chế đô ̣ ăn, vê ̣ sinh và các hoa ̣t đô ̣ng. Theo quan niê ̣m dân gian, người phu ̣ nữ


16

sau sinh phải ăn chế đô ̣ đă ̣c biê ̣t, phải ở nhà và tranh thủ hàng loa ̣t các chỉ đinh
̣
cũng như cấ m kỵ (ăn 100 ngà y, kiêng tắ m 7-30 ngà y, sinh hoa ̣t tình du ̣c 2-6 tháng,
nghỉ ngơi ở nhà 15 - 100 ngà y) [20].
Sự tuyên truyề n vâ ̣n đô ̣ng của điạ phương: Việc tham gia vận động tuyên
truyền của các ban, ngành, đoàn thể tại địa phương có liên quan đến việc sinh con tại
nhà của các bà mẹ; các bà mẹ không được các ban, ngành, đoàn thể tuyên truyền vận
động sinh con tại CSYT thì có nguy cơ sinh con tại nhà cao gấp 2,04 lần so với các
bà mẹ được vận động [1].
Yế u tố giao thông đi la ̣i: Giao thông đi lại khó khăn, khoảng cách từ nhà đến
CSYT cũng là yếu tố ảnh hưởng đến lý do bà mẹ lựa chọn nơi sinh như nghiên cứu
của Trần Thị Trung Chiến và cộng sự (2002) về chết chu sinh tại Việt Nam; theo
nghiên cứu này thì tình trạng đường giao thông đến nơi đẻ là điều kiện ngoại cảnh
có ý nghĩa với mọi cuộc đẻ. Khoảng cách từ nhà tới nơi đẻ của thai phụ cứ dài trên 5
km là đã xuất hiện nguy cơ chết chu sinh và khoảng cách xa nhà hơn thì nguy cơ
chết chu sinh cao hơn [5]. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thường (2003) cũng chỉ ra
rằng 69,9% phụ nữ đẻ tại trạm là do nhà gần TYT, 100% phụ nữ đẻ nơi khác là do
nhà xa TYT [21].
1.3. Khung lý thuyết nghiên cứu
Khung lý thuyết được xây dựng dựa trên đặc điểm tình hình thực tế tại địa
phương, cũng như kết quả của một số nghiên cứu về sinh con tại nhà [1], [23]. Trong
phạm vi nghiên cứu này chúng tôi chỉ trọng tâm vào các nhóm yếu tố chính ảnh hưởng
đến vấn đề sức khỏe. Có 3 nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh con tại nhà của các
bà mẹ:
* Yếu tố cộng đồng và xã hội: Phong tục sinh con tại nhà.
* Yếu tố dịch vụ y tế: Khám thai, tiêm phòng uốn ván, CBYT tư vấn cho bà mẹ
đến CSYT sinh con, sử dụng gói đỡ đẻ sạch, trình độ chuyên môn của CBYT, người
đỡ đẻ, bất đồng ngôn ngữ giữa CBYT và bà mẹ, khoảng cách từ nhà bà mẹ tới CSYT.
* Yếu tố về đặc điểm nền:


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×