Tải bản đầy đủ

Tieu luan cao hoc mon QUAN TRI RUNG

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TIỂU LUẬN CAO HỌC
HỌC PHẦN QUẢN TRỊ RỪNG

Chuyên đề: Cơ sở pháp lý của trách nhiệm giải trình
và sự tham gia trong tiến trình thực hiện chính sách
chi trả dịch vụ môi trường rừng

Lớp:Cao học Lâm học 22C

HUẾ - 01/2018


ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TIỂU LUẬNCAO HỌC
HỌC PHẦN QUẢN TRỊ RỪNG


Chuyên đề: Cơ sở pháp lý của trách nhiệm giải trình
và sự tham gia trong tiến trình thực hiện chính sách
chi trả dịch vụ môi trường rừng

Giáo viên hướng dẫn: TS. Hoàng Huy
Học viên thực hiện: Phạm Xuân

HUẾ - 01/2018


PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Môi trường rừng bao gồm các hợp phần của hệ sinh thái rừng: thực vật,
động vật, vi sinh vật, nước, đất, không khí, cảnh quan thiên nhiên. Môi trường
rừng có các giá trị sử dụng đối với nhu cầu của xã hội và con người, gọi là giá trị
sử dụng của môi trường rừng, gồm: Bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước, phòng hộ
đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng chống thiên tai, đa dạng sinh học, hấp thụ
và lưu giữ các bon, du lịch, nơi cư trú và sinh sản của các loài sinh vật, gỗ và
lâm sản khác.
Dịch vụ môi trường rừng là công việc cung ứng các giá trị sử dụng của
môi trường rừng để đáp ứng các nhu cầu của xã hội và đời sống của nhân dân,
bao gồm: a) Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng
suối; b) Điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội; c) Hấp
thụ và lưu giữ các bon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính bằng
các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển rừng
bền vững; d) Bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ
sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch; đ) Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn
thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy
sản. Chi trả dịch vụ môi trường rừng là quan hệ cung ứng và chi trả giữa bên sử
dụng dịch vụ môi trường rừng trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ môi trường
rừng.
Hiện nay, chi trả dịch vụ môi trường rừng đang là vấn đề đặt ra đối với
công tác quản lý, bảo vệ rừng không chỉ ở Việt Nam mà cả trên thế giới. Làm
thế nào để vừa đảm bảo giữ vững vốn tài nguyên rừng, vừa tăng cường và phát
triển sinh kế cho người dân địa phương.

1


PHẦN 2


NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1. Giá trị của rừng
Theo quan điểm của Nghị định thư Kyoto, “rừng là hệ sinh thái có diện
tích tối thiểu 0,05-1,00 ha; tỷ lệ che phủ tầng tán tối thiểu 10-30%; chiều cao
cây cối tối thiểu 2-5m” [UNFCCC, 2001]. Trong định nghĩa này hệ sinh thái
được hiểu là một tập hợp quần thể năng động có một chức năng chung của các
loài thực vật, động vật và cộng đồng các chất vi sinh vật cùng môi trường xung
quanh chúng.
Luật Bảo vệ và phát triển rừng của Việt Nam 2004 đã đưa ra định nghĩa
“rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh
vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó có cây gỗ, tre, nứa
hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính, có độ che phủ của tán rừng từ
0,1 (10%) trở lên” [Theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004,2004].
Giá trị sử dụng là những lợi ích thu được từ việc sử dụng nguồn tài
nguyên rừng, bao gồm: giá trị sử dụng trực tiếp, giá trị sử dụng gián tiếp và giá
trị tùy chọn.
Giá trị sử dụng trực tiếp là các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà rừng trực
tiếp cung cấp và chúng ta có thể tính được giá cả cũng như khối lượng trên thị
trường.
Giá trị sử dụng gián tiếp là những giá trị chủ yếu dựa trên chức năng của
hệ sinh thái, có ý nghĩa về mặt sinh thái và môi trường. Nói cách khác, giá trị sử
dụng gián tiếp là giá trị các dịch vụ do rừng tạo ra và được nhiều người, thậm
chí là cả xã hội cùng hưởng lợi (điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, hạn chế xói
mòn, hấp thụ và lưu giữ các bon, cảnh quan, vẻ đẹp thiên nhiên, đa dạng sinh
học…).
Giá trị tùy chọn là lượng mà mỗi cá nhân sẵn sàng chi trả để bảo tồn
nguồn lực hoặc một phần nguồn lực của rừng để sử dụng cho tương lai. Đây là
giá trị có được từ nhận thức, lựa chọn của con người đặt ra trong hệ sinh thái.
Giá trị phi sử dụng còn gọi là giá trị không sử dụng hoặc giá trị chưa sử
dụng của rừng là những giá trị sử dụng tiềm năng có thể được phát hiện và sử
dụng về sau.
Hiểu được các giá trị này sẽ thay đổi được nhận thức về vai trò và giá trị
kinh tế của rừng tốt hơn, đặc biệt là giá trị sử dụng gián tiếp của rừng được coi
là một trong những điểm then chốt hình thành REDD.
2.2. Dịch vụ môi trường rừng
Để hiểu được dịch vụ môi trường rừng, cần thống nhất cách hiểu về môi
trường rừng. Điều 3, Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính Phủ
4


về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (Nghị định 99/2010/NĐ-CP) đã
nêu rõ:
“Môi trường rừng bao gồm các hợp phần của hệ sinh thái rừng: thực vật,
động vật, vi sinh vật, nước, đất, không khí, cảnh quan thiên nhiên. Môi trường
rừng có các giá trị sử dụng đối với nhu cầu của xã hội và con người, gọi là giá trị
sử dụng của môi trường rừng, gồm: bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước, phòng hộ
đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng chống thiên tai, đa dạng sinh học, hấp thụ
và lưu giữ các bon, du lịch, nơi cư trú và sinh sản của các loài sinh vật, gỗ và
lâm sản khác” [Nghị định 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ].
Đối với khái niệm “dịch vụ môi trường”: hiện nay trên thế giới chưa có
một định nghĩa chuẩn nào về dịch vụ môi trường. Tuy vậy, để hiểu một cách gần
gũi, dịch vụ môi trường là lợi ích mà tự nhiên có thể mang lại cho các hộ gia
đình, cộng đồng và nền kinh tế.
Theo định nghĩa và phân loại của UNFCCC, các dịch vụ môi trường được
chia thành 4 nhóm: nhóm cung cấp, nhóm điều tiết, nhóm văn hóa và nhóm hỗ
trợ.
Dịch vụ môi trường rừng là bộ phận quan trọng bậc nhất của dịch vụ môi
trường. Môi trường rừng là môi trường do kết quả tác động của rừng tạo ra cho
xã hội và tự nhiên. Nó là loại môi trường có tầm quan trọng không thể thay thế
trong hệ sinh thái chung.
Điều 3, Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 cũng đã nêu rõ: “Dịch
vụ môi trường rừng là việc cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường rừng để
đáp ứng các nhu cầu của xã hội và đời sống của nhân dân” .
Dịch vụ môi trường thuộc loại dịch vụ tổng hợp bao gồm nhiều loại dịch
vụ cụ thể. Theo điều 4, Nghị định 99/2010/NĐ-CP, các loại dịch vụ môi trường
rừng gồm:
i) Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối;
ii)Điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội, iii) Hấp thụ và
lưu giữ các bon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu rứng nhà kính bằng các
biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển bền vững;
iv) Bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái
rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch; Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và
con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản [Nghị
định 99/2010/NĐ-CP].
Như vậy, dịch vụ REDD thuộc nhóm thứ 3 trong hệ thống phân loại dịch
vụ môi trường rừng theo Nghị định trên của Chính phủ.
Hiện nay, có ba loại dịch vụ môi trường đang được triển khai chi trả, đó là
giảm nhẹ biến đổi khí hậu, phòng hộ đầu nguồn và bảo tồn đa dạng sinh học.
Nhu cầu về 3 loại dịch vụ này được dự báo ngày càng tăng. Tuy nhiên, mức chi
trả ở các quốc gia rất khác nhau, tùy thuộc vào nhận thức, năng lực thể chế,
nguồn lực ngân sách nhà nước và năng lực chi trả. Không thể tính được chính
5


xác những gì bị mất đi về mặt môi trường khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất
lâm nghiệp sang các mục đích sử dụng khác. Nếu tiếp cận theo quan điểm chính
sách mới, chỉ đủ cơ sở để lập luận rằng, các dịch vụ môi trường rừng là hữu ích
và có thể xác định được lợi ích, giá trị của nó để thiết lập cơ chế chi trả. Nó là
một loại hàng hóa công cộng vì có đầy đủ hai tính chất là không thể phân chia và
không thể loại trừ. Tuy nhiên, do tính chất có thể đo đếm kết quả và xác định
được người hưởng lợi dịch vụ nên có thể xác lập được cơ chế chi trả theo
nguyên tắc thị trường [UNEP, 2005]. Từ đó, khái niệm “Chi trả dịch vụ môi
trường rừng” (PFES) đã ra đời và từng bước được áp dụng ở các nước, tạo hiệu
quả rất tốt về chính sách công và huy động nguồn lực tài chính.
2.3. Chi trả dịch vụ môi trường rừng
“Chi trả dịch vụ môi trường rừng” (PFES) là quan hệ tài chính tương đối
mới trên thế giới, bắt nguồn từ quan điểm chính sách về “dịch vụ môi trường”.
Theo quan điểm này, các hệ sinh thái, trong đó có hệ sinh thái rừng, có vai trò
cung cấp các dịch vụ có tác dụng không chỉ đảm bảo sự trong lành về môi
trường mà còn đảm bảo sản xuất và sức khỏe của con người, thông qua các tác
động tích cực và đa dạng như bảo vệ nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn, điều hòa
khí hậu, phòng chống dịch bệnh, tạo điều kiện phát triển du lịch, văn hóa và cải
tạo đất…Ngày nay, trong khi nhu cầu về các dịch vụ này tăng, thì khả năng để
cung cấp các dịch vụ đó của các hệ sinh thái ngày càng đứng trước nguy cơ bị
suy giảm vì môi trường rừng đang dần bị suy thoái và ô nhiễm quá mức. Một
trong những nguyên nhân chính dẫn tới điều đó là tăng nhu cầu phát triển kinh
tế, sự gia tăng dân số, sự thiếu hiểu biết về chu kỳ và chức năng của các hệ sinh
thái và cả sự thiếu trách nhiệm của một số doanh nghiệp và cá nhân khi chỉ nghĩ
tới việc tối đa hóa lợi nhuận trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài về bảo vệ môi
trường.
Để có thể hiểu một cách đơn giản, PFES là việc chi trả của những người
hưởng lợi dịch vụ môi trường rừng cho người cung ứng dịch vụ.
Nghị định 99/2010/NĐ-CP cũng đã đưa ra cách hiểu về PFES: “Là quan
hệ cung ứng và chi trả giữa bên sử dụng dịch vụ môi trường trả tiền cho bên
cung ứng dịch vụ” .
Như vậy, PFES là một quan hệ tài chính mới cho một loại hình dịch vụ
công cộng là dịch vụ môi trường rừng. Việc chi trả này bao gồm các yếu tố cơ
bản như đối tượng phải chi trả, đối tượng được chi trả, loại dịch vụ chi trả, hình
thức và nguyên tắc chi trả…
Để có thể thực hiện PFES, trước hết cần đánh giá được giá trị của dịch vụ
này. Thứ nhất, có rất nhiều người không hiểu được giá trị của sinh thái rừng, đặc
biệt là những người còn đang chịu cảnh đói khổ, nguồn sống chỉ biết phụ thuộc
vào rừng. Ngoài ra, còn có những người dân có cuộc sống khá hơn nhưng vì
muốn tối đa hóa lợi nhuận nên chỉ nghĩ tới lợi ích trước mắt mà không nghĩ tới
lợi ích lâu dài. Thứ hai, việc đánh giá giá trị dịch vụ môi trường rừng sẽ cho
phép các nhà tài chính phân tích chi phí- lợi ích để so sánh cái được và cái mất
trong việc bảo vệ hay hủy hoại môi trường rừng, từ đó đưa ra các căn cứ để các
6


nhà hoạch định chính sách và những nhà quản lý môi trường ra những quyết
định đúng đắn và lý giải về nghĩa vụ của toàn xã hội đối với các hoạt động bảo
tồn hệ sinh thái rừng. Thứ ba, Nếu muốn ai đó trả tiền cho dịch vụ môi trường
rừng, chúng ta phải chỉ ra được giá trị về mặt tài chính của các dịch vụ đó.
Mặc dù còn nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau nhưng PFES đã trở
thành hình thức và cơ chế chi trả tài chính phổ biến trong hệ thống cơ chế, chính
sách của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam (mặc dù Việt Nam là một nước
mới thí điểm áp dụng).
2.4. Trách nhiệm giải trình qua chi trả dịch vụ môi trường rừng
Những hiệu ứng tích cực Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn), Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam. Ngày 14/1/2008,
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/2008/NĐ-CP về Quỹ Bảo vệ và Phát
triển rừng (Nghị định 05) nhằm mục đích thu hút, tiếp nhận các nguồn tài chính
ngoài ngân sách nhà nước cho quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Trong đó chi
trả dịch vụ môi trường rừng là một trong những nguồn tài chính quan trọng của
Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng. Ngày 10/4/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành Quyết định số 38 thực hiện thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng tại
tỉnh Sơn La và Lâm Đồng. Sau 2 năm thí điểm được đánh giá thành công, ngày
24/9/2010 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2010 về chính sách chi trả
dịch vụ môi trường rừng có hiệu lực từ ngày 1/1/2011 (Nghị định 99). Ngoài ra
còn có thông tư số 60/2012/TT-BNNPTNT hướng dẫn thi hành nghi định 99.
Trên cơ sở đó, ngày 2/11/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
147/2016 (Nghị định 147) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 99, đây là
căn cứ quan trọng để góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá
trình thực hiện chính sách trước đó. Đồng thời, việc tăng mức chi trả đối với các
cơ sở thủy điện (từ 20 đồng/kwh lên 36 đồng/kwh) và cơ sở sản xuất nước sạch
(từ 40 đồng/m³ lên 52 đồng/m³), góp phần gia tăng nguồn thu tiền dịch vụ môi
trường rừng. Qua đó người dân, đặc biệt là những đồng bào dân tộc nghèo vùng
sâu, vùng xa được hưởng lợi nhiều hơn từ chính sách bảo vệ và phát triển rừng.
Với Nghị định 147, người dân sẽ được hưởng số tiền dịch vụ môi trường rừng
nhiều hơn, điều kiện cuộc sống đảm bảo hơn và khích lệ họ đóng góp công sức
bảo vệ rừng. Nguồn tiền dịch vụ môi trường rừng đã giúp cho các tổ chức quản
lý bảo vệ 4,602 triệu ha rừng được hưởng dịch vụ môi trường rừng. Bên cạnh
những nguồn thu chính từ thủy điện, nước sạch, du lịch, Quỹ cũng đang tiến
hành thí điểm những nguồn thu dịch vụ môi trường rừng mới như từ các cơ sở
sản xuất công nghiệp, nuôi trồng thủy sản và sắp tới là dịch vụ hấp thụ lưu trữ
các bon.
Từ những kết quả thí điểm quan trọng này, sắp tới Quỹ Bảo vệ và Phát
triển rừng Việt Nam sẽ tham mưu cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
ban hành quy định áp dụng rộng rãi trên cả nước, góp phần đa dạng hóa nguồn
thu tiền dịch vụ môi trường rừng. Có thể nói, hoạt động cung ứng và chi trả dịch
7


vụ môi trường rừng phù hợp với xu thế mới ở Việt Nam và xu thế chung của thế
giới trong bảo vệ môi trường, góp phần quan trọng vào việc quản lý, khai thác
hiệu quả, bền vững tài nguyên đất đai trong lâm nghiệp, phục vụ cho phát triển
kinh tế đất nước. Cùng với đó, góp phần cải thiện điều kiện sống, giải quyết việc
làm cho hàng triệu người trên địa bàn rừng núi, thực hiện thành công chính sách
giảm nghèo, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Từ khi thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, công tác
quản lý, bảo vệ rừng có nhiều kết quả tích cực, số vụ vi phạm Luật Bảo vệ rừng
và phát triển rừng, cũng như diện tích rừng bị thiệt hại trong giai đoạn 2011 2015 giảm lần lượt là 32,9% và 58,2% so với giai đoạn 2006 - 2010. Hiện có
hơn 500 ngàn hộ gia đình, cộng đồng được nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường
rừng qua hình thức chi trả trực tiếp và chi trả qua nhận khoán. Tiền thu từ dịch
vụ môi trường rừng bình quân chung trên cả nước khoảng 2 triệu đồng/hộ/năm,
góp phần nâng cao thu nhập, giảm khó khăn cho người dân, nhất là đồng bào
dân tộc. Mặc dù số tiền chi trả chưa lớn nhưng cũng là nguồn thu quan trọng cho
các hộ gia đình nghèo ở vùng sâu, vùng xa.
Ngoài ra, số tiền dịch vụ môi trường rừng đã góp phần hỗ trợ chủ rừng
kinh phí quản lý, bảo vệ rừng, nhất là các công ty lâm nghiệp khi dừng khai thác
gỗ rừng tự nhiên, các ban quản lý rừng đang gặp khó khăn về kinh phí và giúp
người dân miền núi tăng thu nhập, nâng cao đời sống.
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách, bên cạnh những thành tựu đạt
được, trong quá trình tổ chức, hoạt động của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt
Nam và thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng còn gặp một số khó khăn, tồn
tại, như việc thu tiền dịch vụ môi trường rừng vẫn còn thấp so với tiềm năng
hiện có, ngoài những đối tượng đang triển khai thì các đối tượng khác như cơ sở
công nghiệp, nuôi trồng thủy sản có sử dụng nước từ rừng và dịch vụ hấp thu
các bon chưa được thực hiện rộng rãi trên phạm vi cả nước.
Ngoài ra, tiền dịch vụ môi trường rừng thu từ các nhà máy thủy điện là 20
đồng/kwh và hiện nay là 36 đồng/kwh, thấp hơn nhiều so với giá trị dịch vụ môi
trường do rừng tạo ra (giá trị giữ đất, giữ nước của rừng tính trung bình trên1
kWh dao động từ 63 - 368 đồng/kWh, trung bình là 214 đồng/kWh); tiền dịch
vụ môi trường rừng thu từ các nhà máy sản xuất nước sạch là 52 đồng/m3, cũng
thấp hơn nhiều so với giá trị dịch vụ môi trường rừng (giá trị dịch vụ môi trường
rừng trong 1m3 nước sạch là 65 đồng). Trong khi thu nhập của các hộ gia đình
từ dịch vụ môi trường rừng bình quân chung cả nước khoảng 2 triệu
đồng/hộ/năm là rất thấp, khó đảm bảo cuộc sống. Một số đơn vị sử dụng dịch vụ
môi trường rừng (nhà máy thủy điện, nước sạch và cơ sở kinh doanh du lịch)
chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm trả tiền, hoặc trả chậm, dẫn đến nợ đọng
nhiều, ảnh hưởng đến kế hoạch thu, chi và quản lý, bảo vệ rừng của các tỉnh.
Về quy định pháp lý của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam chưa rõ
ràng dẫn đến các địa phương vận dụng khác nhau, thiếu thống nhất; việc tự chủ
8


tài chính còn hạn chế, do đó các Quỹ tỉnh gặp nhiều khó khăn trong tổ chức hoạt
động. Mặt khác, tiền dịch vụ môi trường rừng là một nguồn tài chính mới, nhiều
lãnh đạo, cán bộ chưa hiểu hết bản chất của tiền này, vẫn xem đây là một nguồn
ngân sách nhà nước và vận dụng cơ chế quản lý ngân sách nhà nước vào quản
lý, gây khó khăn trong việc quản lý, sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng.
Để tiếp tục thực hiện hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
trong thời gian tới, đề nghị Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ và Phát triển rừng
(sửa đổi), trong đó bổ sung những nội dung liên quan đến Quỹ, cũng như chính
sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; đề xuất Chính phủ cho phép và giao Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên
quan nghiên cứu xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị
định 05 trong năm 2018, cũng như sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư
hướng dẫn liên quan cho phù hợp với điều kiện thực tế, nhằm triển khai có hiệu
quả Nghị định 147.
Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam sẽ tích cực đôn đốc các địa
phương tổ chức tuyên truyền, phổ biến nội dung của Nghị định 147 cho các đối
tượng liên quan và triển khai áp dụng mức chi trả dịch vụ môi trường rừng mới.
Đồng thời tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành đảm bảo thu đúng, thu đủ các
loại dịch vụ đã quy định đối tượng thu, mức thu; yêu cầu các đơn vị thực hiện
nghiêm túc việc thu nộp tiền dịch vụ môi trường rừng và các khoản đóng góp
bắt buộc theo quy định trên phương tiện thông tin đại chúng, tạo sự đồng thuận
của các cấp, ngành, tổ chức, cá nhân và toàn xã hội. Ngoài ra, Quỹ sẽ tăng
cường kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách chi trả giải ngân kịp thời, đầy đủ
đến các chủ rừng và hộ nhận khoán bảo vệ rừng, không để tồn đọng. Cùng với
đó, Quỹ sẽ sớm hoàn thành dự án tổng điều tra, kiểm kê rừng, làm cơ sở thực
hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và vai trò của nhà nước:
Sau một thời gian dài dưới cơ chế quản lý rừng kế hoạch hóa và tập trung
(giai đoạn trước năm 1990), diện tích rừng của Việt Nam bị thu hẹp đáng kể, đe
dọa nghiêm trọng môi trường sống và sinh kế của người dân. Trước tình hình
này, từ năm 1992, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết
định 327-CT về một số chủ trương sử dụng đất trống, đồi núi trọc, rừng, bãi bồi
ven biển và mặt nước, trong đó chú trọng tới công tác giao đất giao rừng và hỗ
trợ đầu tư cho các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng. Đây là tiền thân của Dự
án 661 (thường gọi là Dự án 5 triệu ha rừng), được Quốc hội phê chuẩn năm
1997 và Chính phủ quyết định thực hiện từ năm 1998 (Quyết định 661/QĐ-TT
ngày 29/7 / 1998 ) với mục tiêu nâng độ che phủ rừng toàn quốc lên mức 43%
vào năm 2010.
Đối với trồng rừng, Chương trình 661 hỗ trợ tài chính và cây giống cho
người dân còn bảo vệ rừng được thực hiện qua hình thức khoán bảo vệ. Tuy có
nhiều nguồn vốn khác nhau nhưng vốn đầu tư cho Dự án 661 từ ngân sách Nhà
9


nước là chủ yếu. Vì vậy có thể coi đây là một dạng cơ chế chi trả dịch vụ môi
trường rừng, trong đó, nguồn tài chính lấy từ ngân sách nhà nước (Chính phủ là
đại diện cho bên chi trả dịch vụ môi trường) chuyển tới người dân (bên cung cấp
dịch vụ môi trường) để bảo vệ và phát triển rừng (trong đó có các dịch vụ môi
trường rừng).
Thách thức lớn nhất của các chương trình chi trả dịch vụ môi trường do
Nhà nước chi trả là vấn đề hiệu quả (Scherr & nnk, 2011). Do được thực hiện ở
quy mô lớn và thường ôm đồm nhiều mục tiêu, các chương trình dạng này
thường không được thiết kế đủ chi tiết để tính tới sự khác biệt của các địa
phương và của các loại dịch vụ môi trường khác nhau cũng như bị “dàn trải”
vốn, đặc biệt là cho lĩnh vực giảm nghèo. Là một chương trình kinh tế – xã hội –
sinh thái tổng hợp không chỉ chú trọng vào độ che phủ rừng mà còn hướng tới
mục tiêu xóa đói giảm nghèo cho người dân sinh sống dựa vào rừng, Chương
trình 661 cũng không phải là ngoại lệ. Đã có khá nhiều ý kiến trái chiều về lựa
chọn cây giống, chi phí giao dịch, mức độ minh bạch và sự tham gia của người
dân, hiệu quả thực tế trong bảo vệ rừng ở nhiều nơi, v.v của chương trình này.
Tuy nhiên, xem xét dưới góc độ thị trường, không thể phủ nhận vai trò của
Chương trình 661 (dù là một chương trình mang tính bao cấp) trong việc tạo ra
nền tảng cho chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng sau này bằng một loạt
các biện pháp như giao đất giao rừng, khoán bảo vệ rừng, hỗ trợ trồng rừng và
các hoạt động nâng cao nhận thức khác. Ở đây, Nhà nước với vai trò là bên mua
đã khởi xướng các yếu tố ban đầu cho thị trường dịch vụ môi trường rừng và
thúc đẩy nhận thức của các bên về chi trả dịch vụ môi trường rừng. 2010 đến
nay: Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (Nghị định 99) Nhà nước “điều
khiển” chi trả dịch vụ môi trường
Trước khi Chương trình 661 kết thúc, Chính phủ Việt Nam đã quyết định
thử nghiệm một cơ chế mới để huy động nguồn lực cho ngành lâm nghiệp theo
Quyết định 380/QĐ-TTg về thử nghiệm chi trả dịch vụ môi trường rừng tại hai
tỉnh Lâm Đồng và Sơn La từ năm 2008 đến năm 2010. Đến năm 2010, quá trình
thử nghiệm kết thúc và cơ chế chi trả này được nhân rộng ra toàn quốc bằng
Nghị định 99/Nghị định-CP của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi
trường rừng.
Thêm một điểm mới của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng so
với Chương trình 661 – được kỳ vọng sẽ thúc đẩy yếu tố “thị trường” – là tính
điều kiện (thể hiện qua các nghiên cứu về hệ số K và các quy định về theo dõi
và giám sát). Tuy nhiên, trên thực tế, cho đến nay việc đảm bảo tính điều kiện
trong chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99 là rất hạn chế do các
nguyên nhân kỹ thuật và tài chính.
Thông qua Nghị định 99, Chính phủ đặt ra “luật chơi” và thiết lập một hệ
thống chi trả gián tiếp (hệ thống quỹ bảo vệ và phát triển rừng từ trung ương tới
các tỉnh). Chi trả trực tiếp giữa bên sử dụng và bên cung cấp dịch vụ có được đề
10


cập trong Nghị định 99, song không được chi tiết hóa và do vậy không tạo ra
khuyến khích để các bên thực hiện dạng chi trả này. Các doanh nghiệp sẽ cho
rằng họ chỉ cần thực hiện nghĩa vụ theo Nghị định 99 là đủ, người dân bảo vệ và
phát triển rừng thiếu căn cứ để đề nghị chi trả trực tiếp, còn chính quyền địa
phương sẽ nhìn thấy rủi ro về chính trị khi thực hiện các hoạt động không được
quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật. Trong khi đó, ở Việt Nam sự tham
gia hỗ trợ của chính quyền địa phương là không thể thiếu trong việc hình thành
và vận hành của các cơ chế chi trả dịch vụ môi trường.
Không thể phủ nhận vai trò của Nghị định 99 trong việc “tạo đà” cho chi
trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam cũng như trong việc huy động nguồn
lực từ khối tư nhân cho công tác bảo vệ và phát triển rừng. Tuy nhiên, chính
sách mang tính áp đặt này cũng sẽ khiến cho chi trả dịch vụ môi trường rừng ở
Việt Nam có nguy cơ không bền vững khi mà các ưu tiên chính sách trong
tương lai có thể thay đổi trong bối cảnh các doanh nghiệp ở Việt Nam sẽ phải
đối mặt với sự cạnh tranh rất lớn trong quá trình hội nhập tới đây. Thêm vào đó
là nguy cơ làm mất đi cơ hội có được các dòng tài chính và sáng kiến/cơ chế
linh hoạt và đa dạng khác.
Với tiêu chí “hỗ trợ và thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các giao
dịch dịch vụ môi trường tự nguyện của khu vực tư nhân”, các biện pháp sau đây
có thể được cân nhắc:
(1) Hỗ trợ chính sách và thể chế: Đưa ra các quy định chi tiết hơn cho các giao dịch
tự nguyện, tạo ra hành lang pháp lý để các bên có thể tham gia;
Khuyến khích xây dựng và áp dụng các hệ thống chứng nhận sinh thái; Quy
định cụ thể về nhiệm vụ của các cơ quan chính quyền liên quan trong thực hiện
chi trả dịch vụ môi trường rừng tự nguyện; Nghiên cứu nhân rộng các mô
hình/sáng kiến chi trả dịch vụ môi trường tự nguyện hiện có.
(2) Hỗ trợ kỹ thuật: Cung cấp các đầu mối liên lạc của chính quyền để các bên có
thể gặp và yêu cầu hỗ trợ trong chi trả dịch vụ môi trường, ví dụ Quỹ Bảo vệ và
phát triển rừng các cấp ngoài chức năng quản lý tài chính và giám sát còn phải
đóng vai trò trung gian trong các giao dịch chi trả dịch vụ môi trường tự nguyện;
Cung cấp các khóa đào tạo và cung cấp thông tin cho các bên liên quan như một
dịch vụ tư vấn; Tiến hành các nghiên cứu lượng hóa dịch vụ môi trường, xây
dựng các bản đồ dịch vụ môi trường rừng để các bên quan tâm có thể chọn địa
điểm ưu tiên; Thiết lập đối tác với các doanh nghiệp để giúp thiết kế và khởi
động các dự án về chi trả dịch vụ môi trường.

PHẦN 3
KẾT LUẬN
11


Mặc dù khái niệm chi trả dịch vụ môi trường bắt nguồn từ lý thuyết thị
trường, việc Nhà nước trực tiếp tham gia điều tiết chi trả dịch vụ môi trường
rừng vừa cần thiết vừa là điều mà các bên chi trả dịch vụ môi trường rừng đều
mong muốn. Trong ngành lâm nghiệp, từ những năm 1990 đến nay, Nhà nước đã
chuyển dần từ vai trò bên mua dịch vụ môi trường rừng sang bên điều khiển chi
trả dịch vụ môi trường rừng.
Bằng Nghị định 99 và các văn bản pháp luật liên quan khác, Chính phủ đã
tạo ra một khung pháp lý khá vững chắc cho chi trả dịch vụ môi trường và huy
động được đầu tư từ các doanh nghiệp tư nhân vào công tác quản lý bảo vệ
rừng. Tuy nhiên, sự đầu tư này có tính bắt buộc tuân thủ quy định pháp luật hơn
là đầu tư một cách tự nguyện để đảm bảo vốn tài nguyên và môi trường. Điều
này đe dọa tính bền vững của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và đặt
ra yêu cầu về phía Chính phủ phải có chính sách, hành động theo hướng hỗ trợ:
mở rộng khung pháp lý, trực tiếp tham gia và thúc đẩy sự hình thành và phát
triển của các mô hình chi trả dịch vụ môi trường tự nguyện giữa doanh
nghiệp/các tổ chức khác và các cộng đồng dân cư cũng như giữa các cộng đồng
dân cư khác nhau. Đây là những bước đi phù hợp với lý thuyết về sự “tiến hóa”
vai trò của Nhà nước trong chi trả dịch vụ môi trường cũng như trong phát triển
nền kinh tế thị trường nói chung ở nước ta.

12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×