Tải bản đầy đủ

RÈN kĩ NĂNG đọc văn bản TIẾNG VIỆT CHO học SINH lớp 2 TRƯỜNG TIỂU học THỊ TRẤN THUẬN CHÂU sơn LA

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

ĐINH THANH QUÝ

RÈN KĨ NĂNG ĐỌC VĂN BẢN TIẾNG VIỆT CHO
HỌC SINH LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC
THỊ TRẤN THUẬN CHÂU - SƠN LA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Sơn La, năm 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

ĐINH THANH QUÝ

RÈN KĨ NĂNG ĐỌC VĂN BẢN TIẾNG VIỆT CHO
HỌC SINH LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC

THỊ TRẤN THUẬN CHÂU - SƠN LA

Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn: TS. Trần Thị Thanh Hồng

Sơn La, năm 2014


Lời cảm ơn
Em xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Trần Thị Thanh Hồng, ngƣời
đã luôn tận tình hƣớng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa
luận này.
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy, cô giáo khoa
Tiểu Học - Mầm Non, Trung tâm Thông tin thƣ viện Trƣờng Đại học Tây Bắc
đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho em trong quá trình thực hiện khóa luận.
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Tác giả

Đinh Thanh Qúy


DANH MỤC CHÚ GIẢI CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CHỮ VIẾT TẮT

CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ

SGK

sách giáo khoa

PPDH

phƣơng pháp dạy học

HS

học sinh



GV

giáo viên

HSTH

học sinh tiểu học

TV

tiếng việt


MỤC LỤC
A - PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................ 4
3. Mục đích nghiên cứu ......................................................................................... 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................ 5
5. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................... 6
6. Phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................................... 6
7. Giả thuyết khoa học........................................................................................... 7
8. Đóng góp của đề tài ........................................................................................... 7
9. Cấu trúc của khóa luận ...................................................................................... 7
B - PHẦN NỘI DUNG ........................................................................................ 8
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ........................................................................ 8
1.1. Một số vấn đề liên quan đến nội dung dạy học tập đọc ................................. 8
1.1.1.Khái niệm đọc .............................................................................................. 8
1.1.2. Chính âm ..................................................................................................... 9
1.1.3. Trọng âm ..................................................................................................... 9
1.1.4. Ngữ điệu ...................................................................................................... 9
1.1.5. Đọc diễn cảm ............................................................................................. 10
1.1.6. Văn bản ..................................................................................................... 10
1.2. Cơ sở khoa học của việc dạy tập đọc lớp 2 .................................................. 11
1.2.1. Cơ sở tâm sinh lí của việc dạy tập đọc ...................................................... 11
1.2.2. Cơ sở giáo dục học đối với việc dạy đọc .................................................. 12
1.2.3. Cơ sở ngôn ngữ học và văn học của việc dạy học .................................... 13
1.3. Vai trò của phân môn Tập đọc lớp 2 ............................................................ 17
1.3.1. Mục tiêu..................................................................................................... 17
1.3.2. Nhiệm vụ ................................................................................................... 18
1.4. Những vấn đề đổi mới phƣơng phƣơng pháp giáo dục tiểu học hiện nay ... 20
Tiểu kết chƣơng 1................................................................................................ 21


CHƢƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN ................................................................. 22
2.1.Khảo sát thực tiễn rèn luyện kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt của học sinh
lớp 2 Trƣờng Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La........................................ 22
2.1.1. Mục đích khảo sát ..................................................................................... 22
2.1.2. Đối tƣợng và thời gian địa bàn khảo sát ................................................... 22
2.1.3. Nội dung khảo sát ...................................................................................... 23
2.1.4. Phƣơng pháp khảo sát ............................................................................... 23
2.2. Kết quả khảo sát ........................................................................................... 23
2.2.1. Chƣơng trình phân môn tập đọc lớp 2 ...................................................... 23
2.2.2. Thực trạng dạy học rèn kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt cho học sinh lớp 2
Trƣờng tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La .................................................. 27
2.2.3. Thực trạng rèn kĩ năng đọc của học sinh lớp 2 Trƣờng tiểu học thị trấn
Thuận Châu – Sơn La.......................................................................................... 30
2.3. Một số vấn đề đặt ra khi khảo sát ................................................................. 32
Tiểu kết chƣơng 2................................................................................................ 33
CHƢƠNG 3: BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC
TẬP ĐỌC LỚP 2 ............................................................................................... 34
3.1. Vận dụng các phƣơng pháp dạy học TV vào trong dạy – tập đọc ............... 34
3.1.1. Phƣơng pháp luyện đọc theo mẫu ............................................................. 34
3.1.2. Phƣơng pháp đọc diễn cảm ....................................................................... 34
3.1.3. Phƣơng pháp giao tiếp (phƣơng pháp đàm thoại) ..................................... 35
3.1.4. Phƣơng pháp trực quan ............................................................................. 35
3.2. Thiết kế mẫu bài “ Bóp nát quả cam” ( SGK TV2 tập 2, tr) ........................ 36
3.2.1.Thiết kế giáo án mẫu .................................................................................. 36
3.2.1.1. Mục đích của thiết kế giáo án ................................................................ 36
3.2.1.2. Yêu cầu của thiết kế ............................................................................... 36
3.2.2 Thiết kế giáo án mẫu ( trang …, phần phụ lục) ......................................... 37
Tiểu kết chƣơng 3................................................................................................ 37
C. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ......................................................... 38
1. Kết luận ........................................................................................................... 38
2 Đề xuất ............................................................................................................. 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 41


A - PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người, là
công cụ tổ chức quá trình tư duy và là phương tiện bộc lộ tư duy. Ngôn ngữ còn
là hiện thực trực tiếp của tư tưởng.
Ngôn ngữ là phƣơng tiện biểu hiện tâm trạng tình cảm của loài ngƣời.
Môn Tiếng Việt rất quan trọng đối với học sinh tiểu học. Bởi vì Tiếng Việt là
phƣơng tiện để học sinh giao tiếp và học tập. Chƣơng trình tiểu học mới nói
chung và lớp 2 nói riêng xác định mục tiêu của phân môn Tiếng Việt ở bậc tiểu
học là:
- Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt
(Nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trƣờng hoạt động của
lứa tuổi.
Thông qua việc dạy học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác của
tƣ duy.
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những
hiểu biết sơ giản về xã hội. Tự nhiên và con ngƣời, về văn hóa văn học của Việt
Nam và nƣớc ngoài.
- Bồi dƣỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong
sáng, giàu đẹp của Tiếng việt, góp phần hình thành, nhân cách con ngƣời Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.
1.2 Xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ của day đọc ở tiểu học
Tập đọc là một phân môn cụ thể hóa các mục tiêu của môn Tiếng Việt.
Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng
lực đọc đƣợc tạo nên từ bốn kĩ năng cũng là bốn yêu cầu về chất lƣợng của
“đọc” đọc đúng, đọc nhanh ( đọc lƣu loát, trôi chảy ) đọc có ý thức ( không hiểu
đƣợc nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm.
Bốn kĩ năng này đƣợc hình thành trong hai hình thức đọc: đọc thành tiếng và
đọc thầm. Chúng đƣợc rèn luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau. Sự hoàn thiện
một trong những kĩ năng này sẽ có tác động tích cực tới những kĩ năng khác.
1


Ví dụ: Đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh cũng nhƣ cho phép thông hiểu
nội dung văn bản. Ngƣợc lại nếu không hiểu điều đang đọc thì sẽ không đọc
nhanh và diễn cảm đƣợc. Nhiều khi, khó mà nói đƣợc rạch ròi kĩ năng nào làm
cơ sở cho kĩ năng nào, nhờ đọc đúng mà hiểu đúng, hay chính nhờ hiểu đúng mà
đọc đúng. Vì vậy trong dạy học không thể xem nhẹ yếu tố nào.
Đọc là giáo dục lòng ham đọc sách hình thành phƣơng pháp và thói quen
làm việc với văn bản, làm việc với sách cho học sinh. Làm cho sách trở thành
một sự tôn sùng ngự trị trong nhà trƣờng đó là một trong những điều kiện để
trƣờng học thực sự trở thành trung tâm văn hóa. Nói cách khác, thông qua việc
dạy đọc, phải làm cho học sinh thích đọc và thấy đƣợc rằng khả năng đọc là có
lợi ích cho học sinh thích đọc, phải làm cho học sinh thấy đó là một trong những
con đƣờng đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và phát triển.
Về đọc không thể tách rời khỏi những nội dung đƣợc đọc nên bên cạnh
nhiệm vụ rèn luyện kĩ năng, giáo dục lòng yêu sách phân môn Tập đọc còn có
nhiệm vụ.
+ Làm giàu kiến thức ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho học
sinh.
+ Phát triển ngôn ngữ và tƣ duy cho học sinh.
+ Giáo giục tƣ tƣởng, đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩn nĩ cho học sinh.
1.3. Xuất phát từ tính tất yếu phải đổi mới phương pháp và hình thức tổ
chức dạy học Tiếng Việt theo chương trình mới
Môn Tiếng việt trong chƣơng trình tiểu học mới, thể hiện sự đổi mới cả
về mục tiêu – nội dung và phƣơng pháp dạy học, phƣơng tiện dạy học, các hình
thức tổ chức dạy học, các đánh giá kết quả của học sinh.
Hiện nay mục tiêu giáo dục đã xác định đƣợc rõ ràng, chƣơng trình SGK
tƣơng đối ổn định – nội dung… Chính vì vậy để thƣờng xuyên nâng cao chất
lƣợng dạy học thì phƣơng pháp dạy học càng trở nên quan trọng vô cùng.
Tầm quan trọng đó phải thể hiện theo quan điểm : “Dạy học lấy học sinh
làm trung tâm”. Nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh.
Do đó chúng ta có thể khẳng định rằng: Việc đổi mới phƣơng pháp dạy học
2


Tiếng Việt ở tiểu học nói chung và đổi mới phƣơng pháp dạy học tập đọc nói
riêng, là một việc làm rất cần thiết và thƣờng xuyên để nâng cao chất lƣợng học
tập đọc. Tạo cho học sinh nắm đƣợc các kiến thức kĩ năng theo yêu cầu của môn
học đúng, để hiểu đƣợc nội dung đƣợc đọc. Còn vận dụng các phƣơng pháp phù
hợp với đặc điểm tâm sinh lí trình độ của học sinh thực tế ở lớp học, trƣờng ở
vùng miền núi là cần thiết góp phần thực hiện thành công việc đổi mới phƣơng
pháp dạy theo quan điểm giao tiếp.
1.4.Thực trạng dạy đọc ở trường tiểu học hiện nay
Việc dạy đọc bên cạnh những thành công còn có những hạn chế: Học sinh
chƣa đọc đƣợc nhƣ ta mong muốn, đọc chƣa đúng ở những chỗ ngắt nhịp vì các
em chƣa hiểu đƣợc nội dung câu thơ câu văn nên các em ngắt nghỉ không đúng
với nội dung biểu cảm của tác giả.
Học sinh chƣa hiểu cách nói văn chƣơng, vốn lí luận chƣa có các em
thƣờng ngắt giọng giữa từ ghép, các em chƣa đọc đúng chỗ nào cần lên giọng,
chỗ nào cần hạ giọng xuống khi đọc câu hỏi giọng đọc của các em còn đều đều
chƣa toát lên đƣợc nội dung câu hỏi. Khi đọc các câu hội thoại các em chƣa
phân biệt đƣợc giọng của nhân vật, giọng của tác giả.
Giáo viên tiểu học còn lúng túng các bƣớc khi dạy tập đọc theo chƣơng
trình mới, vận dụng quy trình còn máy móc dạy còn theo sách giáo viên, sách
thiết kế bài soạn chứ không chú ý đến đặc thù của địa phƣơng.
Cần đọc bài tập đọc (mỗi dạng thơ, văn xuôi) nhƣ thế nào, làm thế nào để
chƣa lỗi phát âm cho học sinh dân tộc thiểu số, làm thế nào để các em đọc đúng,
đọc nhanh hơn, rèn kỹ năng đọc đúng, đọc hiểu một nội dung để đọc hay hơn,
diễn cảm hơn. Làm thế nào để hiểu đƣợc “văn”, làm sao để phối hợp đọc thành
tiếng và đọc hiểu, với cách dạy nhƣ thế nào để cho những gì đƣợc đọc hiểu và
tác động vào chính cuộc sống của các em… Đó là những trăn trở của mỗi giáo
viên trong giờ tập đọc, từ thực trạng đó nên dẫn đến giờ dạy hiệu quả chƣa cao
mà trong chƣơng trình chƣa có hƣớng dẫn cụ thể, chƣa đúc rút kinh nghiệm
trong giảng dạy.

3


Xuất phát từ những lí do nêu trên trong khóa luận này tôi chọn nghiên cứu
đề tài : “Rèn kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 Trường Tiểu
học thị trấn Thuận Châu- Sơn La.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chƣơng trình dạy Tiếng Việt ở Tiểu học năm 2006 là sự hoàn thiện tiếp
tục Chƣơng trình dạy học Tiếng Việt năm 2001. Chƣơng trình mới đòi hỏi phải
có sự đổi mới phƣơng pháp cũng nhƣ các hình thức tổ chức dạy học cho phù
hợp. Chính vì vậy, trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu đƣa
ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lƣợng và hiệu quả dạy học nói chung và ở
Tiểu học nói riêng. Thực hiện khóa luận này, chúng tôi qyan tâm tới một số
công trình nghiên cứu sau.
“Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học”( NXB Đại học Sƣ phạm –
2002) với mục tiêu trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản, hiện đại và
các kĩ năng giảng dạy Tiếng Việt ở trƣờng tiểu học. Giáo trình cung cấp thông
tin về những vấn đề chung của phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt và dạy học các
phân môn Tiếng Việt ở tiểu học. Bên cạnh đó, các tác giả còn đƣa ra nhiều
phƣơng pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học phát huy tính tích cự của học
sinh trong từng phân môn cụ thể.
“Dạy và học môn Tiếng Việt ở tiểu học theo chƣơng trình mới” ( NXB
Giáo Dục – 2007) đã cung cấp những thông tin tổng quát về chƣơng trình dạy
tiếng mẹ đẻ ở cấp Tiểu học của một số nƣớc trên thế giới. Tác giả cho rằng :
việc dạy Tiếng Việt phải nhằm cả vào hia chức năng của ngôn ngữ ( công cụ tƣ
duy và công cụ giao tiếp); phải chú trọng vào cả bốn kĩ năng ( nghe, nói, đọc,
viết ); phải hƣớng tới sự giao tiếp và sử dụng phƣơng pháp giao tiếp. Bên cạnh
đó, các tác giả cũng đƣa ra vấn đề cần tiếp thu kinh nghiệm và thành tựu dạy
tiếng mẹ đẻ trên thế giới cũng nhƣ nhƣợc điểm cần khắc phục của những loại
chƣơng trình Tiếng Việt trong mấy thập niên trƣớc đó. Đó chính là cơ sở khoa
học và thực tiễn của việc xây dựng chƣơng trình mới, đổi mới phƣơng pháp dạy
học môn Tiếng Việt nói chung và môn Tập đọc nói riêng.

4


Giáo trình “Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học” – tài liệu đào
tạo GV – 2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án Phát triển GV Tiểu học đã tổ
chức biên soạn các modun đào tạo, bồi dƣỡng GV nhằm nâng cao năng lực
chuyên môn – nghiệp vụ, cập nhật những đổi mới về nội dung, phƣơng pháp dạy
học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục Tiểu học theo chƣơng trình, SGK tiểu
học mới. Điểm mới ở các tài liệu này là đƣa ra nhiều phƣơng pháp dạy học mới
nhƣ sử dụng băng hình, phƣơng pháp giao tiếp… nhằm tích cực hóa hoạt động
học tập.
Nhìn chung các tác giả đều đã cập nhật tới những vấn đề dạy học chung
nhất của dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học theo chƣơng trình mới cũng nhƣ
đƣa ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lƣợng dạy và học của từng phân môn,
trong đó có phân môn Tập đọc. Tuy nhiên các tác giả chƣa đề cập vấn đề rèn
luyện kĩ năng đọc đúng cho HS tiểu học ở vùng cao cũng nhƣ HS chƣa có kĩ
năng đọc văn bản, Đọc văn bản Tiếng Việt chƣa lƣu loát.
Các công trình nghiên cứu của các tác giả là những định hƣớng quan
trọng làm cơ sở lí luận để cho ngƣời tôi nghiên cứu thực hiện đề tài: “ Rèn kĩ
năng đọc văn bản Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 Trường Tiểu học thị trấn Thuận
Châu – Sơn La”.
3. Mục đích nghiên cứu
Từ việc tìm hiểu những vấn đề lí luận và thực tiễn về dạy học phân môn
Tập đọc và rèn kĩ năng đọc văn bản tiếng Việt cho học sinh nhằm tìm ra biện
pháp đọc đúng, đọc hay để giúp học sinh học tốt phân môn Tập đọc lớp 2. Qua
đó giúp các em nắm đƣợc các quy tắc đọc: đọc rõ tiếng, rõ lời và đúng chính âm,
ngắt giọng đúng chỗ, đọc đúng ngữ điệu, thể hiện yếu tố phù hợp ngôn ngữ khi
đọc, tốc độ âm lƣợng đọc. Nhờ đó mà nâng cao hiệu quả giờ học tập đọc của
học sinh.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
- Khảo sát thực trạng đọc chƣa tốt của học sinh và tìm hiểu nguyên nhân
học sinh tiểu học đọc sai, đọc chƣa diễn cảm khi đọc các văn bản Tiếng Việt.
5


- Đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt cho học
sinh lớp 2 Trƣờng Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La.
- Khảo sát nội dung tìm hiểu ở SGK
- Tìm hiểu một số vấn đề lý luận làm cơ sở cho việc dạy tập đọc. Tìm hiểu
về nội dung và phƣơng pháp dạy tập đọc lớp 2
- Khảo sát thực trạng dạy đọc thông qua các giờ dạy tập đọc.
- Khảo sát kĩ năng đọc của học sinh qua một bài tập đọc.
5. Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện thời gian và trình độ của bản thân nên tác giả chỉ còn nghiên
cứu vấn đề rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2A1 Trƣờng Tiểu học thị trấn Thuận
Châu – Sơn La.
Nghiên cứu thực tiễn qua trình đọc văn bản Tiếng Việt của học sinh ở
trƣờng tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong qua trình thực hiện đề tài này, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu
theo các phƣơng pháp sau:
6.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết
Đọc nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến vấn đề đổi mới phƣơng pháp
dạy học nói chung và phƣơng pháp dạy tiếng Việt nói riêng trong đó có phƣơng
pháp dạy tập đọc.
Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu nhằm rút ra đƣợc những vấn đề cần thiết để
sử dụng cho thực hiện đề tài, làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu đề tài, đƣa
đề tài vào áp dụng phù hợp với thực tế.
Bên cạnh đọc các tài liệu trên còn nghiên cứu thêm SGK, sách giáo viên
từ lớp 1, 2 của chƣơng trình mới.
Trên cơ sở nghiên cứu SGK để nắm bắt đƣợc chƣơng trình các môn, mối
quan hệ giữa các môn học đối với SGK còn tập nghiên cứu sâu vào phân môn
Tập đọc.

6


6.2. Phƣơng pháp điều tra khảo sát
- Điều tra thực trạng dạy học ở Trƣờng Tiểu học thị trấn Thuận Châu –
Sơn La.
- Dạy một tiết tập đọc ở lớp 2 bài “ Bóp nát quả cam”
- Rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 2.
7. Giả thuyết khoa học
Hiện nay học sinh lớp 2 Trƣờng Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La
còn hạn chế về việc đọc văn bản Tiếng Việt nếu giáo viên có biện pháp phù hợp
trong quy trình hƣớng dẫn học sinh đọc một cách khoa học thì sẽ góp phần khắc
phục những khó khăn đó. Các biện pháp đề xuất trong khóa luận đƣợc nghiệm
thu hy vọng sẽ góp thêm tiếng nói giúp học sinh lớp 2 luyện đọc tốt hơn.
8. Đóng góp của đề tài
Về lí luận: Nghiên cứu đƣợc những vấn đề lí luận về vai trò của phân môn
Tập đọc ở tiểu học nói chung và ở lớp 2 nói riêng; Khẳng định những cơ sở khoa
học của việc dạy học tập đọc. Đề xuất những biện pháp rèn luyện kĩ năng đọc văn
bản Tiếng Việt cho học sinh.
Về thực tiễn: Khảo sát đánh giá đƣợc thực trạng rèn kĩ năng đọc văn bản
Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 Trƣờng Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La;
Thiết kế mẫu giáo án bài tập đọc ứng dụng những biện pháp đã đề xuất.
9. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo khóa luận gồm
3 chƣơng:
Chƣơng 1, Cơ sở lí luận.
Chƣơng 2, Cơ sở thực tiễn
Chƣơng 3, Biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học tập đọc lớp 2.

7


B - PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Một số vấn đề liên quan đến nội dung dạy học tập đọc
1.1.1.Khái niệm đọc
Môn Tiếng Việt ở trƣờng phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt
động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ đƣợc thể hiện trong
bốn dạng hoạt động, tƣơng ứng với chúng là bốn kĩ năng, nghe, nói, đọc, viết.
Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là một quá trình chuyển dạng từ hình thức
viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (úng dụng với hình thức đọc
thành tiếng) là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị
nghĩa không có âm thanh ( ứng với đọc thầm ). Hai mảng này có liên quan với
nhau bởi vì đọc thành tiếng đúng thì mới hiểu và ngƣợc lại có hiểu thì mới đọc
đúng đọc hay.[7, trang 7]
Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu của văn hóa khoa học
tƣ tƣởng tình cảm của các thế hệ trƣớc và của cả những ngƣời đƣơng thời phần
lớn đã đƣợc ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc thì con ngƣời không thể
tiếp thu nền văn minh của loài ngƣời, không thể sống một cuộc sống bình
thƣờng có hạnh phúc với đúng nghĩa của từ này trong xã hội hiện đại. Biết đọc
con ngƣời đã nhận đƣợc khả năng tiếp nhận lên nhiều lần, từ đây con ngƣời biết
tìm hiểu, đánh giá cuộc sống nhận thức các mối quan hệ tự nhiên xã hội tƣ duy,
biết đọc con ngƣời sẽ có khả năng chế ngự một phƣơng tiện văn hóa cơ bản giúp
họ giao tiếp đƣợc với thế giới bên trong của ngƣời khác, thông hiểu tƣ tƣởng,
tình cảm của ngƣời khác đặc biệt khi đọc các tác phẩm văn chƣơng, con ngƣời
không chỉ thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ƣớc
mơ tốt đẹp đƣợc khơi dậy năng lực hành động, sức sáng tạo cũng nhƣ bồi dƣỡng
tâm hồn. Không biết đọc con ngƣời sẽ không có điều kiện hƣởng thụ sự giáo dục
mà xã hội dành cho họ, không thể hình thành đƣợc nhân cách một cách toàn
diện. Đặc biệt trong thời đại công nghệ thông tin đang bùng nổ thì biết đọc ngày
càng quan trọng vì nó sẽ giúp ngƣời ta sử dụng các nguồn thông tin, đọc chính là
học, học nữa, học mãi, đọc để tựu học học cả đời
8


Vì những lí do trên, dạy đọc có một ý nghĩa rất to lớn ở tiểu học. Đọc trở
thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi ngƣời đi học. Đầu tiên là trẻ phải
học đọc, sau đó trẻ phải đọc để học. Đọc chiếm lĩnh đƣợc một ngôn ngôn ngữ để
dùng trong giao tiếp và học tập. Nó là công cụ để học tập. Nó tạo điều kiện để
học sinh có khả năng có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời. Nó là một
khả năng không thể thiếu đƣợc của con ngƣời thời đại văn minh.
Đọc một cách có ý thức cũng sẽ tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ
cũng nhƣ tƣ duy của ngƣời đọc. Việc dạy đọc sẽ giúp cho học sinh hiểu biết hơn
bồi dƣỡng ở các em lòng yêu cái thiện, cái đẹp dạy cho các em biết suy nghĩ một
cách lôgic cũng nhƣ biết tƣ duy có hình ảnh. Nhƣ vậy đọc có một ý nghĩa to lớn
còn vì nó bao gồm các nhiệm vụ giáo dƣỡng, giáo dục và phát triển.
1.1.2. Chính âm
Chính âm là các chuẩn mực phát âm của một ngôn ngữ có giá trị và hiệu
lực về mặt xã hội. Chính âm sẽ quy định nội dung luyện phát âm ở Tiểu học.
Chính âm liên quan đến vấn đề chuẩn hoá ngôn ngữ, giữ gìn sự trong sáng của
tiếng Việt. Việc hiểu biết về chính âm sẽ giúp ta xác định nội dung đọc đúng,
đọc diễn cảm một cách có nguyên tắc. [7, trang 12, 13]
1.1.3. Trọng âm
Trọng âm là độ vang và độ mạnh khi phát ra âm tiết (tiếng). Dựa vào sự
phát âm một tiếng mạnh hay yếu, kéo dài hay không kéo dài, đƣờng nét thanh
điệu rõ hay không rõ, ngƣời ta chia các tiếng trong chuỗi lời nói thành tiếng có
trọng âm (là tiếng có trọng âm mạnh) và không có trọng âm (tiếng có trọng âm
yếu). Trọng âm mạnh rơi vào các từ truyền đạt thông tin mới hoặc có tầm quan
trọng trong câu. Trọng âm yêu đi với những từ không có hoặc có ít thông tin
mới. Đây là căn cứ để chúng ta đọc rõ, nhấn giọng hay kéo dài những từ quan
trọng trong bài. [7, trang 16]
1.1.4. Ngữ điệu
Ngữ điệu là sự thay đổi giọng nói, giọng đọc, là sự lên cao hay hạ thấp
giọng nói, giọng đọc. Theo nghĩa rộng, ngữ điệu là sự thống nhất của một tổ hợp
các phƣơng tiện siêu đoạn (siêu âm đoạn tính) có quan hệ tƣơng tác lẫn nhau
9


đƣợc sử dụng ở bình diện câu nhƣ cao độ (độ cao thấp của âm thanh), cƣờng độ
(độ lớn, nhỏ, mạnh, yếu của âm thanh), tốc độ (độ nhanh chậm, ngắt nghỉ), trƣờng
độ (độ dài ngắn của âm thanh) và âm sắc. Ngữ điệu là yếu tố gắn chặt với lời nói,
yếu tố tham gia tạo thành lời nói. Ngữ điệu đƣợc sử dụng để biểu thị ý nghĩa và
phạm trù ngữ pháp cũng nhƣ các sắc thái cảm xúc biểu cảm. [7 , trang 16]
1.1.5. Đọc diễn cảm
Đọc diễn cảm ở đây đƣợc hiểu là đọc hay, là một yêu cầu đặt ra khi đọc
những văn bản văn chƣơng hoặc các yếu tố của ngôn ngữ văn chƣơng. Ở Tiểu
học không yêu cầu HS có phong cách riêng khi đọc mà yêu cầu HS có ý thức
đọc đúng ngữ điệu để biểu đạt đúng ý nghĩa, tình cảm mà tác giả đã gửi gắm
trong văn bản đƣợc đọc, đồng thời cũng biểu hiện sự thông hiểu, cảm thụ của
ngƣời đọc đối với tác phẩm. Đọc diễn cảm phản ánh cách hiểu bài văn, bài thơ
và việc hiểu là cơ sở của đọc diễn cảm. Vì vậy để đọc diễn cảm, trƣớc hết phải
xác định nội dung, nghĩa lí của bài đọc, sắc thái tình cảm, cảm xúc, giọng điệu
chung của bài. Đây là nhiệm vụ của quá trình đọc hiểu. Kết thúc quá trình đọc
hiểu, HS phải xác định đƣợc cảm xúc của bài, ví dụ cần đọc với giong: vui,
buồn, tự hào, thiết tha, trang nghiêm, sâu lắng, ngợi ca, vui tƣơi, nhẹ nhàng,
trầm hùng, mạnh mẽ, tâm tình. Xác định giọng điệu chung của một bài đọc cũng
nhƣ xác định đƣợc cảm xúc chung của một bài hát mà ngƣời nhạc sĩ thƣờng chỉ
dẫn trên đầu mỗi bản nhạc. [ 7, trang 17]
1.1.6. Văn bản
Văn bản là một sản phẩm của lời nói, một chỉnh thể ngôn ngữ, thƣờng bao
gồm một tập hợp các câu và có thể có một đầu đề, nhất quán về chủ đề và trọn
vẹn về nội dung, đƣợc tổ chức theo một kết cấu chặt chẽ nhằm một mục đích
giao tiếp nhất định. [7, trang 20]
Chƣơng trình tập đọc lớp 2 đã sử dụng những văn bản nhiều thể loại khác
nhau, có thể gọi chung là nhóm Các văn bản nghệ thuật ( truyện, thơ…) nhóm
Các văn bản khác ( khoa học, hành chính, báo chí) phản ánh nhiều lĩnh vực đời
sống khác nhau.

10


1.2. Cơ sở khoa học của việc dạy tập đọc lớp 2
1.2.1. Cơ sở tâm sinh lí của việc dạy tập đọc
Để tổ chức giờ đọc cho học sinh chúng ta cần hiểu rõ quá trình đọc, nắm
bản chất kĩ năng đọc. Đặc biệt tâm sinh lý của học sinh khi đọc là cơ sở của việc
dạy đọc.
Đọc là một hoạt động trí tuệ phức tạp mà cơ sở là việc tiếp nhận thông tin
bằng chữ viết dựa vào hoạt động của cơ qua thị giác.
Đọc đƣợc xem là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết mới nhau, là
việc sử dụng bộ mã chữ - âm để phát ra một cách trung thành những dòng văn tự
ghi lại bằng lời nói âm thanh. Đó là vận động tƣ tƣởng, tình cảm, sử dụng bộ mã
chữ nghĩa, tức là mối liên hệ giữa các con chữ và ý tƣởng, các khái niệm chứa
đựng bên trong để nhớ và hiểu cho đƣợc nội dung những gì đƣợc đọc. Đọc bao
gồm những yếu tố tiếp nhận bằng mắt, hoạt động của các cơ quan phát âm, các cơ
quan thính giác và thông hiểu những gì đƣợc đọc, càng ngày những yếu tố này
càng gần với nhau hơn, tác động đến nhau nhiều hơn.
Nhiệm vụ cuối cùng là sự phát triển kĩ năng đọc là đạt đến sự tổng hợp
giữa những mặt riêng lẻ này trong quá trình đọc. Đó là sự phân biệt ngƣời mới
biết đọc và ngƣời đọc thành thạo. Học sinh càng có khả năng tổng hợp các mặt
trên bao nhiêu thì việc đọc càng hoàn thiện, càng chính xác hoàn thiện bấy nhiêu.
Việc hình thành kỹ năng đọc trùng với kĩ thuật đọc ( tức là việc chuyển
dạng hình thức chữ viết của từ và âm thanh ) đọc đƣợc hiểu và kĩ thuật đọc cùng
với sự thông hiểu đọc ( không chỉ hiểu nghĩa từ riêng lẻ mà cả câu, cả bài ) ý
nghĩa cả hai mặt của thuật ngữ “đọc” đƣợc ghi nhận trong các tài liệu tâm lí học
và phƣơng pháp dạy học.
Kỹ năng đọc là một kỹ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện tập lâu dài
T.G.E Gôrốp chia việc hình thành kĩ năng này qua ba giai đoạn phân tích, tổng hợp
(còn gọi là phát sinh, hình thành một cấu trúc chỉnh thể của hành động) và giai
đoạn tự động hóa.
Học sinh lớp 2, 3 bắt đầu đọc tổng hợp. Thời gian gần đây ngƣời ta đã chú
trọng hơn đến những mối quan hệ quy định lẫn nhau của việc hình thành kĩ năng
11


đọc, làm việc với văn bản. Đòi hỏi giờ tổ chức tập đọc sao cho việc phân tích nội
dung của bài học, đồng thời hƣớng đến việc hoàn thiện kỹ năng đọc, hƣớng đến
đọc có ý thức bài đọc.
Đọc là hiểu nghĩa chữ viết, nếu trẻ không hiểu thì những từ đƣa ra cho các
em đọc thì các em sẽ có hứng thú học tập và không có khả năng thành công. Do
đó hiểu những gì đƣợc đọc sẽ tạo ra động cơ hứng thú cho việc đọc.
Mục đích này chỉ có thể đạt đƣợc thông qua con đƣờng luyện giao tiếp
có ý thức. một phƣơng tiện luyện tập quan trọng, cũng đồng thời là một mục
tiêu đạt tới sự chiếm lĩnh ngôn ngữ. Chính là việc đọc cả đọc thành tiếng và
đọc thầm.
Quá trình hiểu văn bản bao gồm các bƣớc sau:
+ Hiểu nghĩa các từ ngữ
+ Hiểu nghĩa các khối đoạn
+ Hiểu nghĩa đƣợc cả bài
Học sinh tiểu học không phải bao giờ cũng dễ dàng hiểu đƣợc những câu
điều mình học. Hầu nhƣ toàn bộ sức chú ý đều tập trung vào việc nhận ra mặt
chữ, đánh vần để phát âm, còn nghĩa thì chƣa đủ thì giờ và sức lực để nhận biết.
Mặt khác, do vốn từ còn năng lực liên kết câu thành ý còn hạn chế nên việc hiểu
và nội dung còn khó khăn. Đây là cơ sở đề xuất các biện pháp hình thành năng
lực đọc hiểu cho học sinh tiểu học.
1.2.2. Cơ sở giáo dục học đối với việc dạy đọc
Phƣơng pháp dạy Tập đọc phải dựa trên cơ sở giáo dục học. Giáo dục học
cung cấp cho phƣơng pháp dạy học tập đọc những hiểu biết về mục tiêu giáo
dục nói chung. Mục đích của giáo dục là phát triển tâm hồn và thể chất của học
sinh, chuẩn bị cho các em điều kiện tham gia vào cuộc sống.. Phân môn Tập đọc
chính là sự cụ thể hóa mục tiêu của khoa học giáo dục, nó hiện thực hóa mục
tiêu nhiệm vụ giáo dục học đề ra: phát triển trí tuệ, hình thành nhân cách, hình
thành thói quen khoa học, giáo dục tƣ tƣởng, tình cảm, đạo đức cho học sinh.

12


Phƣơng pháp dạy học Tập đọc phải vận dụng các nguyên tắc cơ bản của
giáo dục nhƣ: nguyên tắc vừa sức, nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc gắn với lí
thuyết, nguyên tắc gắn với thực hành, nguyên tắc trực quan…
Phƣơng pháp dạy học Tập đọc chọn ở giáo dục học những hình thức tổ
chức dạy học theo đặc trƣng môn học của mình. Ở nhà trƣờng cũng nhƣ trong
đời sống xã hội, chúng ta thƣờng gặp các hình thức đọc nhƣ: đọc thành tiếng,
đọc nhẩm,đọc đồng thanh, đọc diễn cảm, đọc thầm.
1.2.3. Cơ sở ngôn ngữ học và văn học của việc dạy học
Phƣơng pháp dạy tập đọc, phải dựa trên cơ sở ngôn ngữ học nó liên quan
mật thiết với một số vấn đề của ngôn ngữ học nhƣ vấn đề chính âm, chính tả,
chữ viết, ngữ điệu, nghĩa của từ, câu, đoạn. Dựa trên cơ sở nghiên cứu của
ngôn ngữ học xác lập nội dung và phƣơng pháp dạy tập đọc. Bốn phẩm chất
của đọc không thể tách rời những cơ sở ngôn ngữ học không coi trọng đúng
mức những cơ sở này, việc dạy học sẽ mang tính tùy tiện và không đảm bảo
hiệu quả dạy học.
Những hiểu biết về chính âm trong tiếng Việt sẽ giúp GV dạy tốt hơn
phân môn Tập đọc ở tiểu học.
Chính âm là các chuẩn mực phát âm của một ngôn ngữ có giá trị và hiệu
quả về mặt xã hội.
Theo đa số nhà nghiên cứu nội dung cơ bản của chính âm trong Tiếng
Việt hiện nay nên lấy hệ thống ngữ âm ( cách phát âm ) của phƣơng ngữ Bắc Bộ
mà tiêu biểu là tiếng Hà Nội làm căn cứ bổ xung cách phát âm. Một số phụ âm
quặt lƣỡi ( tr, s, r ) và không phát âm phân biệt d/gi.
Những hiểu biết về vấn đề ngữ điệu Tiếng Việt là cơ sở để GV hƣớng dẫn
HS đọc diễn cảm các văn bản nghệ thuật.
Ngữ điệu là sự thay đổi giọng nói, giọng đọc là sự lên cao hay hạ thấp
giọng đọc, giọng nói. Ngữ điệu là một trong những thành phần của ngôn điệu,
ngữ điệu gồm toàn bộ các phƣơng tiện siêu đoạn ( siêu âm đoạn tính ) đƣợc sử
dụng bình diện câu nhƣ độ thấp của âm thanh cƣờng độ mạnh yếu, hay là môi

13


trƣờng chuyền dẫn (độ dài ngắn của âm thanh, hay là thời gian thực tế của âm
thanh) âm sắc ( là sắc thái riêng của âm thanh)
Ngữ điệu là yếu tố gắn chặt với lời nói, là yếu tố tham gia tạo thành lời nói.
Mỗi ngôn ngữ, có một ngữ điệu riêng, ngữ điệu Tiếng Việt nhƣ các ngôn
ngữ có thanh điệu khác, chủ yếu đƣợc biểu hiện ở sự lên giọng và xuống giọng
(trƣờng độ) và sự chuyển giọng (phối hợp cả cƣờng độ và trƣờng độ).
Những hiểu biết về lí thuyết văn bản phong cách học và việc dạy đọc cho
học sinh là cơ sở để GV hƣớng dẫn học sinh đọc văn bản theo thể loại.Việc dạy
học không thể dựa trên lý thuyết văn bản, những tiêu chuẩn để phân tích, đánh
giá một văn bản nói chung cũng nhƣ lý thuyết để phân tích đánh giá các tác
phẩm văn chƣơng nói riêng. Việc hình thành kỹ năng đọc cho học sinh phải dựa
trên những tiêu chuẩn đánh giá văn bản tốt, tính chính xác, tính đúng đắn và tính
thẩm mỹ, dựa trên các đặc điểm về kiểu ngôn ngữ, các phong cách chức năng,
các thể loại văn bản các đặc điểm về tác phẩm của thể loại văn chƣơng dùng làm
ngữ liêu đọc ở Tiểu học.
Ví dụ: Cách đọc và khai thác để hiểu nội dung bài thơ, một đoạn tả cảnh,
một câu tục ngữ, một truyền thuyết, một bài lịch sử… là khác nhau. Việc hƣớng
dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài đọc cũng phải dựa trên những hiểu biết về đề
tài, chủ đề kết cấu nhân vật, quan hệ giữa nội dung hình thức, các biện pháp thể
hiện trong tác phẩm văn học nhằm miêu tả, kể chuyện và biểu hiện các phƣơng
tiện, biện pháp tu từ.
Khi luyện đọc cho học sinh GV cần quan tâm tới hình thức đọc thành tiếng.
Giáo viên hƣớng dẫn học sinh chuẩn bị tâm thế để đọc. Khi đọc cần ngồi
ngay ngắn, khoảng cách từ mắt đến sách nằm trong khoảng từ 30-35cm, cổ và
đầu thẳng, phải hít sâu và thở ra chậm để lấy hơi. Ở lớp khi đƣợc cô giáo gọi
đọc, học sinh phải bình tĩnh, tự tin không hấp tấp đọc ngay.
Trƣớc khi nói về việc rèn đọc đúng cần nói về tiêu chí cƣờng độ và tƣ thế
khi đọc, tức là rèn đọc to, đọc đàng hoàng. Trong hoạt động giao tiếp, khi đọc
thành tiếng ngƣời đọc đóng một lúc hai vai: Một vai – và mặt này thƣờng đƣợc
nhấn mạnh – là ngƣời tiếp nhận thông tin, bằng chữ viết, vai thứ hai là ngƣời
14


trung gian để truyền thông tin, đƣa văn bản tới ngƣời nghe. Khi giữ vai thứ hai
này, ngƣời đọc đã thực hiện việc tái sinh văn bản. Vì vậy khi đọc thành tiếng
ngƣời đọc có thể đọc cho mình hoặc cho ngƣời khác hoặc cho cả hai. Đọc cùng
với phát biểu là hai hình thức giao tiếp trƣớc đám đông đầu tiên của trẻ em nên
giáo viên phải coi trọng khâu chuẩn bị để đảm bảo sự thành công tạo cho các em
sự tự tin cần thiết. Khi đọc thành tiếng các em phải tính đến ngƣời nghe. Giáo
viên cần cho các em hiểu rằng các em đọc không phải chỉ để cho mình cô giáo
mà để cho tất cả các bạn cùng nghe nên cùng đọc đủ lớn cho tất cả những ngƣời
này nghe rõ. Nhƣng nhƣ thế hoàn toàn không có nghĩa là đọc quá to hoặc gằn
lên. Để luyện cho học sinh đọc quá nhỏ “lý nhí” giáo viên cần tập cho các em
đọc to chừng nào bạn ở xa nhất trong lớp nghe thấy mới thôi. Giáo viên nên cho
học sinh đứng lên bảng để đối diện với những ngƣời nghe tƣ thế đứng đọc phải
đàng hoàng, vừa thoải mái và cân bằng hai tay.
Đọc thành tiếng nhằm mục đích luyện đọc đúng cho học sinh. Đọc đúng
là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác, không có lỗi. Đọc
đúng là không đọc thừa, không sót từng âm, vần, tiếng. Đọc đúng phải thể hiện
đúng ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm. Nói cách khác là không đọc theo
cách phát âm địa phƣơng lệch chuẩn, với những học sinh dân tộc thì lƣu ý không
để hệ thống ngữ âm mẹ đẻ ảnh hƣởng tiêu cực đến phát âm Tiếng Việt. Đọc
đúng bao gồm bao gồm việc đọc đúng các âm thanh (đúng các âm vị) ngắt nghỉ
hơi đúng chỗ ( đọc đúng ngữ điệu).
Luyện đọc đúng phải rèn cho học sinh thể hiện chính xác các âm vị Tiếng
Việt. Chẳng hạn đọc đúng các phụ âm đầu s/x, tr/ch. Đọc đúng các chính âm: Có
ý thức phân biệt để không đọc “ Ơn, ân” “hoa lay ơn”, “hoa lay ân”. Đọc đúng
các âm cuối. Đọc đúng các thanh có các lỗi phát âm địa phƣơng nhƣ lẫn thanh
(~) và thanh nặng (.) VD: Dũng sĩ – Dụng sĩ. Đọc đúng bao gồm cả đúng tiểu
tấu, ngắt hơi, ngữ điệu câu, cần phải dựa vào nghĩa, vào quan hệ ngữ pháp giữa
các tiếng, từ để ngắt hơi cho đúng. Khi đọc không đƣợc tách một từ làm hai.
VD: Vậy tại sao chiều hôm/ qua con im lặng. Không tách từ chỉ loại với danh từ
mà nó đi kèm:Ví dụ không đọc: Lặng rồi cả/ tiếng con ve Con ve cũng/ mệt vì hè
15


nắng oi. Không tách quan hệ từ “là” với danh từ đi sau nó, ví dụ không đọc: Mẹ
là / ngọn gió của con suốt đời.
Việc ngắt hơi phải phù hợp với dấu câu: Nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn
ở dấu chấm. Đọc đúng các ngữ điệu câu: Lên giọng ở cuối câu hỏi, hạ giọng ở
cuối câu kể, thay đổi giọng cho phù hợp với tình cảm diễn đạt trong câu cảm,
với câu ccauf khiến cần nhấn giọng phù hợp để thấy rõ các nội dung cầu khiến
khác nhau. Ngoài ra còn phải hạ giọng khi đọc bộ phận giải thích của câu.
Nhƣ vậy đọc đúng đã bao gồm một số tiêu chuẩn của đọc diễn cảm.
Trình tự luyện đọc đúng : Trƣớc khi lên lớp giáo viên phải dự tính để
ngăn ngừa các lỗi khi đọc. Tùy từng đối tƣợng học sinh, giáo viên xác định các
lỗi phát âm mà học sinh địa phƣơng hoặc học sinh dân tộc thiểu số dễ mắc phải
để định ra các tiếng, từ, cụm từ, câu khó để luyện đọc trƣớc.
Khi lên lớp đầu tiên giáo viên đọc mẫu rồi cho cả lớp đọc đồng thanh,
cuối cùng cho các em đọc cá nhân thành tiếng, từ khó này, với những câu mà
giáo viên dự tính sẽ có nhiều em đọc sai phách câu. Cũng tiến hành nhƣ vậy,
cuối cùng mới luyện đọc cả bài.
Luyện đọc nhanh : Đọc nhanh là nói đến phẩm chất đọc về mặt tốc độ, là
việc đọc không ê, a ngặc ngứ, vấn đề tốc độ đọc chỉ đặt ra sau khi đã đọc đúng.
Đọc nhanh chỉ thực sự có ích khi có không tách rời việc hiểu rõ điều đƣợc đọc.
Khi đọc cho ngƣời khác nghe thì ngƣời đọc phải xác định tốc độ nhanh nhƣng
để cho ngƣời nghe hiểu kịp thời. Vì vậy đọc nhanh không phải là đọc liến
thoắng. Tốc độ chấp nhận đƣợc của đọc nhanh khi đọc thành tiếng trùng với tốc
độ của lời nói.
Biện pháp luyện đọc nhanh: Giáo viên hƣớng dẫn cho học sinh làm chủ
tốc độ đọc bằng cách đọc mẫu để học sinh đọc theo tốc độ quy định. Đơn vị để
đọc nhanh là cụm từ, câu, đoạn, bài. Giáo viên điều chỉnh tốc độ đọc bằng cách
giữ nhịp đọc. Ngoài ra còn có biện pháp đọc nối tiếp trên lớp, đọc thầm có sự
kiểm tra của giáo viên của bạn để điều chỉnh tốc độ đọc bằng cách chọn sẵn bài
có tiếng cho trƣớc và dự tính sẽ đọc trong bao nhiêu phút. Định đọc tốc độ nhƣ
thế nào còn phụ thuộc vào độ khó của bài đọc.
16


Bên cạnh luyện đọc thành tiếng để HS đọc đúng, GV cần hƣớng dẫn HS
đọc hiểu văn bản Tiếng Việt bằng hình thức đọc thầm. Ở hình thức đọc này GV
cần chú ý tới học sinh tƣ thế đọc.
Cũng nhƣ khi ngồi đọc (và ít khi đứng đọc) thành tiếng, tƣ thế ngồi đọc
thầm phải ngay ngắn khoảng cách giữa mắt và sách 30-35cm.
Kỹ năng đọc thầm phải chuyển dần từ ngoài vào trong, từ đọc to → đọc nhỏ
→ đọc mấp máy môi (không thành tiếng) → đọc hoàn toàn bằng mắt, không mấp
máy môi (đọc thầm) giai đoạn cuối lại gồm 2 bƣớc: Di chuyển mắt theo que trỏ hoặc
ngón tay rồi đến chỉ có mắt di chuyển. Giáo viên phải tổ chức quá trình chuyển từ
ngoài vào trong này.
Cần kiểm soát quá trình đọc thầm của học sinh bằng cách quy định thời
gian đọc thầm cho từng đoạn và bài.
Đọc hiểu : đƣợc thể hiện qua hiệu quả của đọc thầm đƣợc đo bằng khả
năng thông hiểu nội dung văn bản đọc. Do đó dạy đọc thầm chính là dạy đọc có
ý thức đọc hiểu. Kết quả của đọc thầm phải giúp học sinh hiểu nghĩa của từ, cụm
từ, câu, đoạn, bài. Tức là toàn bộ những gì đƣợc đọc. Nhƣ tâm lí ngôn ngữ học
đã chỉ ra để hiểu và nhớ những gì đƣợc đọc ngƣời đọc không phải xem tất cả các
chữ đều quan trọng nhƣ nhau mà có thể và cần sàng lọc để giữ lại những từ
“chìa khóa” những nhóm từ mang ý nghĩa cơ bản. Đó là những từ để giúp ta
hiểu đƣợc nội dung của bài. Trong những bài khoa văn chƣơng đó là những từ
dùng “đắt” để tạo nên giá trị nghệ thuật của từ có tín hiệu nghệ thuật. Đó là
những từ giàu màu sắc biểu cảm nhƣ các từ láy, những từ đa nghĩa, những từ
mang nghĩa bóng, có sự chuyển nghĩa văn chƣơng.
Tiếp đó cần hƣớng dẫn học sinh đến việc phát hiện ra những câu quan
trọng của bài. Những câu nêu ý nghĩa chung của bài.
1.3. Vai trò của phân môn Tập đọc lớp 2
1.3.1. Mục tiêu
Phân môn Tập đọc lớp 2, là môn học rất quan trọng. Vì đây là cơ sở ban
đầu giúp các em rèn kĩ năng đọc thành tiếng, đọc thầm, đọc hiểu văn bản …Từ

17


đó giúp các em hiểu biết về thiên nhiên xã hội, cung cấp vốn từ, vốn diễn đạt…
Góp phần rèn luyện nhân cách cho học sinh.
- Mục tiểu của phân môn Tập đọc lớp 2 về chuẩn kiến thức kĩ năng
chƣơng trình Tiểu học mới là:
+ Đọc đúng và trôi chảy một đoạn văn, đoạn đối thoại hoặc một bài văn
ngắn.
+ Hiểu đƣợc ý chính của đoạn.
+ Biết dựng mục lục SGK khi đọc.
+ Thuộc lòng một số bài văn vần trong SGK.
1.3.2. Nhiệm vụ
a1. Rèn kỹ năng đọc
tập đọc là môn thực hành tiếng việt. dạy tập đọc chính là dạy một kĩ năng.
Cần coi trọng việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh, cần chú ý đến cả hai hình thức
đọc chủ yếu dạy ở tiểu học: đọc thành tiếng và đọc thầm.
- Đọc thành tiếng là hình thức đọc phát ra âm thanh (tiếng). hình thức đọc
này dựa trên sự nghiên cứu về quá trình đọc của ngƣời mới tập đọc là: muốn đọc
hiểu cần phải phối hợp các hoạt động thị giác và thính giác: miệng đọc, mắt nhìn
tai nghe nhƣ vậy mới dễ dàng nhớ nội dụng.
Đọc thành tiếng có các mức độ sau:
Đọc đúng: phát âm chính xác các tiếng… cần điều tra lỗi phát âm của học
sinh từng vùng để có biện pháp sửa chữa thích hợp.
Đọc rõ ràng, rành mạch: đọc rõ tiếng, từ, cụm từ, ngắt nghỉ đúng chỗ,
đúng dấu câu, cƣờng độ vừa phải, (không đọc to quá hoặc quá nhỏ, tốc độ vừa
phải không ê a ngắc ngứ, không liến thoắng).
Đọc lưu loát: đọc với tốc độ nhanh. Phát âm rõ ràng, rành mạch không bị
vấp váp, biết ngừng nghỉ đúng dấu câu. Phải luyện tập dần dần, từ đọc đúng tiến
tới đọc nhanh.
Đọc diễn cảm: là kĩ năng dùng ngữ điệu, chỗ ngƣng giọng và các thủ
pháp khác để làm nổi bật các ý nghĩa và tình cảm mà tác giả đã gửi trong nội
dung bài học, đồng thời biểu lộ sự cảm thụ của cá nhân đối với bài học. Đọc
18


diễn cảm là biểu hiện cao của đọc có ý thức và chỉ thực hiện đƣợc trên cơ sở
đọc đúng và nhanh.
Đọc thành tiếng là biện pháp để rèn đọc cá nhân từ đọc đúng tới diễn cảm.
a2. Trau dồi kiến thức văn học, kiến thức ngôn ngứ, kiến thức đời sống cho
học sinh
Ngoài nhiệm vụ rèn đọc và rèn trí nhớ cho học sinh phân môn tập đọc còn
có nhiệm vụ tích lũy kiến thức nhiều mặt nhiều dạng, phong phú cho các em.
Các bài tập đọc chọn dạy trong chƣơng trình là những bài văn, bài thơ hay
trong kho tàng văn hóa dân tộc và thế giới.
Mỗi bài tập đọc là một bức tranh nhỏ về hiện thực cuộc sống con ngƣời và
thời đại… các em càng đọc càng thêm hiểu biết về con ngƣời và đất nƣớc ta
trong quá khứ và hiện tại, về nhiều nƣớc trên thế giới. càng thêm tin yêu ở con
ngƣời và cuộc sống tƣơnng lai.
Nhờ các bài tập đọc mà trí tuệ của các em đƣợc mở mang, nhận thức của
các em đƣợc nâng cao, hiểu biết của các em thêm mở rộng, vốn sống về nhiều
mặt đƣợc nâng lên “ngƣời ta chỉ trở thành ngƣời cộng sản làm giàu tri thức của
mình bằng sự hiểu biết tất cả kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra” ( Lê nin).
Vốn sống đó sẽ đƣợc nâng dần và làm phong phú khi học lên các lớp trên.
a3. Giáo dục lòng ham đọc sách: hình thành phƣơng pháp và thói quen
làm việc với văn bản, làm việc với sách cho học sinh. Làm cho sách đƣợc tôn
kính trong nhà trƣờng , đó là một trong những điều kiện để trƣờng học trở thành
trung tâm văn hóa, nói cách khác thông qua việc dạy học tập đọc, phải làm cho
học sinh thấy thích thú đọc và thấy đƣợc khả năng đọc là có lợi ích cho các em
trong cả cuộc đời, thấy đƣợc đó là một trong những con đƣờng đặc biệt để tạo
cho mình một cuộc sống trí tuệ và phát triển.
a4. Giáo dục thẩm mĩ, giáo dục tình cảm, phát triển tư duy
Giáo dục thẩm mĩ: thực chất của việc giáo dục thẩm mĩ là gì nếu không
phải là cho các em biết cảm thụ cái hay cái đẹp của ngôn ngữ văn học, hình
tƣợng của văn học qua mỗi bài tập đọc.

19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×