Tải bản đầy đủ

Phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện phú thiện, tỉnh gia lai

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nông nghiệp có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân. Trước
hết, nông nghiệp sản xuất và cung cấp sản phẩm tối cần thiết cho xã hội, cung
cấp các yếu tố đầu vào cho công nghiệp, khu vực thành thị, là nguồn hàng cho
xuất khẩu, là thị trường tiêu thụ về tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng. Ngoài
ra, nông nghiệp còn là cơ sở trong sự phát triển bền vững của môi trường.
Trong những năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam nói chung và nông
nghiệp huyện nói riêng đạt được nhiều thành tựu to lớn, đáng chú ý là nông
nghiệp tăng trưởng cao, liên tục, đặc biệt là sản xuất lương thực, nông nghiệp
chuyển mạnh sang đa dạng hóa sản xuất trồng trọt và chăn nuôi, hình thành
những vùng sản xuất chuyên môn hóa quy mô lớn…Bên cạnh đó, nông
nghiệp cũng còn nhiều tồn tại và hạn chế, đặc biệt là nông nghiệp chưa thoát
khỏi tình trạng tự cung, tự cấp.
Do đó việc phát triển nông nghiệp nước ta nói chung và nền nông nghiệp
Phú Thiện nói riêng là hết sức cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay.
Nhằm khai thác tối đa lợi thế nguồn tài nguyên tự nhiên, nguồn nhân lực sẵn
có nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, phát triển ổn định kinh tế của huyện là
một việc hết sức quan trọng. Sản xuất nông nghiệp của huyện cũng đang phải

đối mặt với vấn đề hiệu quả sản xuất thấp, khai thác tài nguyên quá mức (đất,
rừng, nước) làm cho sản xuất nông nghiệp của huyện chuyển biến chậm.
Để đẩy nhanh quá trình phát triển nông nghiệp, tạo chuyển biến mạnh mẽ
trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống nhân dân trên cơ sở phát huy
lợi thế tự nhiên của huyện, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông
thôn và giải quyết việc làm, tăng thu nhập nhằm tạo sự chuyển biến nhanh
hơn về đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, đồng thời khắc phục
những hạn chế ở khu vực nông thôn, tôi thực hiện đề tài “Phát triển nông


2

nghiệp trên địa bàn huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai ” cho Luận văn Thạc sỹ
Cao học của mình.
2. Mục tiêu nguyên cứu đề tài
+ Hệ thống hóa các vấn đề liên quan đến phát triển nông nghiệp.
+ Phân tích thực trạng phát triển nông nghiệp huyện trong thời gian qua.
+ Đề xuất các giải pháp phát triển nông nghiệp huyện trong thời gian tới.
3. Điểm mới của đề tài
- Vận dụng lý luận phát triển ngành kinh tế quốc dân vào phát triển nông
nghiệp huyện với những đặc thù của địa phương miền núi.
- Đây là lần đầu tiên một nghiên cứu phát triển nông nghiệp toàn diện
được áp dụng ở huyện Phú Thiện.
- Các giải pháp được kiến nghị dựa trên tính đặc thù của địa phương sẽ
hứa hẹn có hữu ích cho hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp.
4. Tổng quan các nghiên cứu liên quan tới đề tài
Mục tiêu các chính sách phát triển nông nghiệp của nhà nước.
Một là: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo sự chuyển dịch cơ cấu.
Hai là: Tăng năng suất và sản lượng nông nghiệp.
Ba là: Cải thiện và nâng cao mức sống của nông dân.
Bốn là: Giải quyết vấn đề lương thực tại chổ, từng bước đa dạng hoá
sản xuất và xuất khẩu nông nghiệp.
Năm là: Đảm bảo sản phẩm ngành nông nghiệp đạt chất lượng cạnh
tranh và đảm bảo ổn định cuộc sống cho nông dân.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nguyên cứu
Những vấn đề lý luận liên quan đến vấn đề thực tiển về Phát triển nông
nghiệp trên địa bàn huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.



3

b. Phạm vi nguyên cứu
+ Giới hạn: Nội dung nguyên cứu những vấn đề về phát triển sản xuất
nông nghiệp từ đó đề ra các giải pháp về phát triển nông nghiệp.
+ Không gian: Đề tài nguyên cứu các vấn đề phát triển nông nghiệp tại
địa bàn huyện Phú Thiện.
+ Thời gian: Đề tài nguyên cứu các giải pháp về phát triển nông nghiệp
trên địa bàn huyện đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nội dung nghiên cứu luận văn sử dụng một số phương pháp
cụ thể:
- Phương pháp phân tích thực chứng;
- Phương pháp phân tích chuẩn tắc;
- Phương pháp điều tra khảo sát, phương pháp tổng hợp, phân tích;
- Phương pháp so sánh và các phương pháp khác…
Nguồn thông tin dữ liệu, công cụ phân tích chính
Thứ cấp: Chủ yếu sử dụng số liệu của Niên giám thống kê huyện Phú
Thiện từ 2000 đến 2010, tổng điều tra nông nghiệp nông thôn năm 2006 và
các báo cáo tổng kết của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Gia lai,
và của ngành nông nghiệp huyện Phú Thiện.
- Ý kiến của chuyên gia.
- Công cụ chính: Sử dụng chương trình sử lý số liệu bằng Excel.
7. Bố cục của đề tài Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận kiến nghị, tài liệu
tham khảo, đề tài được chuyển tải thành 03 chương
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HUYỆN
PHÚ THIỆN
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP VỀ PHÁT
TRIỂN NÔNG NGHIỆP HUYỆN PHÚ THIỆN


4

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NÔNG NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm về phát triển nông nghiệp
Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng
của nền kinh tế quốc dân (còn là ngành duy nhất sản xuất được lương thực,
thực phẩm). Nông nghiệp có từ lâu đời và dựa vào phương pháp canh tác
truyền thống từ bao đời nay, nên còn được coi là lĩnh vực sản xuất truyền
thống; hoạt động này không những gắn liền với các yếu tố kinh tế, xã hội, mà
còn gắn với các yếu tố tự nhiên. Nông nghiệp nếu xét theo đối tượng sản xuất
của ngành này thì nông nghiệp sẽ bao hàm các ngành: trồng trọt, chăn nuôi,
lâm nghiệp và thuỷ sản.
- Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất, nên hiểu theo nghĩa rộng bao
gồm nông nghiêp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, chăn nuôi.vv
- Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất, nên được hiểu theo nghĩa hẹp
bao gồm trồng trọt và chăn nuôi.
- Phát triển nông nghiệp thực chất là vấn đề tạo nên sự gia tăng đáng kể
về kết quả sản xuất và chất lượng của sự gia tăng.
Vậy nói đến phát triển nông nghiệp là nói đến sự phát triển về nó có sự
phát triển theo hướng tiến bộ có lợi cho xã hội và môi trường.
1.1.2 Ý nghĩa của phát triển nông nghiệp
- Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các yếu tố đầu
vào cho công nghiệp và khu vực thành thị, là nguồn nhân lực dự trữ dồi dào
cho phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Nông nghiệp cung cấp cho thị trường một lượng hàng hóa lớn nuôi
sống cho toàn xã hội, giải quyết việc làm cho đại đa số lao động nông thôn


5

đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, là thị trường tiêu thụ lớn của công
nghiệp.
- Nông nghiệp được coi là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại
tệ lớn cho những nước đang phát triển đặc biệt ở Việt Nam hiện nay.
- Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở cho sự phát triển
bền vững của môi trường.
1.1.3 Đặc điểm vai trò của sản xuất nông nghiệp
+ Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các sinh vật và các cơ thể
sống
Trong khi đối tượng sản xuất chủ yếu của công nghiệp phần lớn là các
vật vô tri vô giác, thì nông nghiệp có đối tượng sản xuất là các cây trồng vật
nuôi, nghĩa là các cơ thể sống. Cây trồng vật nuôi sinh trưởng và phát triển
theo các quy luật sinh học và đồng thời chịu tác động rất nhiều của các quy
luật tự nhiên (điều kiện ngoại cảnh như thời tiết, khí hậu, môi trường). Qúa
trình sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp là quá trình chuyển hoá về vật chất và
năng lượng thông qua sự sinh trưởng của cây trồng vật nuôi. Qúa trình phát
triển của sinh vật tuân theo các quy luật sinh học không thể đảo ngược. Ví dụ,
hạt giống phải nảy mầm rồi mới sinh trưởng, phát triển rồi ra hoa kết trái,
hoặc sự thụ thai, sinh sản lớn lên và trưởng thành của vật nuôi.
Các quy luật sinh học và điều kiện ngoại cảnh tồn tại độc lập với ý
muốn chủ quan của con người. Vì vậy, nhận thức và tác động phù hợp với quy
luật sinh học và quy luật tự nhiên là một yêu cầu quan trọng của bất cứ một
quá trình sản xuất nông nghiệp nào.
+ Sản xuất nông nghiệp có tính mùa vụ
Tính mùa vụ là nét đặc thù điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp,
đặc biệt là ngành trồng trọt, bởi vì một mặt, thời gian lao động không trùng


6

với thời gian sản xuất của các loại cây trồng và mặt khác, do sự biến đổi của
thời tiết, khí hậu, mỗi loại cây trồng có sự thích ứng khác nhau.
Thời gian lao động là khoảng thời gian mà lao động có tác động trực
tiếp tới việc hình thành sản phẩm. Còn thời gian sản xuất được coi là thời gian
sản phẩm đang trong quá trình sản xuất.
Qúa trình sinh học của cây trồng, vật nuôi diễn ra thông qua hàng loạt
các giai đoạn kế tiếp nhau: Giai đoạn này là kế tiếp của giai đoạn trước và tạo
tiền đề cần thiết cho giai đoạn sau. Vì vậy, sự tác động của con người vào các
giai đoạn sinh trưởng của chúng không hoàn toàn như nhau. Từ đây nảy sinh
trình trạng có lúc đòi hỏi lao động căng thẳng và liên tục, nhưng có lúc lại thư
nhàn, thậm chí không cần lao động. Việc sử dụng lao động và các tư liệu sản
xuất không giống nhau trong suốt chu kỳ sản xuất là một trong các hình thức
biểu hiện của tính thời vụ. Tính thời vụ thể hiện không những ở nhu cầu về
đầu vào như lao động, vật tư, phân bón, mà còn cả ở khâu thu hoạch, chế
biến, dự trữ và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường.
Chu kỳ sản xuất của các loại sản xuất nông nghiệp tương đối dài và
không giống nhau. Trong nông nghiệp, thời gian sản xuất bao giờ cũng dài
hơn thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra sản phẩm đó, kể cả sản phẩm
trồng trọt và sản phẩm chăn nuôi.
Sự không phù hợp giữa thời gian lao động và thời gian sản xuất là
nguyên nhân nảy sinh tính mùa vụ. Thời gian nông nhàn và thời gian bận rộn
thường xen kẽ nhau. Tất nhiên trong giai đoạn hiện nay, bằng nhiều biện pháp
kinh tế tổ chức, người ta đã hạn chế tính mùa vụ ở mức thấp nhất.
+ Nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên
Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, nhất là vào đất
đai và khí hậu. Đặc điểm này bắt nguồn từ chổ đối tượng lao động của nông
nghiệp là cây trồng và vật nuôi. Chúng chỉ có thể tồn tại và phát triển được


7

khi có đủ năm yếu tố cơ bản của tự nhiên là nhiệt độ, nước, ánh sáng, không
khí và chất dinh dưỡng, trong đó yếu tố này không thể thay thế yếu tố kia.
Các yếu tố trên kết hợp và cùng tác động với nhau trong một thể thống nhất.
Chỉ cần thay đổi một yếu tố là có hàng loạt các kết hợp khác nhau và dĩ nhiên,
điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới nông nghiệp.
Mỗi yếu tố và sự kết hợp của các yếu tố thay đổi từ nơi này sang nơi
khác. Những thay đổi ấy phụ thuộc vào tính quy luật theo lãnh thổ và theo
thời gian. Đất, khí hậu, nước với tư cách như tài nguyên nông nghiệp quyết
định khả năng nuôi trồng các loại cây, con cụ thể trong các lãnh thổ và khả
năng áp dụng các quy trình kỹ thuật để sản xuất ra nông phẩm.
Do những đặc điểm trên, sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên
không gian rộng lớn, liên quan tới khí hậu, thời tiết, đất đai của từng vùng cụ
thể. Trong cơ chế thị trường, việc bố trí sản xuất nông nghiệp sao cho phù hợp
với từng vùng sinh thái sẽ tăng thêm khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Để
nâng cao hiệu quả kinh tế, cần xem xét vận dụng các đặc điểm trên của sản
xuất nông nghiệp một cách linh hoạt.
+ Những đặc thù của nông nghiệp Việt Nam
- Việt Nam là một quốc gia có diện tích đất tự nhiên không lớn, nhất là
đất sản xuất nông nghiệp, dân số đông nên bình quân đất sản xuất tính theo
đầu người thấp.
- Khí hậu ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất.
- Sản xuất nhỏ, phân tán, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm là chính, chưa
đưa khoa học kỹ thuật vào làm nền tảng.
- Việt Nam có 54 dân tộc sinh sống và phần lớn sống ở nông thôn, nghề
nông là chính. Mỗi dân tộc có nét văn hoá, tập quán sản xuất riêng là kinh
nghiệm qua các thế hệ.


8

- Chất lượng sản phẩm nông nghiệp và vệ sinh an toàn thực phẩm thấp,
công nghệ chế biến sau thu hoạch yếu, chi phí sản xuất cao.
- Thị trường hàng hoá nông nghiệp chưa phát triển, đến mùa thu hoạch
cung vượt cầu hết thu hoạch thì ngược lại.
Những đặc thù của nông nghiệp các tỉnh Tây Nguyên:
- Thuỷ lợi đóng vai trò quan trọng do mỗi năm đều có mùa khô và mùa
mưa rỏ rệt ở Tây nguyên.
- Nền kinh tế hàng hoá đã từng bước thay đổi từ kinh tế tự túc tự cấp
trong nông hộ đến sản xuất hàng hóa.
- Cơ sở hạ tầng thiếu và yếu.
* Các yếu tố tác động đến phát triển nông nghiệp
+ Điều kiện tự nhiên đất đai, khí hậu.
+ Hệ thống chính sách, pháp luật tạo hành lang pháp lý.
+ Chiến lược phát triển kinh tế xã hội từng vùng miền.
+ Cơ sở hạ tầng nông thôn, công trình thuỷ lợi, hệ thống giao thông.
+ Tiến bộ khoa học kỹ thuật và chuyển giao ứng dụng trong sản xuất.
+ Trình độ quản lý, chuyển giao và người trực tiếp sản xuất.
+ Công nghệ chế biến, bảo quản sau thu hoạch, thị trường tiêu thụ.
Những yếu tố tác động đến phát triển nông nghiệp ở các tỉnh Tây
Nguyên
+ Phong tục tập quán canh tác, văn hoá, tập tục của những cộng đồng
dân tộc thiểu số.
+ Tình trạng di dân tự do ở quy mô lớn đã phá vỡ quy hoạch và kế
hoạch tổ chức sản xuất nông nghiệp tại Tây Nguyên.
* Vai trò của nông nghiệp
Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp.
Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học –


9

kỹ thuật, bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm
năng sinh học – cây trồng, vật nuôi. Chúng phát triển theo qui luật sinh học
nhất định con người không thể ngăn cản các quá trình phát sinh, phát triển và
diệt vong của chúng, mà phải trên cơ sở nhận thức đúng đắn các qui luật để có
những giải pháp tác động thích hợp với chúng. Mặt khác quan trọng hơn là
phải làm cho người sản xuất có sự quan tâm thoả đáng, gắn lợi ích của họ với
sử dụng quá trình sinh học đó nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuối
cùng hơn.
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn trong việc
phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển. Ở những
nước còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông. Tuy nhiên, ngay cả
những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông
nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và
không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người những sản
phẩm tối cần thiết đó là lương thực, thực phẩm. Những sản phẩm này cho dù
trình độ khoa học – công nghệ phát triển như hiện nay, vẫn chưa có ngành nào
có thể thay thế được. Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất
quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển Kinh tế - xã hội của
đất nước. Xã hội càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được
nâng cao thì nhu cầu của con người về lương thực, thực phẩm cũng ngày càng
tăng cả về số lượng, chất lượng và chủng loại. Điều đó do tác động của các
nhân tố đó là: Sự gia tăng dân số và nhu cầu nâng cao mức sống của con
người. Những vai trò cơ bản của nông nghiệp được thể hiện như sau:
(1) Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các yếu tố đầu
vào cho công nghiệp và khu vực thành thị. Điều đó được thể hiện chủ yếu ở
các mặt sau đây:


10

- Nông nghiệp đặc biệt là nông nghiệp của các nước đang phát triển là
khu vực dự trữ và cung cấp lao động cho phát triển công nghiệp và
đô thị. Trong giai đoạn đầu của CNH, phần lớn dân cư sống bằng nông
nghiệp và tập trung sống ở khu vực nông thôn. Vì thế khu vực nông nghiệp,
nông thôn thực sự là nguồn dự trữ nhân lực dồi dào cho sự phát triển
công nghiệp và đô thị. Quá trình CNH và đô thị hoá, một mặt tạo ra nhu cầu
lớn về lao động, mặt khác đó mà NSLĐ nông nghiệp không ngừng tăng lên,
lực lượng lao động từ nông nghiệp được giải phóng ngày càng nhiều. Số lao
động này dịch chuyển, bổ sung cho phát triển công nghiệp và đô thị. Đó là
xu hướng có tính qui luật của mọi quốc gia trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Khu vực nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn và quý
cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến. Thông qua công nghiệp
chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp nâng lên nhiều lần, nâng cao khả
năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá, mở rộng thị trường.
- Khu vực nông nghiệp là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự phát triển
kinh tế trong đó có công nghiệp, nhất là giai đoạn đầu của công nghiệp hoá,
bởi vì đây là khu vực lớn nhất, xét cả về lao động và sản phẩm quốc
dân. Nguồn vốn từ nông nghiệp có thể được tạo ra bằng nhiều cách, như tiết
kiệm của nông dân đầu tư vào các hoạt động phi nông nghiệp, thuế
nông nghiệp, ngoại tệ thu được do xuất khẩu nông sản v.v... Trong đó thuế có
vị trí rất quan trọng, Kuznets cho rằng gánh nặng của thuế mà nông nghiệp
phải chịu là cao hơn nhiều so với dịch vụ Nhà nước cung cấp cho công
nghiệp. Việc huy động vốn từ nông nghiệp để đầu tư phát triển công nghiệp là
cần thiết và đúng đắn trên cơ sở việc thực hiện bằng cơ chế thị trường, chứ
không phải bằng sự áp đặt của Chính phủ. Những điển hình về sự thành công
của sự phát triển ở nhiều nước đều đã sử dụng tích luỹ từ nông nghiệp để đầu


11

tư cho nông nghiệp. Tuy nhiên vốn tích luỹ từ nông nghiệp chỉ là một trong
những nguồn cần thiết phát huy, phải coi trọng các nguồn vốn khác nữa
để khai thác hợp lý, đừng quá cường điệu vai trò tích luỹ vốn từ nông
nghiệp.
(2) Nông nghiệp và nông thôn là thị trường tiêu thụ lớn của công nghiệp.
Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp, bao gồm tư liệu
tiêu dùng và TLSX được tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị trường trong nước mà
trước hết là khu vực nông nghiệp và nông thôn. Sự thay đổi về cầu trong khu
vực nông nghiệp, nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực
phi nông nghiệp. Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho dân
cư nông nghiệp, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về
sản phẩm công nghiệp tăng, thúc đẩy công nghiệp phát triển, từng bước nâng
cao chất lượng có thể cạnh tranh với thị trường thế giới.
(3) Nông nghiệp được coi là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại
tệ lớn. Các loại nông, lâm thuỷ sản dễ dàng gia nhập thị trường quốc tế hơn
so với các hàng hoá công nghiệp. Vì thế, ở các nước đang phát triển, nguồn
xuất khẩu để có ngoại tệ chủ yếu dựa vào các loại nông, lâm thuỷ sản. Xu
hướng chung ở các nước trong quá trình CNH, ở giai đoạn đầu giá trị xuất
khẩu nông lâm, thuỷ sản chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu
và tỷ trọng đó sẽ giảm dần cùng với sự phát triển cao của nền kinh tế. Tuy
nhiên xuất khẩu nông, lâm thuỷ sản thường bất lợi do giá cả trên thị trường
thế giới có xu hướng giảm xuống, trong lúc đó giá cả sản phẩm công nghiệp
tăng lên, tỷ giá cánh kéo giữa hàng nông sản và hàng công nghệ ngày càng
mở rộng, làm cho nông nghiệp, nông thôn bị thua thiệt. Ở một số nước chỉ
dựa vào một vài loại nông sản xuất khẩu chủ yếu, như Coca ở Ghana, đường
mía ở Cuba, cà phê ở Braxin v.v... đã phải chịu nhiều rũi ro và sự bất lợi trong
xuất khẩu. Vì vậy gần đây nhiều nước đã thực hiện đa dạng hoá sản xuất và


12

xuất khẩu nhiều loại nông lâm thuỷ sản, nhằm đem lại nguồn ngoại tệ đáng kể
cho đất nước.
(4) Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự phát
triển bền vững của môi trường. Nông nghiệp sử dụng nhiều hoá chất như phân
bón hoá học, thuốc trừ sâu bệnh v.v... làm ô nhiễm đất và nguồn nước. Trong
quá trình canh tác dễ gây ra xói mòn ở các triền dốc thuộc vùng đồi núi và
khai hoang mở rộng diện tích đất rừng v.v... Vì thế, trong quá trình phát triển
SXNN, cần tìm những giải pháp thích hợp để duy trì và tạo ra sự phát triển
bền vững của môi trường.
Tóm lại, nền kinh tế thị trường, vai trò của nông nghiệp trong sự phát
triển bao gồm hai loại đóng góp: thứ nhất là đóng góp về thị trường – cung
cấp sản phẩm cho thị trường trong và ngoài nước, sản phẩm tiêu dùng cho các
khu vực khác, thứ hai là sự đóng góp về nhân tố diễn ra khi có sự chuyển dịch
các nguồn lực (lao động, vốn v.v...) từ nông nghiệp sang khu vực khác.
1.2 NỘI DUNG CỦA PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng không chỉ phải với các nước
đang phát triển mà cả với những nước phát triển. Đã có nhiều nghiên cứu của
các nhà kinh tế thế giới mà ngày nay chúng ta vẫn có thể vận dụng vào thực
tiển phát triển nông nghiệp Việt Nam.
Quan điểm phát triển nông nghiệp thể hiện ngay từ thời David Ricacdo
(1772 – 1823)[1]. Nhà kinh tế học người Anh khi đó đã khẳng định phát triển
nông nghiệp dựa vào việc sử dụng có hiệu quả tư liệu sản xuất quan trọng
nhất là đất đai và nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ sản xuất.
Torado (1990)[2] cho rằng sự phát triển nông nghiệp là quá trình
chuyển đổi từ độc canh tới đa dạng hóa rồi chuyên môn hóa. Nếu xét trên
phương diện công nghệ quá trình này từ công cụ thô sơ tiến tới công cụ máy
móc cùng với đầu vào từ công nghiệp tiến tới giai đoạn cơ giới hóa nông
nghiệp. Đây cũng là quá trình sản xuất quy mô hộ gia đình nhỏ tiến dần tới


13

trang trại chuyên môn hóa tận dụng lợi thế quy mô để áp dụng kỹ thuật hiện
đại nhờ đó sản lượng tăng lên không ngừng nhờ tăng năng suất.
Mô hình hàm sản xuất của Sung Sang Park (1992) [3] cho rằng phát
triển nông nghiệp ở quá trình phát triển nông nghiệp phải trải qua 3 giai đoạn:
sơ khai, đang phát triển và phát triển. Mỗi giai đoạn phát triển, sản lượng
nông nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau. Giai đoạn sơ khai, sự phát
triển nông nghiệp chỉ dựa vào khai thác yếu tố từ tự nhiên và lao động (chủ
yếu theo chiều rộng). Giai đoạn đang phát triển – sự phát triển dựa vào ngoài
các yếu tố ban đầu còn dựa vào các yếu tố đầu vào được sản xuất từ khu vực
công nghiệp (phân bón, thuốc hóa học). Giai đoạn phát triển nhờ sử dụng các
yếu tố sản xuất từ công nghiệp đặc biệt máy móc và kỹ thuật hiện đại mà
năng suất nông nghiệp tăng lên. Theo Park quá trình phát triển này cũng là
quá trình chuyển dịch mạnh lao động khỏi nông nghiệp nhằm giải quyết tình
trạng lao động dư thừa.
Phát triển nông nghiệp cũng là mục tiêu của nhiều nghiên cứu Việt Nam,
các nghiên cứu này cũng cho rằng phát triển nông nghiệp thể hiện nhiều khía
cạnh khác nhau. Nội dung đầu tiên mà nhiều nghiên cứu như Nguyễn Sinh
Cúc (2003) [4], Đặng Kim Sơn (2008) [5] và Hoàng Thị Chính (2010) [6] đã
khẳng định là sự gia tăng sản lượng lương thực thực phẩm thông qua chỉ tiêu
giá trị sản xuất nông nghiệp. Nhưng nội dung này mới chỉ phản ánh về mặt
lượng, các nghiên cứu còn đi vào xem xét năng suất của các ngành, các sản
phẩm chủ yếu trong nông nghiệp. Không dừng ở đó các nghiên cứu còn đề
cập tới nội dung tới sự phát triển của các ngành trong nông nghiệp và chuyển
dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Việc huy động và hiệu quả sử dụng các yếu
tố sản xuất được đề cập tới, Nguyễn Xuân Thảo (2004) [7] và Nguyễn Sinh
Cúc đề nghị đầu tư nhiều hơn cho nông nghiệp, Đặng Kim Sơn (2001, 2008)
[8] và Đào Thế Tuân (2008) [9] khẳng định phải nâng cao trình độ kỹ thuật và


14

công nghệ trong sản xuất nông nghiệp. Tổ chức sản xuất nông nghiệp cũng
được đề cập tới, ở Việt Nam những đột phá trong tổ chức sản xuất nông
nghiệp đã trở thành cú hích phát triển. Nguyễn Sinh Cúc, Trần Đức (1998)
[10] và Đặng Kim Sơn (2008), Bùi Quang Bình (2006) [11] khẳng định nên
sử dụng mô hình kinh tế trang trại và thực hiện dồn điền đổi thửa mở rộng
quy mô sản xuất. Ngoài ra thu nhập của các hộ nông dân cũng được quan tâm
nghiên cứu.
Từ những quan điểm này có thể rút ra các nội dung của phát triển
nông nghiệp bao gồm cả nội dung về kinh tế, xã hội và môi trường, phần dưới
đây trình bày kỹ hơn
1.2.1 Các nguồn lực phát triển sản xuất nông nghiệp
a. Lao động
PGS.TS Vũ Đình Thắng (2006) ‘Giáo trình kinh tế nông nghiệp’[12]
Nông nghiệp phát triển được biểu hiện ở sự gia tăng của nguồn lực lao động
có nghĩa là lao động được đầu tư ở nông nghiệp được tăng lên thể hiện số
lượng, chất lượng ở giai đoạn sau cao hơn giai đoạn trước. Quá trình gia tăng
có tính đột biến chất lượng của nguồn nhân lực, sự biến đổi này được biểu
hiện ở việc nâng cao năng lực và động cơ của người lao động.
Hiện nay yêu cầu chất lượng lao động trong nông nghiệp được tăng lên.
Chất lượng lao động tăng, người lao động chủ động áp dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, vốn, cơ sở vật
chất và hàng loạt các vấn đề tiếp theo…
Nội dung tăng lao động nông nghiệp được thể hiện tăng về chất, lượng
lao động, trình độ nhận thức, chuyên môn, kỹ năng…
- Số lượng giai đoạn sau tăng lên và mức độ tăng của nó phải nhiều hơn
giai đoạn trước; tuy nhiên trong điều kiện hiện nay, để phát triển nông nghiệp
các nước và Việt Nam nói riêng không dựa vào sự gia tăng của số lượng lao


15

động nông nghiệp khi phát triển nông nghiệp, mà chủ yếu là dựa vào sự gia
tăng của chất lượng nguồn lao động.
- Chất lượng nguồn lao động là đề cập đến khả năng, trình độ của người
lao động và điều đó được thể hiện ở năng lực của người lao động. Nguồn lực
này được biểu hiện ở trình độ, kiến thức, khã năng và nhận thức của người lao
động.
b. Đất đai sử dụng hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp
Số lượng đất đai được huy động vào sản xuất nông nghiệp tăng lên đó
là hiệu quả sử dụng đất đai trong nông nghiệp.
Nội dung của đất đai trong nông nghiệp
- Số lượng đất đai
- Số lần sản xuất, canh tác trên đất
- Tăng độ phì của đất
c. Tiêu chí phát triển nông nghiệp
+ Tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp
Giá trị sản xuất nông nghiệp (GO) là toàn bộ giá trị của hàng hóa và dịch
vụ do các tổ chức, doanh nghiệp và hộ gia đình tạo ra trong nông nghiệp trong
một thời kỳ nhất định ( thường là 1 năm)
Hoạt động ngành nông nghiệp bao gồm trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ
nông nghiệp. Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp được tính theo phương pháp
chu chuyển nghĩa là cho phép tính trùng giữa trồng trọt và chăn nuôi trong nội
bộ ngành
Giá trị sản

Giá trị sản

xuất nông = xuất của
nghiệp
Giá trị sản

Giá trị
+

trồng trọt
Giá trị sản phẩm

sản xuất của +
chăn nuôi
Giá trị SP

Giá trị sản
xuất dịch vụ
nông nghiệp
Chênh lệch giá trị


16

xuất của

= chính của các

trồng trọt
Giá trị sản

+

loại cây trồng trọt
Giá trị trọng

xuất của

= lượng thịt hơi +

chăn nuôi

tăng thêm trong
năm

phụ của các + sản phẩm dở dang
loại cây trồng

Giá trị sản

của trồng trọt.

Giá trị sản

Chênh lệch giá

phẩm chăn + phẩm chăn + trị chăn nuôi
nuôi không qua

nuôi khác

dở dang

giết thịt

+ Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp
Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp bao gồm:
Giá trị công việc trồng mới và nuôi dưỡng rừng như chăm sóc, tu bổ, cải
tạo rừng được tính bằng chi phí trong năm cho các hoạt động đó.
Giá trị công việc khai thác gỗ và lâm sản.
Giá trị hoạt động ươm cây, lai tạo giống, quản lý bảo vệ rừng, thu nhặt
lâm sản dưới tán rừng như san nhân, nấm, măng, củi, các loại cây dược liệu..
Giá trị các hoạt động dịch vụ lâm nghiệp: quản lý lâm nghiệp, phòng cháy
chữa cháy, bảo vệ động thực vật hoang dã...
+ Mức và tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp
Tăng trưởng gi á tr ị s ản xuấ t nông ngh i ệp được hiểu là sự gia
tăng về quy mô gi á t r ị sản lượng nông nghi ệp trong một thời kỳ nhất
định và được phản ánh qua mức và tỷ lệ tăng giá trị sản xuất.
Mức tăng trưởng thường được phản ánh bằng chênh lệch quy mô giá trị
sản xuất nông nghiệp thực tế giữa năm nghiên cứu và năm gốc theo công
thức sau
Mức tăng trưởng: GOt – GOt-1
% Tăng trưởng: (Mức tăng trưởng/GOt-1 )x100%
+ Sự thay đổi tỷ lệ đóng góp của các ngành vảo giá trị sản xuất nông
nghiệp năm nào đó so với tỷ lệ của năm gốc:


17

%ΔYit = %Yit - %Yi0
Trong đó i: chỉ ngành sản xuất, t: năm nào đó và 0: là năm gốc
Hệ số chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
+ Đo lường năng suất nông nghiệp
Người ta thường dung các chỉ tiêu sau:
(1) Sản lượng hay giá trị sản lượng (Y)/ đơn vị diện tích (S)
NSNN = Y/S hay NSNN = Mức sản lượng tăng thêm/ một đơn vị
diện tích tăng thêm
(2) Sản lượng hay giá trị sản lượng (Y)/ lao động (L)
Hay NNLĐNN = Y/L
Sự gia tăng của các chỉ tiêu này phản ánh gia tăng năng suất
+ Hiệu quả sử dụng nguồn lực
Tùy theo nguồn lực có các tiêu thức khác nhau
(1). Hiệu quả sử dụng vốn phản ánh bằng:
Sản lượng/ 1 đơn vị vốn
hay mức tăng sản lượng/ 1 đơn vị vốn…
(2). Với đất đai:
Sử dụng chỉ tiêu sản lượng / đơn vị diện tích
hay gia tăng sản lượng/ sự gia tăng 1 đơn vị diện tích;
hay tổng thu nhập/1 đơn vị diện tích
(3). Với lao động:
Sản lượng NN / 1 lao động;
Mức tăng sản lượng/ 1 lao động tăng thêm
+ Việc làm và thu nhập lao động
Số lao động thu hút thêm hay số việc làm mới tạo ra trong nông nghiệp


18

1.2.2 Phương thức sản xuất nông nghiệp
Thâm canh nông nghiệp theo hướng đầu tư thêm lao động và tư liệu sản
xuất vào một đơn vị diện tích canh tác để tăng sản phẩm nông sản. Nông
nghiệp cổ truyền thâm canh theo hướng đầu tư thêm lao động, làm đất, gieo
trồng, chăm sóc và thu hoạch đều làm kĩ hơn, với lao động thủ công, năng
suất cây trồng có tăng, nhưng ít và năng suất lao động thấp. Nông nghiệp cổ
truyền “có cải tiến” thâm canh theo cách đầu tư thêm lao động và sử dụng
một số tư liệu sản xuất do công nghiệp sản xuất như máy móc, phân hoá học,
thuốc trừ sâu. Năng suất cây trồng có tăng hơn nhưng năng suất lao động vẫn
thấp.
Nông nghiệp công nghiệp hoá thâm canh theo hướng giảm lao động và
đầu tư thêm tư liệu sản xuất: phân hoá học, thuốc trừ sâu bệnh, giống tốt và
nhất là xăng dầu, máy móc. Năng suất cây trồng tăng nhiều, và năng suất lao
động cũng tăng.
Khái niệm thâm canh được mở rộng ra toàn ngành nông nghiệp kể cả
trồng trọt và chăn nuôi. Đây là phương thức kinh doanh nông nghiệp tiên tiến,
hiện nay được tiến hành ở những nước có nền văn minh lâu đời, nông dân sử
dụng đất triệt để với kĩ thuật hiện đại. Nông nghiệp thâm canh ngày càng
nhân tạo hoá điều kiện sản xuất, tạo ra năng suất ngày càng cao, điển hình là
nông nghiệp Hà Lan. Nông nghiệp thâm canh đối lập với nông nghiệp quảng
canh.
Hình thành vùng sản xuất tập trung, lựa chọn giống cây trồng vật nuôi
phù hợp ổn định cơ cấu cây trồng, vật nuôi.
Phát huy tiềm năng thế mạnh từng vùng để từ đó đề ra cơ chế chính
sách đất đai, nguồn nhân lực phù hợp.
Thâm canh mang lại hiệu quả kinh tế cao, tận dụng tối đa nguồn tài
nguyên thiên nhiên sẳn có.


19

1.2.3 Hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp
Hình thức sản xuất là loại hình đơn vị tổ chức sản xuất bao gồm các
loại hình: Trang trại, hợp tác xã, kinh tế tư nhân, hộ gia đình và trang trại gia
đình.
Đây là nơi kết hợp các giải pháp nguồn lực cho sản xuất, bao gồm các
yếu tố về con người, về giống, trình độ nhận thức, đất đai phù hợp, các thành
phần kinh tế, tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng kịp thời.
Việc lựa chọn đa dạng hóa phương thức sản xuất phù hợp mang hiệu
quả cao, huy động mọi nguồn lực, nguồn tài nguyên phát huy tiềm năng thế
mạnh của từng vùng, từng địa phương.
Chuyên môn hóa sản xuất ra sản phẩm, đây là hình thức bố trí sản xuất
phát huy tốt những ưu thế của sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, phát huy
được những tiềm năng về tự nhiên, kinh tế, xã hội để sản xuất ra sản phẩm
hàng hóa.
Việc hình thành vùng sản xuất chuyên môn hóa ở Việt nam đã có từ
nhiều thập kỹ qua. Tuy nhiên để các vùng chuyên môn hóa phát triển bền
vững, đạt hiệu quả cao cần tiếp tục hoàn thiện giải pháp về quy hoạch và quản
lý thực hiện quy hoạch các vùng sản xuất đã được xác định.
Nghị quyết 03/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ [13] đã xác
định
Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông
nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và
nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng
thủy sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy
sản.
Qua thực tiễn phát triển kinh tế nông nghiệp, mô hình kinh tế trang trại
được xem là nhân tố mới ở nông thôn, góp phần quan trọng trong phát triển


20

kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất thích
hợp và khách quan khi các hộ sản xuất nông nghiệp từng bước hòa nhập vào
kinh tế thị trường.
Kinh tế trang trại phát triển đã thu hút một khối lượng lớn tiền vốn
nhàn rỗi trong dân vào sản xuất nông nghiệp, đã tạo ra động lực để khai thác
tốt các vùng đất khó khăn, đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hóa mà kinh tế
quốc doanh, tập thể khai thác không hiệu quả, từ đó góp phần cải thiện môi
trường sinh thái. Kết quả chuyển đổi đầu tư, lựa chọn mô hình sản xuất, kinh
doanh đã tạo cho kinh tế trang trại khai thác tiềm năng đất đai một cách hiệu
quả hơn và tạo ra khối lượng nông sản, thực phẩm lớn, đa dạng, tạo nguồn
nguyên liệu cung cấp cho ngành công nghiệp chế biến, nông lâm sản phát
triển, điều đó đã giúp cho việc sử dụng hợp lý và có hiệu quả hơn các nguồn
tài nguyên đất và nước.
1.2.4 Thị trường và mạng lưới tiêu thụ sản phẩm
Sự phát triển của thị trường trong và ngòai nước không chỉ thúc đẩy sự
phát triển của nông nghiệp và giá cả nông sản mà còn có tác dụng điều tiết đối
với sự hình thành và phát triển các vùng nông nghiệp chuyên môn hoá.
Ngoài các nhân tố kể trên còn có nhiều nhân tố khác nữa như cơ sở hạ
tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ nông nghiệp… Tất cả đã tạo thành
một hệ thống cùng thúc đẩy sự phát triển của ngành kinh tế quan trọng này
phát triển.
Trong giai đoạn hiện nay thị trường Việt Nam đang trong quá trình hội
nhập thị trường trong khu vực và thế giới do vậy hội nhập hoàn toàn và đúng
lộ trình thời gian, đòi hỏi chúng ta phải đổi mới cơ chế thị trường cho phát
triển nông nghiệp hiện nay.
Để hoàn thiện thị trường cho nông nghiệp nước ta cần coi trọng một số
biện pháp chủ yếu: Xây dựng hệ thống thị trường đồng bộ, điều tiết giá cả


21

nông nghiệp linh hoạt và phù hợp với cơ chế thị trường, khuyến khích thúc
đẩy cạnh tranh chống độc quyền thực hiện tốt chiến lược hội nhập vào thị
trường nông nghiệp thế giới.
1.2.5 Hiệu quả của sản xuất nông nghiệp
Kết quả sản xuất nông nghiệp tăng hiệu quả biểu hiện qua:
- Số lượng hàng hóa được tăng lên.
- Giá trị sản phẩm hàng hóa có chất lượng cao hơn.
- Năng suất lao động được cải thiện.
- Lợi nhuận của tổ chức cá nhân người lao động tăng lên.
- Nộp thuế cho nhà nước ngày càng tăng.
- Mức sống người lao động ngày càng cải thện.
1.3 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
Sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như điều kiện
tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế, xã hội, vốn, lao động … và phi kinh
tế, chính sách cơ chế…
1.3.1. Điều kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên
Nông nghiệp là ngành sản xuất gắn liền với điều kiện tự nhiên và chịu ảnh
hưởng trực tiếp từ yếu tố này. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên sẽ quyết định
khả năng lựa chọn các loại cây, con cụ thể trên từng lãnh thổ, khả năng áp
dụng các quy trình sản xuất nông nghiệp, đồng thời có ảnh hưởng lớn đến
năng suất cây trồng, vật nuôi.
Khí hậu
Khí hậu với các yếu tố nhiệt độ, lượng mưa, ánh sáng, độ ẩm, chế độ gió
và cả những bất thường của thời tiết như bão, lũ lụt, gió bão…có ảnh hưởng
rất lớn tới việc xác định cơ cấu cây trồng vật nuôi, cơ cấu mùa vụ, khả năng
xen canh, tăng vụ và hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Tính mùa của khí hậu
quy định tính mùa trong sản xuất và trong tiêu thụ sản phẩm. Mỗi loại cây


22

trồng, vật nuôi chỉ thích hợp với những điều kiện khí hậu nhất định (nghĩa là
trong điều kiện đó cây trồng, vật nuôi mới có thể phát triển bình thường) vượt
quá giới hạn cho phép, chúng sẽ chậm phát triển thậm chí bị chết.
Đất đai
Đất đai là cơ sở đầu tiên, quan trọng nhất để tiến hành trồng trọt, chăn
nuôi. Đất trồng là tư liệu sản xuất chủ yếu là cơ sở để tiến hành trồng trọt và
chăn nuôi. Không thể có sản xuất nông nghiệp nếu không có đất đai. Quỹ đất,
cơ cấu sử dụng đất, các loại đất, độ phì của đất có ảnh hưởng rất lớn đến quy
mô và phương hướng sản xuất, cơ cấu và sự phân bố cây trồng, vật nuôi, mức
độ thâm canh và năng suất cây trồng. Đất đai không chỉ là môi trường sống
mà còn là nơi cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây trồng (các chất khoáng
trong đất như: N,P,K,Ca,Mg…) và các nguyên tố vi lượng.
Nguồn nước
Muốn duy trì hoạt động nông nghiệp cần phải có đầy đủ nguồn nước ngọt
cho cây trồng, nước uống, nước tắm rửa cho gia súc. Nước có ảnh hưởng rất
lớn đến năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi và hiệu quả sản xuất nông
nghiệp, như ông cha ta đã khẳng định “Nhất nước nhì phân”. Những nơi có
nguồn cung cấp nước dồi dào, thường xuyên đều là những nơi có nền nông
nghiệp trù phú, chẳng hạn như vùng hạ lưu các con sông lớn như sông Mê
Kông, Sông Hoàng Hà…Ngược lại nông nghiệp không thể phát triển được ở
những nơi khan hiếm nước như các vùng hoang mạc, bán hoang mạc.
Do ảnh hưởng của khí hậu và địa hình nên nguồn nước trên thế giới phân
bố không đồng đều và thay đổi theo mùa. Ở nước ta lượng mưa tập trung quá
lớn làm dư thừa nước, còn mùa khô ngược lại rất khan hiếm nước. Điều đó
gây ra nhiều khó khăn cho sản xuất nông nghiệp. Để khắc phục được trình
trạng thiếu nước trong mùa khô và quá dư thừa nước cho mùa mưa, người ta
đã xây dựng các công trình thuỷ lợi, hồ chứa nước…để phục vụ tưới tiêu một


23

cách chủ động. Sự suy giảm nguồn nước ngọt là nguy cơ đe doạ sự tồn tại và
phát triển của nền nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung. Vì vậy
chúng ta cần sử dụng hợp lý, tiết kiệm, bảo vệ nguồn nước.
Sinh vật
Sinh vật trong tự nhiên xưa kia là cơ sở để thuần dưỡng, tạo nên các
giống cây trồng vật nuôi. Sự đa dạng về thảm thực vật và hệ động vật, hay nói
cách khác về loài cây, còn là tiền đề hình thành và phát triển các giống vật
nuôi, cây trồng và tạo khả năng chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp phù hợp với
điều kiện tự nhiên và sinh thái.
Các diện tích trồng cỏ, bãi thả chăn nuôi và diện tích mặt nước tự nhiên là
cơ sở thức ăn tự nhiên để phát triển ngành chăn nuôi. Ngày nay, mặc dù
ngành chăn nuôi được đẩy mạnh nhờ ứng dụng phương pháp chăn nuôi công
nghiệp, dựa trên nguồn thức ăn được chế biến theo phương pháp công nghiệp,
nhưng nguồn thức ăn tự nhiên vẫn còn vai trò quan trọng.
1.3.2. Điều kiện xã hội dân tộc, dân số, dân trí và truyền thống canh
tác
Dân cư và lao động ảnh hưởng tới hoạt động nông nghiệp dưới hai góc
độ là lực lượng sản xuất trực tiếp và là nguồn tiêu thụ các nông sản.
Dưới góc độ là lực lượng sản xuất trực tiếp để tạo ra các sản phẩm nông
nghiệp, nguồn lao động được coi là nhân tố quan trọng để phát triển theo
chiều rộng (mở rộng diện tích, khai hoang..) và theo chiều sâu (thâm canh,
tăng vụ). Các cây trồng vật nuôi đòi hỏi nhiều công chăm sóc thường được
phân bố ở vùng đông dân, nhiều lao động. Nguồn lao động không chỉ được
xem xét về mặt số lượng mà còn cả về mặt chất lượng như trình độ học vấn,
tỷ lệ lao động được đào tạo nghề nghiệp, trình trạng thể lực của người lao
động. Nếu nguồn lao động đông và tăng nhanh, trình độ học vấn và tay nghề


24

thấp, thiếu việc làm sẽ trở thành gánh nặng cho nông nghiệp nói riêng và cả
nền kinh tế nói chung.
Dưới góc độ là nguồn tiêu thụ, cần quan tâm đến truyền thống tập quán ăn
uống, quy mô dân số với khả năng sản xuất lương thực, thực phẩm.
1.3.3. Nhân tố ảnh hưởng về kinh tế
Nguồn vốn có vai trò to lớn đối với quá trình phát triển và phân bố
nông nghiệp, nhất là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Nguồn
vốn tăng nhanh, được phân bố và sử dụng có hiệu quả sẽ tác động với tăng
trưởng và mở rộng sản xuất, đáp ứng các chương trình phát triển nông nghiệp
(như nuôi trồng thuỷ sản, đánh bắt xa bờ), đưa tiến bộ khoa học công nghệ
vào sản xuất nông nghiệp.
Khoa học công nghệ thực sự trở thành đòn bẩy thúc đẩy sự tăng trưởng
và phát triển nông nghiệp. Nhờ nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật,
con người hạn chế được những ảnh hưởng của tự nhiên, chủ động hơn trong
hoạt động nông nghiệp, tạo ra nhiều giống cây, con mới cho năng suất và
hiệu quả kinh tế cao, tạo điều kiện hình thành các vùng chuyên canh, thúc đẩy
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công
nghiệp hoá.
Các biện pháp kỹ thuật như điện khí hoá (sử dụng điện trong nông
nghiệp, nông thôn), cơ giới hoá (sử dụng máy móc trong các khâu làm đất,
chăm sóc và thu hoạch), thuỷ lợi hoá (xây dựng hệ thống kênh tưới tiêu hoặc
áp dụng tưới tiêu theo khoa học), hoá học hoá (sử dụng rộng rãi phân hoá học,
thuốc trừ sâu, diệt cỏ, các chất kích thích cây trồng, vật nuôi)….nếu được áp
dụng rộng rãi thì năng suất trên một đơn vị diện tích và của một người lao
động sẽ thực sự được nâng cao.


25

Khoa học công nghệ
Đã thực sự trở thành đòn bẩy thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển nông
nghiệp. Nhờ nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, con người hạn chế
được những ảnh hưởng của tự nhiên, chủ động hơn trong hoạt động nông
nghiệp, tạo ra nhiều giống cây, con mới cho năng suất và hiệu quả kinh tế
cao, tạo điều kiện hình thành các vùng chuyên canh, thúc đẩy quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp
hoá.
Các biện pháp kỹ thuật như điện khí hoá (sử dụng điện trong nông
nghiệp, nông thôn), cơ giới hoá (sử dụng máy móc trong các khâu làm đất,
chăm sóc và thu hoạch), thuỷ lợi hoá (xây dựng hệ thống kênh tưới tiêu hoặc
áp dụng tưới tiêu theo khoa học), hoá học hoá (sử dụng rộng rãi phân hoá học,
thuốc trừ sâu, diệt cỏ, các chất kích thích cây trồng, vật nuôi)….nếu được áp
dụng rộng rãi thì năng suất trên một đơn vị diện tích và của một người lao
động sẽ thực sự được nâng cao.
1.3.4. Nhân tố về cơ chế chính sách
+ Chính sách đất đai
Các quan hệ sở hữu ruộng đất có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển nông
nghiệp và các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp. Việc thay đổi quan hệ
sở hữu ruộng đất ở mỗi quốc gia thường gây ra những tác động rất lớn tới
phát triển nông nghiệp.
Chương trình giao đất, giao rừng cho các hộ nông dân đã thúc đẩy nền
nông nghiệp phát triển mạnh mẽ.
+ Các chính sách phát triển nông nghiệp
Chính sách phát triển nông nghiệp địa phương là tổng thể các biện pháp
của chủ thể sử dụng để tác động vào mức sản lượng nông nghiệp của địa


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×