Tải bản đầy đủ

Tài liệu thi THPTQG ngữ văn thể ký, kịch

NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TÁC PHẨM KỊCH, ĐOẠN TRÍCH KỊCH KÍ
PHẦN I: KĨ NĂNG LÀM BÀI
I. Nghị luận về một tác phẩm kịch, đoạn trích kịch, kí
1. Kĩ năng làm bài nghị luận về một tác phẩm kịch, kí; đoạn trích kịch, kí
- Kĩ năng tiếp nhận, xử lí, khai thác tác phẩm kịch, kí; đoạn trích kịch, kí.
- Kĩ năng phân tích nhân vật, xung đột kịch, ngôn ngữ kịch, hành động kịch,...
2. Hướng dẫn luyện tập làm bài nghị luận về Tác phẩm, đoạn trích Kịch ,
kí trong chương trình THPT
2.1. Cách làm bài nghị luận về một tác phẩm kịch, kí; đoạn trích kịch, kí
a. Yêu cầu
- Giới thiệu tác phẩm hoặc đoạn trích kịch cần nghị luận.
- Phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật theo định hướng của đề hoặc một số
khía cạnh đặc sắc nhất của tác phẩm đoạn trích.
- Nêu đánh giá chung về tác phẩm, đoạn trích.
b. Các bước tiến hành
Bước 1: Tìm hiểu đề
- Đọc kĩ đề, xác định vấn đề cần làm rõ.
- Các thao tác nghị luận.
- Phạm vi dẫn chứng.
Bước 2: Tìm ý
Bước 3: Lập dàn ý

a. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích (xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác,…)
- Dẫn nội dung nghị luận.
b. Thân bài:
- Ý khái quát : tóm tắt tác phẩm, đoạn trích.
- Làm rõ nội dung, nghệ thuật theo định hướng của đề
- Nêu cảm nhận, đánh giá về tác phẩm, đoạn trích.
c. Kết bài:
Nhận xét, đánh giá khái quát tác phẩm, đoạn trích (cái hay, độc đáo)
2.2. Một số dạng đề về bài nghị luận về một tác phẩm kịch, kí; đoạn trích kịch,

- Cụ thể vào các tác phẩm, đoạn trích kịch, kí:
+ Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân)
+ Ai đã đặt tên cho dòng sông (Hoàng Phủ Ngọc Tường)


+ Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ).
Ví dụ cụ thể:
Đề bài: Nghị luận về một tình huống trong tác phẩm, đoạn trích kịch, kí
a. Mở bài:
- Giới thiệu về tác giả, vị trí văn học của tác giả (có thể nêu phong cách).
- Giới thiệu về tác phẩm (đánh giá sơ lược về tác phẩm).
- Nêu nhiệm vụ nghị luận
b. Thân bài:
- Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác
Tình huống truyện: Tình huống truyện giữ vai trò là hạt nhân của cấu trúc thể
loại. Nó là cái hoàn cảnh riêng được tạo nên bởi một sự kiện đặc biệt, khiến tại đó
cuộc sống hiện lên đậm đặc nhất, ý đồ tư tưởng của tác giả cũng bộc lộ đậm nét nhất.
- Phân tích các phương diện cụ thể của tình huống và ý nghĩa của tình huống
đó.
+ Tình huống 1....ý nghĩa và tác dụng đối với tác phẩm.
+ Tình huống 2...ý nghĩa và tác dụng đối với tác phẩm.
+ Tình huống:.....
- Bình luận về giá trị của tình huống
c. Kết bài:
- Đánh giá ý nghĩa vấn đề đối với sự thành công của tác phẩm
- Cảm nhận của bản thân về tình huống đó.
Đề bài: Nghị luận về một nhân vật, nhóm nhân vật trong tác phẩm, đoạn
trích kịch, kí
a. Mở bài:


- Giới thiệu về tác giả, vị trí văn học của tác giả. (có thể nêu phong cách).
- Giới thiệu về tác phẩm (đánh giá sơ lược về tác phẩm), nêu nhân vật.
- Nêu nhiệm vụ nghị luận
b. Thân bài:
- Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác
- Phân tích các biểu hiện tính cách, phẩm chất nhân vật.
(chú ý các sự kiện chính, các biến cố, tâm trạng thái độ nhân vật...)
- Đánh giá về nhân vật đối với tác phẩm
c. Kết bài:
- Đánh giá nhân vật đối với sự thành công của tác phẩm, của văn học dân tộc.
- Cảm nhận của bản thân về nhân vật đó
Đề bài: Nghị luận về giá trị của tác phẩm, đoạn trích kịch


1. Dàn bài giá trị nhân đạo
a. Mở bài:
- Giới thiệu về tác giả, tác phẩm.
- Giới thiệu về giá trị nhân đạo.
- Nêu nhiệm vụ nghị luận
b. Thân bài:
- Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác
- Giải thích khái niệm nhân đạo: Giá trị nhân đạo là một giá trị cơ bản của văn
học chân chính, được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc với nỗi đau của con người,
sự nâng niu trân trọng những nét đẹp trong tâm hồn con người và lòng tin vào khả
năng vươn dậy của họ.
- Phân tích các biểu hiện của giá trị nhân đạo:
+ Tố cáo chế độ thống trị đối với con người.
+ Bênh vực và cảm thông sâu sắc đối với số phận bất hạnh con người.
+ Trân trọng khát vọng tư do, hạnh phúc và nhân phẩm tốt đẹp con người.
+ Đồng tình với khát vọng và ước mơ con người.
- Đánh giá về giá trị nhân đạo.
c. Kêt bài:
- Đánh giá ý nghĩa vấn đề đối với sự thành công của tác phẩm
- Cảm nhận của bản thân về vấn đề đó
2. Dàn bài giá trị hiện thực
a. Mở bài:
- Giới thiệu về tác giả, tác phẩm.
- Giới thiệu về giá trị hiện thực
- Nêu nhiệm vụ nghị luận
b. Thân bài:
- Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác
- Giải thích khái niệm hiện thực:
+ Khả năng phản ánh trung thành đời sống xã hội một cách khách quan, trung
thực.
+ Xem trọng yếu tố hiện thực và lí giải nó bằng cơ sở xã hội lịch sử.
- Phân tích các biểu hiện của giá trị hiện thực:
+ Phản ánh đời sống xã hội lịch sử trung thực.
+ Khắc họa đời sống, nội tâm trung thực của con người.
+ Giá trị hiện thực có sức mạnh tố cáo (hay ca ngợi) xã hội, chế độ.
- Đánh giá về giá trị hiện thực.


c. Kết bài:
- Đánh giá ý nghĩa vấn đề đối với sự thành công của tác phẩm
- Cảm nhận của bản thân về vấn đề đó

PHẦN II. KIẾN THỨC CƠ BẢN - ĐỀ THAM KHẢO
VĂN BẢN : NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1:Tiểu sử nhà văn Nguyễn Tuân:
- Nguyễn Tuân (1910-1987) quê ở Hà Nội, xuất thân trong gia đình nhà Nho
khi nền Hán học đã tàn.
- Năm 1929, đang học cuối bậc thành chung thì bị đuổi học vì tham gia bãi
khoá. Sau đó bị tù vì “xê dịch” qua biên giới không giấy phép.
- Nguyễn Tuân cầm bút vào khoảng đầu những năm 30 nhưng nổi tiếng từ năm
1938 với tác phẩm có phong cách độc đáo “Một chuyến đi”, “Vang bóng một thời”.
- Năm 1941, Nguyễn Tuân lại bị bắt giam vì giao du với những người hoạt động
chính trị.
- Sau Cách Mạng Tháng 8, Nguyễn Tuân nhiệt tình tham gia cách mạng và
kháng chiến, trở thành cây bút tiêu biểu cho nền văn học mới. Ông chuyên viết tuỳ bút,
bút kí. Tác phẩm chính: Sông Đà, Hà Nội ta đánh Mĩ Giỏi….
- Từ năm 1948 đến 1958, ông giữ chức tổng thư kí hội văn nghệ Việt Nam.
- Nguyễn Tuân để lại một sự nghiệp văn học phong phú với những trang viết
độc đáo và đầy tài hoa. Năm 1996, ông được nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí
Minh về văn học nghệ thuật.
2: Đặc điểm về con người của nhà văn Nguyễn Tuân:
Có 4 đặc điểm:
- Nguyễn Tuân là một tri thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Lòng
yêu nước của ông có mà sắc riêng: gắn liền với những giá trị văn hoá cổ truyền của
dân tộc (yêu tiếng mẹ đẻ, thích những kiệt tác văn chương của Nguyễn Du, Đoàn Thị
Điểm, Tú Xương, Tản Đà…)
- Ở Nguyễn Tuân, ý thức cá nhân phát triển cao. Ông viết văn trước hết để
khẳng định cá tính độc đáo của mình.
- Nguyễn Tuân là con người rất mực tài hoa. Tuy chỉ viết văn nhưng ông còn
am hiểu nhiều môn nghệ thuật khác: hội hoạ, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh…
- Nguyễn Tuân là một nhà văn biết quý trọng thật sự nghề nghiệp của mình. Đối
với ông, nghệ thuật là một hình thái lao động nghiêm túc, thậm chí “khổ hạnh”, và ông
đã lấy chính cuộc đời cầm bút của mình để chứng minh cho quan niệm ấy.
3: Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân:
Chia làm hai giai đoạn:
* Trước cách mạng tháng Tám: tác phẩm của ông xoay quanh 3 đề tài:
+ Chủ nghĩa “Xê dịch” là chủ trương đi thay đổi chỗ ở để làm cảm giác mới lạ.
Trong đề tài này Nguyễn Tuân đã bày tỏ tấm lòng với đất nước bằng ngòi bút tài hoa.
+ Không tin vào hiện tại và tương lai, Nguyễn Tuân tìm về vẻ đẹp vang bóng


một thời. Ông ca ngợi những phong tục đẹp, những thú vui hưởng lạc của người xưa.
+ Trước cách mạng tháng 8, văn của Nguyễn Tuân còn viết về đề tài “đời sống
hưởng lạc”, nhân vật “tôi” trong những tác phẩm này thường bế tắc tìm đến những thú
vui của đàn hát, rượu và thuốc phiện. Một số tác phẩm tiêu biểu: “Một chuyến đi”,
“Vang bóng một thời”, “Chiếc lư đồng mắt cua”.
* Sau cách mạng tháng Tám: ông dùng ngòi bút để phục vụ cuộc chiến của
dân tộc, theo sát nhiệm vụ chính trị của đất nước, ông đóng góp cho nền văn học mới
nhiều trang viết sắc sảo ca ngợi nhân dân trong chiến đấu, trong sản xuất, ca ngợi quê
hương đất nước.
+ Nhân vật chính trong sáng tác của ông ở giai đoạn này là nhân dân lao
động, người chiến sĩ, và cũng là những người tài hoa có công với đất nước.
4: Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân:
Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân rất độc đáo, thể hiện qua hai giai đoạn sáng
tác:
- Trước cách mạng tháng 8: phong cách của Nguyễn Tuân là lối chơi ngông
bằng văn chương. Ngông là thái độ khinh đời ngạo đời dựa trên tài hoa, sự uyên bác và
nhân cách đạo đức hơn người của mình.
Chất tài hoa uyên bác trong văn Nguyễn Tuân là:
* Tiếp cận mọi sự vật phương diện văn hoá thẩm mỹ để khám phá phát hiện và
khen hay chê.
* Vận dụng tri thức của nhiều ngành văn hoá nghệ thuật khác nhau để quan sát
hiện thực và sáng tạo hình tượng văn học.
* Ông luôn nhìn con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ và sáng tạo. Luôn tô
đậm cái phi thường xuất chúng gây cảm giác mãnh liệt.
- Sau cách mạng tháng 8:
* Ông không còn đối lập xưa với nay mà luôn tìm thấy sự gắn bó giữa quá khứ,
hiện tại và tương lai. Văn Nguyễn Tuân vừa đĩnh đạc, cổ kính, vừa trẻ trung hiện đại.
* Vẫn vận dụng chất tài hoa uyên bác, nhưng giọng văn tin yêu và đôn hậu hơn.
* Lòng yêu nước và tinh thần dân tộc được phát huy trực tiếp và mạnh mẽ trong
tác phẩm của ông.
* Ông tìm thấy chất tài hoa nghệ sĩ không chỉ ở những con người đặc tuyển
trong xã hội mà được tìm thấy trong nhân dân lao động như ông lái đò, chị hàng cốm,
anh bán phở, anh bộ đội, cô dân quân. Đặc biệt thiên nhiên là những công trình mỹ
thuật thiên tạo tuyệt vời.
* Thể loại sáng tác chủ yếu của Nguyễn Tuân phù hợp với phong cách của ông
là thể tuỳ bút- một thể văn có tính chủ quan cao và rất tự do phóng túng. Nhân vật chủ
yếu là cái “tôi”, mạch biến hoá, giàu hình ảnh, nhạc điệu, từ vựng phong phú, chính
xác.
5: Xuất xứ- hoàn cảnh sáng tác tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” (Nguyễn Tuân):
- Tác phẩm được xuất bản lần đầu năm 1960, in trong tập Tuỳ bút sông Đà của
Nguyễn Tuân, tác phẩm cũng có tên “Sông Đà”. Năm 1982, khi cho in lại trong tập II
bộ tuyển tập của Nguyễn Tuân, tác giả sửa và đổi tên tác phẩm là “Người lái đò sông
Đà”.
- Tuỳ bút sông Đà gồm 15 tuỳ bút, là kết quả chuyến đi thực tế của tác giả năm
1958 lên vùng Tây Bắc. Đó là nơi bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân và đồng
bào các dân tộc ít người đang xây dựng cuộc sống mới.


6: Tóm tắt tác phẩm “Người lái đò sông Đà” (Nguyễn Tuân)
- Tuỳ bút viết về người lái đò Lai Châu, bạn của tác giả. Ông lái đò rất tài hoa,
lão luyện và giỏi giang trong nghề lái đò trên sông Đà. Ông gần 70 tuổi mà vẫn mạnh
khoẻ, thân hình to cao như chất sừng, chất mun, gan dạ, thông minh, ông đã thuộc lòng
các quy luật của sông Đà. Trên sông Đà, ông như một viên tướng xông trận rất oai
hùng và cũng rất đỗi tài hoa.
- Bài tuỳ bút này miêu tả con sông Đà hùng vĩ, hung bạo với hút nước, với
thác, với đá…Nhưng con sông Đà cũng rất đỗi thơ mộng và trữ tình. Hai bên dòng
sông Đà cảnh trí rất nên thơ, sông Đà gợi trong Nguyễn Tuân nhiều cảm xúc khác
nhau, “Sông Đà như một cố nhân…”. Sông Đà như nỗi niềm cổ tích ngày xưa… Khắc
hoạ vẻ đẹp sông Đà, nhà văn đã ca ngợi thiên nhiên Tây Bắc, ca ngợi đất nước Việt
Nam thân yêu.
* Chủ đề:Qua hình ảnh con sông hung bạo và thơ mộng, người lái đò bình dị
mà dũng cảm tài hoa, Nguyễn Tuân ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Tây
Bắc của Tổ quốc.
7: Phong cách Nguyễn Tuân thể hiện rất rõ trong tuỳ bút “Người lái đò
sông Đà”:
- Sự uyên bác của một trí tuệ và tầm hiểu biết.
- Sự phong phú của một tâm hồn, lòng yêu tha thiết những giá trị vật chất và
tinh thần của đất nước, của dân tộc. Tình yêu và sự gần gũi đối với những người lao
động bình thường, cảm hứng dạt dào trước những cảch tượng hoặc dữ dội, hoặc đẹp
đẽ.
- Chất tài hoa, tài tử, vẻ đẹp và sự giàu có của câu văn, chữ nghĩa và cả sự cầu
kì, lan man trong giọng văn, mạch văn.
------------------------------------------------------------

PHẦN II. KIẾN THỨC CƠ BẢN - ĐỀ THAM KHẢO
VĂN BẢN : NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1:Tiểu sử nhà văn Nguyễn Tuân:
- Nguyễn Tuân (1910-1987) quê ở Hà Nội, xuất thân trong gia đình nhà Nho
khi nền Hán học đã tàn.
- Năm 1929, đang học cuối bậc thành chung thì bị đuổi học vì tham gia bãi
khoá. Sau đó bị tù vì “xê dịch” qua biên giới không giấy phép.
- Nguyễn Tuân cầm bút vào khoảng đầu những năm 30 nhưng nổi tiếng từ năm
1938 với tác phẩm có phong cách độc đáo “Một chuyến đi”, “Vang bóng một thời”.
- Năm 1941, Nguyễn Tuân lại bị bắt giam vì giao du với những người hoạt động
chính trị.
- Sau Cách Mạng Tháng 8, Nguyễn Tuân nhiệt tình tham gia cách mạng và
kháng chiến, trở thành cây bút tiêu biểu cho nền văn học mới. Ông chuyên viết tuỳ bút,
bút kí. Tác phẩm chính: Sông Đà, Hà Nội ta đánh Mĩ Giỏi….
- Từ năm 1948 đến 1958, ông giữ chức tổng thư kí hội văn nghệ Việt Nam.
- Nguyễn Tuân để lại một sự nghiệp văn học phong phú với những trang viết
độc đáo và đầy tài hoa. Năm 1996, ông được nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí
Minh về văn học nghệ thuật.


2: Đặc điểm về con người của nhà văn Nguyễn Tuân:
Có 4 đặc điểm:
- Nguyễn Tuân là một tri thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Lòng
yêu nước của ông có mà sắc riêng: gắn liền với những giá trị văn hoá cổ truyền của
dân tộc (yêu tiếng mẹ đẻ, thích những kiệt tác văn chương của Nguyễn Du, Đoàn Thị
Điểm, Tú Xương, Tản Đà…)
- Ở Nguyễn Tuân, ý thức cá nhân phát triển cao. Ông viết văn trước hết để
khẳng định cá tính độc đáo của mình.
- Nguyễn Tuân là con người rất mực tài hoa. Tuy chỉ viết văn nhưng ông còn
am hiểu nhiều môn nghệ thuật khác: hội hoạ, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh…
- Nguyễn Tuân là một nhà văn biết quý trọng thật sự nghề nghiệp của mình. Đối
với ông, nghệ thuật là một hình thái lao động nghiêm túc, thậm chí “khổ hạnh”, và ông
đã lấy chính cuộc đời cầm bút của mình để chứng minh cho quan niệm ấy.
3: Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân:
Chia làm hai giai đoạn:
* Trước cách mạng tháng Tám: tác phẩm của ông xoay quanh 3 đề tài:
+ Chủ nghĩa “Xê dịch” là chủ trương đi thay đổi chỗ ở để làm cảm giác mới lạ.
Trong đề tài này Nguyễn Tuân đã bày tỏ tấm lòng với đất nước bằng ngòi bút tài hoa.
+ Không tin vào hiện tại và tương lai, Nguyễn Tuân tìm về vẻ đẹp vang bóng
một thời. Ông ca ngợi những phong tục đẹp, những thú vui hưởng lạc của người xưa.
+ Trước cách mạng tháng 8, văn của Nguyễn Tuân còn viết về đề tài “đời sống
hưởng lạc”, nhân vật “tôi” trong những tác phẩm này thường bế tắc tìm đến những thú
vui của đàn hát, rượu và thuốc phiện. Một số tác phẩm tiêu biểu: “Một chuyến đi”,
“Vang bóng một thời”, “Chiếc lư đồng mắt cua”.
* Sau cách mạng tháng Tám: ông dùng ngòi bút để phục vụ cuộc chiến của
dân tộc, theo sát nhiệm vụ chính trị của đất nước, ông đóng góp cho nền văn học mới
nhiều trang viết sắc sảo ca ngợi nhân dân trong chiến đấu, trong sản xuất, ca ngợi quê
hương đất nước.
+ Nhân vật chính trong sáng tác của ông ở giai đoạn này là nhân dân lao
động, người chiến sĩ, và cũng là những người tài hoa có công với đất nước.
4: Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân:
Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân rất độc đáo, thể hiện qua hai giai đoạn sáng
tác:
- Trước cách mạng tháng 8: phong cách của Nguyễn Tuân là lối chơi ngông
bằng văn chương. Ngông là thái độ khinh đời ngạo đời dựa trên tài hoa, sự uyên bác và
nhân cách đạo đức hơn người của mình.
Chất tài hoa uyên bác trong văn Nguyễn Tuân là:
* Tiếp cận mọi sự vật phương diện văn hoá thẩm mỹ để khám phá phát hiện và
khen hay chê.
* Vận dụng tri thức của nhiều ngành văn hoá nghệ thuật khác nhau để quan sát
hiện thực và sáng tạo hình tượng văn học.
* Ông luôn nhìn con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ và sáng tạo. Luôn tô
đậm cái phi thường xuất chúng gây cảm giác mãnh liệt.
- Sau cách mạng tháng 8:
* Ông không còn đối lập xưa với nay mà luôn tìm thấy sự gắn bó giữa quá khứ,


hiện tại và tương lai. Văn Nguyễn Tuân vừa đĩnh đạc, cổ kính, vừa trẻ trung hiện đại.
* Vẫn vận dụng chất tài hoa uyên bác, nhưng giọng văn tin yêu và đôn hậu hơn.
* Lòng yêu nước và tinh thần dân tộc được phát huy trực tiếp và mạnh mẽ trong
tác phẩm của ông.
* Ông tìm thấy chất tài hoa nghệ sĩ không chỉ ở những con người đặc tuyển
trong xã hội mà được tìm thấy trong nhân dân lao động như ông lái đò, chị hàng cốm,
anh bán phở, anh bộ đội, cô dân quân. Đặc biệt thiên nhiên là những công trình mỹ
thuật thiên tạo tuyệt vời.
* Thể loại sáng tác chủ yếu của Nguyễn Tuân phù hợp với phong cách của ông
là thể tuỳ bút- một thể văn có tính chủ quan cao và rất tự do phóng túng. Nhân vật chủ
yếu là cái “tôi”, mạch biến hoá, giàu hình ảnh, nhạc điệu, từ vựng phong phú, chính
xác.
5: Xuất xứ- hoàn cảnh sáng tác tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” (Nguyễn Tuân):
- Tác phẩm được xuất bản lần đầu năm 1960, in trong tập Tuỳ bút sông Đà của
Nguyễn Tuân, tác phẩm cũng có tên “Sông Đà”. Năm 1982, khi cho in lại trong tập II
bộ tuyển tập của Nguyễn Tuân, tác giả sửa và đổi tên tác phẩm là “Người lái đò sông
Đà”.
- Tuỳ bút sông Đà gồm 15 tuỳ bút, là kết quả chuyến đi thực tế của tác giả năm
1958 lên vùng Tây Bắc. Đó là nơi bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân và đồng
bào các dân tộc ít người đang xây dựng cuộc sống mới.
6: Tóm tắt tác phẩm “Người lái đò sông Đà” (Nguyễn Tuân)
- Tuỳ bút viết về người lái đò Lai Châu, bạn của tác giả. Ông lái đò rất tài hoa,
lão luyện và giỏi giang trong nghề lái đò trên sông Đà. Ông gần 70 tuổi mà vẫn mạnh
khoẻ, thân hình to cao như chất sừng, chất mun, gan dạ, thông minh, ông đã thuộc lòng
các quy luật của sông Đà. Trên sông Đà, ông như một viên tướng xông trận rất oai
hùng và cũng rất đỗi tài hoa.
- Bài tuỳ bút này miêu tả con sông Đà hùng vĩ, hung bạo với hút nước, với
thác, với đá…Nhưng con sông Đà cũng rất đỗi thơ mộng và trữ tình. Hai bên dòng
sông Đà cảnh trí rất nên thơ, sông Đà gợi trong Nguyễn Tuân nhiều cảm xúc khác
nhau, “Sông Đà như một cố nhân…”. Sông Đà như nỗi niềm cổ tích ngày xưa… Khắc
hoạ vẻ đẹp sông Đà, nhà văn đã ca ngợi thiên nhiên Tây Bắc, ca ngợi đất nước Việt
Nam thân yêu.
* Chủ đề:Qua hình ảnh con sông hung bạo và thơ mộng, người lái đò bình dị
mà dũng cảm tài hoa, Nguyễn Tuân ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Tây
Bắc của Tổ quốc.
7: Phong cách Nguyễn Tuân thể hiện rất rõ trong tuỳ bút “Người lái đò
sông Đà”:
- Sự uyên bác của một trí tuệ và tầm hiểu biết.
- Sự phong phú của một tâm hồn, lòng yêu tha thiết những giá trị vật chất và
tinh thần của đất nước, của dân tộc. Tình yêu và sự gần gũi đối với những người lao
động bình thường, cảm hứng dạt dào trước những cảch tượng hoặc dữ dội, hoặc đẹp
đẽ.
- Chất tài hoa, tài tử, vẻ đẹp và sự giàu có của câu văn, chữ nghĩa và cả sự cầu
kì, lan man trong giọng văn, mạch văn.
------------------------------------------------------------


II. LUYỆN ĐỀ.
ĐỀ BÀI 1: Phân tích hình tượng sông Đà trong tuỳ bút Người lái đò Sông
Đà của Nguyễn Tuân
DÀN Ý
1- Mở bài:
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân.
- Giới thiệu tuỳ bút Người lái đò sông Đà
- Nêu vấn đề: Hình tượng sông Đà – một vẻ đẹp tuyệt vời của thiên nhiên vùng
Tây Bắc.
2- Thân bài:
Sông Đà trên trang văn của Nguyễn Tuân hiện lên như một nhân vật có tính cách trái
ngược:
a. Tính cách hung bạo dữ dằn:
*Đá bờ sông:
-Dựng vách thành
- Chẹt lòng sông như cái yết hầu, phải “ chính ngọ mới thấy mặt trời”.
- Người đi qua khúc sông vào mùa hè cũng thấy “lạnh gáy”
* Hút nước:
-Như cái giếng bê tông thả xuống để chuẩn bị làm móng cầu
- Mặt hút “xoáy tít đáy”
- Âm thanh lúc thì “ vừa thở vừa kêu như cửa cống cái bị sặc” lúc “ặc ặc lên
“như vừa rót dầu sôi”
- Nhiều thuyền đi qua đó bị “trồng cây chuối ngược” “ bị dìm và đi ngầm dưới
lòng sông” cuối cúng tan xác ở khuỷu sông dưới”.
* Ghềnh:
Dài hàng cây số “ nước xô đá đá xô sóng sóng xô gió
* Thác nước:
Được miêu tả qua nhiều cung bậc: Oán trách, van xin, chế nhạo gầm lên cuối
cùng “rống lên như ngàn con trâu mông”.
* Đá:
- Cả một “chân trời đá”
- Biết mai phục, biết bày binh bố trận với “đá tướng” ba hàng quân “tiền vệ”,
“hậu vệ”
- Khi xung trận: biết dụ biết khiêu khích , nếu cần thì giở mọi ngón đòn hiểm
hóc” phối hợp với sóng, thác để tiêu diệt con người.
b- Sông Đà trữ tình:
* Dáng vẻ:
- Mềm mại uyển chuyển “ Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ
tình..”Sông Đà mang vẻ đẹp kiều diễm của người phụ nữ Tây Bắc
- Nhìn từ trên cao sông Đà như một sợi dây thừng ngoằn ngoèo
* Màu nước:
- Mùa xuân : Màu xanh ngọc bích
- Mùa thu “ lừ lừ chín đỏ”
 biến đổi theo mùa.
* Bờ sông:


- Vắng lặng : “ lặng tờ” “ hoang dại như một bờ tiền sử” “ hồn nhiên như một
nỗi niềm cổ tích tuổi xưa” “ tịnh không có một bóng người”  Hình ảnh so sánh giàu
giá trị biểu cảm , gợi lên hình sông Đà yên tĩnh hoang sơ và thơ mộng.
- Trù phú tràn trề nhựa sống: “nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa” “
cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp” “ một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ tranh” “
Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên”
= > Hình tượng sông Đà đã cho ta một cảm nhận trọn vẹn về vẻ đẹp của
thiên nhiên Tây Bắc : Đó là một thiên nhiên vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, trữ tình,
lãng mạn
c. Nghệ thuật:
- Những ví von, so sanh, liên tưởng, tưởng tượng độc đáo, bất ngờ thú vị.
- Từ ngữ phong phú, sống động giàu hình ảnh và có sức gợi cảm cao.
- Câu văn đa dạng, giàu nhịp điệu.
3- Kết bài:
- Tình yêu mến tha thiết của Nguyễn Tuân đối với thiên nhiên Tây Bắc, với
ông bao giờ thiên nhiên cũng là một tác phẩm nghệ thuật của tạo hoá .
- Cảm nhận và miêu tả sông Đà , Nguyễn Tuân đã chứng tỏ sự tài hoa, uyên bác
và lịch lãm của một con người tôn thờ “chủ nghĩa xê dịch”.
ĐỀ BÀI 2: Phân tích hình ảnh “Người lái đò Sông Đà” trong tuỳ bút Người
lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.
DÀN Ý
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả: Nguyễn Tuân – một nhà văn hiện đại Việt Nam nổi tiếng
với phong cách nghệ thuật độc đáo, tài hoa và uyên bác.
- Giới thiệu tác phẩm : Là bài tuỳ bút xuất sắc nhất trong tập Sông Đà.
- Nêu vấn đề : Hình tượng người lái đò – một anh hùng lao động trên núi rừng
miền Tây của Tổ Quốc.
2. Thân bài:
Trên cái nền của con sông Đà hung bạo, NT đã khắc hoạ đậm nét hình tượng
người lái đò trí dũng tài hoa với một tình cảm yêu quý và khâm phục.
* Người lái đò có một cuộc sống khắc nghiệt:
- Chiến đấu hàng ngày với thiên nhiên , một thứ thiên nhiên Tây Bắc có nhiều
trông nó thành ra diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một.
- Ngày nào cũng chiến đấu với sông Đà dữ dội ngày nào cũng giành lấy sự sống
từ tay những cái thác.
* Là một người lái đò trí dũng tài hoa:
- Là vị chỉ huy “cái thuyền sáu bơi chèo” trong cuộc chiến đấu không cân sức
với thiên nhiên dữ dội, hiểm độc với sóng dữ, đá dữ và nước dữ.
+ Đá dữ : Bày thạch trận trên sông “ Đám tảng, đám hòn chia làm 3 hàng chặn
ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền” “ dàn trận địa sẵn” “dụ cái thuyền vào sâu nữa
rồi dánh khuýp vu hồi lại” Đá quyết tâm “ Phài tiêu diệt tất cả thuyền trưởng thuỷ thủ
ngay chân thác”
+ Nước dữ: Hò la vang dậy ùa vào bẻ gãy cán chèo , dòng thác hùm beo đang
hồng hộc tế mạnh trên dòng sông đá.


+ Sóng dữ : Như thể quân liều mạng bám lấy thuyền như đô vật, đánh đến
miếng đòn hiểm độc nhất.
- Ông lái đò :
+ Vẫn bình tĩnh :Trong cuộc hỗn chiến của nước của đá thác vẫn nghe rõ “tiếng
chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo của người cầm lái”.
+ Linh hoạt: “không một phút nghỉ tay nghỉ mắt pha luôn vòng vây thứ hai và
đổi luôn chiến thuật.
+ Dũng cảm : Cố nén vết thương hai chân vẫn kẹp chặt cuống lái.
+ Dày dạn kinh nghiệm : Thuộc quy luật phục kích của lũ đá, nắm chắc binh
pháp của thần sông thần đá, nhớ mặt từng hòn đá , đứa thì ông tránh, đ thì ông đè sấn
lên mà tiến, ông nhớ từng cửa tử cửa sinh.
- Nguyên nhân chiến thắng : Là sự chiến thắng của ý chí, của lòng quyết tâm
sự khôn ngoan dũng cảm trước sự cuồng nộ của thiên nhiên.
* Phong thái ung dung tài hoa của người nghệ sĩ :
- Rất thuần thục điêu luyện trong nghề leo ghềnh vượt thác
- Nhìn khó khăn thử thách bằng cái nhìn giản dị mà lãng mạn “ không ai bàn
thêm lời nào về cuộc chiến thằng vừa qua ….” “đốt lửa …. nướng ống cơm lam bàn về
cá dầm xanh và cá anh vũ” Coi việc đối mặt với sông nước hung bạo, với cái chết là
chuyện thường tình không có gì dáng nói Vừa mang phong cách người anh hùng vừa
mang phong cách người nghệ sĩ.
* Nghệ thuật:
- Tô đậm nét tài hoa nghệ sĩ
- Tạo tình huống đầy thử thách để nhân vật bộc lộ phẩm chất.
- Sử dụng ngôn ngữ miêu tả giàu chất tạo hình phong phú mà điêu luyện.
- Các biện pháp tu từ được phát huy tối đa hiệu quả.
- Sử dụng tri thức của nhiều lĩnh vực khác nhau như : võ thuật, quân sự điêu
khắc để khắc hoạ hình ảnh người lái đò.
3. Kết bài:
-Tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của NT
- Ca ngợi con người lao động xây dựng đất nước – người anh hùng trong cuộc
sống đời thường.
---------------------------------------------------------------------

VĂN BẢN: AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN.
1. Những nét chính về tác giả:
- Sinh năm 1937.
- Quê: thành phố huế.
-Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trí thức yêu nước, một nhà văn gắn bó mật
thiết với xứ Huế, có vốn hiểu biết uyên bác.


- Ông chuyên về bút ký, là “một trong mấy nhà văn viết ký hay nhất của nền
văn học ta hiện nay”_Nguyễn Ngọc.
- Sáng tác của ông có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và trữ tình,
nghị luận và tư duy đa chiều với lối hành văn hướng nội, mê đắm, tài hoa.
2. Ý nghĩa nhan đề:
- “Ai đã đặt tên cho dòng sông ?” :nhan đề đã khẳng định vẻ đẹp, chất thơ của
dòng sông rất phù hợp với cái tên của nó: Sông thơm.
3. Vẻ đẹp của dòng sông Hương qua cái “tôi” của Hoàng Phủ Ngọc Tường:
a/ Dưới ngòi bút của Hoàng Phủ Ngọc Tường sông Hương thấm đẫm hồn
người với vẻ đẹp đa dạng, muôn màu muôn vẻ.
Sông Hương là kì công của tạo hóa. Tác giả khám phá, diễn tả sông Hương
theo thủy trình của nó để làm nổi bật vẻ đẹp của dòng sông trong sự phối cảnh kỳ thú
với thiên nhiên xứ Huế.
- Ở thượng nguồn sông Hương mang vẻ đẹp hoang dại đầy cá tính với sức sống
mãnh liệt.
+ Là “bản trường ca của rừng già “với những cung bậc âm thanh tiết tấu phong
phú: khi hào hùng mạnh mẽ ”rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn”, khi “mãnh liệt qua
những ghềnh thác”…khi lại trữ tình lộng lẫy dịu dàng .
+Sông Hương còn là “cô gái Digan phóng khoáng và man dại”.
+Ra khỏi rừng già sông Hương mang sắc đẹp “dịu dàng và trí tuệ, trở thành
người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở”
- Đến ngoại vi thành phố Huế:
+Sông Hương như “người con gái đẹp ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu
Hóa đầy hoa dại”.
+Trên đường tìm về với người tình nhân Huế của mình sông Hương phô diễn
những vẻ đẹp lộng lẫy của mình: ‘Sắc nước trở nên xanh thẳm” khi chảy dưới chân
núi Ngọc Trản; dòng sông mềm như tấm lụa khi trôi giữa hai dãy đồi sừng sững như
thành quách…
- Đến ngoại ô Kim Long sông Hương “ vui tươi hẳn lên giữa bãi biền xanh
biếc”.
- Giáp mặt thành phố Huế “sông Hương uốn mình một cánh cung…khiến dòng
sông mềm hẳn đi như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu”.
- Chảy giữa thành phố Huế sông Hương “cơ hồ như một mặt hồ yên tĩnh”. Đó
là điệu slow tình cảm dành cho huế.
-Trước khi từ biệt thành phố Huế :sông Hương giống như “người tình dịu dàng
và chung thủy”, ”như nàng Kiều trong đêm tình tự” đã “trở lại tìm Kim Trọng” để nói
lời thề chung thủy trước lúc đi xa.
=> với những ví von, so sánh, nhân hóa độc đáo, bất ngờ kết hợp với tả và kể
qua ngôn từ đầy chất thơ tác giả đã làm người đọc say mê trước vẻ đẹp vừa hùng vĩ
vừa trữ tình, thơ mộng thấm đẫm tình người của sông Hương.
b. Sông Hương còn là con sông của những chiến công hiển hách trong lịch
sử:
-Thời đại các vua hùng nó là lá chắn bảo vệ bờ cõi “dòng sông biên thùy xa xôi
của đất nước”
-Trong các thế kỷ Trung Đại nó là “dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh
liệtbảo vệ biên giới phía tây nam Tổ quốc”.
- Sang thế kỉ XVIII nó vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân.


=>Nhà văn đã khẳng định con sông đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang của
mình.
c. Sông Hương là dòng sông thi ca:
- Sông Hương đổi màu bất ngờ qua cái nhìn tinh tế của Tản Đà “dòng sông
trắng – lá cây xanh”.
- Trong thơ Cao Bá Quát, sông Hương mang vẻ đẹp hùng tráng như “kiếm
dựng trời xanh”.
- Sông Hương còn đồng cảm với nỗi nhớ quê hương trong thơ Bà huyện Thanh
Quan.
- Sông Hương đột khởi thành sức mạnh phục sinh trong thơ Tố Hữu.
đ. Sông Hương còn là dòng sông của nhạc:
-Tác giả ví von “Sông Hương là người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya” và
khẳng định “toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của
dỏng sông này”.
e/ Sông Hương còn đẹp bởi trí tưởng tượng bay bổng và ngòi bút tài hoa
của cái “tôi” Hoàng Phủ Ngọc Tường:
- Các hình ảnh nhân hóa, so sánh, những ví von, liên tưởng mới lạ, bất ngờ, độc
đáo.
- Ngôn từ phong phú, hình ảnh gợi cảm, câu văn giàu nhạc điệu, lời văn đẹp,
sang trọng.
- Văn phong hướng nội, mê đắm, tinh tế, tài hoa.
-Tác giả nhìn sông Hương từ nhiều góc độ: vừa khảo sát, vừa trữ tình bằng đôi
mắt và trái tim của người nghệ sĩ cùng kiến thức uyên bác của nhà nghiên cứu địa lý,
lịch sử, văn hóa nghệ thuật.
- Bao trùm lên tất cả là một tình yêu thiết tha với thiên nhiên với quê hương, đất
nước.
II. LUYỆN ĐỀ.
ĐỀ 1: Vẻ đẹp của sông Hương trong đoạn trích "Ai đã đặt tên cho dong
sông" của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
1. Mở bài:
- Giới thiệu về đề tài sông Hương
- Giới thiệu Hoàng Phủ Ngọc Tường và bái bút kí
- Giới thiệu sông Hương – biểu tượng của cố đô
2. Thân bài
a. Giới thiệu chung
– Tác phẩm được sáng tác tại Huế năm 1981“Ai đã đặt tên cho dòng sông” rút
ra từ tập bút kí cùng tên, là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách văn chương Hoàng Phủ
Ngọc Tường, lấy cảm hứng từ dòng sông Hương thơ mộng của xứ Huế để từ đó nhà
văn bày tỏ tình yêu đất nước con người.
– Đánh giá nhận xét của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
+ Có thể nhắc đến sông Xen, dòng sông đẹp nhất của thủ đô Pa ri để dẫn tới lời
nhận xét của Hoàng Phủ Ngọc Tường ở câu mở đầu đoạn trích: “Trong những dòng
sông đẹp ở các nước….một thành phố duy nhất”


+ Đánh giá: Nhận xét mang đậm tính chủ quan của nhà văn. Thể hiện nét độc
đáo sông Hương, uyên bác, tự hào.
b. Vẻ đẹp tự nhiên của sông Hương
* Sông Hương ở thượng nguồn.
– Ngược dòng sông Hương, cùng tác giả trở về với thượng nguồn Trường Sơn,
người đọc ngạc nhiên đến thú vị trước những nét tính cách của sông Hương mà nhà
văn thể hiện trong tác phẩm.
+ Sông Hương đã là một bản trường ca rầm rộ, …mãnh liệt…cuộn xoáy. Đó là
sức mạnh hùng vĩ, man dại của dòng sông – nét mới mẻ, thú vị.
+ Chảy giữa dặm dài chói lọi của hoa đỗ quyên rừng – trong cái lạnh lẽo xuất
hiện ngọn lửa ấm nóng khiến con sông rực rỡ, tỏa sáng.
+ “Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như
một cô gái di gan phóng khoáng và man dại…Rừng già đã hun đúc cho nó một bản
lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do trong sáng”–> sánh với cô gái di gan – bình về chi tiết
này–> Con sông trở thành một sinh thể có cá tính.
+ “Ra khỏi rừng sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ
trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở “. Từ cô gái —> nâng lên
người mẹ phù xa
– Nhận xét: Bằng những hình ảnh đầy ấn tượng kết hợp với việc sử dụng biện
pháp tu từ nhân hóa, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã gợi ra tính cách “man dại “, “mãnh
liệt” của sông Hương ở thượng nguồn...
* Sông Hương ở ngoại vi thành phố Huế
– Câu chuyển ý.
– Xuôi dòng Hương giang về vùng đồng bằng và ngoại vi thành phố Huế, sông
Hương lại mang vẻ đẹp khác, một nét đẹp quyến rũ mềm mại hứa hẹn những điều thú
vị qua so sánh: người con gái đẹp nằm ngủ mơ màng.
– Dòng sông đổi dòng liên tục – như một sự trăn trở :
– Màu nước biến ảo: sớm xanh, trưa vàng, chiều tím – tím Huế
– Với tình yêu sâu sắc con sông Hương của xứ Huế và một cây bút nhất mực tài
hoa am hiểu văn hóa, văn học tác giả đã viết những câu văn như mộng về vẻ đẹp trầm
mặc của con sông Hương, như nói lên tính cách con sông
+ Trầm mặc giữa những rừng thông lăng mộ
+ Triết lí sử thi khi chảy trong tiếng chuông chùa Thiên Mụ
* Sông Hương khi chảy vào lòng thành phố.
– Sông Hương được ví như người tình của xứ Huế.
- Sông Hương trong cảm nhận hội họa
+ “Sông Hương vui tươi hẳn lên…đông bắc” –> nhà văn cảm nhận sông Hương
như một thực thể sống động, có niềm tin, tâm trạng khi tìm lại được chính mình
+ “Chiếc cầu trắng… lời của tình yêu”. –> vẻ đẹp thanh thoát của sông Hương
và cầu Tràng Tiền được miêu tả qua nghệ thuật so sánh tài hoa.
+ “Không giống như sông Xen…yêu quý của mình” –> niềm tự hào của tác giả
khi so sánh sông Hương với các con sông nổi tiếng trên thế giới.


- Sông Hương trong cảm nhận âm nhạc
+ Sông Hương – “điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế”, sông Hương chảy
chậm, điệu chạy lững lờ vì nó quá yêu thành phố của mình. –> chất âm nhạc thể hiện
ở nhịp điệu êm đềm của bài bút kí bởi những câu văn dài nối tiếp nhau.Nhà văn liên
tưởng đến dòng sông Nê va cảu Lê-nin-grat…
* Sông Hương rời thành phố Huế
– “Rời khỏi kinh thành …thị trấn Bao Vinh xưa cổ…”
– Có thể nói đoạn văn trên là một đoạn tuyệt bút của nhà văn.
-> Hoàng Phủ Ngọc Tường đã miêu tả dòng sông từ nhiều không gian, thời gian
khác nhau. Ở mỗi góc độ nhà văn đều thể hiện cảm nghĩ sâu sắc mới mẻ về non sông.
Từ những cái nhìn ấy, ta nhận thấy tình cảm yêu mến thiết tha, niềm tự hào và một thái
độ trân trọng gìn giữ đối với vẻ đẹp tự nhiên đậm màu sắc văn hóa của nhà văn với
dòng sông quê hương.
c. Sông Hương nhìn ở góc độ văn hóa thi ca.
– Sông Hương sinh thành toàn bộ nề âm nhạc cổ điển Huế: “Hình như trong
khoảnh khắc chùng lại…mái chèo khuya”,
– Nguyễn du đã lấy cảm hứng từ điệu “Tứ đại cảnh” và thi hào từng bao lần
lênh đênh trên quãng sông này: “Nguyễn Du…trăng sầu”
-Sông Hương là dòng sông thi ca, là cảm, hứng bất tận cho các nhà văn nghệ sĩ.
+ “Dòng sông trắng-lá cây xanh” trong cái nhìn của Tản Đà
+”Kiếm dựng trời xanh” trong khí phách của Cao Bá Quát
đ. Sông Hương trong cái nhìn của lịch sử dân tộc.
– Sông Hương trở thành dòng linh giang của tổ quốc, chứng nhận lịch sử cho
bao sự kiện thăng trầm của dân tộc, sông Hương là dòng sống của thời gian ngân vang
của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc.
+ Trong sách Dư địa lí của Nguyễn Trãi, nó mang tên là Linh Giang, dòng sông
Viễn Châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt
+ Sông Hương sống hết lịch sử bi tráng của thế kỉ XIX với máu của những cuộc
khởi nghĩa và từ đấy sông Hương đã đi vào thời đại cách mạng tháng Tám bằng những
chiến công rung chuyển.
e. Ai đã đặt tên cho dòng sông?
– Kết thúc bài kí bằng một câu hỏi: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”
– Chính bài bút kí này đã trả lời cho câu hỏi ấy.
-> Nhà văn bộc lộ cảm xúc và sự ngạc nhiên thú vị vủa mình trước cái duyên
thật đẹp giữa Huế và sông Hương. Cũng để tạo ấn tượng trong người đọc.
3. Kết bài
- Đánh giá chung về sông Hương.

- Khẳng định tài năng viết kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường và sức sống
của tác phẩm.
ĐỀ 2: Dựa vào phần thứ hai của đoạn trích bút kí “ Ai đã đặt tên cho dòng

sông?”, của Hoàng Phủ Ngọc Tường, hãy thể hiện sự cảm nhận của anh ( chị) về
sông Hương trong mối quan hệ với kinh thành Huế.


DÀN Ý:
1. Mở bài:
- Giới thiệu về đề tài sông Hương
- Giới thiệu Hoàng Phủ Ngọc Tường và bái bút kí
- Giới thiệu sông Hương – biểu tượng của cố đô
2. Thân bài:
a. Giới thiệu chung
– Tác phẩm được sáng tác tại Huế năm 1981“Ai đã đặt tên cho dòng sông” rút
ra từ tập bút kí cùng tên, là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách văn chương Hoàng Phủ
Ngọc Tường, lấy cảm hứng từ dòng sông Hương thơ mộng của xứ Huế để từ đó nhà
văn bày tỏ tình yêu đất nước con người.
b. Phân tích
- Khi về đồng bằng và ngoại vi thành phố Huế, sông Hương như một tình nhân
dịu dàng và chung thuỷ của cố đô.
+ Giữa cánh đồng Châu Hoá đầy hoa dại, sông Hương là cô gái đẹp ngủ mơ
màng , như nàng tiên được đánh thức, sông Hương bổng bừng lên một sức trẻ , như
đang tận hưởng và thoả niềm khao khát tuổi xuân “ chuyển dòng liên tục……….sừng
sững như thành quách…”
+ Sông Hương thể hiện nét dịu dàng “ mềm như tấm lụa” khi qua Vọng Cảnh,
Tam thai, Lựu Bảo; sông Hương vẻ trầm mặc khi qua những lăng tẩm,…
- Khi chảy vào thành phố Huế sông Hương chậm rãi, êm dịu, mềm mại, như
vấn vương một nỗi lòng:
+ Hình ảnh sông Hương hiện lên đầy ấn tượng trong dáng nét của chiếc cầu
trắng in trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non, sông Hương uốn một cánh
cung rất nhẹ…
+ Hình ảnh sông Hương với trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh….khi qua Huế
bổng ngập ngừng không muốn đi, muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn
vương của một nỗi lòng…
+ Sông Hương có điệu chảy lặng lờ của nó… Đấy là điệu Slow tình cảm dành
riêng cho Huế.
+ Sông Hương còn được tác giả so sánh với sông Xen của Pa-ri, sông Đa- nuýt
của Bu-đa-pét, sông Nê-va với những phiến băng trôi nhanh như chiếc thuyền của
những chú chim hải âu…
- Đánh giá chung:
Qua phần hai của đoạn trích, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường cho thấy sự điêu
luyện của một ngòi bút viết kí, nhất là một tâm hồn luôn nhạy cảm, tinh tế trước vẻ
đẹp của tạo vật và quê hương. Ông đã truyền dẫn được niềm xúc cảm mãnh liệt của
mình về sông Hương và kinh thành Huế trong lòng đọc giả.
3. Kết bài:
- Đánh giá chung về sông Hương.


- Khẳng định tài năng viết kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường và sức sống của tác
phẩm.

VĂN BẢN: HỒN TRƯƠNG BA RA HÀNG THỊT
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Cuộc đời và sự nghiệp của Lưu Quang Vũ
- Lưu Quang Vũ (1948-1988), quê gốc ở Đà Nẵng.
- Lưu Quang Vũ là một cây bút tài hoa đã để lại dấu ấn trong nhiều thể loại :
thơ, văn xuôi, đặc biệt là kịch. Thiên hướng và năng khiếu nghệ thuật của LQV sớm
bộc lộ từ nhỏ và vùng quê Bắc Bộ đã in dấu nhiều trong sáng tác của ông sau này. Ở
thể loại nào người đọc cũng bắt gặp một LQV với tâm hồn nổi gió, sức sống mãnh liệt
và khả năng sáng tạo miệt mài.
- Năm 2000, Lưu Quang Vũ được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về nghệ
thuật sân khấu.
- Các tác phẩm chính :
Thơ : Hương cây, Mây trắng, Bầy ong trong đêm sâu
Kịch : Sống mãi tuổi 17, Mùa hạ cuối cùng, Hồn Trương Ba da hàng thịt, Tôi
và chúng ta, Nàng Si-ta,…
2. Tóm tắt tác phẩm
Trương Ba là một người là vườn và giỏi đánh cờ đã bị Nam Tào bắt chết nhầm.
Vì muốnsửa sai, nên Nam Tào và Đế Thích cho Hồn Trương Ba sống lại và nhập vào
xác hàng thịt mới chết. Trú nhờ trong xác anh hàng thịt, Trương Ba gặp rất nhiều phiền
toái : lý tưởng sách nhiễu, chị hàng thịt đòi chồng, gia đình Trương Ba cũng cảm thấy
xa lạ,… mà bản thân Trương Ba thì đau khổ vì phải sống trái tự nhiên và giả tạo. Đặc
biệt thân xác hàng thịt làm Trương Ba nhiễm một số thói xấu và những nhu cầu vốn
không phải chính bản thân ông. Trước nguy cơ tha hóa về nhân cách và sự phiền toái


do mượn thân xác của kẻ khác, Trương Ba quyết định trả lại xác cho hàng thịt và chấp
nhận cái chết.
3. Nhan đề
Nhan đề Hồn Trương ba, da hàng thịt gợi cảm giác về độ vênh lệch của hai yếu
tố quan trọng trong một con người. Hồn là phần trừu tượng, da thịt thân xác là cái cụ
thể, là cái bình có thể chứa linh hồn, hồn nào xác ấy. Nhưng ở đây hồn người người
này lại ở trong xác người kia. Hồn và xác lại không tương hợp ; tính cách, hành động,
lối sống của Trương Ba và anh hàng thịt trái ngược nhau. Tên gọi của vở kịch đã thâu
tóm được những mâu thuẫn, xung đột bên trong của một con người.
4. Xuất xứ của vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt
– Lưu Quang Vũ viết vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt năm 1981, đến năm
1984 thì ra mắt công chúng. Vở kịch dựa vào câu chuyện dân gian, nhưng đã có những
thay đổi cơ bản.
– Điểm khác biệt :
+ Trong truyện dân gian, nhân vật Trương Ba tiếp tục sống bình thường, hạnh
phúc khi được nhập hồn vào thân xác anh hàng thịt. Ngắn gọn và đơn giản, truyện dân
gian mang một tư tưởng triết học có phần cơ bản đúng, nhưng chỉ đề cao linh hồn,
tuyệt đối hóa linh hồn, không để ý đến mối quan hệ giữa thể xác và linh hồn.
+ Vở kịch của Lưu Quang Vũ tại tập trung diễn tả tình cảnh trớ trêu, nỗi đau
khổ, giày vò của Trương Ba từ khi “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”. Từ đó
đưa đến những tư tưởng mới : sự tồn tại độc lập của thân xác đối với linh hồn và
khẳng định một quan niệm đúng đắn về cách sống.
.
5 Thông điệp
– Được sống làm người thật là quý giá ; nhưng được sống đúng là mình, sống
trọn vẹn với những giá trị mình muốn có và theo đuổi còn quý giá hơn.
– Cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi người ta được sống tự nhiên với sự hài
hoà giữa tâm hồn và thể xác.
6. Chi tiết cuối cùng của vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang
Vũ)
– Những hành động của cái Gái :
+ Bẻ quả na cho cu Tị một nửa.
+ Đôi trẻ ăn ngon lành.
+ Cái gái lấy những hạt na vùi xuống đất.
– Qua đó, tác giả muốn thể hiện :
+ Cuộc sống tiếp nối, sinh sôi tuần hoàn theo quy luật.
+ Sự bất tử của linh hồn trong sự sống và trong lòng mọi người.
7. Cuộc trò chuyện giữa Hồn Trương Ba với Đế Thích
+ Hai lời thoại của Hồn trong cảnh này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng :
– Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi
toàn vẹn…
– Sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khác đã là chuyện không nên, đằng này
đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi
sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!
+ Những ý nghĩa triết lí sâu sắc và thấm thía qua hai lời thoại này.
– Thứ nhất, con người là một thể thống nhất, hồn và xác phải hài hòa. Không
thể có một tâm hồn thanh cao trong một thân xác phàm tục, tội lỗi. Khi con người bị
chi phối bởi những nhu cầu bản năng của thân xác thì đừng chỉ đổ tội cho thân xác,


không thể tự an ủi, vỗ về mình bằng vẻ đẹp siêu hình của tâm hồn.
– Thứ hai, sống thực sự cho ra con người quả không hề dễ dàng, đơn giản. Khi
sống nhờ, sống gửi, sống chắp vá, khi không được là mình thì cuộc sống ấy thật vô
nghĩa. Những lời thoại của Hồn Trương Ba với Đế Thích chứng tỏ nhân vật đã ý thức
rõ về tình cảnh trớ trêu, đầy tính chất bi hài của mình, thấm thía nỗi đau khổ về tình
trạng ngày càng vênh lệch giữa hồn và xác, đồng thời càng chứng tỏ quyết tâm giải
thoát nung nấu của nhân vật trước lúc Đế Thích xuất hiện.
II. LUYỆN ĐỀ
ĐỀ 1 : Phân tích nhân vật Hồn Trương Ba, nhân vật bi kịch trong đoạn
trích “Hồn Trương Ba da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ.
DÀN Ý
1. Mở bài
– Giới thiệu tác giả (con người và phong cách)
– Giới thiệu tác phẩm (giá trị của tác phẩm)
– Giới thiệu về vấn đề cần nghị luận.
2. Thân bài
a. Giới thiệu chung
– Hoàn cảnh ra đời, xuất xứ
– Đây là một vở kịch mà Lưu Quang Vũ đã dựa vào cốt truyện dân gian, tuy
nhiên chiều sâu của vở kịch chính là phần phát triển sau của tuyện dân gian
b. Phân tích
– Hoàn cảnh éo le, bi đát của ông Trương Ba
+ Trương Ba là người làm vườn yêu cây cỏ, yêu thương mọi người, sống nhân
hậu, chân thực, chưa tới số chết, nhưng vì sự tắc trách của quan nhà trời mà Trương Ba
phải chết.
+ Hồn Trương Ba phải trú nhơ vào xác anh hàng thịt, một người thô lỗ,… Tính
cách Trương Ba ngày càng thay đổi. à Bi kịch của sự oan trái
– Cuộc đối thoại giữa hồn và xác
+ Hồn là biểu tượng cho sự thanh nhã, cao khiết, trong sạch, đạo đức nhưng tất
cả hoàn toàn trái ngược qua phần đối thoại với xác. Hồn Trương Ba để lại trong mắt
xác hàng thịt là một kẻ phàm ăn, tục uống ; mê rượu và háo sắc ; cư xử thô bạo với
mọi người,…
+ Những biểu hiện ngay trong đối thoại khi Hồn Trương Ba không còn là chính
mình : cư chỉ, điệu bộ lúng túng, khổ sở ; giọng điệu có khi yếu ớt, lời thoại ngắn ; khi
đuối lý lại dùng lời lẽ thô bạo để trấn áp “Ta… Ta… đã bảo mày im đi” à Bi kịch của
sự tồn tại riêng rẽ : con người không thể chỉ sống bằng thân xác mà cũng không thể
sống bằng tinh thần.
– Nỗi đau khổ của Hồn Trương Ba khi tìm về những người thân trong gia đình.
+ Người vợ vừa hờn ghen vừa dằn dỗi chồng, có cảm giác ông là người sống xa
lạ với mọi người. + Đứa con trai cả quyết định bán khu vườn để đầu tư vào sạp thịt.
+ Cái Gái, đứa cháu nội mà ông yêu quý nhất, không thừa nhận ông là ông nội,
thậm chí nó còn cự tuyệt đến quyết liệt “Nếu ông nội tôi hiện về được, hồn ông nội tôi
sẽ bóp cổ ông”. Trong mắt nó, Hồn Trương Ba chỉ là một tên đồ tể, tay chân vụng về,
luôn phá hoại.
+ Con dâu tỏ ra thông cảm, hiểu và đau cho nỗi đau sống nhờ và sự thay đổi
của Hồn Trương Ba. à Bi kịch bị người thân xa rời, khước từ cuộc sống.


– Khát vọng giải thoát khỏi thân xác người khác. + Trương Ba tự ý thức bi kịch
của mình : “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được
là tôi toàn vẹn”. à Bi kịch sống nhờ vào thân xác người khác – Trương Ba trước cái
chết của cu Tị.
+ Trước đề nghị đổi thân xác của Đế Thích, tính cách TB từ chỗ lưỡng lự, suy
nghĩ rồi quyết định dứt khoát.
+ Trương Ba muốn chết thật là để cho mình được sống mãi hoài nhớ của mọi
người. à Giải thoát bi kịch của một sự giả tạo trong con người Hồn Trương Ba.
c. Đánh giá
– Hồn Trương Ba là một nhân vật quá chú trọng đời sống tinh thần mà coi nhẹ
thân
xác.
– Bi kịch của nhân vật Hồn Trương Ba là bi kịch về nỗi đau của sự vênh lệch
giữa thể xác và tâm hồn trong một con người.
– Nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật, nghệ thuật tạo tình huống và diễn
tiến kịch kích độc đáo.
3. Kết luận
- Đánh giá chung về nhân vật.
|- Khẳng định tài năng viết kịch của Lưu Quang Vũ và sức sống của tác phẩm.

ĐỀ 2 Trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt, có một lời thoại quan
trọng “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được
là tôi toàn vẹn”.Anh/chị hãy phân tích tình huống éo le của nhân vật Hồn Trương
Ba trong xác anh hàng thịt để làm sáng tỏ lời thoại trên.
DÀN Ý
1. Mở bài
– Giới thiệu tác giả (con người và phong cách)
– Giới thiệu tác phẩm (giá trị của tác phẩm)
– Giới thiệu về vấn đề cần nghị luận.
2. Thân bài
a. Giới thiệu chung
– Hồn Trương Ba, da hàng thịt là một trong những truyện hay trong kho tàng
truyện cổ tích Việt Nam. Lưu Quang Vũ đã dựa vào cốt truyện này để viết thành vở
kịch nói cùng tên vào năm 1981 và được trình diễn lần đầu tiên vào năm 1984.
– Vở kịch đặt ra vấn đề, đó là bi kịch sống nhờ của Hồn Trương Ba trong xác
anh hàng thịt.
b. Phân tích
– Lời thoại trên là lời của Hồn Trương Ba nói với Đế Thích, có ý nghĩa triết lý
về sự thống nhất, hài hòa giữa hồn và xác trong một con người. b. Phân tích tình
huống éo le của nhân vật Hồn Trương Ba trong xác anh hàng thịt
+ Tình huống éo le, bi đát – Nguyên nhân dẫn đến tình huống éo le : việc gạch
tên chết người vô trách nhiệm của quan nhà trời và “thiện ý sửa sai” của Đế Thích.
– Nỗi khổ của Hồn Trương Ba khi phải sống nhờ vào xác anh hàng thịt : vợ con
nghi ngờ, xa lánh ; do sự xui khiến của thân xác hàng thịt, Hồn Trương Ba có những
hành vi, cử chỉ thô lỗ, vụng về.


– Hồn Trương Ba cương quyết không sống trong xác anh hàng thịt. Khát vọng
giải thoát khỏi thân xác người khác khiến Hồn Trương Ba gọi Đế Thích lên để nói rõ
bi kịch sống nhờ, sống không đúng mình.
+ Ý nghĩa của lời thoại
– Lời thoại này thể hiện rõ quan niệm về hạnh phúc của nhà viết kịch. Hồn
Trương Ba đã có một thân xác để tồn tại, để tiếp tục sống, ngỡ đó là hạnh phúc. Nhưng
hóa ra hạnh phúc ở đời không phải là được sống mà sống như thế nào.
– Bức thông điệp mà Lưu Quang Vũ muốn nhắn gửi qua bi kịch của Trương
Ba: con người phải được sống như chính mình, sống hòa hợp giữa hồn và xác – tâm
hồn trong sạch như thân xác được khỏe mạnh. “Tôi muốn là tôi toàn vẹn”, đấy mới là
hạnh phúc.
c. Đánh giá
– Tình huống éo le của vở kịch là nét đặc sắc tạo nên sự khác biệt giữa truyện
dân gian và vở kịch
– Thông qua lời thoại của nhân vật, Lưu Quang Vũ đã thể hiện quan niệm sống
giàu giá trị nhân văn.
– Nhà văn đã dựng lên được những kịch tính thông qua cử chỉ, hành động, đặc
biệt là lời thoại của nhân vật sinh động có tầm khái quát cao.
3. Kết luận
– Lời thoại của Trương Ba “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo
được. Tôi muốn được là tôi trọn vẹn” là một câu nói giàu tính triết lý, cũng lại là bi
kịch cho số phận của một con người.
– Khẳng định tài năng của Lưu Quang Vũ và sức sống của tác phẩm.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×