Tải bản đầy đủ

Hiện tượng hủy bỏ niêm yết của công ty đại chúng

TIỂU LUẬN
HIỆN TƯỢNG HỦY BỎ NIÊM YẾT CỦA CÔNG TY ĐẠI CHÚNG
I.
1.
2.
3.

4.
5.
II.
1.


-









Cơ sở pháp lý
Luật Chứng khoán 2006;
Luật Sửa đổi bổ sung Luật Chứng khoán 2010;
Nghị định số 58/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
điều của luật chứng khoán và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật chứng
khoán;
Nghị định số 60/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số
58/2012/NĐ-CP;
Thông tư số 202/2005/TT-BTC Hướng dẫn về niêm yết chứng khoán trên Sở
giao dịch chứng khoán.
Nội dung
Các trường hợp chứng khoán bị hủy bỏ niêm yết:
Tổ chức niêm yết chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán không đáp ứng
được các điều kiện niêm yết quy định của Nghị định này tại Điểm a, c Khoản 1
Điều 54 đối với cổ phiếu, cụ thể là:
Là công ty cổ phần có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 30
tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
Tối thiểu 15% số cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất 100 cổ
đông không phải cổ đông lớn nắm giữ, trừ trường hợp doanh nghiệp nhà nước
chuyển đổi thành công ty cổ phần theo quy định của Thủ tướng Chính phủ;
Tổ chức niêm yết ngừng hoặc bị ngừng các hoạt động sản xuất, kinh doanh
chính từ 01 năm trở lên;
Tổ chức niêm yết bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy
phép hoạt động trong lĩnh vực chuyên ngành;
Cổ phiếu không có giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán trong thời hạn 12
tháng;
Kết quả sản xuất, kinh doanh bị thua lỗ trong 03 năm liên tục hoặc tổng số lỗ
luỹ kế vượt quá số vốn điều lệ thực góp trong báo cáo tài chính kiểm toán năm
gần nhất trước thời điểm xem xét;
Tổ chức niêm yết chấm dứt sự tồn tại hoặc không đáp ứng điều kiện niêm yết
do sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể hoặc phá sản hoặc do tổ chức phát
hành thực hiện chào bán, phát hành từ 50% trở lên số lượng cổ phiếu đang lưu
hành để hoán đổi lấy cổ phiếu, phần vốn góp tại doanh nghiệp khác; quỹ đầu tư











2.

-


-

-

3.

chứng khoán chấm dứt hoạt động; tổ chức niêm yết không đáp ứng điều kiện là
công ty đại chúng
Trái phiếu đến thời gian đáo hạn hoặc trái phiếu niêm yết được tổ chức phát
hành mua lại toàn bộ trước thời gian đáo hạn;
Tổ chức kiểm toán không chấp nhận thực hiện kiểm toán hoặc có ý kiến không
chấp nhận hoặc từ chối cho ý kiến đối với báo cáo tài chính năm gần nhất của tổ
chức niêm yết;
Tổ chức niêm yết vi phạm chậm nộp báo cáo tài chính năm trong 03 năm liên
tiếp;
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán phát hiện tổ chức
niêm yết giả mạo hồ sơ niêm yết hoặc hồ sơ niêm yết chứa đựng những thông
tin sai lệch nghiêm trọng ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư;
Tổ chức niêm yết vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ công bố thông tin và các
trường hợp mà Sở giao dịch chứng khoán hoặc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
xét thấy cần thiết phải hủy niêm yết nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư.
Trường hợp chứng khoán bị hủy bỏ niêm yết khi tổ chức niêm yết hủy bỏ
niêm yết
Điều kiện:
Quyết định hủy bỏ niêm yết được Đại hội đồng cổ đông biểu quyết thông qua
theo quy định pháp luật doanh nghiệp, trong đó phải được ít nhất 51% số phiếu
biểu quyết của các cổ đông không phải là cổ đông lớn thông qua;
Việc hủy bỏ niêm yết chỉ được thực hiện sau tối thiểu 02 năm, kể từ ngày thực
hiện niêm yết trên sở Giao dịch chứng khoán;
Thủ tục:
Hồ sơ đề nghị hủy bỏ niêm yết bao gồm:
+ Giấy đề nghị hủy bỏ niêm yết;
+ Quyết định thông qua việc hủy bỏ niêm yết cổ phiếu của Đại hội đồng cổ
đông;
Thời hạn:
Trong vòng mười lăm (15) ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ và
hợp lệ bao gồm báo cáo đã hoàn tất phương án giải quyết quyền lợi cho cổ
đông, Sở giao dịch chứng khoán ban hành quyết định chấp thuận hủy niêm yết
chứng khoán. Trường hợp từ chối, Sở giao dịch chứng khoán có văn bản giải
thích rõ lý do.
Hậu quả pháp lý


- Trường hợp không còn là công ty đại chúng: Chấm dứt quyền, nghĩa vụ của
một công ty đại chúng: nghĩa vụ công bố thông tin, nghĩa vụ tuân thủ nguyên
tắc về quản trị công ty đại chúng…
- Trong trường hợp công ty sau khi hủy niêm yết vẫn đáp ứng điều kiện là công
ty đại chúng:
+ Công ty vẫn phải thực hiện các nghĩa vụ của công ty đại chúng như nghĩa vụ
công bố thông tin, nghĩa vụ tuân thủ nguyên tắc về quản trị công ty đại chúng,
lưu ký chứng khoán tập trung tại Trung tâm lưu ký chứng khoán,…
+ Cổ phiếu của công ty phải đăng ký giao dịch trên hệ thống giao dịch Upcom
ngay sau khi hủy bỏ niêm yết. Trình tự, thủ tục hủy bỏ niêm yết cổ phiếu, đăng
ký giao dịch cổ phiếu trên hệ thống giao dịch Upcom thực hiện theo hướng dẫn
của Bộ Tài chính.
III.
Phân tích nguyên nhân
 Nguyên nhân sâu xa: khủng hoảng kinh tế toàn cầu ảnh hưởng mạnh đến nền
kinh tế Việt Nam.
 Nguyên nhân trực tiếp: Chính tác động nhiều mặt do khủng hoảng kinh tế kéo
dài đã kéo theo nhiều nguyên nhân:
- Thị trường chứng khoán rơi vào đợt suy giảm kéo dài;
- Chính sách tiền tệ bị thắt chặt, trong đó tín dụng cho chứng khoán bị siết mạnh
khiến dòng tiền đổ vào thị trường bị hạn chế;
- Áp lực từ cổ đông;
- Yêu cầu minh bạch hóa nhiều thông tin sản xuất kinh doanh định kỳ;
- Và nguyên nhân quan trọng quan trọng là sức hút lớn nhất của việc lên sàn là
huy động vốn đã không còn do giá cổ phiếu sụt giảm mạnh và thanh khoản
thấp.
Ví dụ. Công ty nước giải khát Sài Gòn (TRI) chính thức giao dịch trên HoSE
vào cuối tháng 12/2001 với ngành nghề kinh doanh chính là chế biến thực
phẩm, sản xuất sữa đậu nành, nước ép trái cây và nước giải khát các loại. Hoạt
động kinh doanh của TRI những năm đầu sau khi lên sàn khá tốt. Nhưng từ quý
IV/2008, TRI liên tiếp lâm vào cảnh thua lỗ. Đỉnh điểm là năm 2008 với khoản
lỗ 145 tỉ đồng và 3 quý đầu năm 2011, khoản lỗ đã lên hơn 262 tỉ đồng. Sau 3
năm tròn lỗ ròng, cuối cùng Cty nước giải khát Sài Gòn (TRI) cũng tự nguyện
xin Sở Giao dịch Chứng khoán TP HCM (HoSE) được hủy niêm yết (TRI từng
bị HoSE tạm ngừng giao dịch từ ngày 25/3/2010 đến 22/6/2010).
IV. Ảnh hưởng của việc hủy bỏ niêm yết chứng khoán đối với doanh nghiệp


Thị trường chứng khoán Việt Nam đang trải qua giai đoạn rất khó khăn: thiếu vốn,
nhà đầu tư mất niềm tin, do tác động của suy thoái kinh tế thế giới,... Trong hoàn cảnh
đó, việc các doanh nghiệp tự nguyện hủy niêm yết không phải là chuyện riêng của
doanh nghiệp hay nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán mà còn ảnh hưởng xấu đến
cả nền kinh tế. Và câu hỏi được đặt ra là: ai là người chịu ảnh hưởng nhiều nhất?

-

-

-

Theo nhận định của các chuyên gia, nếu hủy niêm yết thì doanh nghiệp là đối tượng
chịu thiệt thòi nhiều nhất. Có rất nhiều lý do để đưa ra nhận định này.
Thứ nhất, hủy niêm yết cũng đồng thời với việc doanh nghiệp mất đi một kênh huy
động vốn quan trọng phục vụ cho chiến lược phát triển của chính bản thân doanh
nghiệp (nhất là khi thị trường chứng khoán khởi sắc trở lại).
Thứ hai, khi hủy niêm yết, vô hình chung doanh nghiệp đã đánh mất hình ảnh và
thương hiệu cũng như uy tín mà họ đã gây dựng trước đó trong mắt nhà đầu tư cũng
như bạn hàng, đối tác.
Thứ ba, hủy niêm yết đồng nghĩa doanh nghiệp đó sẽ là doanh nghiệp đại chúng giao
dịch trên thị trường phi tập trung, trong khi thị trường OTC hiện nay gần như đóng
băng nên việc giao dịch trên thị trường có cũng như không. Thứ bốn, sau khi hủy
niêm yết con đường trở lại thị trường của doanh nghiệp sẽ rất khó khăn.
Ông Đỗ Minh Dương – một chuyên gia phân tích bày tỏ quan điểm việc các Cty đang
niêm yết trên sàn chứng khoán rời bỏ sàn là chuyện bình thường vì đã gọi là thị
trường thì có doanh nghiệp vào phải có doanh nghiệp ra. Tuy nhiên, theo ông Dương,
việc hủy bỏ niêm yết sẽ mang lại cho doanh nghiệp rất nhiều bất lợi, nhất là về uy tín
và thương hiệu của chính doanh nghiệp đó.
Ông Dương cho biết, ở nước ngoài, doanh nghiệp thường rất chú trọng việc xây dựng
và bảo vệ hình ảnh của mình trước công chúng đầu tư trong khi ở Việt Nam nhiều
doanh nghiệp sẵn sàng bất chấp để đạt được mục đích của mình.
Ở góc độ nhà đầu tư, ông Nguyễn Thanh Hà – một nhà đầu tư bày tỏ bức xúc, khi thị
trường lên, các doanh nghiệp sau khi lên sàn thi nhau phát hành cổ phiếu lấy tiền để
đầu tư tài chính, buôn bất động sản, thậm chí là để gửi ngân hàng nhưng khi thị
trường đi xuống thì tìm đủ mọi cách để rời sàn là điều không thể chấp nhận được, ông
Hà cho biết.
Ngoài yếu tố mất đi uy tín đối với nhà đầu tư thì việc hủy niêm yết cũng gây bất lợi
về sau nếu doanh nghiệp này có ý định quay trở lại thị trường bởi con đường sẽ rất
“khó đi”. Điều này đã được ông Vũ Bằng - Chủ tịch UBCK Nhà nước khẳng định:
“Với những doanh nghiệp đã hủy niêm yết nếu một thời gian sau, doanh nghiệp


không phải niêm yết trở lại là được ngay, phải có tiêu chuẩn, điều kiện nâng cao và
phải cụ thể hoá bằng văn bản”.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×