Tải bản đầy đủ

Phân tích bài thơ đất nước nguyễn khoa điềm

PHÂN TÍCH BÀI THƠ “ĐẤT NƯỚC” –
NGUYỄN KHOA ĐIỀM
Bài làm 1:
Đất nước luôn là tiếng gọi thiêng liêng muôn thuở, muôn nơi và của bao triệu
trái tim con người. Đất nước đi vào đời chúng ta qua những lời ru ngọt ngào êm dịu,
qua những làn điệu dân ca mượt mà và những vần thơ sâu lắng, thiết tha và rất đỗi
tự hào của bao lớp thi nhân. Ta bắt gặp một hình tượng đất nước đau thương nhưng
vẫn ngời lên ý chí đấu tranh trong trang thơ Nguyễn Đình Thi đồng thời cũng rất dịu
dàng ý tứ trong thơ Hoàng Cầm. Nhưng với Nguyễn Khoa Điềm, ta bắt gặp một cái
nhìn toàn vẹn, tổng hợp từ nhiều bình diện khác nhau về một đất nước của nhân dân.
Tư tưởng ấy đã qui tụ mọi cách nhìn và cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm về đất
nước. Thông qua những vần thơ kết hợp giữa cảm xúc và suy nghĩ, trữ tình và chính
luận, nhà thơ muốn thức tỉnh ý thức, tinh thần dân tộc, tình cảm với nhân dân, đất
nước của thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm chống Mĩ cứu nước.
Mở đầu đoạn trích là giọng thơ nhẹ nhàng, thủ thỉ như những lời tâm tình kết
hợp với hình ảnh thơ bình dị gần gũi đưa ta trở về với cội nguồn đất nước.
Khi ta lớn lên Đất nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái ngày xửa
Ngày xưa mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu từ miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc.

Đất nước trước hết không phải là một khái niệm trừu tượng mà là những gì rất
gần gũi, thân thiết ở ngay trong cuộc sống bình dị của mỗi con người. Đất Nước hiện
hình trong câu chuyện cổ tích ngày xửa ngày xưa mẹ kể, trong miếng trầu của bà,
cây tre trước ngõ… gợi lên một Đất nước Việt Nam bao dung hiền hậu, thủy chung
và sắt son tình nghĩa anh em, nhưng cũng vô cùng quyết liệt khi chống quân xâm
1|Trang


lược. Mỗi quả cau, miếng trầu, cây tre đều gợi về một vẻ đẹp tinh thần Đất nước,
đều thấm đẫm ngọn nguồn lịch sử dân tộc.
Đất nước còn là hiện thân của những phong tục tập quán ngàn đời, minh chứng
của một dân tộc giầu truyền thống văn hóa, giàu tình yêu thương gắn bó với mái ấm
gia đình. Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn. Gừng tất nhiên là cay, muối
tất nhiên là mặn. Tình yêu cha mẹ mãi mãi mặn nồng như chính chân lí tự nhiên kia.
Hình ảnh thơ khiến ta rưng rưng nhớ về một lời nhắc nhở thiết tha về tình nghĩa của
một ai đó hôm nào: Tay bưng dĩa muối chén gừng, Gừng cay muối mặn xin đừng
quên nhau.
Đất nước còn là thành quả của công cuộc lao động vất vả để sinh tồn, để dựng
xây nhà cửa:
Cái kèo cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó.
Ở đây Đất nước không còn là một khái niệm trừu tượng nữa mà cụ thể, quen
thuộc và giản gị biết bao. Việc tác giả sử dụng những chất liệu dân gian để thể hiện
suy tưởng của mình về đất nước với quan niệm “Đất nước của nhân dân”.
Vẫn bằng lời trò chuyện tâm tình với mỗi nhân vật đối thoại tưởng tượng,
Nguyễn Khoa Điềm đã diễn giải khái niệm đất nước theo kiểu riêng của mình:
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nươc là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm.
Đất nước không chỉ được cảm nhận bởi không gian địa lí mênh mông từ rừng
đến bể mà còn được cảm nhận bởi không gian sinh hoạt bình thường của mỗi người,
không gian của tình yêu đôi lứa, không gian của nỗi nhớ thương. Ý nịêm về đất nước
được gợi ra từ việc chia tách hai yếu tố hợp thành là đất và nước với những liên
2|Trang


tưởng gợi ra từ đó. Sử dụng lối chiết tự mà vẫn không ngô nghê, mà vẫn thật duyên
dáng và ý nhị, có thể gợi ra cho thấy một quan niệm mang những đặc điểm riêng của


dân tộc ta về khái niệm đất nước, mà tư duy thơ có thể tách ra, nhấn mạnh.
Đất mở ra cho anh một chân trời kiến thức, nước gột rửa tâm hồn em trong sáng
dịu hiền. Cùng với thời gian lớn lên đất nước trở thành nơi anh và em hò hẹn. Không
những thế, đất nước còn người bạn chia sẻ những tình cảm nhớ mong của những
người đang yêu. Đất và nước tách rời khi anh và em đang là hai cá thể, còn hòa hợp
khi anh và em kết lại thành ta. Chiếc khăn – biểu tượng của nỗi nhớ thương – đã
từng làm bao trái tim tuổi trẻ bâng khuâng: “Khăn thương nhớ ai, Khăn rơi xuống
đất …”, một lần nữa lại khiến lòng người xúc động, bồi hồi trước tình cảm chân
thành của những tâm hồn yêu thương say đắm.
Đất Nước còn là nơi trở về của những tâm hồn thiết tha với quê hương. Hình
ảnh con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc, con cá ngư ông móng nước biển
khơi mang phong cách dân ca miền Trung, thẫm đẫm lòng yêu quê hương cả tác giả.
Đất Nước mình bình dị, quen thuộc nhưng đôi khi cũng lớn rộng, tráng lệ và kì vĩ
vô cùng, nhất là đối với những người đi xa. Dù chim ham trái chín ăn xa, thì cũng
giật mình nhớ gốc cây đa lại về. Gia đình Việt Nam là như thế, lúc nào cũng hướng
về quê hương, hướng về cội nguồn.
Đất Nước trường tồn trong không gian và thời gian: Thời gian đằng đẵng, không
gian mênh mông để mãi mãi là nơi dân mình đoàn tụ, là không gian sinh tồn của
cộng đồng Việt Nam qua bao thế hệ. Nguyễn Khoa Điềm gợi lại truyền thuyết Lạc
Long Quân và Âu Cơ, về truyền thuyết Hùng Vương và ngày giỗ tổ. Nhắc lại Lạc
Long Quân và Âu Cơ, nhắc đến ngày giỗ tổ, Nguyễn Khoa Điềm muốn nhắc nhở
mọi người nhớ về cội nguồn của dân tộc . Dù bôn ba chốn nào, người dân Việt Nam
cũng đều hướng về đất tổ, nhớ đến dòng giống Rồng Tiên của mình.
Nhắc đến chuyện xưa ấy như để khẳng định, cũng là để nhắc nhở:
Những ai đã khuất
Những ai bây giờ
Yêu nhau và sinh con đẻ cái

3|Trang


Gánh vác phần người đi trước để lại
Dặn dò con cháu chuyện mai sau
Cảm hứng thơ của tác giả có vẻ phóng túng, tự do nhưng thật ra đây là một hệ
thống lập luận khá rõ mà chủ yếu là tác giả thể hiện đất nước trong ba phương diện:
trong chiều rộng của không gian lãnh thổ địa lí, trong chiều dài thăm thẳm của thời
gian lịch sử, trong bề dày của văn hóa – phong tục, lối sống tâm hồn và tính cách
dân tộc.
Ba phương diện ấy được thể hiện gắn bó thống nhất và ở bất cứ phương diện
nào thì tư tưởng đất nước của nhân dân vẫn là tư tưởng cốt lõi, nó như một hệ qui
chiếu mọi cảm xúc và suy tưởng của nhà thơ.
Và cụ thể hơn nữa, gần gũi hơn nữa, Đất nước ở ngay trong máu thịt của mỗi
chúng ta:
Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần đất nước
Đất nước đã thấm tự nhiên vào máu thịt, đã hóa thành máu xương của mỗi con
người, vì thế sự sống của mỗi cá nhân không phải là riêng của mỗi con người mà là
của cả đất nước. Mỗi con người đều thừa hưởng ít nhiều di sản văn hóa vật chất và
tinh thần của đất nước, phải giữ gìn và bảo vệ để làm nên đất nước muôn đời.
Từ những quan niệm như vậy về đất nước, phần sau của tác phẩm tác giả tập
trung làm nổi bật tư tưởng: Đất nước của nhân dân, chính Nhân dân là người đã sáng
tạo ra Đất nước.
Tư tưởng đó đã dẫn đến một cái nhìn mới mẻ, có chiều sâu về địa lí, về những
danh lam thắng cảnh trên khắp mọi miền đất nước. Những núi Vọng Phu, hòn Trống
Mái, những núi Bút non Nghiên… không còn là những cảnh thú thiên nhiên nữa mà
được cảm nhận thông qua những cảnh ngộ, số phận của nhân dân, được nhìn nhận
như là những đóng góp của nhân dân, sự hóa thân của những con người không tên
tuổi: “Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất nước những núi Vọng Phu, Cặp
vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái”, “Người học trò thắng cảnh”. Ở đây
cảnh vật thiên nhiên qua cách nhìn của Nguyễn Khoa Điềm, hiện lên như một phần
4|Trang


tâm hồn, máu thịt của nhân dân. Chính nhân dân đã tạo dựng nên đất nước, đã đặt
tên, đã ghi dấu vết cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi, dòng sông. Từ những hình ảnh,
những cảnh vật, những hiện tượng cụ thể, nhà thơ qui nạp thành một khái quát sâu
sắc:
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi! Đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta.
Tư tưởng Đất nước của nhân dân đã chi phối cách nhìn của nhà thơ khi nghĩ về
lịch sử bốn nghìn năm của đất nước. Nhà thơ không ca ngợi các triều đại, không nói
đến những anh hùng được sử sách lưu danh mà chỉ tập trung nói đến những con
người vô danh, bình thường, bình dị. Đất nước trước hết là của nhân dân, của những
con người vô danh bình dị đó.
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất nước
Họ lao động và chống giặc ngoại xâm, họ đã giữ và truyền lại cho các thế hệ
mai sau các giá trị văn hóa, văn minh, tinh thần và vật chất của đất nước từ hạt lúa,
ngọn lửa, tiếng nói, tên xã, tên làng đến những truyện thần thoại, câu tục ngữ, ca
dao. Mạch cảm xúc lắng tụ lại để cuối cùng dẫn tới cao trào, làm nổi bật lên tư tưởn
cốt lõi của cả bài thơ vừa bất ngờ, vừa giản dị và độc đáo:
Đất nước này là Đất nước nhân dân
Đất nước của Nhân dân, Đất nước của ca dao thần thoại
Một định nghĩa giản dị, bất ngờ về Đất nước. Đất nước của ca dao thần thoại
nhưng vẫn thể hiện những phương diện quan trọng nhất của truyền thống nhân dân,
5|Trang


của dân tộc: Thật đắm say trong tình yêu, biết quí trọng tình nghĩa và cũng thật quyết
liệt trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm.
Những câu thơ khép lại tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp của cảnh sắc quê hương với
một tâm hồn lạc quan phơi phới. Tất cả ào ạt tuôn chảy trong tâm trí người đọc
những tí tách reo vui…
Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm đã góp thêm thành công cho mảng thơ viết
về Đất nước. Từ những cảm nhận mang tính gần gũi, quen thuộc, Đất nước không
còn xa lạ, trừu tượng mà trở nên thân thiết nhưng vẫn rất thiêng liêng. Đọc Đất nước
của Nguyễn Khoa Điềm ta không chỉ tìm về cội nguồn dân tộc mà còn khơi dậy tinh
thần dân tộc trong mỗi con người Việt Nam trong mọi thời đại.
Bài làm 2:
Nhà thơ nhà văn Nguyễn Khoa Điềm không có nhiều tác phẩm nhưng những
tập thơ của ông luôn được độc giả đón nhận và yêu thích. Trong đó không thể không
nhắc đến trường ca “Mặt đường khát vọng” vô cùng nổi tiếng mà ta thường biết đến
thông qua bài thơ “Đất Nước”. Bài thơ này được trích từ chương V của trường ca.
Đây đuợc xem là chương hay và sâu sắc nhất. Tác giả chia đoạn thơ thành 5 khổ,
mỗi khổ ứng với một luận điểm, nhưng đều nhằm một mục đích đó là làm sáng tỏ tư
tưởng: “Đất nước này là Đất Nước Nhân dân”. Chính luồng tư tưởng này đã thôi
thúc tuổi trẻ các tỉnh Miền Nam tham gia chiến đấu giành độc lập cho nước nhà.
Không những thế, nó đã khơi dậy niềm tự hào dân tộc của nhân dân ta. Bên cạnh đó,
Nguyễn Khoa Điềm trình bày rất nghệ thuật nhiều cảm nhận, lý giải mới về đất nước.
Từ đó, ta hiểu thêm tính chính luận - trữ tình của thơ ông nói riêng và thơ chống Mỹ
nói chung.
Câu thơ đầu của đoạn rất đỗi nhẹ nhàng, bình dị nhưng lại vô cùng hàm súc:
“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể”.
Bốn từ “ngày xửa ngày xưa” sao quá đỗi quen thuộc với chúng ta. Nó xuất hiện
trong những câu chuyện cổ tích bà kể, trong những lời ru tha thiết của mẹ mỗi khi
đêm về. Từ lâu nó đã như là một yếu tố không thể thiếu dể tạo nên không gian riêng
6|Trang


của nàng Tấm, Hoàng Tử, của Mai An Tiêm… Nay, nó đã đi vào văn chương Việt
Nam tạo nên một định nghĩa rất bất ngờ trong thơ Nguyễn Khoa Điềm. Trong Nam
Quốc Sơn Hà của Lý Thường Kiệt, đất nước hiện ra thông qua hình ảnh “Vua chúa”
và “sách trời”:
“Nam quốc sơn hà Nam Đế cư
Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư”
(Nam Quốc Sơn Hà)
Hay như trong “Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc” của nhà thơ Nguyễn Đỉnh Chiểu:
“Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu; hai vầng nhật nguyệt
chói loà đâu dung lũ treo dê bán chó”
(Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc)
Những từ như “mối xa thư đồ sộ” hay “hai vầng nhật nguyệt chói loà” đã trang
trọng hoá đất nước. Nó thể hiện sự kì vĩ và cao cả nhưng cũng tạo một khoảng cách
thiêng liêng của con người đối với Đất Nước. Nhưng với Nhuyễn Khoa Điềm thì lại
khác. Nhà thơ đã xoá bỏ khoảng cách đó. Đất nước đã hoá thân vào những câu
chuyện cổ tích hay những câu ca dao rất đỗi quen thuộc và hiện ra thật bình dị và
gần gũi.
“Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”
Tứ thơ này làm sống lại nhiều câu tục ngữ, ca dao và truyện Trầu cau bi thương,
tình nghĩa. Qua hình ảnh “miếng trầu”, Nguyễn Khoa Điềm “nhân dân hóa” thơ
mình và có thêm một bằng chứng về đất nước hình thành từ xa xưa. Và Đất Nước
cứ lớn dần lên cùng các truyền thống như trồng tre, trồng lúa, đánh đuổi giặc ngoại
xâm.
“Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
7|Trang


Cái kèo cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”
Tác giả đã dành một lời ngợi ca, một sự trân trọng đối với tình nghĩa vợ chồng
khi nói đến “cha mẹ”. Sự thuỷ chung son sắt trải bao gian khó nhọc nhằn được ông
đề cao. Vì cuộc sống bấp bênh, đủ mọi khó khăn vất vả, chỉ có “gừng cay” và “muối
mặn” chứ ít khi ngọt ngào. Tuy nhiên “cha mẹ” vẫn dành cho nhau sự yêu thương là
một điều rất đáng quý. Ở câu thơ này, thay vì dùng chữ “yêu” tác giả lại chọn từ
“thương” để đưa vào. Bởi vì ông muốn thơ của mình giản dị và gần với văn học bình
dân hơn, gần với nhân dân hơn. Cũng như tác giả mượn hình ảnh “gừng cay muối
mặn” từ câu ca dao:
“Tay nâng chén muối đĩa gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”
để thể hịên tình cảm vợ chồng.
Rồi đến khi “Cái kèo cái cột thành tên” thì dân tộc ta đã bước sang một sự phát
triển mới. Ngành nông nghiệp lúa nước ra đời giúp cho cuộc sống nhân dân bớt cơ
cực mặc dù cũng phải “một nắng hai sương” theo từng hạt gạo.
Câu cuối của khổ thơ này, tác giả đúc kết và khẳng định lại một lần nữa về sự
ra đời cùa Đất Nước:
“Đất Nước có từ ngày đó…”
Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã khai thác và sử dựng triệt để vốn văn hoá dân
gian sẵn có, sáng tạo lại khiến cho người đọc cảm thấy rất gần gũi và bất ngờ. Trong
suốt quá trình phát triển của Đất Nước, ta dều thấy bóng dáng của những con người.
Đó là cơ sở vững chắc để tác giả tiếp tục triển khai tư tưởng Đất Nước này là đất
Nước Nhân dân ở 3 khổ thơ sau.
Một không gian khác được tác giả mở ra vô cùng khéo léo khi ông tách đôi 2
âm tiết “Đất Nước”.
“Đất là nơi anh đến trường
8|Trang


Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn”
Trình tự “nơi anh đến trường”, “nơi em tắm”, tưởng như tình cờ mà không sao
đảo ngược. Nếu thay đổi dưới dạng: Đất là nơi em đến trường, Nước là nơi anh tắm,
cảm hứng thơ sẽ tan biến. Dòng viết trên thành một câu văn xuôi rất đỗi bình thường.
Văn hoá dân gian là của nhân dân. Để khẳng định tư tưởng của mình tác giả đã
vận dụng chất liệu dân gian vào trong văn thơ của mình. ”Đất nước là của nhân dân”
nên việc đưa chất trữ tình của dân gian tạo được hiệu quả cao trong việc xây dựng
hình tượng đất nước, qua đó ta thấy được sự sáng tạo cũng như độc đáo trong thơ
của Nguyễn Khoa Điềm. Câu thơ:” Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong
nỗi nhớ thầm” là một ví dụ. Hẳn ta chưa quên câu ca dao rất đỗi ngọt ngào:
“Khăn thương nhớ ai
Khăn rơi xuống đất
Khăn thương nhớ ai
Khăn vắt lên vai
Khăn thương nhớ ai
Khăn chùi nước mắt…”
Vận dụng ý từ câu ca dao trên, tác giả đã viết nên dòng thơ đậm chất dân gian
nhưng không kém phần độc đáo, tạo nên một phong cách rất riêng của nhà thơ.
Hai câu thơ tiếp theo hình tượng Đất Nước được biến hoá vô cùng sinh động:
“Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”
Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”
9|Trang


Con chim phượng hoàng và cá ngư ông là hai con vật linh thiêng được nhân
dân ta thờ phụng, nay đưa vào trong văn thơ của Nguyễn Khoa Điềm rất gần gũi.
Giữa người và thần dường như không hề có sự ngăn cách, tất cả như hoà vào nhau
bình đẳng. Một lần nữa, nhà thơ đã đưa Đất Nước từ của thần linh trở thành Đất
Nước của nhân dân. Và chính tư tưởng đó đã giúp tác giả khám phá Đất Nước trên
những khía cạnh khác nhau. Mở đầu là “Thời gian đằng đẵng”. Xuôi theo dòng lịch
sử, Nguyễn Khoa Điềm ghi lại những truyền thuyết, phong tục dân gian vốn rất quen
thuộc với chúng ta.
“Đất là nơi Chim về
Nước là nơi Rồng ở
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng
Những ai đã khuất
Những ai bây giờ
Yêu nhau và sinh con đẻ cái
Gánh vác phần người đi trước để lại
Dặn dò con cháu chuyện mai sau
Hàng năm ăn đâu ở đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ”
Song song với quá trình tách - hợp, là sự hài hòa trong mối quan hệ: “anh” “em” thành “ta” và “Chim về”, “Rồng ở” tạo nên mối tình Lạc Long Quân - Âu Cơ.
Qua các câu thơ, tác giả cho ta thấy: đất nước bắt đầu hình thành, “lớn lên” như
những mối tình thân thiết, yêu thương. Dây là quãng thời gian thấm đẫm cội nguồn,
thể hiện ước muốn ngược dòng thời gian trở về cội nguồn, lịch sử hình thành Đất
Nước. Nó khoác lên “Đất Nước” một vẻ đẹp lạ lùng, lấp lánh chất huyền thoại. Đất
10 | T r a n g


Nước không đơn thuần chỉ là núi song. Đó là nơi Lạc Long Quân và Âu Cơ yêu
nhau, đó là nơi dân mình được sinh ra và đoàn tụ. Từ đó, đất nước thành không gian
của mọi người, của cộng đồng.
Bên cạnh đó, tác giả còn đánh thức tình cảm tổ tiên tình yêu quê hương đất
nước. Thấm thía nhất là hai câu thơ:
“Hàng năm ăn đâu ở đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ”
Mùng 10 tháng 3 hàng năm, người Việt ta có phong tục Giỗ Tổ Hùng Vương
để tôn vinh những ông vua có công dựng nước. Nhà thơ sử dụng 2 chữ “cúi đầu” với
vẻ tôn kính và ngưỡng mộ. Nó như một bàn tay khẽ chạm vào tiềm thức của mỗi
người con yêu nước, dù ở phương nào cũng phải biết thờ phụng ông bà tổ tiên mình.
Nguyễn Khoa Điềm đã rất ý nhị trong việc khơi gợi lòng yêu Đất Nước trong mỗi
con người.
Qua khổ thơ thứ hai, đất nước được cảm nhận như sự thống nhất hài hòa giữa
cái hàng ngày và vĩnh hằng, trong mỗi cá nhân và toàn dân tộc, trong quá khứ, hôm
nay và mai sau. Từ suy ngẫm trên, Nguyễn Khoa Điềm kết luận:
“Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần Đất Nước
Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm
Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất nước vẹn tròn, to lớn
Mai này con ta lớn lên Con sẽ mang Đất Nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng”

11 | T r a n g


Trong mỗi chúng ta đều có bóng hình của Đất Nước, gắn bó rất chặt chẽ. Thế
nên chúng ta phải biết giữ gìn và bảo vệ nó. Đất Nước trọn vẹn khi dân mình biết
chở che cho nhau, đoàn kết lại. Lúc ấy Đất Nước sẽ vô cùng mạnh mẽ, bất khuất.
Nhà thơ mong muốn thế hệ sau này cũng sẽ yêu quý Đất Nước, phát triển nó như
những gì thế hệ trước đã và đang làm. Kết lại khổ thơ, tác giả nhắn nhủ đến mọi
người:
“Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và chia sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời…”
Đó không chỉ là mong muốn của riêng nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm mà đó còn
là những gì tổ tiên, ông bà trông đợi nơi ta, những người con của thế hệ sau sẽ cố
gắng thực hiện. Từ “phải” như là một mệnh lệnh. Nhưng đó là mệnh lệnh của trái
tim, của ý thức trong mỗi chúng ta.
Ở khổ thơ thứ 3, tư tưởng “đất nước nhân dân” còn được thể hiện qua cách cảm
nhận sâu sắc, độc đáo về phương diện địa lý.
“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước nhựng núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên những hòn Trống mái
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao hồ để lại
Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học tró nghèo góp cho Đất Nước núi Bút, non Nghiên
Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
12 | T r a n g


Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuôc đời đã hoá núi sông ta…”
Núi Vọng Phu, hòn Trống Mái rồi Hạ Long... chỉ thành thắng cảnh khi gắn liền
với đời sống văn hóa dân tộc, được cảm thụ qua tâm hồn quần chúng và lịch sử đất
nước. Theo lối quy nạp, từ những dẫn chứng cụ thể, nhà thơ đi đến nhận xét tổng
quát:
“Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuôc đời đã hoá núi sông ta…”
Trong không gian địa lý, trên khắp ruộng đồng gò bãi, Nguyễn Khoa Điềm đều
thấy dấu tích nhân dân để lại... Chính diều này đã thể hiện mối liên hệ mật thiết giữa
nhân dân và đất nước.
Bốn nghìn năm đối với Nguyễn Khoa Điềm không chỉ là thời gian. Với con
mắt sắc sảo của mình, nhà thơ còn nhìn thấy những điều tưởng chừng như rất bình
dị nhưng lại vô cùng quan trọng.
“Em ơi em
Hãy nhìn rất xa
Vào bốn nghìn năm Đất Nước
Năm tháng nào cũng người người lớp lớp
Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta
Cần cù làm lụng
Khi có giặc người con trai ra trận
Người con gái trở về nuôi cái cùng con
Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh
13 | T r a n g


Nhiều người đã trở thành anh hùng
Nhiều anh hùng cả anh va em đều nhớ
Nhưng em biết không
Có biết bao người con gái, con trai
Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước”
Nếu ở khổ 2 và 3 là cái nhìn gần, thời hiện tại thì ở đây là cái nhìn xa, nhìn về
quá khứ, theo dòng thời gian trở về buổi đầu dựng nước. Trong “Bình Ngô Đại Cáo”,
Nguyễn Trãi đã tổng kết lịch sử bằng các triều đại:
“Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương”
Nhưng Nguyễn Khoa Điềm không làm như vậy. Ông nhấn mạnh vai trò của
những người trẻ tuổi vô danh. Những người đã giữ gìn, truyền lại cho con cháu mọi
giá trị tinh thần, vật chất. Không chỉ bảo vệ hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói, tên xã tên
làng qua các cuộc đi xa mà họ còn quyết tâm đánh giặc bảo vệ quê hương Đất Nước.
Bằng cách này, tác giả đã trả lại Đất Nước cho những người chủ chân chính, những
người đã góp bao công sức trong thầm lặng xây dựng nên Đất Nước. Đây là một
cách nhìn rất mới trong thơ văn yêu nước, củng cố thêm cho tư tưởng của tác giả.
“Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Họ truyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
14 | T r a n g


Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân
Họ đắp đập be bờ cho ngừơi sau trồng cây hái trái”
Đại từ “họ” được lặp đi lặp lại, đặt ở đầu câu làm nổi bật vai trò của nhân dân,
những ai đã làm ra sản phẫm vật chất, tinh thần cua Đất Nước. Hàng loat dộng từ
như “giữ”, ”truyền”, “gánh” được tác giả sử dụng để tạo nên hình tượng người dân
thật lực lưỡng, khỏe mạnh không hề mệt mỏi trong công cuộc dựng xây và bảo vệ
Tổ Quốc. Nhân dân đã đem cả cuộc đời đóng góp, phát triển và bảo tồn mọi giá trị
vật chất cũng như tinh thần cho con cháu. Vậy nên nói “Đất Nước là của Nhân dân”
chẳng hề sai.
Thơ của Nguyễn Khoa Điềm là một thế giới nên thơ, mộc mạc và rất dân dã.
Nó lấp lánh những câu ca dao, những câu chuyện cổ tích khi xưa. Cũng chính nhờ
điều đó mà ta thấy nhân dân hiện diện xuyên suốt toàn bài thơ. Từ nền văn hoá dân
gian ấy, tác giả khám phá ra vẻ đẹp tâm hồn, tính cách người Việt Nam chung thuỷ,
có nghĩa có tình nhưng lại rất cứng rắn trước quân thù.
“Dạy anh biết “yêu em từ thưở trong nôi”
Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội
Biết trồng tre đợi ngày thành gậy
Đi trả thù mà không sợ dài lâu
Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu
Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát
Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác
Gợi trăm màu trên trăm năm dáng sông xuôi…”
Tư tưởng “Đất Nước của nhân dân” đã có quá trình phát triển lâu dài nhưng chỉ
đến văn học Việt Nam hiện đại, nhận thức ấy mới đạt tới đỉnh cao, mang một sắc
thái mới lạ và thuyết phục.
“Để Đất Nước này là Đất Nước của Nhân dân
15 | T r a n g


Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại”
Hai câu thơ, hai vế song song, đồng đẳng là một cách định nghĩa mới về đất
nước. Đỉnh cao của tính chính luận và cảm xúc trữ tình hội tụ trong câu: “Để Đất
Nước này là Đất Nước Nhân dân”. Chân lý ấy thể hiện đầy đủ trong ca dao. Bởi vậy,
ngoài việc nhấn mạnh qua từ “để”, tác giả còn láy lại điệp khúc “Đất Nước của ca
dao thần thoại”. Đây là kết quả tất yếu của một thời đại nhân dân thực sựlàm chủ đời
mình, làm chủ Đất Nước.
Qua đoạn thơ, ta thấy sự vận dụng sáng tạo văn học dân gian của Nguyễn Khoa
Điềm. Ông ít lặp lại nguyên văn mà thường sử dụng từng ý, từng hình ảnh thơ của
người xưa. Giọng chính luận - trữ tình phù hợp với nội dung tác phẩm. Thực ra, tư
tưởng đất nước nhân dân đã hình thành từ lâu. Nguyễn Khoa Điềm chỉ nâng cao tầm
tư tưởng ấy và diễn đạt nó bằng ngôn từ, giọng điệu mới, độc đáo. Ông tạo được một
đoạn thơ hiện đại đậm đà bản sắc dân gian. Bởi vậy, thơ Nguyễn Khoa Điềm vừa
quen vừa lạ và có sức thuyết phục cao.

Bài làm 3:
Cùng với các nhà thơ thế hệ chống Mỹ lúc bấy giờ, Nguyễn Khoa Điềm cũng
hướng ngòi bút của mình đến một chủ đề lớn lao của thơ ca đương thời đó chính là
đất nước. Tuy nhiên hình ảnh “đất nước” trong thơ Nguyễn Khoa Điềm không chỉ
có đau thương mất mát hay chỉ có những cảnh sơn hà hùng vì mà “đất nước” hiện
lên trọn vẹn qua những suy nghĩ và cảm nhận hết sức mới mẻ. Đoạn trích “Đất nước”
trong trường ca “Mặt đường khát vọng” chính là một định nghĩa đủ đầy về đất nước
và qua đó cũng thể hiện sâu sắc tư tưởng cốt lõi của tác phẩm: Đất nước là của nhân
dân.
Mở đầu bài thơ là lời tâm tình sâu lắng đưa ta về với cội nguồn:
Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi
Đất nước có trong những cái ngày xửa
Ngày xưa mẹ thường hay kể
16 | T r a n g


Đất nước bắt đầu bằng miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay giã dần sàng
Đất nước có từ ngày đó…
Trong đoạn thơ này của Nguyễn Khoa Điềm có thể thấy răng, đất nước không
phải là cái gì trừu tượng, xa xôi mà đất nước chính là những gì thân thuộc và gần gũi
nhất. Trong câu chuyện ngày xửa ngày xưa, trong miếng trầu của bà ăn, trong dáng
tre bất khuất kiên cường, trong những phục tục tập quán, trong hạt gạo nấu những
bữa cơm hàng ngày… đều hiện hình lên một đất nước Việt Nam anh hùng, tình
nghĩa, giản dị mà thân thương nhất. Đây có thể nói là một định nghĩa về đất nước
hoàn toàn mới và hoàn toàn thiết thực nhất, rõ ràng nhất.
Với Nguyễn Khoa Điềm, “đất nước” không chỉ là những khoảng giới hạn về
không gian địa lý mà ở đây nó còn có chiều dài thời gian lịch sử và chiều sâu văn
hóa. Không những thế, “đất nước” còn là tình yêu đôi lứa, có trong tình yêu đôi lứa:
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm…
Đất và nước tách riêng, từng phần đều tượng trưng cho những điều gần gũi
nhất. Là nơi anh đến trường, là nơi em tắm hàng ngày. Thế nhưng khi “ta hò hẹn”
thành một đôi trọn vẹn thì cũng như đất nước gộp lại vẹn tròn. Với phát hiện mới
mẻ này, Nguyễn Khoa Điềm đã chỉ ra rằng: Đất nước không chỉ bên ta, xung quanh
ta và còn có cả ở trong ta.
17 | T r a n g


Đất nước là nơi khởi đầu cho những câu chuyện xa xưa, cho những câu ca dao
tục ngữ, điển tích điển cố và tất thảy mọi sự sinh thành. Hình ảnh “con chim phượng
hoàng”, “núi Bà Đen, Bà Điểm”, “Lạc Long Quân Âu Cơ” là những minh chứng cho
đất nước hào hùng nghìn năm văn hiến của chúng ta. Nhớ về đất nước cũng chính là
nhớ về cội nguồn, hiểu được vì sao chúng ta được sinh ra. Chính vì thế, đất nước
trong ý niệm của Nguyễn Khoa Điềm còn là sự tiếp nối truyền thống:
Những ai đã khuất
Những ai bây giờ
Yêu nhau và sinh con đẻ cái
Gánh vác phần người đi trước để lại
Dặn dò con cháu chuyện mai sau
Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần đất nước
Biết bao thế hệ cha ông ta đã ngã xuống để boa vệ đất nước, bảo vệ núi sông
bờ cõi. Đó là cả một chiều dài lịch sử hào hùng rất tự hào của dân tộc ta. Chính vì
thế, con cháu đời sau phải tiếp tục gìn giữ truyền thống ấy. Truyền thống yêu nước,
thương nòi, sẵn sàng chiến đấu để bỏa vệ non sông cho những thế hệ về sau. Và cho
đến hôm nay, “trong và em” “đều có một phần đất nước”. Phần đất nước ấy là phần
máu thịt, là một phần trách nhiệm phải giữ gìn và xây dựng, phần tình yêu để bảo vệ
đất nước cho con cháu mai sau.
Vì có những người đã không quản ngại thân mình hy sinh cho đất nước, làm
nên đất nước cho nên:
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta
18 | T r a n g


Khi nói về 4000 năm lịch sử của đất nước, Nguyễn Khoa Điềm không hề kể về
những vương triều hay những anh hùng nổi tiếng mà lại nhấn mạnh “người làm ra
đất nước” lại chính là những con người bình dị vô danh. Chính họ chứ không phải
ai khác đã gìn giữ và truyền lại hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói, ngôn ngữ cho đời sau.
Và từ chính những con người vô danh làm nên đất nước bao năm qua đã giúp tác giả
khẳng định:
Đất nước này là đất nước của nhân dân
Đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại
Với câu thơ sau, hai vế song song nhân dân – đất nước lại càng khẳng định đất
nước chính là kết tinh những giá trị tinh thần cao quý trong đời sống trí tuệ và tình
cảm của nhân dân. Những giá trị ấy đã kết tinh lại trong những câu ca dao, tục ngữ,
trong những câu chuyện thần thoại cổ tích của cha ông ta để lại. Đinh nghĩa về đất
nước đến đây vừa giản dị nhưng cũng vừa lớn lao, sâu sắc.
Đất nước đã được khẳng định là của nhân dân và cũng là của anh, của em, và:
Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời
Đoạn thơ thân tình như một lời nhắn nhủ thiết tha, chân thành: sự sống của
chúng ta không chỉ do cha mẹ sinh thành mà còn vì đất nước nuôi dưỡng. Chính vì
thế mỗi chúng ta cần phải có trách nhiệm gìn giữ, phát triển nó và truyền lại cho
những thế hệ tiếp theo.
Đất nước được xem là một đề tài, cảm hứng chủ đạo của thơ ca thời kì kháng
chiến chống Mĩ. Nguyễn Khoa Điềm đã nhận thức sâu sắc vai trò và sự đóng góp to
lớn của nhân dân trong cuộc đấu tranh trường kì và vô cùng ác liệt này. Chính vì thế
mà tư tưởng đất nước của nhân dân từ trong văn học truyền thống đã được nhà thơ
19 | T r a n g


phát triển đến đỉnh cao, mang tính dân chủ sâu sắc. Chất liệu văn hóa dân gian được
sử dụng nhuần nhuyễn, biến đổi linh hoạt đầy sáng tạo chính là nét đặc sắc thẩm mĩ
và thống nhất với tư tưởng “đất nước của nhân dân, Đất nước của ca dao thần thoại”
của bài thơ.

20 | T r a n g



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×