Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và kỹ thuật bón phân đối với một số dòng lúa cực ngắn ngày cho tỉnh Nghệ An (tt)

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

LÊ VĂN KHÁNH

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC
VÀ KỸ THUẬT BÓN PHÂN ĐỐI VỚI MỘT SỐ DÒNG LÚA
CỰC NGẮN NGÀY CHO TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 962 01 10

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2018


Công trình hoàn thành tại:
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn:

1. PGS.TS. Tăng Thị Hạnh

2. PGS.TS. Vũ Quang Sáng

Phản biện 1:

GS.TS. Phạm Tiến Dũng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Phản biện 2:

PGS.TS. Nguyễn Hữu Hồng
Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên

Phản biện 3:

PGS.TS. Lã Tuấn Nghĩa
Trung tâm Tài nguyên thực vật

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện
họp tại:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Vào hồi giờ phút, ngày tháng năm 2018

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
Thư viện Quốc gia Việt Nam
Thư viện Lương Định Của - Học viện Nông nghiệp Việt Nam


PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Lúa (Oryza sativa L.) là một trong những cây lương thực quan trọng
nhất, là thực phẩm chính của hơn một nửa quốc gia trên thế giới (Trần Văn
Đạt, 2005). Tại Việt Nam, lúa được coi là cây trồng bản địa và là loại cây
lương thực chủ yếu, quan trọng nhất. Tuy nhiên, hiện nay sản xuất lúa ở nước
ta đang đứng trước những khó khăn bởi ảnh hưởng nghiêm trọng của biến
đổi khí hậu, đặc biệt là tình hình bão lụt và hạn hán tại các tỉnh miền Trung.
Nghệ An là tỉnh ở trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, chịu ảnh hưởng
trực tiếp của bão lụt. Hàng năm bão lụt gây thiệt hại hàng chục nghìn ha cho
sản xuất Nông nghiệp (Nguyễn Mạnh Hùng, 2013). Chỉ tính trong vụ hè thu
2016 mưa bão làm thiệt hại 16.685 ha cây trồng, riêng sản xuất lúa bị thiệt
hại 5.204 ha, trong đó có 2.792 ha lúa bị thiệt hại trên 70%. Trong sản xuất


lúa hè thu, để đảm bảo thu hoạch hơn 20.000 ha vùng thấp trũng (chiếm hơn
22% tổng diện tích sản xuất lúa) trước ngày 30 tháng 8 nhằm né tránh bão
lụt thì tỉnh buộc phải sử dụng giống lúa có thời gian sinh trưởng dưới 100
ngày - giống lúa cực ngắn ngày (Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Nghệ An,
2017a; Nguyễn Đình Hương, 2016). Bên cạnh đó, tại Nghệ An giống lúa
cực ngắn ngày còn là giải pháp để gieo cấy lại trong trường hợp mạ và lúa
chết do rét đậm, rét hại đầu vụ xuân cũng như nắng hạn đầu vụ hè thu. Hơn
nữa, giống lúa cực ngắn ngày còn được sử dụng để gieo cấy ở trà xuân
muộn trong điều kiện cần kéo dài khung thời vụ cho vụ đông.
Trong nhiều năm, tỉnh Nghệ An đã thử nghiệm một số giống lúa
thuần cực ngắn ngày nhưng năng suất và chất lượng lúa gạo còn nhiều hạn
chế nên giống lúa Khang dân 18 (KD18) vẫn được sử dụng từ 35 - 40 % ở
vụ hè thu (Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Nghệ An, 2017a). Tuy nhiên,
hiện nay giống KD18 đã có những biểu hiện thoái hóa, khả năng chống
chịu, năng suất, chất lượng không cao (Hà Quang Dũng và cs., 2010;
Nguyễn Thanh Tuyền, 2007) và đặc biệt là hàm lượng amylose cao 28,48%
(Phạm Văn Cường và cs., 2016). Hơn nữa, giống này có thời gian sinh
trưởng trong vụ hè thu là 100 - 105 ngày, mặc dù được xếp vào nhóm ngắn
ngày nhưng vẫn thu hoạch sau ngày 30 tháng 8 nên có những năm bão lụt
vào sớm thì có nguy cơ mất mùa.
Nhằm khắc phục những nhược điểm của các giống lúa thuần, ngắn
ngày nói chung và giống KD18 nói riêng, trong thời gian qua, dự án JICA VNUA đã chọn được một số dòng/giống lúa Khang Dân cải tiến. Đây là các
dòng/giống lúa được chọn lọc theo định hướng cực ngắn ngày, năng suất cao
1


và chất lượng khá. Để từng bước đưa được các dòng/giống lúa mới này vào
thực tiễn sản xuất thì việc đánh giá phản ứng của chúng trong điều kiện sinh
thái đặc thù là chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão lụt tại tỉnh Nghệ An; đánh
giá đặc điểm quang hợp, sử dụng dinh dưỡng theo hướng tích cực; nghiên
cứu kỹ thuật bón phân cho dòng/giống lúa cực ngắn ngày đạt hiệu quả cao để
phục vụ sản xuất lúa hè thu bền vững tại tỉnh Nghệ An là hết sức cần thiết.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu sự khác biệt về đặc điểm sinh lý và nông học của các
dòng/giống lúa cực ngắn ngày. So sánh khả năng sinh trưởng, phát triển năng
suất và chất lượng của một số dòng/giống lúa cực ngắn ngày tại Nghệ An.
- Đánh giá xác định được đặc điểm sử dụng đạm và kali đối với quang
hợp, tích lũy chất khô và vận chuyển hydrat cacbon không cấu trúc làm cơ sở
cho việc nghiên cứu kỹ thuật bón phân cho 1 dòng/giống lúa cực ngắn ngày
ưu tú nhất.
- Xác định được mức phân bón và phương pháp bón phân đạm phù
hợp đối với 1 dòng/giống lúa cực ngắn ngày ưu tú nhất tại tỉnh Nghệ An.
1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đề tài được thực hiện từ năm 2014 đến năm 2017.
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý của các dòng/giống lúa cực ngắn
ngày (ký hiệu là D1, D2, D3, D4 và D5, trong đó dòng D5 được phát triển
thành giống DCG72) trong vụ mùa tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
- Nghiên cứu một số đặc điểm nông học của các dòng/giống lúa cực
ngắn ngày (D1, D2, D3, D4 và giống DCG72) tại hai vùng sinh thái (đồng
bằng ven biển, thuộc vùng ngập lụt - huyện Yên Thành; miền núi cao huyện Quỳ Hợp) trong các vụ hè thu tại tỉnh Nghệ An.
- Nghiên cứu liều lượng của phân đạm, kali trong chậu tại Học viện
Nông nghiệp Việt Nam; các mức phân bón (N, P 2O5 và K2O) và phương
pháp bón đạm cho 1 giống lúa cực ngắn ngày DCG72 tại vùng ngập lụt của
tỉnh Nghệ An (huyện Yên Thành).
- Mô hình thử nghiệm kỹ thuật bón phân cho giống lúa cực ngắn ngày
DCG72 thực hiện trong vụ hè thu tại vùng ngập lụt của tỉnh Nghệ An
(huyện Đô Lương và Thanh Chương).
1.4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Phát hiện được năng suất của các dòng/giống lúa cực ngắn ngày
phụ thuộc vào khối lượng chất khô ở giai đoạn trước trỗ, cường độ quang
hợp và khả năng vận chuyển hydrat cacbon không cấu trúc từ thân và bẹ lá
về bông ở giai đoạn sau trỗ. Sự khác biệt về một số đặc điểm nông sinh học
của nhóm lúa cực ngắn ngày và nhóm lúa ngắn ngày. Xác định được giống
2


lúa cực ngắn ngày DCG72 có nhiều đặc điểm nông sinh học tốt và phù hợp
với điều kiện sản xuất vụ hè thu của tỉnh Nghệ An.
- Đánh giá được đặc điểm sử dụng phân bón (đạm và kali) ở trong
chậu của giống lúa cực ngắn ngày DCG72. Đề xuất được mức phân bón cho
giống lúa DCG72 trong vụ hè thu là: 60 kg N + 48 kg P2O5 + 48 kg K2O/ha,
trong vụ xuân là: 90 kg N + 72 kg P2O5 + 72 kg K2O/ha; phương pháp bón
đạm nuôi hạt (cả 2 vụ) là phù hợp cho giống lúa cực ngắn ngày DCG72.
1.5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.5.1. Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài luận án cung cấp các dẫn liệu khoa
học về đặc điểm sinh trưởng, phát triển, quang hợp và sử dụng dinh dưỡng
của các dòng/giống lúa cực ngắn ngày.
- Kết quả luận án là tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy,
nghiên cứu khoa học trong các Trường Đại học, Viện Nghiên cứu Nông
nghiệp về cây lúa nói chung, dòng/giống lúa cực ngắn ngày nói riêng.
1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Xác định được giống DCG72 (phát triển từ dòng DCG 72-1-3-1-4,
được ký hiệu là D5) trồng trong vụ hè thu ở Nghệ An có thời gian sinh
trưởng cực ngắn (từ 86 - 94 ngày), có khả năng sinh trưởng và phát triển
tốt; năng suất cao (đạt từ 52,9 - 53,6 tạ/ha ở vụ hè thu 2014 và 57,7 - 64,0
tạ/ha tại vụ hè thu 2015), chất lượng khá (amylose chỉ từ 19,2 – 21,0 %;
mùi thơm, độ dẻo, vị ngon đạt lần lượt từ 2,0 – 2,4/5 điểm; 3,2 – 3,7/5
điểm; 2,9 – 3,7/5 điểm) và phù hợp với điều kiện sản xuất lúa hè thu của
tỉnh Nghệ An.
- Xây dựng được kỹ thuật bón phân cho giống lúa cực ngắn ngày
DCG72, mức phân: 60 kg N + 48 kg P2O5 + 48 kg K2O/ha trong vụ hè thu
và 90 kg N + 72 kg P2O5 + 72 kg K2O/ha ở vụ xuân kết hợp với phương
pháp bón đạm nuôi hạt góp phần mở rộng diện tích trồng và nâng cao hiệu
quả sản xuất giống lúa cực ngắn ngày tại tỉnh Nghệ An.
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG GIỐNG LÚA
CỰC NGẮN NGÀY Ở VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI
Giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn góp phần tăng nhanh sản
lượng lúa và tạo điều kiện tăng vụ (Trương Đích, 2009). Giống lúa cực ngắn
ngày có thời gian sinh trưởng ngắn trên đồng ruộng, thu hoạch sớm nên giúp
né tránh thiên tai (Nguyễn Mạnh Hùng, 2013; Nguyễn Đình Hương, 2016).
3


Sử dụng giống lúa ngắn ngày tăng hiệu quả kinh tế, giảm lượng phân bón,
thuốc bảo vệ thực vật qua đó góp phần bảo vệ môi trường. Trên thế giới chưa
có nhiều nghiên cứu để rút ngắn thời gian sinh trưởng cho cây lúa, song ở
Việt Nam công tác nghiên cứu chọn tạo giống lúa có thời gian ngắn đang
ngày càng được quan tâm. Hiện nay, giống lúa cực ngắn ngày đã được sử
dụng phổ biến ở trong nước, đặc biệt là ở những vùng cần né tránh thiên tai
hoặc có nhu cầu tăng vụ (Nguyễn Văn Luật, 2006).
Đời sống cây lúa gồm 3 giai đoạn là sinh trưởng sinh dưỡng, sinh
trưởng sinh thực và thời kỳ chín (Akihama và cs., 1976). Thời gian sinh
trưởng của cây lúa ngắn hay dài là do giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng
quyết định (Nguyễn Quốc Trung và cs., 2014). Phân nhóm giống lúa theo
thời gian sinh trưởng được chia làm 3 nhóm là ngắn ngày, trung ngày và dài
ngày (Đào Thế Tuấn, 1979). Gần đây, nhiều nghiên cứu đã chứng minh, có
thể rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây lúa mà vẫn giữ được các đặc tính
mong muốn nên có thêm nhóm giống lúa cực ngắn ngày (Nguyễn Văn Hoan,
2006; QCVN 01-55 : 2011/BNNPTNT).
Giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn (ngắn ngày và cực ngắn
ngày) có giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng được rút ngắn, có kiểu cây đẹp, đẻ
nhánh nhanh nhưng có thể trỗ không tập trung (Yoshida, 1985; Nguyễn Thanh
Tuyền, 2007). Chúng có tốc độ tích lũy chất khô trước trỗ, cường độ quang
hợp và khả năng vận chuyển sản phẩm quang hợp sau trỗ cao (Pham Van
Cuong et al., 2010; Tăng Thị Hạnh và cs., 2014). Năng suất của chúng có thể
đạt cao chủ yếu là do số hạt trên bông và chỉ số thu hoạch cao (Huang et al.,
2015). Nhóm này phù hợp với liều lượng phân bón thấp, đặc biệt là mức đạm
bón thấp (Mai Thành Phụng và cs., 2005; Chu Văn Hách và cs., 2006).
2.2. SẢN XUẤT LÚA HÈ THU CỦA TỈNH NGHỆ AN
Trong sản lúa ở Nghệ An, những huyện vùng đồng bằng và núi thấp
thường ngập lụt vào đầu tháng 9 nên tỉnh chú trọng sản xuất hè thu hơn so
với vụ mùa. Vụ hè thu có 3 trà lúa dành cho 3 vùng (thấp trũng, chân vàn
và chân vàn cao) đều cần thực hiện phương châm gieo cấy “càng sớm, càng
tốt”. Đặc biệt vùng chạy lụt có hơn 20.000 ha, tập trung ở đồng bằng ven
biển và bán sơn địa, nhất thiết phải sử dụng các giống lúa dưới 100
ngày – giống cực ngắn ngày, thu hoạch trước ngày 30 tháng 8 để tránh lụt.
Giống cực ngắn ngày cũng chỉ có trong cơ cấu vụ hè thu, vụ xuân và vụ
mùa không cơ cấu mà được sử dụng để gieo cấy lại trong trường hợp mạ,
lúa non chết do rét đậm, rét hại đầu vụ xuân và hoặc cho những vùng
không chủ động nước ở đầu vụ mùa (Nguyễn Đình Hương, 2016).
4


2.3. CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI VÀ
QUANG HỢP CỦA CÂY LÚA
2.3.1. Đặc điểm sinh thái và mùa vụ của cây lúa
Ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh đến cây lúa chủ yếu là: Nhiệt
độ, ánh sáng, nước. Trong đó, nhiệt độ cao ở giai đoạn trỗ làm giảm tỷ lệ
hạt chắc và năng suất (Shi et al., 2016). Ở vụ hè thu thì hạn hán đầu vụ,
nắng mưa xen kẽ dễ dẫn đến sâu bệnh bùng phát, mưa lúc trỗ làm giảm
năng suất và ngập lụt cuối vụ gây cản trở cho việc thu hoạch là các yếu tố
chính ảnh hưởng đế sản xuất lúa tại Nghệ An (Nguyễn Đình Hương, 2016).
2.3.2. Đặc điểm quang hợp của cây lúa
Cường độ quang hợp đạt cao ở thời kỳ đầu của quá trình sinh trưởng
và giảm dần về cuối giai đoạn thu hoạch (Phạm Văn Cường và Hoàng Tùng,
2005; Hamaoka et al., 2012). Các giống lúa thuần cải tiến ngắn ngày có thời
gian sinh trưởng dinh dưỡng bị rút ngắn nhưng lại có số hạt trên bông nhiều,
vì vậy năng suất hạt phần lớn được đóng góp bởi lượng sản phẩm quang hợp
trực tiếp ở giai đoạn sau trỗ (Tăng Thị Hạnh và cs., 2014).
Các yếu tố sinh lý chính liên quan đến quang hợp lá gồm: Hàm
lượng diệp lục trong lá, hàm lượng ni tơ trong lá, độ dẫn khí khổng, cường
độ thoát hơi nước,..các yếu tố này hầu như tương quan với cường độ quang
hợp (Tang Thi Hanh et al., 2008; Makino, 2011; Kusumi et al., 2012).
2.3.3. Đặc điểm tích lũy chất khô và vận chuyển hydrat cacbon của cây lúa
Sản lượng chất khô của cây trồng chủ yếu là sản phẩm của quang
hợp (Đào Thế Tuấn, 1979). Tuy vậy, yếu tố quan trọng nhất để tạo năng
suất là sản lượng kinh tế, chỉ tiêu này phụ thuộc vào sản lượng sinh vật cao
hay thấp và sự vận chuyển hydrat cacbon từ thân và bẹ lá về hạt (Yoshida,
1985). Phạm Văn Cường (2016), Fu et al. (2011) cho rằng, sinh khối lớn
kết hợp với cường độ quang hợp cao ở giai đoạn sau trỗ đã tạo ra nguồn
lớn, bên cạnh đó số hạt trên đơn vị diện tích (sức chứa) lớn cũng như khả
năng vận chuyển hydrat cacbon không cấu trúc về hạt tốt là cơ sở tạo năng
suất hạt cao. Khả năng tích lũy tinh bột trong bẹ lá và thân cây; vận chuyển
các chất tích lũy trong bẹ và thân cây lên đòng; tiếp thu các chất dinh
dưỡng của bông và hạt ảnh hưởng đến hệ số kinh tế (Đào Thế Tuấn, 1979).
Hiện nay, các giống lúa mới ngắn ngày có chỉ số thu hoạch cao (0,57 0,58) nên có thể cho năng suất cao (Huang et al., 2015).
2.4. CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ PHÂN BÓN CHO CÂY LÚA
2.4.1. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến cây lúa
Bón đạm làm tăng cường độ quang hợp (Gu et al., 2017; Tăng Thị
Hạnh và cs., 2014; Liu and Li, 2016) và một số chỉ tiêu liên quan với quang
5


hợp như: Hàm lượng đạm trong lá (Li et al., 2012; Qiao et al., 2013), hàm
lượng diệp lục (Gu et al., 2017), độ dẫn khí khổng (Liu and Li, 2016),
nhưng hầu như làm giảm hiệu suất sử dụng đạm về quang hợp (Gu et al,
2017; Hamaoka et al., 2013). Ngoài ra, tăng lượng đạm bón kéo dài thời
gian sinh trưởng (Chu Văn Hách và cs., 2006), tăng tốc độ tích lũy chất khô
(Chen et al., 2017), diện tích lá (Đỗ Thị Hường và cs., 2014a; Li et al.,
2013), khối lượng chất khô (Qiao et al., 2013; Yoshinaga et al., 2013) một
số yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lúa (Pham Van Cuong et al.,
2003; Tăng Thị Hạnh và cs., 2014) nhưng làm giảm chỉ số thu hoạch
(Yoshinaga et al., 2013). Tuy nhiên, khi bón liều lượng đạm quá cao thì
không làm tăng, thậm chí giảm một số chỉ tiêu nông sinh học ở cây lúa.
2.4.2. Các kết quả nghiên cứu về phương pháp bón đạm cho cây lúa
Cây lúa hút nhiều đạm nhất ở thời kỳ đẻ nhánh hoặc làm đòng. Tuy
nhiên, tại thời kỳ chín cũng hút đạm từ 8,2 - 36,4% (Yoshida,1985). Bón
đạm ở thời kỳ làm đòng là quan trọng nhất đến năng suất lúa (Đào Thế Tuấn,
1979). Bón phân đạm cho đòng vào khoảng giữa lúc trỗ gọi là bón nuôi hạt
nhằm bổ sung lượng phân đạm cho lúa còn thiếu ở các thời kỳ trước, đồng
thời giữ được bộ lá xanh, làm tăng khả năng quang hợp sau trỗ, tăng tỷ lệ hạt
chắc và khối lượng hạt nên tăng năng suất lúa (Đào Thế Tuấn, 1979; Trần
Ngọc Cung và cs., 1985; Phạm Văn Cường và Uông Thị Kim Yến, 2008).
2.4.4. Ảnh hưởng của liều lượng kali đến cây lúa
Bón kali làm tăng khả năng chống chịu của cây lúa (Wang et al.,
2013), tăng hàm lượng diệp lục và diện tích lá (Gautam et al., 2016). Tuy
nhiên, bón kali với liều lượng cao thì diện tích lá và cường độ quang hợp
giảm (Phạm Văn Cường và cs., 2008; Nguyễn Thị Lan, 2006). Bên cạnh
đó, khi tăng lượng kali, số hạt trên bông tăng (Nguyễn Thị Lan, 2006;
Mohd Zain and Ismail, 2016) nhưng kali bón quá cao làm mất cân bằng
dinh dưỡng thì số bông/m2, tỷ lệ hạt chắc và năng suất lúa có thể giảm (Lê
Vĩnh Thảo, 2002; Đinh Dĩnh, 1970; Đào Thế Tuấn, 1979).
2.4.3. Liều lượng và tỷ lệ phân khoáng cho cây lúa
Lúa là cây trồng cần tương đối nhiều phân, phải bón nhiều phân một
cách hợp lý thì mới có thể đảm bảo năng suất cao. Trong một phạm vi nhất
định, bón phân càng nhiều thì năng suất càng cao, nhưng nếu bón không
hợp lý sẽ làm cho lúa sinh trưởng và phát triển không bình thường dẫn đến
năng suất thấp (Đinh Dĩnh, 1970). Việc bón phân cần căn cứ vào thời vụ,
trong vụ mùa do nhiệt độ đầu vụ cao, hiệu suất sử dụng phân bón cao hơn
với thời gian sinh trưởng ngắn hơn nên cần ít lượng phân bón hơn vụ xuân
(Phạm Văn Cường, 2016). Các giống lúa lai có ưu thế về sử dụng phân bón
hơn lúa thuần (Trần Văn Quang và cs., 2012). Bón phân cho lúa cũng cần
6


căn cứ theo tính chất đất, ở các tính chất đất khác nhau thì bón phân khác
nhau (Mai Thành Phụng và cs., 2005).
Tỷ lệ hút đạm và kali là 1,26:1 là phù hợp để cây lúa sinh trưởng,
phát triển tốt và cho năng suất cao (Đinh Dĩnh, 1970), trong trường hợp
thừa đạm thì dễ thiếu kali (Xu et al., 2017).

PHẦN 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Gồm 5 dòng/giống lúa cực ngắn ngày (các dòng D1, D2, D3, D4
và giống DCG72), thế hệ BC2F7, tạo ra bằng phương pháp lai lại, chọn lọc
cá thể theo định hướng cực ngắn ngày, năng suất cao và chất lượng khá từ
tổ hợp lai giữa Khang Dân 18 x TSC3. Giống Khang Dân (KD18) được sử
dụng làm đối chứng. Giống lúa cực ngắn ngày DCG72 được phát triển từ
dòng D5, chọn tạo từ năm 2012, đến năm 2017 được Bộ Nông nghiệp và
PTNT công nhận sản xuất thử.
3.2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nội dung 1: Nghiên cứu đặc điểm sinh lý và nông học của một số dòng
lúa cực ngắn ngày
* TN1: Đánh giá khả năng quang hợp, tích lũy chất khô và vận chuyển
hydrat cacbon không cấu trúc của các dòng lúa cực ngắn ngày trong điều
kiện chậu vại.
Thí nghiệm (TN) trong chậu được thực hiện ở vụ mùa 2014 tại
VNUA, gồm 6 công thức (các dòng D1, D2, D3, D4, giống DCG72 và
KD18 - ĐC). Thí nghiệm bố trí theo kiểu hoàn hoàn ngẫu nhiên (RCD), 5
lần nhắc lại, mỗi chậu được coi là một lần nhắc lại.
* TN2: So sánh khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng
của một số dòng lúa cực ngắn ngày trong các vụ hè thu tại tỉnh Nghệ An.
Thí nghiệm gồm 6 công thức (các dòng D1, D2, D3, D4, giống DCG72
và KD18 - ĐC) thực hiện trong 2 vụ hè thu (năm 2014 và 2015) được sắp xếp
theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần nhắc lại, bố trí tại 2 vùng sinh thái
khác nhau (đồng bằng ven biển, thuộc vùng ngập lụt - Yên Thành; Vùng núi phía
Tây - Quỳ Hợp). Thí nghiệm được gieo cấy theo lịch của địa phương với diện
tích ô thí nghiệm là 20 m2, mật độ cấy là 50 khóm/m2, cấy 3 dảnh/khóm.
Nội dung 2: Đánh giá đặc điểm sử dụng đạm và kali của giống lúa cực
ngắn ngày DCG72 (giống ưu tú nhất được chọn từ nội dung 1)
* TN3: Khả năng quang hợp và tích lũy chất khô của giống lúa cực ngắn
ngày DCG72 trên các mức đạm khác nhau.
Thí nghiệm trong chậu thực hiện trong vụ mùa 2016 tại VNUA, được
bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) với 3 mức đạm (không bón:
7


N0- 0 g N/chậu, thấp: N1- 0,5 g N/chậu và cao: N2- 1,5 g N/chậu) và 2 giống
lúa (DCG72 và KD18). Thí nghiệm gồm 6 công thức (N0DCG72, N0KD18,
N1DCG72, N1KD18, N2DCG72 và N2KD18), được bố trí theo kiểu hoàn
toàn ngẫu nhiên, 5 lần nhắc lại, mỗi chậu được coi là 1 lần nhắc lại.
* TN4: Ảnh hưởng của liều lượng kali đến khả năng quang hợp và vận chuyển
hydrat cacbon không cấu trúc đối với giống lúa cực ngắn ngày DCG72.
Thí nghiệm chậu vại thực hiện trong vụ mùa 2016 tại VNUA, được bố
trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) với 3 mức kali (không bón - K0:
0 g K2O/chậu; thấp - K1: 0,5 g K2O/chậu và cao - K2: 1,0 g K2O/chậu) và 2
giống lúa (DCG72 và KD18). Thí nghiệm gồm 6 công thức (K0DCG72,
K0KD18, K1DCG72, K1KD18, K2DCG72 và K2KD18) được bố trí 5 lần
nhắc lại, mỗi chậu được coi là 1 lần nhắc lại, tổng số chậu là 180.
Nội dung 3: Nghiên cứu kỹ thuật bón phân cho giống lúa cực ngắn
ngày DCG72
* TN5: Ảnh hưởng của các mức phân và phương pháp bón đạm khác nhau
đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa cực ngắn ngày
DCG72 tại tỉnh Nghệ An.
Thí nghiệm được thực hiện trong 2 vụ: hè thu 2015 và vụ xuân
2016 tại Yên Thành - Nghệ An. Thí nghiệm gồm 2 nhân tố, nhân tố 1 là 3
mức phân bón: M1 (60 kg N + 48 kg P2O5 + 48 kg K2O/ha), M2 (90 kg N +
72 kg P2O5 + 72 kg K2O/ha) và M3 (120 kg N + 96 kg P2O5 + 96 kg
K2O/ha) theo tỷ lệ N: P2O5: K2O là 1:0,8:0,8 và nhân tố 2 là 2 phương pháp
bón đạm: P1 (Bón lót) và P2 (Bón nuôi hạt - bón trước trỗ từ 1 đến 3 ngày).
Phương pháp
P1
P2

Bón lót
20%
0%

Thúc đẻ nhánh
50%
50%

Thúc nuôi đòng
30%
30%

Thúc nuôi hạt
0%
20%

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ô lớn – ô nhỏ (ô lớn là mức phân
bón, ô nhỏ là phương pháp bón đạm), 3 lần nhắc lại, diện tích mỗi ô nhỏ là
16,5 m2 (3,5 m x 5 m). Mật độ cấy là 50 khóm/m2, cấy 3 dảnh/khóm.
* Mô hình thử nghiệm: Kết quả nghiên cứu về kỹ thuật bón phân cho
giống lúa DCG72 tại tỉnh Nghệ An
Mô hình thử nghiệm kết quả nghiên cứu (mô hình bón phân cải
tiến) thực hiện ở vụ hè thu năm 2016, tại huyện Thanh Chương và Đô
Lương với quy mô 2 ha/mô hình. Công thức M1P2 (M1: lượng phân bón
thấp là 60 kg N + 48 kg P2O5 + 48 kg K2O/ha; P2: Phương pháp bón đạm
nuôi hạt) được dùng để xây dựng mô hình. Đối chứng là quy trình bón phân
đơn cho lúa thuần ngắn ngày do Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh ban hành

8


năm 2013. Cụ thể quy trình bón phân của mô hình bón phân cải tiến và đối
chứng như sau:
Lần bón
Bón lót
Thúc đẻ nhánh
Thúc đón đòng
Thúc nuôi hạt
Tổng

Mô hình bón phân cải tiến
N
P 2O 5
K2O
0
48
10
30
0
24
18
0
14
12
0
0
60
48
48

N
30
18
12
0
60

Đối chứng
P2O5
64
0
0
0
64

K2O
0
30
30
0
60

* Phương pháp xử lý số liệu: Các số liệu được tổng hợp trên
Excel, chỉ tiêu có đơn vị tính là % được chuyển biến theo hàm Arcsin
(Wilson et al., 2017), phân tích phương sai (ANOVA) bằng phần mềm
GenStat 17th Edition. Các giá trị trung bình được so sánh theo DUNCAN.
PHẦN 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1. NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM QUANG HỢP VÀ NÔNG HỌC CỦA
MỘT SỐ DÒNG LÚA CỰC NGẮN NGÀY
4.1.1. Đánh giá khả năng quang hợp, tích lũy chất khô và vận chuyển
hydrat cacbon không cấu trúc của các dòng/giống lúa cực ngắn ngày
trong điều kiện chậu vại (TN1)
Kết quả Bảng 4.1 cho thấy, các dòng/giống lúa cực ngắn ngày có
thời gian sinh trưởng ngắn hơn KD18 từ 10 – 11 ngày. Trừ dòng D2, các
dòng/giống còn lại đều có diện tích lá ở giai đoạn sau trỗ tốt hơn so với
KD18. Khối lượng chất khô của các dòng/giống tương đương hoặc cao hơn
ĐC ở giai đoạn trước trỗ. Tỷ lệ chất khô bông/khóm của các dòng/giống
(trừ D3) đều cao hơn KD18.
Bảng 4.1. Một số chỉ tiêu sinh trưởng của các dòng lúa
cực ngắn ngày ở thí nghiệm trong chậu
Thời gian
Diện tích lá
Khối lượng chất khô
Tỷ lệ
sinh
(cm2/khóm)
(g/khóm)
chất khô
trưởng
bông/
Đẻ nhánh
Trỗ
Chín sáp Đẻ nhánh
Trỗ Chín sáp
(ngày)
khóm
4,2a
36,0ab
36,8a
0,61de
D1
97
358,5a 1497,6a 1141,3bc
4,2a
35,5a
37,4a
0,54c
D2
98
382,1b 1533,1a 1056,1a
a
c
d
b
d
b
4,0
39,4
43,3
0,43a
D3
97
394,0
1855,8 1133,2
4,8b
35,2a
39,3b
0,60d
D4
98
413,6c 1643,0b 1182,8cd
b
b
c
d
c
d
4,9
37,2
41,4
0,63e
DCG72
97
438,8
1729,2 1216,0
a
c
c
4,3
37,2
41,5
0,51b
KD18
108
380,6b 1510,2a 1061,0a
Dòng/
giống

Ghi chú: Trong cùng một cột giá trị có cùng chữ cái thì không sai khác ở độ tin cậy 95%.

9


Cường độ quang hợp tại thời kỳ trỗ bông và chín sáp các dòng/giống
lúa cực ngắn ngày (trừ D3) đều cao hơn so với đối chứng (Hình 4.1).
c

,0
36

3

cd

,0
27

,5
34

,9
33

d

cd

c

,3
27

,1
26

,6
25

bc

c
ab

,8
33

a

1,8

,2 d

,5 b
13

,7 a

trỗ

11

15

16

,8 c
14

14
,9 c

,1 c

,6
21

20

Đẻ
nhánh

b

,5
23

a

25

15

30

c
ab

ab

,4
33

35

2

CĐQH (µmol CO 2/m /s)

40

Chín
sáp

10
5
0
D1

D2

D3

D4

DCG72

KD18

Hình 4.1. Cường độ quang hợp (CĐQH) của các dòng/giống lúa
cực ngắn ngày ở thí nghiệm trong chậu
Ghi chú: Cột màu đen, xám và trắng tương ứng tại giai đoạn đẻ nhánh, trỗ và chín sáp
Trong cùng một hình giá trị có cùng chữ cái thì không sai khác ở độ tin cậy 95%

Khối lượng chất khô ở thời kỳ đẻ nhánh và cường độ quang hợp ở
thời kỳ chín sáp tương quan với năng suất cá thể với hệ số tương quan là
r = 0,77 và r = 0,82 (Hình 4.2). Theo đó, Năng suất cá thể của các
dòng/giống lúa cực ngắn ngày phụ thuộc vào khối lượng chất khô ở giai
đoạn trước trỗ và cường độ quang hợp ở giai đoạn sau trỗ.
40

Khối lượng chất khô
(g/khóm)

30

y = 4,9x + 19,6
r = 0,77*

Giai đoạn chín sáp

y = 0,4x + 1,14
r = 0,82*

35

25
20
15
10
5

(µmol CO 2/m2/s)

Thời kỳ đẻ nhánh

35

Cường độ quang hợp

40

30
25
20
15
10
5

0

0

30

35

40

45

Năng suất cá thể (g/khóm)

50

30

35

40

45

50

Năng suất cá thể (g/khóm)

Hình 4.2. Tương quan giữa khối lượng chất khô ở thời kỳ đẻ nhánh và cường
độ quang hợp ở giai đoạn chín sáp với năng suất cá thể của các dòng/giống
lúa cực ngắn ngày ở thí nghiệm trong chậu

Kết quả Bảng 4.2 cho thấy, ở giai đoạn trỗ và chín sáp các dòng/giống lúa
cực ngắn ngày có khả năng duy trì hàm lượng diệp lục (chỉ số SPAD) tương
đương hoặc cao hơn KD18. Khả năng vận chuyển HCK từ thân lá về bông
(chênh lệch HCK) của các dòng D1, D4 và giống DCG72 cao hơn so với KD18.
10


Bảng 4.2. Một số chỉ tiêu sinh lý của các dòng/giống lúa
cực ngắn ngày ở thí nghiệm trong chậu
Dòng/
giống
D1
D2
D3
D4
DCG72
KD18

Chỉ số SPAD
HL đạm thời
kỳ trỗ (%) Đẻ nhánh Trỗ
Chín sáp
3,42cd
49,5c
49,0b
42,1bc
bc
a
b
3,33
44,4
48,4
42,0abc
ab
a
a
3,30
43,8
45,5
41,5ab
de
b
b
3,49
47,3
48,7
42,4c
e
bc
b
3,55
48,1
48,4
42,6c
a
bc
a
3,27
48,8
46,0
41,2a

HCK (mg/g)
Trỗ Chín hoàn toàn Chênh lệch
265,4e
127,4c
138,0d
a
e
200,7
152,7
47,9a
b
f
209,2
165,8
43,4a
b
b
215,1
99,3
115,8c
d
a
253,5
75,0
178,5e
c
d
238,7
138,0
101,7b

Ghi chú: Như bảng 4.1; HL là hàm lượng, HCK là hàm lượng hydrat cacbon không cấu trúc

Qua bảng 4.3 cho thấy, dòng D4 và giống DCG72 đạt các yếu tố cấu
thành năng suất tương đương hoặc cao hơn so với KD18. Các dòng/giống
lúa cực ngắn ngày đạt khối lượng 1.000 hạt và năng suất tích lũy tương
đương hoặc cao hơn so với đối chứng KD18.
Bảng 4.3. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất cá thể
của các dòng/giống lúa cực ngắn ngày ở thí nghiệm trong chậu
Dòng/
Số bông/
giống
khóm
D1
10,4a
D2
11,2b
D3
10,2a
D4
12,8c
DCG72
11,4b
KD18 (ĐC)
11,8b

Số hạt/
bông
211,7b
179,8a
201,7b
226,8c
208,5b
212,7b

Tỷ lệ hạt Khối lượng
chắc %) 1000 hạt (g)
73,3b
20,7b
a
66,3
19,1a
a
65,4
23,8d
72,7b
21,1bc
78,5c
21,9c
b
73,9
19,0a

NSCT
NSTL
(g/khóm) (g/khóm/ngày)
40,6bc
0,42c
b
39,4
0,40bc
a
35,8
0,37a
42,8d
0,44d
46,9e
0,48e
cd
41,9
0,39ab

Ghi chú: Như bảng 4.1; NSCT là năng suất cá thể; NSTL là năng suất tích lũy.

NSCT của dòng D2 và D3 thấp hơn so với ĐC, dòng D1 và D4 tương
đương ĐC và giống DCG72 (phát triển từ dòng D5) đạt cao hơn so với ĐC.
4.1.2. So sánh khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của
một số dòng lúa cực ngắn ngày trong các vụ hè thu tại tỉnh Nghệ An (TN2)
Qua bảng 4.4 cho thấy, các dòng/giống khác nhau về TGST là do sự
khác biệt trong giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng. Tổng TGST của các
dòng/giống từ 88 - 96 ngày, ngắn hơn KD18 từ 8 - 12 ngày. Đối chiếu với
QCVN 01-55:2011/BNNPTNT thì các dòng/giống lúa này được xếp vào nhóm
cực ngắn ngày. Tốc độ tích lũy chất khô (TĐTLCK) của các dòng/giống lúa
cực ngắn ngày ở giai đoạn để nhánh – trỗ cao hơn so với KD18. Hàm lượng
đạm trong lá đòng ở giai đoạn trỗ của tất cả các dòng/giống tương đương
hoặc cao hơn ĐC. Tuy NSSVH không cao nhưng dòng D4 và giống DCG72
đạt chỉ số thu hoạch cao hơn so với ĐC.
11


Bảng 4.4. Một số chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của các dòng lúa
cực ngắn ngày tại tỉnh Nghệ An
TGST (ngày)
Địa Dòng/
Gieo – Trỗ
Tổng
điểm giống
HT14 HT15 HT14 HT15
D1
60
65 88
92
D2
61
69 90
96
D3
60
69 89
96
Yên
Thành D4
60
65 88
92
DCG72 60
65 88
92
KD18
69
75 100 104
D1
60
66 88
94
D2
61
68 90
96
D3
61
68 89
96
Quỳ
Hợp
D4
60
66 88
94
DCG72 60
66 88
94
KD18
68
74 99 103

TĐTLCK
ĐN-Trỗ
HT14 HT15
19,8bc 19,9c
19,2b 20,3cd
21,9d 18,7b
20,5c 20,7d
23,1e 20,8d
17,9a 15,8a
21,5c 18,2b
20,8b 18,2b
24,1e 19,2d
22,3d 18,9cd
24,5e 18,4bc
19,8a 14,5a

HL đạm của
lá đòng (%)
HT14 HT15
3,48b 3,14ab
3,44b 3,02a
3,21a 2,94a
3,48b 3,26ab
3,52b 3,40b
3,11a 2,95a
3,32c 2,37ab
3,08b 2,30a
2,84a 2,75bc
3,38c 3,09cd
3,41c 3,28d
2,80a 2,51ab

NSSVH
(g/m2)
HT14 HT15
1.014a 1.108a
1.017a 1.150b
1.063b 1.159b
1.070b 1.187b
1.189d 1.251c
1.149c 1.258c
991a 1.084a
1.002a 1.076a
1.077b 1.056a
1.063b 1.129b
1.163c 1.147b
1.107b 1.070a

Chỉ số thu
hoạch
HT14 HT15
0,55c 0,55d
0,52b 0,51b
0,49a 0,46a
0,56d 0,57e
0,57e 0,58e
0,52b 0,54c
0,55d 0,54c
0,53b 0,52b
0,49a 0,49a
0,56d 0,56d
0,58e 0,57e
0,54c 0,53c

Ghi chú: Như Bảng 4.1; HT14 là vụ hè thu năm 2014; HT15 là vụ hè thu năm 2015; ĐN là đẻ nhánh; TGST là
thời gian sinh trưởng; TĐTLCK là tốc độ tích lũy chất khô; HL là hàm lượng; NSSVH là năng suất sinh vật học

Kết quả bảng 4.5 cho thấy, các dòng/giống lúa cực ngắn ngày bị nhiễm
một số loại sâu bệnh nhẹ và nhẹ hơn so với đối chứng ở giai đoạn sau trỗ.
Bảng 4.5. Mức độ gây hại của một số loại sâu bệnh trên các dòng
lúa cực ngắn ngày tại tỉnh Nghệ An (điểm)
Địa
điểm

Dòng/
giống

D1
D2
D3
Yên
Thành
D4
DCG72
KD18
D1
D2
D3
Quỳ
Hợp
D4
DCG72
KD18

Vụ Hè Thu năm 2014
Vụ Hè Thu năm 2015
Đẻ nhánh
Trỗ
Chín sữa Đẻ nhánh
Trỗ
Chín sữa
Sâu
Sâu
Sâu
Sâu
Sâu
Sâu Bệnh
Sâu
Sâu
Sâu
Sâu
cuốn
cuốn
cuốn
cuốn
Đục
đục khô
đục
đục
đục
đục




thân
thân vằn
thân thân
thân
thân
nhỏ
nhỏ
nhỏ
nhỏ
1
1
3
0
3
0
1
1
3
1
1
3
0
3
1
3
0
1
1
3
1
3
1
3
1
1
1
1
1
3
1
3
3
3
1
3
1
1
1
0
1
0
3
0
1
1
1
7
1
7
1
1
1
1
0
5
1
0
0
1
5
3
3
3
0
5
1
0
0
1
5
1
3
3
0
3
3
5
3
1
5
1
3
1
0
5
1
0
0
0
3
1
3
1
0
3
0
0
0
0
3
1
3
1
1
5
1
3
1
1
5
1
3
3

Các dòng/giống lúa cực ngắn ngày có khối lượng 1.000 hạt và năng
suất tích lũy (trừ dòng D3) đạt tương đương hoặc cao hơn KD18 (Bảng
4.6). Năng suất thực thu của giống DCG72 (phát triển từ dòng D5) đạt cao
12


nhất và cao hơn so với KD18. Giống DCG72 cũng có hàm lượng đạm trong
lá đòng ở thời kỳ trỗ, tốc độ tích lũy chất khô, chỉ số thu hoạch và khối
lượng 1.000 hạt đạt giá trị cao nhất.
Bảng 4.6. Các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất thực thu và năng suất
tích lũy của các dòng lúa cực ngắn ngày tại tỉnh Nghệ An
Địa Dòng/
điểm giống
D1
D2
D3
Yên
Thành D4
DCG72
KD18
D1
D2
D3
Quỳ
Hợp
D4
DCG72
KD18

Số bông/
m2
HT14 HT15
369,4c 323,3b
319,4a 325,0b
319,4a 276,7a
309,7a 325,0b
338,9b 331,7c
358,3c 336,7c
325,0a 350,0c
325,0a 353,3c
330,6a 346,7bc
330,6a 336,7b
365,3b 343,3bc
380,6c 311,7a

Số hạt/
bông
HT14 HT15
147,3c 149,0a
125,6a 166,7e
155,2d 162,8cd
139,4b 159,2b
139,5b 162,3c
148,0c 164,9de
113,8ab 107,8a
113,7ab 126,7c
141,8c 109,9ab
108,1a 108,7ab
118,6b 107,2a
109,2a 114,5b

Tỷ lệ
P. 100 hạt NS thực thu NS tích lũy
hạt chắc (%)
(gam)
(tạ/ha)
(kg/ha/ngày)
HT14 HT15 HT14 HT15 HT14 HT15 HT14 HT15
58,1b 76,2bc 18,4c 23,4b 41,7b 61,7c 47,4b 67,1d
75,4e 74,5bc 17,5a 20,5a 39,1ab 58,2b 43,4a 60,6c
44,1a 63,8a 20,8d 24,9c 37,8a 49,2a 42,5a 51,3a
69,6d 72,2b 21,2e 23,6b 49,9c 62,6cd 56,7d 68,0de
65,5c 72,5b 21,6f 23,8b 52,9d 64,0d 60,1e 69,6e
63,3c 77,9c 18,2b 20,8a 51,0cd 56,3b 51,0c 54,1b
70,8b 67,4ab 19,9c 23,5b 42,7b 50,3b 48,5b 53,5b
76,3c 70,6b 19,3a 20,4a 44,9b 51,3b 49,9bc 53,4b
54,9a 66,9a 22,5d 24,5d 39,4a 42,2a 44,3a 44,0a
79,4d 74,6c 22,8e 24,0c 49,7c 54,4c 56,5d 57,9d
73,8c 74,9c 22,9f 23,9c 53,6d 57,7d 60,9e 61,4e
73,9b 87,7d 19,7b 20,2a 51,5cd 57,6d 52,0c 55,9c

Ghi chú: Như Bảng 4.1; HT14 là vụ hè thu năm 2014; HT15 là vụ hè thu năm 2015; NS là năng suất.

Bảng 4.7 cho thấy, các dòng/giống lúa cực ngắn ngày có hàm lượng
amylose (dưới 23%) thấp hơn hẳn KD18 (trên 28%) nhưng chất lượng thử
nếm cao hơn so với giống KD18. Giống DCG72 cũng đạt một số chỉ tiêu
thử nếm cao hơn các dòng còn lại.
Bảng 4.7. Một số chỉ tiêu liên quan đến chất lượng gạo của
các dòng lúa cực ngắn ngày tại tỉnh Nghệ An
Hàm lượng
Chất lượng thử nếm (điểm)
amylose (%)
Mùi thơm
Độ dẻo
Vị ngon
HT14
HT15
HT15 HT15 HT14
HT15 HT14 HT15
D1
19,3bc
22,4d
1,8
2,3
3,0
2,4
2,9
2,6
D2
18,2b
15,6b
2,4
2,1
3,1
3,0
2,8
2,5
D3
10,9a
13,2a
2,1
1,8
3,8
3,7
2,8
2,8
Yên
Thành
D4
20,6c
22,7d
2,0
2,2
3,3
3,7
2,6
3,3
DCG72
20,4c
19,2c
2,2
2,4
3,4
3,6
3,2
3,4
KD18
28,0d
30,1e
1,9
1,7
1,4
2,0
1,7
1,8
D1
19,6b
20,9bc
2,1
2,1
2,7
3,4
2,8
2,7
D2
19,9b
18,0b
2,3
2,1
2,7
3,2
2,3
2,8
D3
12,4a
11,4a
1,9
1,9
3,6
4,1
2,5
3,4
Quỳ
Hợp
D4
19,4b
23,1c
2,2
2,0
3,1
3,6
2,7
3,5
DCG72
20,9b
21,0bc
2,0
2,0
3,2
3,7
2,9
3,7
KD18
28,7c
30,9d
1,7
1,5
1,5
1,5
1,6
1,8
Địa
điểm

Dòng
/giống

Ghi chú: Như Bảng 4.1; HT14 là vụ hè thu năm 2014; HT15 là vụ hè thu năm 2015.

13


Một số nhận xét rút ra từ nội dung nghiên cứu 4.1 (TN1 và TN2)
Thời gian sinh trưởng của các dòng/giống lúa cực ngắn ngày đều
ngắn hơn giống Khang Dân 18 từ 8 – 12 ngày ở các điều kiện trồng (trong
chậu và ngoài đồng ruộng) và mùa vụ (2 vụ hè thu và vụ mùa) khác nhau.
Mặc dù các dòng/giống lúa cực ngắn ngày có khối lượng chất khô
tích lũy ở giai đoạn sau trỗ thấp (thí nghiệm 1) và năng suất sinh học thấp
(thí nghiệm 2) nhưng vẫn đạt năng suất cao là do đạt tỷ lệ khối lượng chất
khô bông/khóm (thí nghiệm 1) và chỉ số thu hoạch cao (thí nghiệm 2)
Trong cả 2 thí nghiệm, năng suất tích lũy của các dòng/giống lúa cực
ngắn ngày (trừ D3) đều tương đương hoặc cao hơn so với KD18. Giống
DCG72 đạt hàm lượng đạm trong lá đòng ở giai đoạn trỗ cao nên ở thí
nghiệm 1, cường độ quang hợp, khả năng vận chuyển hydrat cacbon không
cấu trúc ở giai đoạn sau trỗ đạt cao. Do đó, tỷ lệ hạt chắc của giống
DCG72, khối lượng 1.000 hạt ở cả 2 thí nghiệm, tỷ lệ chất khô bông/khóm
(thí nghiệm 1), chỉ số thu hoạch (thí nghiệm 2) cao nên năng suất đạt cao
nhất. Giống DCG72 là ưu tú nhất trong các dòng/giống thí nghiệm, có các
đặc điểm nông sinh học tốt, năng suất thực thu trong vụ hè thu cao (đạt từ
52,9 – 53,6 tạ/ha năm 2014 và đạt 57,7 – 64,0 tạ/ha năm 2015), chất lượng
khá (amylose từ 19,2 – 21%, chất lượng thử nếm tốt) và phù hợp với điều
kiện sản xuất lúa của tỉnh Nghệ An.
4.2. ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SỬ DỤNG ĐẠM VÀ KALI CỦA
GIỐNG LÚA CỰC NGẮN NGÀY DCG72
4.2.1. Khả năng quang hợp và tích lũy chất khô của giống lúa cực ngắn
ngày DCG72 trên các mức đạm bón khác nhau (TN3)
Kết quả Bảng 4.8 cho thấy, tăng lượng đạm bón từ không bón đạm
(N0 – 0 g N/chậu) lên mức đạm bón thấp (N1 – 0,5 g N/chậu) làm tăng khối
lượng chất khô ở 3 thời kỳ. Tuy nhiên, khi tiếp tục tăng lượng đạm bón cao
(N2 – 1,5 g N/chậu) thì khối lượng chất khô của DCG72 giảm, trong khi chỉ
tiêu này của KD18 vẫn tiếp tục tăng. Tỷ lệ chất khô bông/khóm của 2 giống
tăng từ N0 lên N1, tiếp tục tăng lên N2 giống DCG72 giảm mạnh.
Bảng 4.8. Ảnh hưởng của mức đạm bón đến khối lượng chất khô và tỷ lệ
chất khô bông/khóm của giống lúa cực ngắn ngày DCG72
Mức đạm/
chậu
N0 (0,0 g)
N1 (0,5 g)
N2 (1,5 g)

Giống
DCG72
KD18
DCG72
KD18
DCG72
KD18

Khối lượng chất khô (g/khóm)
Đẻ nhánh
Trỗ
Chín sáp
3,5b
21,1a
34,1a
a
b
3,3
22,0
34,2a
4,5d
30,3d
41,5c
c
c
4,1
27,5
36,4b
e
e
4,9
31,7
36,1b
d
e
4,5
32,0
45,8d
Ghi chú: Như Bảng 4.1

14

Tỷ lệ chất khô
Bông/khóm
0,58c
0,57b
0,67f
0,64e
0,53a
0,63d


Bảng 4.9 cho thấy, ở giai đoạn đẻ nhánh và trỗ CĐQH của DCG72
tương đương hoặc cao hơn KD18 ở cả 3 mức đạm bón. Tuy nhiên, tại mức
đạm bón cao (N2), CĐQH của DCG72 thấp hơn so với giống KD18.
CĐQH của giống DCG72 ở mức đạm cao (N2) ở thời kỳ chín sáp thấp thể
hiện khả năng cho năng suất thấp (Liu and Li, 2016; Hamaoka et al.,2012)
Khi tăng từ đạm bón thấp (N1) lên mức đạm bón cao (N2) thì hàm
lượng đạm và diệp lục trong lá (chỉ số SPAD) của DCG72 giảm mạnh từ
giai đoạn trỗ đến chín sáp nên khả năng quang hợp và tích lũy chất khô của
giống lúa cực ngắn ngày thấp hơn so với KD18 ở thời kỳ chín sáp. Điều
này cho thấy giống DCG72 có khả năng chịu phân đạm kém.
Bảng 4.9. Ảnh hưởng của mức đạm bón đến cường độ quang hợp, hàm
lượng đạm trong lá và chỉ số SPAD của dòng lúa cực ngắn ngày DCG72
Mức đạm/
chậu

Giống

N0 (0,0 g)

DCG72
KD18

DCG72
KD18
DCG72
N2 (1,5 g)
KD18
N1 (0,5 g)

Cường độ quang hợp
(µmol CO2/m2/s)
Đẻ
Chín
Trỗ
nhánh
sáp
25,6a 19,1a 10,0b
25,6a 18,5a 9,2ab

Hàm lượng đạm
Chỉ số SPAD
trong lá (%)
Đẻ
Chín
Đẻ
Chín
Trỗ
Trỗ
nhánh
sáp nhánh
sáp
3,41a 3,00a 2,54a 35,3a 31,2a 27,5b
3,43a 3,14a 2,53a 39,2b 31,7a 29,3b

29,3bc
28,8b
30,2c
26,9a

3,81b
3,81b
4,17c
3,89b

25,7d
21,2b
23,7c
21,1b

14,3d
12,4c
8,5a
12,5c

3,63c
3,48bc
3,34b
3,56c

2,75b
2,51a
2,46a
3,13c

42,4d
41,4cd
42,7d
39,8bc

35,9b
36,9b
40,5d
38,5c

35,1d
31,6c
22,9a
32,0c

Ghi chú: Như Bảng 4.1

Kết quả Bảng 4.10 cho thấy, hàm lượng hydrat cacbon không cấu
trúc (HCK) trong giai đoạn trỗ của 2 giống tương đương nhau ở mức đạm
N0, tại mức đạm N1 và N2, HCK của DCG72 thấp hơn so với KD18. Ở
thời kỳ chín hoàn toàn, HCK của DCG72 thấp hơn so với KD18 ở mức N0
và N1 nhưng cao hơn so với KD18 ở mức N2.
Bảng 4.10. Ảnh hưởng của mức đạm bón đến hàm lượng hydrat
cacbon không cấu trúc của giống lúa cực ngắn ngày DCG72
Mức đạm/
chậu

Giống

DCG72
KD18
DCG72
N1 (0,5 g)
KD18
DCG72
N2 (1,5 g)
KD18
N0 (0,0 g)

Hàm lượng hydrat cacbon không
Chênh lệch HCK giai đoạn
cấu trúc (mg/g chất khô)
Trỗ - Chín hoàn toàn
Trỗ
Chín sáp Chín hoàn toàn mg/g chất khô
%
246,4b
121,1a
83,1b
163,3d
66,3
238,0b
159,0c
117,7c
120,3b
50,6
c
b
a
e
257,5
134,9
68,7
188,8
73,3
283,2d
197,8e
116,5c
166,7d
58,9
217,3a
163,8c
142,8d
74,5a
34,3
256,5c
189,0d
113,1c
143,5c
55,9

Ghi chú: Như Bảng 4.1; HCK là hàm lượng hydrat cacbon không cấu trúc

15


Mức chênh lệch HCK trong giai đoạn từ trỗ đến chín hoàn toàn của
DCG72 cao hơn so với KD18 ở mức đạm bón đạm thấp N1. Tiếp tục tăng
lên mức bón đạm lên N2, giá trị này ở giống DCG72 thấp hơn với KD18.
Theo đó, ở mức đạm bón cao, giống DCG72 có khả năng vận chuyển sản
phẩm quang hợp từ thân lá về hạt thấp (34,3%) nên năng suất cá thể thấp.
Bảng 4.11 cho thấy, số bông/khóm của giống DCG72 tương đương với
KD18 ở cả 3 mức đạm bón, khi tăng mức đạm bón hầu như không làm tăng
chỉ tiêu này ở cả 2 giống. Số hạt/bông của giống DCG72 ở mức đạm N0 và
N2 thấp hơn so với KD18 nhưng ở mức N1 cao hơn so với KD18. Tỷ lệ hạt
chắc của DCG72 và KD18 tương đương nhau ở cả 3 mức đạm bón. P 1.000
hạt của DCG72 tăng khi tăng mức đạm từ N0 lên N1, nhưng tiếp tục tăng lên
mức đạm bón cao (N2) thì chỉ tiêu này giảm. Tại cả 3 mức đạm P 1.000 hạt
của DCG72 cao hơn so với KD18.
Bảng 4.11. Ảnh hưởng của mức đạm bón đến các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất cá thể của giống lúa cực ngắn ngày DCG72
Mức đạm/
chậu
N0 (0,0 g)
N1 (0,5 g)
N2 (1,5 g)

Giống
DCG72
KD18
DCG72
KD18
DCG72
KD18

Số bông/
khóm
12,8a
13,0a
14,4ab
14,6ab
14,6ab
15,4b

Số hạt/
bông
211,9a
228,7b
249,0c
236,5b
215,6a
258,8d

Tỷ lệ hạt
chắc (%)
77,9bc
76,8bc
84,2d
81,4cd
67,0a
72,4ab

P 1.000
hạt (g)
19,13b
18,06a
19,72c
18,26a
19,22b
18,27a

NSCT
(g/khóm)
42,70b
43,87b
52,51e
47,33c
40,70a
49,48d

Ghi chú: Như Bảng 4.1; NSCT là năng suất cá thể; P là khối lượng

Năng suất cá thể của DCG72 tương đương với KD18 ở mức không
bón đạm (N0 - 0 g N/chậu) cao hơn so với KD18 ở mức đạm bón thấp (N10,5 g N/chậu) nhưng thấp hơn giống KD18 ở mức đạm bón cao (N2:1,5 g
N/chậu) là do tỷ lệ hạt chắc thấp. Vì vậy, mức đạm bón thấp (N1- 0,5 g
N/chậu) là phù hợp cho giống lúa cực ngắn ngày DCG72.
4.2.2. Ảnh hưởng của liều lượng kali đến khả năng quang hợp và vận
chuyển hydrat cacbon không cấu trúc đối với giống lúa cực ngắn ngày
DCG72 (TN4)
Tại giai đoạn đẻ nhánh và trỗ cả 2 giống đều tăng diện tích lá và hàm
lượng kali trong thân khi tăng mức kali bón (Bảng 4.12). Trong thời kỳ
chín sáp tăng mức bón từ K1 lên K2 hầu như không làm tăng 2 chỉ tiêu
này, DCG72 cao hơn so với KD18 ở mức K1 nhưng thấp hơn so với KD18
ở mức K2.
16


Bảng 4.12. Diện tích lá và hàm lượng kali trong thân của giống lúa cực
ngắn ngày DCG72 ở các liều lượng kali khác nhau
Mức
kali/chậu
K0 (0,0 g)
K1 (0,5 g)
K2 (1,0 g)

Giống
DCG72
KD18
DCG72
KD18
DCG72
KD18

Diện tích lá (cm2/khóm)
Hàm lượng Kali trong thân (%)
Đẻ nhánh
Trỗ
Chín sáp Đẻ nhánh Trỗ
Chín sáp
410,8a
690,5a 647,3a
2,76a
2,00a
2,26b
a
b
b
b
a
426,4
778,0
685,0
3,00
1,88
2,07a
b
b
d
c
b
498,6
807,4
778,0
3,19
2,32
2,91d
c
c
c
c
b
528,4
909,6
743,6
3,20
2,26
2,70c
525,9bc
895,7c 696,6b
3,34cd
2,64c
2,93d
d
d
cd
d
c
564,0
1.012,4 752,4
3,40
2,57
3,08e
Ghi chú: Như Bảng 4.1

Kết quả Bảng 4.13 cho thấy, CĐQH của 2 giống ở giai đoạn chín
sáp tăng từ mức K0 lên K1, tiếp tục tăng lên mức K2 giống DCG72 giảm
do diện tích lá và hàm lượng diệp lục trong lá thấp, trong khi giống KD18
không giảm. Điều này cho thấy, DCG72 phản ứng nhạy cảm với mất cân
đối dinh dưỡng.
Bảng 4.13. Một số chỉ tiêu liên quan đến quang hợp của giống lúa cực
ngắn ngày DCG72 ở các liều lượng kali khác nhau
Mức
Giống
kali/chậu
DCG72
KD18
DCG72
K1 (0,5 g)
KD18
DCG72
K2 (1,0 g)
KD18
K0 (0,0 g)

Chỉ số SPAD
Đẻ
Chín
Trỗ
nhánh
sáp
44,5ab 34,1b 28,5b
42,7a 31,5a 26,4a
47,9c 39,5c 34,4d
45,3ab 35,2b 28,6b
48,7c 37,8c 31,5c
46,4bc 38,2c 32,4c

CĐQH (µmol CO2/m2/s)
HCK (mg/g)
Đẻ
Chín
Chín
Chênh
Trỗ
Trỗ
hoàn toàn lệch
nhánh
sáp
31,4a 23,9b 10,7b 314,0b 211,5c 102,5b
76,3a
32,7ab 21,2a 9,8a 279,2a 202,9c
c
c
e
c
a
247,5e
34,1
26,6
15,5 368,1 120,6
bc
ab
d
c
b
170,4d
33,9
22,3
14,1 354,3 184,0
e
c
c
c
c
161,9cd
37,8
26,8
12,0 361,4 199,5
d
c
d
c
c
152,5c
36,2
26,5
14,4 362,2 209,9

Ghi chú: Như Bảng 4.1; CĐQH là cường độ quang hợp; HCK là hàm lượng hydrat cacbon không cấu trúc

Mức chênh lệch HCK thể hiện khả năng vận chuyển sản phẩm quang
hợp. Chỉ tiêu này của 2 giống tại mức K1 cao hơn so với K2 và K0, ở mức
bón K1 giống DCG72 đạt cao hơn so với KD18 nên ở mức kali bón thấp,
DCG72 có khả năng vận chuyển sản phẩm quang hợp tốt hơn so với KD18.
Kết quả Bảng 4.14 cho thấy, số bông/khóm của cả 2 giống chỉ tăng
từ mức K0 lên K1. Trong cùng 1 mức kali thì chỉ tiêu này của 2 giống
tương đương nhau. Giống DCG72 có số hạt/bông tương đương với KD18 ở
mức K0 và K2 nhưng cao hơn so với KD18 ở mức K1. Tỷ lệ hạt chắc tăng
từ mức bón K0 lên K1 ở cả 2 giống, tiếp tục tăng mức bón lên K2 không
làm tăng tỷ lệ hạt chắc ở KD18 nhưng làm giảm ở giống DCG72. Tỷ lệ hạt
chắc của giống DCG72 tương đương với KD18 ở mức K0, cao hơn so với
17


KD18. Khối lượng 1.000 hạt của 2 giống tăng từ mức bón từ K0 lên K1.
Tại cả 3 mức kali giống DCG72 đều đạt chỉ tiêu này cao hơn KD18.
Bảng 4.14. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất cá thể của
giống lúa cực ngắn ngày DCG72 ở các liều lượng kali khác nhau
Mức
kali/chậu
K0 (0,0 g)
K1 (0,5 g)
K2 (1,0 g)

Giống
DCG72
KD18
DCG72
KD18
DCG72
KD18

Số bông/
khóm
10,6a
11,0ab
11,6bc
12,2c
11,4abc
12,2c

Số hạt/
bông
198,1a
197,7a
234,1d
220,1bc
211,5b
226,7cd

Tỷ lệ hạt
chắc (%)
76,1a
75,4a
85,0d
81,3bc
79,3b
83,9cd

Khối lượng
1000 hạt (g)
22,7b
19,9a
25,0d
22,1b
24,1c
22,4b

NSCT
(g/khóm)
38,2a
37,3a
46,9d
43,6bc
41,7b
44,6c

Ghi chú: Như Bảng 4.1; NSCT là năng suất cá thể

NSCT ở cả 2 giống tăng từ mức K0 lên K1, tiếp tục tăng lên mức K2
làm giảm chỉ tiêu này ở DCG72 và không làm tăng ở KD18. Giống DCG72
có NSCT tương đương với giống KD18 ở mức không bón kali (K0- 0,0
g/chậu 5 lít), cao hơn so với KD18 ở mức kali bón thấp (K1- 0,5 g/chậu 5
lít) là do số hạt/bông, tỷ lệ hạt chắc và khối lượng 1.000 hạt cao. Tại mức
kali bón cao, (K2- 1,0 g/chậu 5 lít) giống DCG72 có khả năng quang hợp
sau trỗ và vận chuyển hydrat cacbon không cấu trúc thấp nên có số
hạt/bông và tỷ lệ hạt chắc thấp, do đó năng suất cá thể thấp hơn so với
KD18. Vì vậy, ở điều kiện vụ mùa thì mức kali bón thấp là phù hợp cho
giống lúa cực ngắn ngày DCG72.
Một số nhận xét rút ra từ nội dung nghiên cứu 4.2 (TN3 và TN4)
Trong điều kiện không bón đạm (0,0 g N/chậu 5 lít ở thí nghiệm 3)
hoặc không bón kali (0,0 g K2O/chậu 5 lít tại thí nghiệm 4) giống DCG72
khác KD18 ở một số chỉ tiêu phụ thuộc nhiều vào đặc tính của giống như
thời gian sinh trưởng, khối lượng 1.000 hạt. Tuy nhiên, các chỉ tiêu chịu
ảnh hưởng bởi mức đạm bón và kali bón như: cường độ quang hợp, vận
chuyển hydrat cacbon, tỷ lệ hạt chắc, năng suất cá thể,... của 2 giống hầu
hết là tương đương nhau.
Ở mức đạm bón và kali bón thấp (0,5 g N/chậu và 0,5 g K2O/chậu 5
lít), giống DCG72 có khả năng duy trì diện tích lá, hàm lượng diệp lục (cả
2 thí nghiệm), hàm lượng đạm trong lá (thí nghiệm 3) cao nên cường độ
quang hợp và khả năng vận chuyển hydrat cacbon ở thời kỳ sau trỗ cao hơn
so với giống KD18. Điều này dẫn đến tỷ lệ hạt chắc, số hạt trên bông và
khối lượng 1.000 hạt của DCG72 cao hơn so với KD18 nên năng suất cá
thể của DCG72 đạt cao hơn so với KD18 ở mức bón đạm và kali thấp. Do
vậy, giống DCG72 phù hợp với mức đạm bón và kali bón thấp.
18


Khi tăng lên mức đạm bón và kali bón cao (0,15 g N/chậu và
1,0 g K2O/chậu 5 lít) giống DCG72 thể hiện khả năng chịu phân đạm kém
(thí nghiệm 3) và phản ứng nhạy cảm với việc mất cân đối dinh dưỡng (thí
nghiệm 4). Điều này thể hiện tại giai đoạn chín sáp, hàm lượng đạm và diệp
lục trong lá giảm (thí nghiệm 3), diện tích lá và hàm lượng diệp lục trong lá
giảm (thí nghiệm 4) nên cường độ quang hợp và khả năng vận chuyển
hydrat cacbon của DCG72 thấp. Kết quả này dẫn đến tỷ lệ hạt chắc và khối
lượng 1.000 hạt thấp nên năng suất cá thể của giống DCG72 thấp hơn so
với KD18 ở mức đạm bón và kali bón cao. Vì vậy, giống DCG72 có khả
năng sử dụng phân đạm và kali thấp hơn so với KD18.
4.3. NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT BÓN PHÂN CHO GIỐNG LÚA
CỰC NGẮN NGÀY DCG72 TẠI TỈNH NGHỆ AN
4.3.1 Ảnh hưởng của các mức phân bón và phương pháp bón đạm
khác nhau đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa cực
ngắn ngày DCG72 tại tỉnh Nghệ An (TN5)
Kết quả Bảng 4.15 cho thấy, các chỉ tiêu OM, đạm, lân, kali tổng số và
kali dễ tiêu đều tăng so với trước thí nghiệm và tăng khi tăng mức phân bón.
Tăng mức phân bón có xu hướng làm tăng các chỉ tiêu này. Phương pháp bón
đạm nuôi hạt (P2) có xu hướng đạt hàm lượng đạm, lân, kali dễ tiêu cao
hơn so với phương pháp bón lót đạm (P1).
Bảng 4.15. Ảnh hưởng của các mức phân bón và phương pháp bón đạm
đến một số chỉ tiêu phân tích trong đất trước và sau thí nghiệm
PP
Mức
bón
phân
N
Trước thí
nghiệm
P1
M1
P2
P1
M2
P2
P1
M3
P2

OM
N tổng số N dễ tiêu
P2O5 tổng P2O5 dễ tiêu K2O tổng K2O trao đổi
(%)
(%)
(mg/100g)
số (%)
(mg/100g)
số(%)
(mg/100g)
HT15 X16 HT15 X16 HT15 X16 HT15 X16 HT15 X16 HT15 X16 HT15 X16
2,82 3,36 0,17 0,18 26,3 21,2 0,065 0,035 33,0 20,1 0,29 0,34

8,1

9,3

3,12
3,22
3,20
3,15
3,26
3,39

15,8
16,2
17,4
19,2
19,4
21,9

18,6
20,1
20,8
21,8
21,2
21,7

3,82
4,10
3,93
4,02
4,10
4,01

0,21
0,22
0,21
0,24
0,20
0,21

0,24
0,25
0,24
0,23
0,24
0,22

22,7
29,1
31,4
32,9
29,2
35,8

22,8
24,4
22,4
26,0
26,8
31,0

0,098
0,096
0,101
0,099
0,090
0,093

0,054
0,056
0,058
0,058
0,055
0,057

26,3
26,9
26,4
29,1
30,6
29,9

18,7
17,7
18,7
17,5
18,7
17,9

0,82
0,82
0,83
0,84
0,73
0,79

0,80
0,85
0,86
0,98
0,91
0,98

Ghi chú: OM là hàm lượng chất hữu cơ; HT15 là vụ hè thu 2015, X16 là vụ xuân 2016

Bảng 4.16 cho thấy, trong giai đoạn đẻ nhánh, tăng mức phân bón làm
tăng chỉ số diện tích lá, hàm lượng đạm trong lá. P1 đạt các chỉ tiêu này cao P2.
Ở thời kỳ trỗ, tăng mức phân làm tăng cả 2 chỉ tiêu này, tuy nhiên không
khác nhau ở mức ý nghĩa giữa các phương pháp bón đạm. Tại thời kỳ chín
sáp do P2 có 1 lượng đạm được bón lúc trỗ nên duy trì được bộ lá xanh, tăng
chỉ số diện tích lá, hàm lượng đạm trong lá cao hơn so với P1.
19


Bảng 4.16. Ảnh hưởng của các mức phân bón và phương pháp bón
đạm đến chỉ số diện tích lá và hàm lượng đạm trong lá của giống lúa
cực ngắn ngày DCG72
PP
Mức
bón
phân
N
M1
M2
M3
P1
P2
P1
M1
P2
P1
M2
P2
P1
M3
P2

Chỉ số diện tích lá (m2 lá/m2 đất)
Đẻ nhánh
Trỗ
Chín sáp
HT15 X16 HT15 X16 HT15 X16
1,40A 1,51A 3,24A 3,96A 2,73A 3,10A
1,51B 1,54A 3,32A 4,17B 3,02B 3,45B
1,57C 1,89B 3,59B 4,66C 3,29C 3,74C
1,62* 1,78* 3,49* 4,36* 2,79 3,20
1,37 1,51 3,28 4,17 3,24* 3,67*
1,47c 1,65b 3,37abc 4,13b 2,57a 2,89a
1,32a 1,37a 3,11a 3,78a 2,90b 3,32b
1,62d 1,69b 3,43bc 4,19b 2,84b 3,22b
1,41b 1,39a 3,20ab 4,15b 3,21c 3,68cd
1,76e 2,01c 3,65c 4,74c 2,96b 3,48bc
1,39b 1,78b 3,53c 4,57c 3,62d 3,99d

Hàm lượng đạm trong lá (%)
Đẻ nhánh
Trỗ
Chín sáp
HT15 X16 HT15 X16 HT15 X16
3,28A 3,33A 3,14A 3,13A 2,22A 2,20A
3,58B 3,73B 3,29B 3,34B 2,28A 2,45B
3,79C 3,86C 3,12A 3,43B 2,29A 2,35B
3,69* 3,83* 3,08 3,30 2,15 2,25
3,41 3,45 3,30* 3,30ns 2,38* 2,42*
3,46b 3,47b 2,98a 3,13a 2,09a 2,14a
3,09a 3,19a 3,30bc 3,12a 2,36bc 2,27ab
3,74cd 3,98d 3,22b 3,39b 2,15a 2,32b
3,42b 3,48b 3,37c 3,28ab 2,41c 2,58c
3,87d 4,04d 3,04a 3,38b 2,21ab 2,29ab
3,66c 3,68c 3,21b 3,48b 2,37bc 2,41b

Ghi chú: HT15 là vụ hè thu 2015, X16 là vụ xuân 2016. Trong cùng một cột, các giá trị mang cùng chữ in hoa (A,B và
C) và in thường (a, b, c, d, e và f) nghĩa là sai khác không ý nghĩa của 3 mức phân bón và 6 công thức thí nghiệm và
ngược lại theo tiêu chuẩn Duncan. * và ns: nghĩa là sai khác và khôngsai khác của 2 phương pháp bón đạm ở mức  =
0,05 theo tiêu chuẩn F ở dòng phân tích phương sai.

Trong giai đoạn đẻ nhánh giống DCG72 bị nhiễm một số loại sâu
bệnh ở mức nhẹ và trung bình (Bảng 4.17). Tăng mức phân bón làm tăng
mức độ nhiễm sâu bệnh hại ở 3 thời kỳ (đẻ nhánh, trỗ và chín sữa). P1 làm
tăng mật độ sâu bệnh hại ở giai đoạn đẻ nhánh so với P2, ở các giai đoạn sau
đó mức độ nhiễm sâu bệnh hại của 2 phương pháp bón không khác nhau.
Bảng 4.17. Ảnh hưởng của các mức phân bón và phương pháp bón
đạm đến mức độ gây hại của một số loại sâu bệnh trên giống lúa cực
ngắn ngày DCG72 tại tỉnh Nghệ An (điểm)
Vụ hè thu 2015
Đẻ nhánh
Trỗ
Chín sữa
PP
Mức
Sâu
Sâu
bón
Sâu
Sâu Bệnh Bệnh
phân
Rầy cuốn
cuốn
N
đục
đục bạc khô
nâu lá

thân
thân lá
vằn
nhỏ
nhỏ
P1
3
3
1
1
1
1
0
M1
P2
0
1
0
0
0
1
1
P1
3
3
3
1
1
1
1
M2
P2
1
1
1
0
1
1
1
P1
5
5
3
3
3
3
3
M3
P2
1
1
1
1
1
3
3

20

Đẻ nhánh
đạo Dòi
ôn đục
lá nõn
3
0
5
1
5
3

1
0
3
1
5
3

Vụ xuân 2016
Trỗ
Chín sữa
Đạo
Đạo
Sâu
Sâu
ôn
ôn
đục
đục
cổ
cổ
thân
thân
bông
bông
0
1
0
0
0
0
1
0
1
3
1
1
0
1
1
1
1
3
1
1
1
3
1
1


Bảng 4.18 cho thấy, không có sự sai khác có ý nghĩa về tỷ lệ hạt
chắc của mức phân bón M1 và M2 trong cả 2 vụ, khi tăng từ M2 lên M3
thì chỉ tiêu này lại giảm ở cả 2 vụ. Phương pháp bón đạm nuôi hạt (P2)
đạt tỷ lệ hạt chắc ở vụ hè thu 2015 và xuân 2016 là 77,2% và 84,5%, cao
hơn so với phương pháp bón lót đạm (P1) trong vụ hè thu 2015 và xuân
2016 là 73,6% và 82,0% ở mức ý nghĩa. Khi tăng mức bón phân từ M1
lên M2 làm tăng khối lượng 1.000 hạt trong vụ xuân 2016. Tuy nhiên,
tiếp tục tăng lượng phân bón từ M2 lên M3 thì chỉ tiêu này không tăng ở
mức ý nghĩa trong cả 2 vụ. P2 đạt khối lượng 1.000 hạt cao hơn so với P1
trong cả 2 vụ.
Bảng 4.18. Ảnh hưởng của các mức phân bón và phương pháp bón
đạm đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất thực thu của
giống lúa cực ngắn ngày DCG72 tại tỉnh Nghệ An
Số bông/
PP
Mức
m2
bón
phân
đạm HT15 X16
M1
M2
M3

M1
M2
M3

P1
P2
P1
P2
P1
P2
P1
P2

276,7A
292,5B
285,8B
283,3
286,7ns
280,0ab
273,3a
288,3bc
296,7c
281,7ab
290,0bc

274,2A
288,3B
296,7C
291,7*
281,1
281,7b
266,7a
293,3cd
283,3bc
300,0d
293,3cd

Số hạt/
bông
HT15

Tỷ lệ hạt
chắc (%)

Khối lượng
1.000 hạt (g)

X16 HT15 X16 HT15

154,7AB
156,9B
153,2A
156,5*
153,4
157,0bc
152,4a
159,4c
154,3ab
153,0a
153,4ab

158,4A
163,1A
164,1A
163,5
160,5ns
160,2ab
156,6a
165,9b
163,0ab
164,3ab
161,9ab

75,7B 84,5B
77,3B 84,6B
73,2A 80,5A
73,6 82,0
77,2* 84,5*
74,2ab 84,2bc
77,7cd 84,9bc
75,2bc 82,4ab
79,3d 86,7c
71,6a 79,3a
74,8bc 81,8ab

22,0A
22,5AB
22,7B
21,8
23,0*
21,3a
22,7bc
21,9ab
23,1c
22,3bc
23,1c

Năng suất thực
thu (tạ/ha)

X16

HT15

X16

21,9A
22,8B
23,1B
22,3
23,0*
21,4a
22,4b
22,5b
23,1c
22,9bc
23,3c

59,2AB
61,2B
58,4A
58,3
60,1*
57,2a
61,2bc
59,9abc
62,4c
57,8a
59,1ab

61,5A
65,7B
68,0B
63,8
66,3*
61,2a
61,8a
63,5ab
68,0c
66,9bc
69,1c

Ghi chú: Như bảng 4.16

Tăng mức phân bón từ M1 (60 kg N + 48 kg P2O5 + 48 kg K2O/ha)
lên M2 (90 kg N + 72 kg P2O5 + 72 kg K2O/ha) không làm tăng năng suất ở
vụ hè thu 2015 nhưng làm tăng năng suất trong vụ xuân 2016, tiếp tục tăng
mức phân bón từ M2 lên M3 (120 kg N + 96 kg P2O5 + 96 kg K2O/ha) làm
giảm năng suất trong vụ hè thu 2015 và không làm tăng năng suất trong vụ
xuân 2016. P2 cho năng suất cao hơn so với P1 ở cả 2 vụ là do đạt chỉ số
thu hoạch, tỷ lệ chắc và khối lượng 1.000 hạt cao. Do vậy, giống lúa cực
ngắn ngày DCG72 được bón theo công thức M1P2 (đạt năng suất 61,2
tạ/ha) trong vụ hè thu 2015 và công thức M2P2 (đạt năng suất 68,0 tạ/ha) ở
vụ xuân 2016 cho hiệu quả cao nhất.
21


4.3.2. Mô hình thử nghiệm áp dụng kết quả nghiên cứu kỹ thuật
bón phân cho giống lúa cực ngắn ngày DCG72 tại tỉnh Nghệ An
Kết quả Bảng 4.19 cho thấy, việc bón phân đạm ít ở giai đoạn sinh
trưởng dinh dưỡng đã giúp cho mô hình bón phân cải tiến có mức độ nhiễm
một số loại sâu bệnh nhẹ hơn đối chứng ở giai đoạn đẻ nhánh và trỗ bông.
Bảng 4.19. Mức độ gây hại của một số loại sâu bệnh ở mô hình
bón phân cải tiến cho giống lúa cực ngắn ngày DCG72
Mô hình
Địa điểm
bón phân

Rầy
nâu
1
3
1
1

Cải tiến
Đối chứng
Cải tiến
Thanh
Chương Đối chứng
Đô
Lương

Đẻ nhánh
Trỗ
Sâu cuốn Sâu đục Sâu cuốn
lá nhỏ
thân
lá nhỏ
3
1
1
3
3
3
3
1
1
3
3
3

Chín sữa
Bệnh
Bệnh
bạc lá
khô vằn
1
1
3
3
3
1

Ghi chú: - là không nhiễm sâu bệnh

Bảng 4.20 chỉ ra rằng, tại cả 2 địa điểm, mô hình bón phân cải tiến
có số bông/m2 thấp hơn so với đối chứng nhưng do số hạt/bông, tỷ lệ hạt
chắc và khối lượng 1.000 hạt đạt cao nên năng suất lý thuyết và năng suất
thực thu cao hơn so với đối chứng. Mô hình bón phân cải tiến đạt năng suất
thực thu tại Đô Lương và Thanh Chương là 56,1 và 54,8 tạ/ha cao hơn so
với đối chứng đạt tương ứng là 52,2 và 50,5 tạ/ha.
Bảng 4.20. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất thực thu của
mô hình bón phân cải tiến cho giống lúa cực ngắn ngày DCG72
Địa
điểm
Đô
Lương
Thanh
Chương

Mô hình bón số bông
phân
/m2
Cải tiến
Đối chứng
Cải tiến
Đối chứng

246,3
256,6
255,8
268,9

số hạt
/bông
168,0
172,4
150,9
152,6

Tỷ lệ P 1.000 NSLT
chắc (%) hạt (g) (tạ/ha)
75,9
68,7
78,8
69,6

22,8
22,1
22,2
21,5

71,6
67,2
67,5
61,4

NSTT
(tạ/ha)
56,1
52,2
54,8
50,5

Ghi chú: NSLT là năng suất lý thuyết; NSTT là năng suất thực thu

Kết quả Bảng 4.21 cho thấy, mô hình bón phân cải tiến đạt thu
nhập cao hơn trong khi chi phí lại thấp hơn so với đối chứng nên thu
nhập tại 2 địa điểm của mô hình bón phân cải tiến cao hơn so với đối
chứng. Mô hình bón phân cải tiến có chi phí ít hơn nên lợi nhuận và
hiệu quả sử dụng đồng vốn về phân vô cơ cao hơn đối chứng.
22


Bảng 4.21. Hiệu quả kinh tế của mô hình bón phân cải tiến
cho giống lúa cực ngắn ngày DCG72
Địa
điểm

Mô hình
bón phân

Cải tiến
Đô
Lương Đối chứng
Thanh Cải tiến
Chương Đối chứng

Thu nhập
(1.000
đồng)

Chi phí
(1.000
đồng)

36.465
33.930
35.620
32.825

27.065
27.335
27.065
27.335

Lợi
nhuận
(1.000
đồng)
9.400
6.595
8.555
5.490

Tiền phân
Hiệu quả
vô cơ sử dụng đồng
(1.000
vốn phân vô
đồng)
cơ (lần)
3.165
2.970
4.240
1.555
3.165
2.703
4.240
1.295

Một số nhận xét rút ra từ nội dung nghiên cứu 4.3 (thí nghiệm
5 và mô hình thử nghiệm kỹ thuật bón phân)
Kết quả nội dung nghiên cứu 3 đã minh chứng thêm cho nhận xét
giống lúa cực ngắn ngày DCG72 phù hợp với mức phân bón (đạm và kali)
thấp ở nội dung nghiên cứu 2.
Trong vụ hè thu do nhiệt độ đầu vụ cao, hiệu suất sử dụng phân
bón cao với thời gian sinh trưởng ngắn hơn nên giống DCG72 chỉ cần mức
phân bón thấp 60 kg N + 48 kg P2O5 + 48 kg K2O/ha, khi bón phân ở mức
cao hơn là 90 kg N + 72 kg P2O5 + 72 kg K2O hoặc 120 kg N + 96 kg P2O5 +
96 kg K2O/ha (thí nghiệm 5) hay sử dụng lượng bón phón 60 kg N + 64 kg
P2O5 + 60 kg K2O/ha (đối chứng ở mô hình thử nghiệm) đều không làm
tăng năng suất.
Phương pháp bón đạm nuôi hạt làm giảm mức độ nhiễm sâu bệnh
trong giai đoạn đẻ nhánh và trỗ, đồng thời làm tăng tỷ lệ hạt chắc và khối
lượng 1.000 hạt nên đã góp phần làm tăng năng suất cho giống DCG72.
Kỹ thuật bón phân cho giống lúa cực ngắn ngày DCG72 trong vụ
hè thu là sử dụng mức phân bón 60 kg N + 48 kg P2O5 + 48 kg K2O/ha kết
hợp với phương pháp bón đạm nuôi hạt. Kỹ thuật này giúp giống DCG72
sinh trưởng, phát triển tốt, đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao.
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
5.1. KẾT LUẬN
1) Các dòng/giống lúa cực ngắn ngày (D1, D2, D3, D4 và giống
DCG72) có khả năng duy trì quang hợp và vận chuyển hydrat cacbon
không cấu trúc cao hơn so với giống đối chứng Khang Dân 18 (KD18) do
có bộ lá xanh và hàm lượng đạm trong lá cao. Năng suất cá thể của các
dòng/giống lúa cực ngắn ngày phụ thuộc vào khối lượng chất khô ở giai
đoạn trước trỗ, cường độ quang hợp và khả năng vận chuyển sản phẩm
quang hợp về bông ở thời kỳ sau trỗ.
23


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×