Tải bản đầy đủ

Phát triển bền vững nông nghiệp huyện ba tơ, tỉnh quảng ngãi

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội còn
rất quan trọng. Đặc biệt trong điều kiện kinh tế - xã hội nước ta, nông nghiệp có vai
trò hết sức quan trọng về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường sinh thái,...
Nó không chỉ cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người, nguyên vật liệu cho
công nghiệp, cung cấp vốn mà còn là ngành chủ yếu tạo ra nhiều việc làm, thu nhập
cho đa số dân cư nước ta. Nó chiếm gần 80% dân số, hơn 70% số hộ ở nông thôn.
Phát triển nông nghiệp đang là vấn đề hết sức quan trọng đặt ra cho các nhà nghiên
cứu kinh tế nông nghiệp. Trong 15 năm qua, nông nghiệp đã thể hiện sự tăng
trưởng, phát triển liên tục và bền vững. Tốc độ tăng bình quân 4,3%/năm, chuyển
mạnh từ nền sản xuất tự túc, tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hóa đa dạng và
hướng ra xuất khẩu, nổi bật nhất là sản xuất lương thực, tăng bình quân 5,8%/năm,
tức khoảng 1,3 triệu tấn/năm, tăng gần 2 lần so với năm 1990. Cà phê tăng 20 lần,
cao su tăng 3,5 lần, chè tăng 1,8 lần, điều tăng 4 lần v.v... Sản xuất nông nghiệp ở
hầu hết các vùng trong cả nước đã có biến đổi rõ nét. Đặc biệt ở Quảng Ngãi, nông
nghiệp là ngành sản xuất vật chất chủ yếu cung cấp lương thực, thực phẩm, cung
cấp nguyên liệu cho công nghiệp, là đầu vào quan trọng cho sự phát triển của ngành
công nghiệp chế biến nông sản trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá.
Cung cấp vốn cho các ngành kinh tế khác lấy từ nguồn thu thuế đất nông nghiệp,
thuế xuất khẩu nông sản, nhập khẩu tư liệu sản xuất nông nghiệp. Và nó làm phát

triển thị trường nội địa, vì quy mô dân số nông nghiệp rất lớn là thị trường rộng lớn.
Cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp của tỉnh Quảng Ngãi chiếm 26,06% GDP.
Nông nghiệp Quảng Ngãi nói chung và Ba Tơ nói riêng có ý nghĩa quan
trọng, duy trì phát triển đời sống, phát triển kinh tế. Huyện Ba Tơ là một trong
những huyện miền núi, huyện nghèo của tỉnh, kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào ngành
nông nghiệp. Cơ cấu kinh tế của huyện nông nghiệp chiếm 63,56%. Nhận thức được
vấn đề đó, huyện Ba Tơ trong những năm qua rất chú ý phát triển nông nghiệp.


Tuy nhiên, nông nghiệp của huyện Ba Tơ mặc dầu đã đạt được tốc độ phát
triển cao nhưng chưa bền vững, chưa hiệu quả, chưa khai thác các tiềm năng của
huyện, chưa bảo vệ môi trường, chưa chú ý đến sự phân hóa giàu nghèo của dân cư.
Vì vậy, việc phát triển bền vững nông nghiệp là yêu cầu mang tính cấp thiết.
Đó là lý do em chọn đề tài: "Phát triển bền vững nông nghiệp huyện Ba Tơ, tỉnh
Quảng Ngãi".
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến phát triển bền vững nông
nghiệp.
- Phân tích thực trạng phát triển bền vững nông nghiệp huyện Ba Tơ thời
gian qua.
- Đề xuất giải pháp nhằm phát triển bền vững nông nghiệp huyện Ba Tơ
thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
Là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến việc phát triển bền
vững nông nghiệp huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi.
b. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu một số nội dung cơ bản phát triển
bền vững nông nghiệp.
- Không gian: Đề tài nghiên cứu các nội dung trên tại huyện Ba Tơ, tỉnh
Quảng Ngãi.
- Thời gian: Các giải pháp đề xuất trong luận văn có ý nghĩa trong những
năm trước mắt.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu các đối tượng trên, đề tài sử dụng các
phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích thực chứng, phương pháp phân tích chuẩn tắc,


- Phương pháp điều tra, khảo sát, chuyên khảo, chuyên gia, phân tích, tổng


hợp, so sánh, khái quát...
- Các phương pháp khác.
5. Bố cục của đề tài
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài
liệu tham khảo… đề tài gồm có ba chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phát triển bền vững nông nghiệp
Chương 2: Thực trạng phát triển bền vững nông nghiệp huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng
Ngãi thời gian qua
Chương 3: Giải pháp để phát triển bền vững nông nghiệp huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng
Ngãi thời gian tới.


CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP
1.1. TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP
1.1.1. Một số khái niệm về phát triển bền vững nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, cung cấp sản
phẩm trồng trọt và sản phẩm chăn nuôi.
Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền
kinh tế quốc dân (còn là ngành duy nhất sản xuất được lương thực, thực phẩm).
Hoạt động nông nghiệp có từ lâu đời, nên được coi là lĩnh vực sản xuất truyền
thống; hoạt động này không những gắn liền với các yếu tố kinh tế, xã hội, mà còn
gắn với các yếu tố tự nhiên. Nếu xét theo đối tượng sản xuất, nông nghiệp sẽ bao
hàm các ngành: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản. [3]
Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp. Nó
không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học – kỹ thuật,
bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học –
cây trồng, vật nuôi. Chúng phát triển theo quy luật sinh học nhất định, con người
không thể ngăn cản các quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của chúng, mà
phải trên cơ sở nhận thức đúng đắn các quy luật để có những giải pháp tác động
thích hợp đến chúng. Mặt khác, quan trọng hơn là phải làm cho người sản xuất có
sự quan tâm thoả đáng, gắn lợi ích của họ với sử dụng quá trình sinh học đó nhằm
tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuối cùng. [7, tr 3]
a. Nông nghiệp theo nghĩa rộng
Nông nghiệp - theo nghĩa rộng, bao gồm cả ba nhóm ngành: nông nghiệp
thuần tuý, lâm nghiệp và ngư nghiệp (sau đây gọi là ngành nông lâm nghiệp). [7, tr 3]
b. Nông nghiệp theo nghĩa hẹp
Nông nghiệp – theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và
ngành dịch vụ. ( Sau đây gọi là ngành nông nghiệp) [7, tr 3]


c.. Phát triển bền vững
Khái niệm phát triển bền vững có nguồn gốc từ những năm 70 và lần đầu tiên
được sử dụng trong tác phẩm "Chiến lược bảo tồn thế giới" do Hiệp hội bảo tồn
thiên nhiên thế giới (IUCN) đề xuất năm 1980. Mục tiêu tổng thể của chiến lược là
"đạt được sự phát triển bền vững bằng cách bảo vệ các tài nguyên sinh vật". Thời
điểm này, khái niệm phát triển bền vững mới chỉ đề cập một nội dung hạn hẹp, nhấn
mạnh tính bền vững về mặt tài nguyên sinh thái nhằm kêu gọi việc bảo tồn các tài
nguyên sinh vật. Và nó được phổ biến rộng rãi trong báo cáo Brundland "Tương lai
của chúng ta" (1987) và đã được đề cập chi tiết trong báo cáo "Chăm lo cho Trái
đất" (1991) và "Chương trình Nghị sự 21" (1992).
Trong hơn 30 năm qua, đã có rất nhiều định nghĩa về phát triển bền vững kể
cả các tổ chức quốc tế nói chung và các nhà nghiên cứu Việt Nam nói riêng, đã được
giới thiệu:
- Theo quan điểm của Ủy ban Môi trường và phát triển thế giới (WCED):
+ Trong báo cáo "Tương lai của chúng ta" (1987) đã đưa ra định nghĩa:
"Phát triển bền vững là sự phát triển không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu của
thế hệ hiện tại mà còn không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của
các thế hệ tương lai". [4]
+ Trong báo cáo "Chăm lo Trái đất" (1991) đưa ra định nghĩa: "Phát
triển bền vững là sự nâng cao chất lượng đời sống con người trong lúc đang
tồn tại, trong khuôn khổ đảm bảo của các hệ thống sinh thái"; còn tính bền
vững là một đặc điểm đặc trưng của mọi quá trình hoặc một trạng thái có thể
duy trì mãi mãi.
- Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tại Rio de
Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về phát triển
bền vững tại Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 xác định: Phát triển
bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa
ba mặt của sự phát triển, bao gồm:
+ Phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế).


+ Phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, xoá đói
giảm nghèo và giải quyết việc làm).
+ Bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục môi trường, phục hồi và
cải thiện chất lượng môi trường, phòng chống cháy và chặt phá rừng, khai thác
hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên).
- Theo quan điểm của Ngân hàng Thế giới (WB): Phát triển bền vững là sự
phát triển mà trong đó các giá trị kinh tế, môi trường và xã hội luôn luôn tương tác
với nhau trong suốt quá trình quy hoạch, phân bố lợi nhuận công bằng giữa các tầng
lớp trong xã hội và khẳng định các cơ hội cho sự phát triển kế tiếp, duy trì một cách
liên tục cho các thế hệ mai sau.
Bền vững về kinh tế, thể hiện một cách khái quát ở sự ổn định và không
ngừng gia tăng sản xuất của quốc gia, thường được biểu thị bằng các tiêu chí tổng
sản phẩm quốc gia (GNP), tổng sản phẩm trong nước (GDP), GDP bình quân đầu
người, mức tăng trưởng của GDP, sức mua tương đương (PPP),...
Mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế là:
+ Duy trì tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định trên cơ sở nâng cao không
ngừng tính hiệu quả, hàm lượng khoa học - công nghệ và sử dụng tiết kiệm tài
nguyên thiên nhiên và cải thiện môi trường.
+ Thay đổi mô hình và công nghệ sản xuất, mô hình tiêu dùng theo hướng
sạch hơn và thân thiện với môi trường.
+ Thực hiện quá trình "công nghiệp hoá sạch".
+ Phát triển bền vững nông nghiệp và nông thôn.
+ Phát triển bền vững từng vùng, từng địa phương.
Bền vững về mặt xã hội, thể hiện ở sự phân phối quyền lợi và các cơ hội một
cách công bằng giữa các tầng lớp xã hội, giới và các thế hệ. Tính bền vững về xã hội
thường được đánh giá qua chỉ số phát triển con người (HDI), hệ số bình đẳng thu
nhập (hệ số Gini), các chỉ tiêu về giáo dục, dịch vụ y tế,...
Mục tiêu phát triển bền vững về xã hội là:
+ Tập trung nỗ lực để xoá đói giảm nghèo, tạo thêm việc làm.


+ Tiếp tục hạ thấp tỷ lệ gia tăng dân số, giảm bớt sức ép của sự gia tăng dân
số và tình trạng thiếu việc làm.
+ Phân phối hợp lý dân cư và lực lượng lao động theo vùng, bảo vệ môi
trường bền vững ở các địa phương, trước hết là các đô thị trong quá trình đô thị hoá.
+ Nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo để nâng cao trình độ dân trí, trình độ
nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước.
+ Phát triển về số lượng và nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế và chăm sóc
sức khoẻ nhân dân, cải thiện các điều kiện lao động và vệ sinh môi trường sống.
Bền vững về mặt môi trường, là khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và có
hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát có hiệu
quả ô nhiễm môi trường, bảo vệ tốt môi trường sống; khắc phục suy thoái và cải
thiện chất lượng môi trường.
Mục tiêu phát triển bền vững về môi trường là:
+ Sử dụng hợp lý, bền vững và chống thoái hoá tài nguyên đất.
+ Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tài nguyên khoáng sản.
+ Bảo vệ môi trường và tài nguyên biển, ven biển, hải đảo.
+ Bảo vệ và phát triển rừng.
+ Giảm ô nhiễm không khí ở các đô thị và khu công nghiệp.
+ Quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại.
+ Bảo tồn đa dạng sinh học.
+ Giảm nhẹ biến đổi khí hậu và hạn chế những ảnh hưởng có hại của biến đổi
khí hậu, góp phần phòng, chống thiên tai.
Từ khi khái niệm phát triển bền vững được đưa ra lần đầu tiên, đến nay có rất
nhiều định nghĩa về phát triển bền vững. Tuy nhiên, một trong những định nghĩa
được chấp nhận một cách rộng rãi nhất là do Ủy ban Môi trường thế giới (WCED)
nêu ra. Định nghĩa về phát triển bền vững nêu trên khá hấp dẫn về triết học, song
định nghĩa này đã đặt ra nhiều cách hiểu và khó khi đưa ra áp dụng trong thực tiễn.
Bởi lẽ, định nghĩa này thường được giải thích là thế hệ sau phải được thừa hưởng
đầy đủ những gì thiên nhiên đã ban phát cho các thế hệ trước, điều này làm mất đi


tính chủ động, sáng tạo của thế hệ sau và khả năng phát triển kinh tế, xã hội và đề ra
những chương trình cần thiết để giảm đói nghèo ở nhiều nước đang phát triển.
Nhìn chung, khái niệm phát triển bền vững có nội hàm rất rộng và thậm
chí tồn tại nhiều quan điểm khác nhau. Tổng hợp những quan điểm được sự đồng
thuận căn bản nhất có thế hiểu rằng: Phát triển bền vững là sự phát triển trong
đó kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển là kinh tế,
xã hội và môi trường trong nông nghiệp nông thôn nhằm thoả mãn được nhu cầu
của xã hội hiện tại nhưng không gây tổn hại cho khả năng ấy của các thế hệ
tương lai.
Để đánh giá sự phát triển bền vững đòi hỏi phải có các tiêu chí phát triển
bền vững là:
+ Sự tăng trưởng kinh tế cao và ổn định;
+ Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội;
+ Khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên;
+ Bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường.
Các tiêu chí này một mặt cụ thể hoá chính sách, chiến lược, kế hoạch phát
triển, mặt khác là căn cứ để kiểm tra, đánh giá quá trình phát triển.
d. Phát triển bền vững nông nghiệp
Nông nghiệp và nông thôn bền vững là một nhân tố của phát triển bền vững.
Khi dân số tăng nhanh, nhu cầu về lương thực, thực phẩm gia tăng nhanh chóng, vì
đây là nhu cầu tối cơ bản của con người, sẽ có những tác động ngày càng to lớn đến
môi trường sinh thái và vấn đề phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững được
đặt ra và ngày càng được quan tâm của nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực
khác nhau và nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam.
- Theo tổ chức sinh thái và môi trường thế giới: nông nghiệp bền vững là nền
nông nghiệp thỏa mãn được các yêu cầu của thế hệ hiện nay, mà không giảm khả
năng ấy đối với các thế hệ mai sau. Điều đó có nghĩa là nền nông nghiệp không
những cho phép các thế hệ hiện nay khai thác tài nguyên thiên nhiên vì lợi ích của
họ mà còn duy trì được khả năng ấy cho các thế hệ mai sau, cũng có ý kiến cho rằng


sự bền vững của hệ thống nông nghiệp là khả năng duy trì hay tăng thêm năng suất
và sản lượng nông sản trong một thời gian dài mà không ảnh hưởng đến điều kiện
sinh thái.
- Theo tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên hiệp quốc (FAO): Phát
triển nông nghiệp bền vững là sự quản lý và bảo tồn, sự thay đổi lề lối tổ chức và kỹ
thuật nhằm đảm bảo thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người cả cho hiện tại
và mai sau. Sự phát triển như vậy của nền nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và
thuỷ, hải sản) sẽ đảm bảo không tổn hại đến môi trường, không giảm cấp tài
nguyên, sẽ phù hợp về kỹ thuật và công nghệ, có hiệu quả kinh tế và được ra hội
chấp nhận (1992).
- Theo Ủy ban kỹ thuật của FAO, nền nông nghiệp bền vững bao gồm việc
quản lý có hiệu quả nguồn lực để thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người
mà vẫn duy trì hay làm tăng thêm chất lượng của môi trường và bảo vệ tài nguyên
thiên nhiên.
Ở Việt Nam, thời gian gần đây đã quan tâm ngày càng nhiều hơn đến vấn đề
phát triển bền vững nông nghiệp. Giáo sư Lê Du Phong đưa ra nội dung phát triển
bền vững nông nghiệp gồm:
(1) Một nền nông nghiệp biết giữ gìn, phát triển bồi dưỡng và sử dụng đất
hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên của nông nghiệp, đặc biệt là đất và nguồn
nước.
(2) Một nền nông nghiệp có trình độ thâm canh cao, biết kết hợp hài hòa giữa
việc sử dụng các kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, nhất là công nghệ sinh học với
kinh nghiệm và truyền thống sản xuất của người nông dân để tạo ra ngày càng nhiều
các sản phẩm nông nghiệp có chất lượng tốt cung cấp cho xã hội.
(3) Một nền nông nghiệp sạch, biết hạn chế một cách tối đa việc sử dụng các
chất hóa học có hại đến môi sinh, môi trường và sức khỏe con người. Kết hợp một
cách hài hòa việc phát triển sản xuất với bảo vệ và tôn tạo môi trường. Các sản
phẩm do nông nghiệp làm ra cung cấp cho người tiêu dùng phải là những sản phẩm
sạch, có tác dụng tăng cường sức khỏe con người.


(4) Một nền nông nghiệp bền vững có cơ cấu cây trồng và vật nuôi hợp lý,
phù hợp với đặc điểm điều kiện tự nhiên của mỗi vùng. Cơ cấu này phải bảo đảm
cho nông nghiêp khai thác được tối đa lợi thế so sánh, phát triển toàn diện với tốc độ
nhanh.
(5) Sự bền vững theo khái niệm kinh tế ám chỉ mối quan hệ ổn định và thỏa
mãn giữa sản xuất nông nghiệp và tiêu dùng. [1]
Như vậy, trên quan điểm phát triển, sự phát triển nông nghiệp bền vững là
vừa đảm bảo thỏa mãn nhu cầu hiện tại ngày càng tăng về sản phẩm nông nghiệp,
vừa không giảm khả năng đáp ứng những nhu cầu của nhân loại trong tương lai.
Mặt khác, phát triển nông nghiệp bền vững vừa theo hướng đạt năng suất nông
nghiệp cao hơn vừa bảo vệ và giữ gìn tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo sự cân bằng
có lợi về môi trường.
Phát triển nông nghiệp bền vững là sự phát triển trong đó kết hợp chặt chẽ,
hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển là kinh tế, xã hội và môi trường
trong nông nghiệp nông thôn nhằm thỏa mãn được nhu cầu của xã hội hiện tại
nhưng không gây tổn hại cho khả năng ấy của các thế hệ tương lai.
1.1.2. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
Theo cách hiểu nào đó nông nghiệp chỉ đơn thuần là một trong nhiều ngành
công nghiệp nhưng có những nét đặc thù. Thứ nhất, ngành nông nghiệp của một
nước ở giai đoạn phát triển ban đầu có nhiều nhân công làm thuê hơn hẳn so với các
ngành công nghiệp và các lĩnh vực khác (chiếm tới 60-70%) và ở nhiều nước đang
phát triển, lạc hậu bao gồm: Trung Quốc và Ấn Độ nhân công làm trong ngành nông
nghiệp chiếm tỷ lệ còn nhiều hơn trong tổng số lực lượng lao động của nước đó.
Ngược lại, những nước có nền kinh tế phát triển sử dụng không quá 10% lực lượng
lao động trong nông nghiệp (ở Mỹ chỉ có 3%).
Điểm khác thứ hai là các hoạt động nông nghiệp đã có từ hàng nghìn năm
nay kể từ khi con người từ bỏ nghề săn bắn và hái lượm thức ăn là chính. Do có lịch
sử lâu đời này mà nền kinh tế nông thôn thường được nói đến như nền kinh tế
truyền thống. Với những phương tiện dựa trên nền khoa học và cơ khí hiện đại, con


người đã sản xuất được điện và ô tô, nhưng con người thường áp dụng những kỹ
thuật đã phát triển từ hàng trăm năm, thậm chí hàng nghìn năm trước khi có nền
khoa học hiện đại để trồng trọt. Vì thế rất khó thay đổi những xã hội ở nông thôn
thường họ đã quen sử dụng những kỹ thuật truyền thống, phát triển và củng cố thêm
các cách thức làm việc đã lỗi thời.
Đặc điểm thứ ba của nông nghiệp làm cho nó khác hẳn các ngành khác là đất
đai, một nhân tố của sản xuất chiếm giữ vai trò quyết định. Các ngành khác cũng có
nhu cầu sử dụng đất nhưng không phải đối với bất cứ một ngành nào, đất đai đóng
một vai trò chủ đạo như vậy. Việc sẵn có đất trồng có liên quan đến số dân tương đối
nhiều ở Châu Mỹ hay việc ít đất trồng ở Châu Phi là cơ sở hình thành những kỹ
thuật canh tác có thể sử dụng được, Gắn liền với vai trò chủ đạo là đất đai là ảnh
hưởng của thời tiết. Không một ngành nào khác ngoài nông nghiệp lệ thuộc vào sự
thay đổi thất thường của thời tiết đến như vậy, Giống như thời tiết, đất đai ở mỗi nơi
khác nhau nên kỹ thuật được áp dụng thích hợp với đất nơi này nhưng ở những nơi
khác thì lại có ít tác dụng. Việc sản xuất thép cũng phải điều chỉnh cho phù hợp với
sự khác nhau, những vấn đề tương tự như vậy thường xuất hiện trong các ngành
công nghiệp, nhưng những kỹ thuật cơ bản áp dụng trong nhiều ngành sản xuất là
giống nhau ít nhất là trong phạm vi một nước và giữa các nước với nhau.Trong nông
nghiệp, sự khác nhau về chất lượng đất trồng, khí hậu và nguồn nước sẵn có dẫn đến
việc sản xuất lương thực khác nhau và các biện pháp để nâng cao năng suất của một
vụ khác nhau không chỉ ở các nước mà giữa các tỉnh huyện của một nước.
Điểm khác cuối cùng nông nghiệp là một ngành duy nhất sản xuất lương
thực. Con người có thể sống mà không cần thép, than hoặc điện nhưng không thể
thiếu lương thực, trên thực tế, phần lớn các sản phẩm chế tạo đều có thể thay thế,
nhưng không có sản phẩm nào thay thế được thức ăn. Mỗi nước đều phải sản xuất
được lương thực hoặc nhập khẩu lương thực.
1.1.3. Vai trò của nông nghiệp
Nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm phục vụ nhu cầu cơ bản của con
người


Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất xuất hiện sớm nhất của xã hội loài
người. Sản phẩm quan trọng hàng đầu mà con người làm ra để nuôi sống mình là
lương thực. Cách đây khoảng một vạn năm, con người đã biết thuần dưỡng động vật
hoang, trồng các loại cây rừng và biến chúng thành vật nuôi, cây trồng. Sự ổn định
bước đầu của dân số thế giới là từ khi loài người biết trồng trọt và tạo được cơ sở
lương thực thực phẩm.
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nông nghiệp ngày càng được mở
rộng, các giống cây trồng vật nuôi ngày càng đa dạng, phong phú. Các Mác đã
khẳng định, con người phải có ăn, sau đó mới đến các hoạt động khác. Ông đã chỉ
rõ: nông nghiệp là ngành cung cấp tư liệu sinh hoạt cho con người ... và việc sản
xuất ra tư liệu sinh hoạt là điều kiện đầu tiên cho sự sống của họ và của mọi lĩnh vực
sản xuất nói chung. Điều này khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của nông
nghiệp trong việc nâng cao mức sống cho người dân, đảm bảo an ninh lương thực
quốc gia cũng như sự ổn định chính trị xã hội của đất nước. Từ đó chúng ta có thể
khẳng định ý nghĩa to lớn của vấn đề lương thực trong chiến lược phát triển nông
nghiệp và phân công lại lao động xã hội. Cho đến nay, chưa có ngành nào dù hiện
đại đến đâu, có thể thay thế được sản xuất nông nghiệp.
Nông nghiệp là một trong những ngành cung cấp nguyên liệu để phát triển
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và tạo thêm việc làm của dân cư.
Nông nghiệp là ngành cung cấp nguyên liệu quan trọng cho các ngành công
nghiệp chế biến. Các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, đồ uống, công nghiệp
dệt, da và đồ dùng bằng da... đều sử dụng nguồn nguyên liệu từ nông nghiệp.
Đối với các nước đang phát triển, nguyên liệu từ nông sản là bộ phận đầu
vào chủ yếu để phát triển công nghiệp chế biến và nhiều ngành sản xuất hàng tiêu
dùng. Một số loại nông sản nếu tính trên đơn vị diện tích, có thể tạo ra số việc làm
sau nông nghiệp nhiều hơn hoặc tương đương với số việc làm của chính khâu sản
xuất nông sản ấy. Hơn nữa, thông qua công nghiệp chế biến, giá trị của nông sản
được tăng lên và đa dạng hơn, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của thị trường trong


nước và quốc tế. Vì thế trong chừng mực nhất định, nông nghiệp có ảnh hưởng đến
sự phát triển và phân bố các ngành công nghiệp chế biến.
Nông nghiệp và nông thôn là thị trường lớn tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của
nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ
Đối với các nước đang phát triển, nông nghiệp và nông thôn chiếm tỷ lệ cao
trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và cơ cấu ngành nghề của dân cư. Đời
sống của dân cư nông thôn ngày càng được nâng cao, cơ cấu kinh tế nông thôn ngày
càng đa dạng và đạt tốc độ tăng trưởng cao thì nông nghiệp và nông thôn sẽ trở
thành thị trường tiêu thụ rộng lớn và ổn định của nền kinh tế quốc dân.
Nông nghiệp là ngành cung cấp khối lượng hàng hoá lớn để xuất khẩu mang
lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước
Nông sản dưới dạng thô hoặc qua chế biến là bộ phận xuất khẩu hàng hoá
chủ yếu của hầu hết các nước đang phát triển. Trong cơ cấu kim ngạch xuất khẩu, tỷ
lệ nông sản xuất khẩu nhất là dưới dạng thô có xu hướng giảm đi, nhưng tăng lên về
giá trị tuyệt đối. Vì vậy trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hoá của nhiều
nước, nông nghiệp trở thành ngành xuất khẩu chủ yếu, tạo ra tích luỹ để tái sản xuất
và phát triển nền kinh tế quốc dân.
Ở Việt Nam, năm 2002, tỷ trọng xuất khẩu hàng nông – lâm - thuỷ sản chiếm
30% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước (trên 5 tỷ đô la) với các mặt hàng chủ
yếu là cao su, cà phê, rau quả….
Nông nghiệp là khu vực cung cấp lao động phục vụ công nghiệp và các lĩnh
vực hoạt động khác của xã hội
Đây là xu hướng có tính quy luật trong phân công lại lao động xã hội. Tuy
vậy, khả năng di chuyển lao động từ nông nghiệp sang các ngành kinh tế khác còn
phụ thuộc vào việc nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp và vào việc phát
triển công nghiệp và dịch vụ ở thành thị và cả việc nâng cao chất lượng nguồn lao
động ở thành thị và nông thôn.
Nông nghiệp trực tiếp tham gia vào việc giữ vững cân bằng sinh thái, bảo vệ
tài nguyên thiên nhiên và môi trường.


Quá trình phát triển nông nghiệp gắn liền với việc sử dụng thường xuyên đất
đai, nguồn nước, các loại hoá chất…, với việc trồng và bảo vệ rừng, luân canh cây
trồng, phủ xanh đất trống đồi trọc… Tất cả điều đó ảnh hưởng tới môi trường.
Chính việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái còn là điều kiện sản
xuất nông nghiệp có thể phát triển và đạt hiệu quả cao.
Rõ ràng, hiện tại cũng như sau này, nông nghiệp luôn giữ vai trò quan trọng
trong nền kinh tế. Trên 40% lao động thế giới đang tham gia sản xuất nông nghiệp
(trong đó ở các nước phát triển là dưới 10%, các nước đang phát triển từ 30 - 70%)
và tạo ra 4% GDP toàn cầu (ở các nước phát triển là 2%, các nước đang phát triển là
27%, có những nước trên 50%)
Ở Việt Nam, cho đến hết năm 2009 có 52% lao động trong ngành nông
nghiệp và tạo ra 21% giá trị GDP cả nước.
Tại các nước đang phát triển như nước ta, nông nghiệp là ngành có liên quan
trực tiếp đến việc làm, thu nhập và đời sống của đại đa số dân cư. Vì vậy, nông
nghiệp có tầm quan trọng hàng đầu đối với sự ổn đinh kinh tế - chính trị - xã hội .
1.1.4. Ý nghĩa của phát triển bền vững nông nghiệp
Nông nghiệp có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, nó khích
thích tăng trưởng kinh tế, trước hết nông nghiệp sản xuất và cung cấp sản phẩm tối
cần thiết cho xã hội loài người tồn tại và phát triển đó là cung cấp lương thực, thực
phẩm - nhu cầu tối cơ bản cho con người; cung cấp các yếu tố đầu vào cho công
nghiệp và khu vực thành thị; cung cấp ngoại tệ để công nghiệp hóa thông qua xuất
khẩu; cung cấp vốn cho các ngành kinh tế khác; là thị trường tiêu thụ lớn của công
nghiệp và dịch vụ; đặc biệt nông nghiệp ý nghĩa có rất to lớn trong việc bảo vệ môi
trường. Vì vậy, khi phát triển bền vững nông nghiệp nó đảm bảo sẽ:
- Đáp ứng nhu cầu xã hội về sản phẩm nông nghiệp.
- Cung ứng hàng hoá xuất khẩu.
- Sử dụng có hiệu quả các nguồn lực: ruộng đất, lao động, nguồn nhân lực…
- Giải quyết, nâng cao đời sống và xoá đói giảm nghèo cho người dân.
- Rút ngắn khoảng cách giữa các nhóm dân cư trong xã hội.


- Sử dụng đúng các nguồn tài nguyên thiên nhiên mà không làm tổn hại hệ
sinh thái và môi trường.
- Giúp cho quá trình sản xuất được thực hiện lâu dài.
Mục tiêu cuối cùng của phát triển bền vững nông nghiệp là thảo mãn yêu cầu
căn bản của con người, cải thiện cuộc sống, bảo tồn và quản lý hiệu quả hệ sinh thái,
đảm bảo cho tương lai phát triển ổn định. Phát triển bền vững thực hiện và đảm bảo
sự liên kết giữa các thế hệ, giữa các quốc gia, giữa hiện tại và tương lai. Phát triển
bền vững có tính chất đa diện, thống nhất, toàn bộ. Muốn phát triển bền vững phải
lồng ghép được ba thành tố quan trọng của sự phát triển với: phát triển kinh tế, phát
triển xã hội và bảo vệ môi trường. Đây là nguyên lý chung để hướng sự phát triển
bền vững của các lĩnh vực trong nền kinh tế.
1.2. NỘI DUNG CỦA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG
1.2.1. Phát triển nông nghiệp về kinh tế
Phát triển nông nghiệp, nông thôn luôn được sự quan tâm của Đảng và Nhà
nước. Đã có nhiều chủ trương, chính sách thúc đẩy sự phát triển của khu vực này.
Phát triển nông nghiệp được coi là động lực trực tiếp giải quyết việc làm tại các địa
phương, đóng vai trò quyết định trong sự nghiệp xóa đói giảm nghèo.
Như vậy, có thể hiểu sự phát triển bền vững nông nghiệp về kinh tế là sự phát
triển đảm bảo tăng trưởng, phát triển ổn định lâu dài về mặt kinh tế của nông
nghiệp, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế của cộng đồng, quốc gia.
Mục tiêu của phát triển bền vững về kinh tế là đạt được sự tăng trưởng ổn
định với cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu, nâng cao đời sống của người dân, tránh
được sự suy thoái và gánh nặng nợ nần cho thế hệ tương lai. [4]
Để phát triển bền vững nông nghiệp về mặt kinh tế cần phải đáp ứng các tiêu
chí cụ thể sau:
- Sản xuất nông nghiệp phải đáp ứng nhu cầu xã hội về sản phẩm nông
nghiệp gồm: Gia tăng sản lượng, làm tăng giá trị sản phẩm hàng hoá; hàng hoá sản
xuất ra đáp ứng một phần nhu cầu sử dụng của người dân; chất lượng sản phẩm phù
hợp với yêu ngày càng cao của thị trường, trước hết là đảm bảo tiêu chuẩn về vệ


sinh an toàn thực phẩm. Đồng thời sản phẩm nông nghiệp phải đa dạng, có hàm
lượng công nghệ cao, giá cả hợp lý, có sức cạnh tranh. Vì vậy, phát triển bền vững
nông nghiệp đòi hỏi sản phẩm nông nghiệp từ khâu sản xuất, thu hoạch, bảo quản
đến khâu chế biến phải đảm bảo các tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh thực phẩm, đảm
bảo sức khoẻ cho người tiêu dùng.
- Kết quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp ngày càng cao. Sản xuất nông
nghiệp gắn liền với nguồn tài nguyên thiên nhiên đất, nước, nên phát triển bền
vững nông nghiệp trên cơ sở sử dụng các nguồn tài nguyên này một cách hợp lý,
mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân. Điều này đòi hỏi người nông
dân phải có sự đầu tư tăng năng suất lao động, năng suất ruộng đất và năng suất
cây trồng, đảm bảo sản xuất ra một khối lượng hàng hoá lớn, đóng góp đáng kể
cho nền kinh tế quốc dân nói chung và cho từng địa phương nói riêng. Có như vậy
mới có lợi nhuận cao.
- Sử dụng hiệu quả các nguồn lực nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao cho
người nông dân. Với quy mô lao động đang có xu hướng ngày càng giảm dần thì
người nông dân phải sử dụng hợp lý nguồn vốn, đất đai, phải lựa chọn hình thức tổ
chức sản xuất phù hợp để tăng năng suất lao động.
Ngoài ra, theo Bộ chỉ tiêu phát triển bền vững của nước ta, đã thống nhất
danh mục 29 chỉ tiêu phát triển bền vững, để phát triển bền vững về kinh tế cần đảm
bảo 10 chỉ tiêu sau phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội: [1], [4]
(1)

Thu nhập bình quân đầu người, tính theo VNĐ (giá hiện hành) từ Niên

giám thống kê địa phương.
(2)

Biến động thu nhập bình quân đầu người, so với năm trước được tính

theo phần trăm (%)
(3)

Tăng trưởng giá trị sản xuất tính theo phần trăm (%). Niên giám thống

kê địa phương.


(4)

Cơ cấu các ngành kinh tế quốc dân Nông; Lâm; Ngư nghiệp; Công

nghiệp; Xây dựng; Dịch vụ; được tính bằng tỷ trọng (%) đóng góp của ba ngành
trên vào GDP, từ Niên giám thống kê địa phương.
(5)

Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng số lao động, tính theo phần trăm

(%) từ Niên giám thống kê địa phương.
(6)

Tỷ lệ thu/chi ngân sách, tính theo phần trăm (%). Niên giám thống kê

địa phương.
(7)

Kim ngạch xuất khẩu, tính theo USD giá giện hành hoặc qui đổi ra

VNĐ theo tỷ giá chính thức, từ Niên giám thống kê địa phương.
(8)

Tỷ trọng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa phương so với cả

nước, tính theo phần trăm (%) từ Niên giám thống kê địa phương.
(9)

Diện tích đất nông nghiệp/người, tăng giảm/năm (%).

(10) Bình quân thu nhập nghề phi nông nghiệp đồng/hộ/năm.
Qua bộ chỉ tiêu trên, có thể hiểu phát triển bền vững nông nghiệp về kinh tế
là sử dụng hiệu quả các nguồn lực để tăng năng suất lao động, gia tăng giá trị sản
lượng để đáp ứng nhu cầu xã hội về sản phẩm nông nghiệp.
1.2.2. Phát triển nông nghiệp về xã hội
Phát triển bền vững nông nghiệp về xã hội đó chính là sự đóng góp cụ thể
của nông nghiệp cho phát triển xã hội, đảm bảo sự công bằng trong phát triển.
Phát triển bền vững nông nghiệp về xã hội phải đảm bảo để cuộc sống của
người nông dân đạt kết quả ngày càng cao, nâng cao thu nhập, đảm bảo cuộc sống
gia đình, cải thiện chất lượng cuộc sống, góp phần xoá đói giảm nghèo, giảm
khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp và nhóm xã hội. Giảm các tệ nạn xã hội,
nâng cao trình độ văn minh về đời sống vật chất và tinh thần cho người nông dân.
Vì vậy, để phát triển bền vững nông nghiệp về xã hội cần chú ý đến những
vấn đề liên quan đến những yếu tố của phát triển xã hội như:


- Sử dụng hợp lý lao động: phát triển kinh tế nông nghiệp phải đi đôi với giải
quyết việc làm cho người lao động. Gắn mục tiêu tăng trưởng kinh tế với mục tiêu
tạo việc làm cho người dân, tăng năng suất lao động.
- Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với xoá đói giảm nghèo, đó là mục tiêu vừa
trước mắt vừa lâu dài, tạo động lực phát triển kinh tế và mặt bằng phát triển đồng
đều trong xã hội.
- Tăng trưởng kinh tế làm giảm khoảng cách giàu nghèo, đảm bảo ổn định xã
hội và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Ổn định xã hội được biểu hiện
bằng việc đó là không có xung đột sắc tộc giữa các giai cấp trong xã hội. Đây cũng
là điều kiện để tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra chất lượng cuộc sống được biểu hiện ở
các chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người, chỉ số hưởng thụ về giáo dục, chỉ số về
chăm sóc y tế…
Ngoài ra, theo Bộ chỉ tiêu phát triển bền vững của nước ta, để phát triển bền
vững về xã hội cần đảm bảo 12 chỉ tiêu sau phù hợp với yêu cầu của phát triển xã
hội: [1], [4]
(1)

Tổng số dân, tính theo triệu người, tổng số hộ từ Niên giám thống kê

địa phương.
(2)

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên, tính theo phần trăm (%), từ Niên giám thống

kê địa phương.
(3)

Tỷ lệ dân số sống dưới ngưỡng nghèo, tính bằng phần trăm (%) từ số

liệu công bố kết quả của các cuộc điều tra mức sống.
(4)

Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi, hoặc tỷ lệ trẻ em tử vong dưới

5 tuổi, hoặc tỷ lệ trẻ em được tiêm chủng, tính theo phần trăm (%), theo thống kê
ngành Y tế địa phương.
(5)

Tỷ lệ thất nghiệp thành thị, tỷ lệ thời gian làm việc được sử dụng của

lao động ở nông thôn; từ Niên giám thống kê của địa phương.
(6) Tuổi thọ trung bình, tính hàng năm; lấy kết quả tổng điều tra dân số.
(7)

Dân số được sử dụng nước sạch, sử dụng điện, hộ có điện thoại tính

bằng phần trăm (%), từ Niên giám thống kê của địa phương.


(8)

Tỷ lệ dân số được tiếp cận hệ thống vệ sinh, tính bằng phần trăm (%),

từ Niên giám thống kê của địa phương.
(9)

Tỷ lệ biết chữ ở người lớn, tính theo phần trăm (%), kết quả điều tra

dân số.
(10)

Tỷ lệ phổ cập trung học cơ sở đối với trẻ em trong độ tuổi, tính theo tỷ

lệ phần trăm (%), từ thống kê ngành Giáo dục địa phương.
(11)

Tỷ lệ lao động được đào tạo, tính theo phần trăm (%), theo số liệu

thống kê của địa phương.
(12)

Tỷ lệ dân số tiếp cận phương tiện truyền thông hiện đại, tính theo (%),

theo số liệu thống kê của địa phương.
Qua các chỉ tiêu về lĩnh vực xã hội, phát triển bền vững nông nghiệp về xã
hội là tạo việc làm, thu nhập ổn định cho người lao động, xoá đói giảm nghèo, nâng
cao trình độ dân trí và đời sống vật chất, tinh thần cho người dân.
1.2.3. Phát triển nông nghiệp về môi trường
Đất đai, nguồn nước là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế của nông
nghiệp. Việc khai thác đất đai, nguồn nước để sản xuất nông nghiệp đòi hỏi cần phải
được duy trì được chất lượng đất, bảo vệ nguồn nước, hạn chế ô nhiễm môi trường.
Cần tránh khai thác cạn kiệt các nguồn lợi tự nhiên nhằm đảm bảo cho hoạt động
sản xuất nông nghiệp có hiệu quả. Quá trình phát triển nông nghiệp bền vững cần
chú trọng đến bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo được sự đa dạng và bền vững của
môi trường sinh thái. Phải áp dụng khoa học kỹ thuật trong việc xử lý chất thải và
các loại hoá chất nguy hại khác để không nguy hiểm cho sức khỏe con người và ô
nhiễm môi trường.
Vì vậy, phát triển bền vững nông nghiệp về môi trường là phải khai thác hợp
lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa, ngăn chặn, xử
lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường. [4]
Đảm bảo sự bền vững về tài nguyên và môi trường trong nông nghiệp không
thể chỉ thỏa mãn nhu cầu của hiện tại mà còn đảm bảo cho nhu cầu của thế hệ sau.


Để phát triển bền vững nông nghiệp về môi trường thì quá trình phát triển nông
nghiệp phải đảm bảo các yếu tố sau:
- Duy trì màu mỡ của đất;
- Độ ô nhiễm của không khí;
- Độ ô nhiễm của nguồn nước.
Ngoài ra, theo Bộ chỉ tiêu phát triển bền vững của nước ta, để phát triển về
môi trường cần đảm bảo 8 chỉ tiêu sau phù hợp với yêu cầu của phát triển của xã
hội: [1], [4]
(1)

Tỷ lệ che phủ rừng, tính bằng phần trăm (%), từ Niên giám thống kê

của địa phương.
(2)

Tỷ lệ diện tích khu bảo tồn thiên nhiên so với diện tích tự nhiên, tính

bằng phần trăm (%), từ Niên giám thống kê của địa phương.
(3)

Tỷ lệ đất nông nghiệp được tưới, tiêu, tính bằng phần trăm (%), từ Niên

giám thống kê của địa phương.
(4)

Tỷ lệ đất bị suy thoái hàng năm, tính bằng phần trăm (%), từ Niên giám

thống kê của địa phương.
(5)

Tỷ lệ các khu, cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải, chất thải

rắn, tính bằng phần trăm (%), từ Niên giám thống kê của địa phương.
(6)

Tỷ lệ rác thải rắn được thu gom xử lý

(7)

Chất lượng môi trường không khí đô thị, nông thôn (xấu, trung bình,

(8)

Tổng thiệt hại do thiên tai và sự cố môi trường hàng năm.

tốt).
Hay nói cách khác, phát triển bền vững nông nghiệp về môi trường là giảm
thiểu tác hại ô nhiễm môi trường do quá trình sản xuất nông nghiệp gây ra. Có kế
hoạch, quy hoạch khai thác, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên, đảm bảo duy trì độ
màu mỡ của đất, giảm thiểu sự ô nhiễm không khí và nguồn nước.
Và cũng theo Bộ chỉ tiêu phát triển bền vững của nước ta, cần vận dụng các
chỉ tiêu phát triển bền vững của quốc gia vào hoàn cảnh thực tế của địa phương,
trong đó vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số cần chú ý: Tăng trưởng


kinh tế đi đôi với xoá đói giảm nghèo; kế hoạch hoá gia đình và nâng cao chất lượng
dân số; phân bố dân cư, các chỉ tiêu y tế, giáo dục; các chỉ số phát triển con người,
xã hội; sử dụng tiết kiệm năng lượng và vật liệu không cải tạo; bảo vệ đa dạng sinh
học; bảo vệ môi trường sinh thái; rừng, đất, nước...; vấn đề tiếp cận thông tin về
phát triển bền vững; giáo dục và nâng cao nhận thức của người dân về phát triển bền
vững; huy động sự tham gia của người dân; thể chế hoá các chính sách phát triển
bền vững và bảo vệ môi trường; xây dựng và thực hiện các quy hoạch phát triển bền
vững.
Như vậy, phát triển bền vững là trung tâm, là sự hài hòa của các giá trị kinh
tế - xã hội - môi trường… trong quá trình phát triển. Tính bền vững của hệ thống sản
xuất nông nghiệp là kết quả của sự kết hợp ba nội dung nói trên. Nếu một yếu tố nào
đó gây tác động tiêu cực hoặc giữa chúng phát sinh những tác động ngược chiều
nhau thì toàn bộ hệ thống bị ảnh hưởng. Nỗ lực phát triển nông nghiệp theo hướng
bền vững phải được đặt ra và giải quyết trong mối quan hệ tổng thể này.
1.3. NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG
NGHIỆP
Phát triển bền vững nói chung và phát triển bền vững nông nghiệp nói riêng
chịu tác động của nhiều nhân tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội,… các nhân tố
này gắn bó với nhau, tác động qua lại tạo thành một hệ thống tác động thúc đẩy
hoặc cản trở quá trình phát triển của nhau. Vì vậy, để quá trình phát triển ngành
nông nghiệp nhanh và bền vững thì việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nó
một cách khoa học có ý nghĩa quan trọng.
1.3.1. Nhóm các đặc điểm tự nhiên
Sự phát triển của bất cứ hoạt động kinh tế nào cũng phụ thuộc vào điều kiện
tự nhiên. Tuy nhiên, đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nông
nghiệp thì tác động của nhân tố tự nhiên thể hiện rõ nét hơn cả, thậm chí còn
mang tính quyết định.
Các nhân tố tự nhiên là tiền đề cơ bản để phát triển và phân bố nông nghiệp.
Mỗi loại cây trồng, vật nuôi chỉ có thể sinh trưởng và phát triển trong những điều


kiện tự nhiên nhất định. Các điều kiện tự nhiên quan trọng hàng đầu là đất đai, thổ
nhưỡng, nước và khí hậu. Chúng sẽ quyết định khả năng nuôi trồng các loại cây, con
cụ thể và các biện pháp canh tác khác nhau trên từng lãnh thổ, đồng thời có ảnh
hưởng lớn đến năng suất cây trồng, vật nuôi.
Nhân tố tự nhiên có tác động quan trọng tới sự hình thành, vận động và sự phát
triển nông nghiệp. Sự tác động và ảnh hưởng của nhân tố tự nhiên tới mỗi nội dung
của phát triển nông nghiệp không giống nhau. Các nhân tố đất đai, thổ nhưỡng, thời
tiết khí hậu, vị trí địa lý có ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của nông nghiệp và
qua đó sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển của các ngành khác. Để phát triển nông nghiệp
được bền vững, trước hết phải xác định được thế mạnh cũng như những bất lợi về
điều kiện tự nhiên, để qua đó xác lập được kế hoạch phát triển bền vững, cơ cấu cây
trồng, con vật nuôi một cách phù hợp.
Xu hướng chung của việc khai thác, sử dụng các điều kiện tự nhiên là phải
tiết kiệm đến mức tối đa nguồn của cải thiên nhiên, đồng thời đề cao chất lượng,
hiệu quả và tôn trọng nhân cách sáng tạo của con người.
1.3.2. Nhóm các điều kiện kinh tế
- Tốc độ phát triển kinh tế, trình độ phát triển kinh tế
Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của một địa phương, một quốc gia là điều
kiện quan trọng để phát triển nông nghiệp. Bởi vì, để phát triển nông nghiệp ngoài
các yêu cầu về đầu tư các nguồn lực như vốn, lao động còn phải kể đến các chính
sách vĩ mô… Nền kinh tế phát triển có tốc độ phát triển, trình độ phát triển kinh tế
hợp lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của ngành nông nghiệp, làm cho
nông nghiệp có hướng sản xuất kinh doanh phù hợp, góp phần vào sự phát triển
chúng của nền kinh tế.
- Cơ cấu kinh tế
Xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý chẳng những có ý nghĩa quyết định đối
với sự phát triển kinh tế, mà còn có ý nghĩa đối với sử dụng đầy đủ và hợp lý các
nguồn lực xã hội, trong đó có các nguồn lực để sản xuất kinh doanh ngành nông
nghiệp. Vì vậy, cần phải định hướng và xây dựng một cơ cấu kinh tế phù hợp với


các nguồn lực của địa phương, để phát huy mọi nguồn lực sẵn có của địa phương
mình để phát triển nền nông nghiệp hiệu quả hơn.
- Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Cơ sở hạ tầng ở nông thôn: đây là điều kiện tiên quyết để phát triển nông nghiệp.
Cơ sở hạ tầng phát triển sẽ đảm bảo cho kinh tế hàng hóa phát triển, nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần cho dân cư nông thôn. Cơ sở hạ tầng trong nông thôn bao gồm các
công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Các công trình cơ sở hạ tầng chủ yếu
trong nông thôn gồm có: Hệ thống đường giao thông nông thôn, hệ thống cung cấp điện
nước, hệ thống thủy lợi, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống dịch vụ, hệ thống công
trình giáo dục và y tế, thể thao, nhà ở của dân cư, cơ sở hạ tầng phát triển công
nghiệp nông thôn.
Cơ sở hạ tầng nông thôn có ảnh hưởng rất lớn tới sự hình thành và phát
triển của các ngành kinh tế, các vùng kinh tế, chi phối trình độ kỹ thuật công nghệ,
do đó là một trong những nhân tố ảnh hưởng có vai trò quyết định tới sự hình thành,
vận động và biến đổi của cơ cấu nông nghiệp.
Có thể thấy những vùng có cơ sở hạ tầng, đặc biệt là các công trình hạ tầng
kỹ thuật phát triển thì ở đó có điều kiện để phát triển các ngành chuyên môn hóa. Cơ
sở hạ tầng phát triển cũng là điều kiện để ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ
tiên tiến vào các ngành kinh tế. Ngược lại, những vùng có cơ sở hạ tầng kém phát
triển thì quá trình phát triển của các ngành sản xuất, các vùng chuyên môn hóa cũng
như quá trình đưa tiến bộ kỹ thuật công nghệ vào sản xuất bị kìm hãm, nhất là đối
với các địa phương miền núi.
- Các chính sách phát triển nông nghiệp
Chính sách kinh tế là hệ thống các quan điểm, biện pháp, phương pháp can
thiệp của nhà nước vào lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế nhằm đạt các mục tiêu đã
lựa chọn, trong một thời gian nhất định. Chính sách phát triển nông nghiệp là tổng
thể các biện pháp tác động của nhà nước có liên quan đến nông nghiệp và các ngành
có liên quan, nhằm tác động vào nông nghiệp theo những mục tiêu nhất định, trong
một thời hạn nhất định. Như vậy, tùy theo định hướng mục tiêu lâu dài hay trước


mắt mà nhà nước có những biện pháp thích hợp để tác động vào nông nghiệp coi đó
như là công cụ để quản lý, điều tiết sự phát triển của kinh tế nông nghiệp. Ngoài ra,
tùy điều kiện cụ thể các địa phương cũng vừa triển khai chính sách của nhà nước,
vừa đưa ra các chính sách đặc thù để thúc đẩy nông nghiệp phát triển.
Nhà nước quản lý toàn bộ đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội. Muốn quản lý
văn hóa xã hội tốt thì trước hết phải quản lý kinh tế tốt. Ngày nay, vài trò quản lý vĩ
mô nền kinh tế trở nên đặc biệt quan trọng đối với mọi Nhà nước hiện đại. Nhà
nước quản lý kinh tế vĩ mô thông qua các công cụ, biện pháp, chính sách và đòn bẩy
kinh tế, trong đó hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô vừa là sự cụ thể hóa đường lối
kinh tế, vừa là yếu tố được coi là quan trọng nhất. Lịch sử phát triển nông nghiệp ở
các nước trong thời đại ngày nay cho thấy, ngoài việc tạo ra và phát huy vai trò của
các chủ thể kinh tế trong nông nghiệp, cần phải tổ chức được các hình thức kinh tế
hợp tác và nhất thiết phải có sự can thiệp, trợ giúp của Nhà nước. Cho nên hệ thống
chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước là nhân tố ảnh hưởng rất quan trọng đến quá
trình sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nhất là những nước đi lên từ một nền nông
nghiệp sản xuất nhỏ lạc hậu như nước ta.
1.3.3. Nhóm các điều kiện xã hội
Về mặt xã hội có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành nông
nghiệp như dân số, quy mô, mật độ dân số, trình độ văn hóa, truyền thống, tập quán,
lao động và trình độ đã qua đào tạo, thu nhập… Vì khi dân số tăng nhanh thì nhu
cầu về lương thực sẽ tăng nhanh chóng. Hay về trình độ văn hóa của dân cư, khi
trình độ dân trí cao rất thuận tiện trong quá trình chuyển giao những tiến bộ kỹ thuật
vào sản xuất, loại bỏ những tập quán sản xuất lạc hậu để tăng năng suất cây trồng,
vật nuôi, tăng năng xuất đất canh tác… Do vậy, cần nâng cao trình độ mọi mặt của
người nông dân; làm thay đổi nếp nghĩ, cách làm, phong tục tập quán canh tác cũ
kỹ, lạc hậu của họ, tạo nên một nếp nghĩ và hoạt động sản xuất, kinh doanh thích ứng
với sự biến động của cơ chế thị trường. Đồng thời, nó cũng tạo nên tính di động của
dân cư nông nghiệp cũng như sự chuyển hóa ngành nghề trong hoạt động sản xuất,
kinh doanh, tạo nên sự chuyển biến lớn về mặt xã hội trong nông thôn. Một mặt, nó


tạo thêm việc làm, tăng thêm thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống nông dân.
Mặt khác, nó cũng tạo ra và đẩy nhanh quá trình phân hóa giàu nghèo, sự khác nhau
về thu nhập và mức sống giữa các hộ nông dân.
1.4. KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP
Tìm hiểu về kinh nghiệm phát triển bền vững nông nghiệp ở một số địa
phương giúp ta nhận thức rõ hơn về xu hướng cũng như cách thức để phát triển bền
vững nền nông nghiệp.
1.4.1. Kinh nghiệm của huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh
Là huyện miền núi còn gặp nhiều khó khăn của tỉnh Quảng Ninh, những năm
gần đây, huyện Hải Hà đã nỗ lực vươn lên đạt được những thành tựu quan trọng
trong phát triển kinh tế - xã hội. Cơ sở hạ tầng ngày càng được quan tâm, đầu tư, số
hộ nghèo giảm nhanh; đời sống nhân dân các dân tộc trong huyện từng bước được
cải thiện, nâng lên rõ rệt.
Huyện Hải Hà, 5 năm trở lại đây đã có nhiều chuyển biến, khởi sắc rõ rệt. Tốc
độ tăng trưởng kinh tế luôn duy trì ở mức cao 12,27%/năm. Năm 2010 tổng giá trị
tăng thêm so với năm 2005 là 1,78 lần. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ
trọng công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng. Sản xuất nông – lâm - ngư nghiệp ổn
định, giá trị sản xuấ tăng bình quân 7,3%/năm, vượt 1,8% so với chỉ tiêu đề ra. Việc
triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về "Nông nghiệp, nông dân,
nông thôn" có hiệu quả như: Chương trình chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống
cây trồng vật nuôi; việc chuyển đổi diện tích đất kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy
sản; diện tích cây vụ đông, rau xanh, hoa màu các loại được mở rộng đã góp phần
tăng năng suất và giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích. Giá trị sản xuất bình
quân 44,5 triệu đồng/ha canh tác và xuất hiện nhiều cánh đồng 50-60 triệu
đồng/ha/năm. Nhờ chính sách hỗ trợ sản xuất của tỉnh, của huyện cây chè Hải Hà đã
phát triển mạnh. Hiện nay, toàn huyện có 892 ha chè, bước đầu đã hình thành vùng
sản xuất chè hàng hóa tập trung; trồng mới được 7.060,3 ha rừng, nâng tỷ lệ che phủ
rừng từ 41,5 lên 48%. Ngành thủy sản tiếp tục phát triển tốt, với việc tập trung quy


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×