Tải bản đầy đủ

THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN.............................................................................................................................................2
LỜI CAM ĐOAN.......................................................................................................................................3
CÁC TỪ VIẾT TẮT...................................................................................................................................4
LỜI MỞ ĐẦU.............................................................................................................................................5
1. Tính cấp thiết của đề tài.....................................................................................................................5
2. Mục đích nghiên cứu.........................................................................................................................6
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.........................................................................................................6
3.1. Đối tượng nghiên cứu........................................................................................................................6
3.2. Phạm vi nghiên cứu...........................................................................................................................6
4. Phương pháp nghiên cứu...................................................................................................................6
5. Kết cấu của khóa luận........................................................................................................................7
NỘI DUNG.................................................................................................................................................8
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
DÂN SỰ.................................................................................................................................................8
1.1. Khái quát chung về tranh chấp dân sự..............................................................................................8
1.2. Khái quát về thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với tranh chấp dân sự...................................11
CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ THẨM QUYỀN CỦA
TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ..................................................18
2.1. Những quy định về thẩm quyền theo vụ việc.................................................................................18
2.2. Những quy định về thẩm quyền theo cấp Tòa án...........................................................................34

2.3. Những quy định về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ.............................................................39
2.4. Những quy định về thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn............................41
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
VIỆC THỰC HIỆN NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ.....................................................................................................43
3.1. Thực trạng áp dụng quy định về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp
dân sự hiện nay...............................................................................................................................43
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện thẩm quyền của Tòa án
trong việc giải quyết tranh chấp dân sự.........................................................................................53
KẾT LUẬN...............................................................................................................................................61
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................................62

1


LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin gửi tới các thầy cô Khoa pháp luật dân sự và kiểm sát
dân sự lời chào trân trọng, lời chúc sức khỏe và lời cảm ơn sâu sắc. Với sự
quan tâm, dạy dỗ, chỉ bảo tận tình chu đáo của thầy cô, đến nay tôi đã có thể
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, đề tài: “Thẩm quyền giải quyết tranh chấp
dân sự của tòa án nhân dân”.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy giáo – Ths Trần
Đức Thành đã quan tâm giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành tốt khóa luận tốt
nghiệp này trong thời gian qua.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến lãnh đạo Trường Đại học Kiểm sát Hà
Nội, các Khoa, Phòng ban chức năng đã trực tiếp và gián tiếp giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài.
Với điều kiện và thời gian cũng như kinh nghiệm còn hạn chế của một
sinh viên, khóa luận này không thể tránh được những thiếu sót. Tôi rất mong
nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy cô để tôi có điều kiện bố,
nâng cao ý thức của mình, phục vụ tốt hơn công tác thực tế sau này.
Xin chân thành cảm ơn!

2


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi. Các số liệu sử dụng phân tích trong khóa luận có nguồn gốc rõ ràng,
đã công bố theo đúng quy định. Các kết quả nghiên cứu trong luận án do tôi


tự tìm hiểu một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn. Các kết
quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác.

3


4


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xã hội ngày càng phát triển và trong cuộc sống thường ngày, con người
tham gia vào rất nhiều các hoạt động dân sự. Vì vậy, các mối quan hệ dân sự
hình thành rất tự nhiên, đa dạng và phong phú. Một con người luôn tham gia
vào rất nhiều quan hệ dân sự. Có thể nói, một người không thể không tham
gia vào quan hệ dân sự, khi tham gia vào các hoạt động dân sự như vậy đã
giúp tạo ra của cải, vật chất trong xã hội
Việc các mối quan hệ xã hội hình thành đa dạng như vậy cũng kéo theo
các tranh chấp dân sự hình thành với số lượng và tính phức tạp tương ứng.
Đây là vấn đề gắn liền với cuộc sống thường nhật của mỗi người, nên nó thu
hút được sự quan tâm của tất cả mọi người. Xã hội ngày càng hiện đại, những
vấn đề tranh chấp dân sự cũng nảy sinh thêm nhiều, mới mẻ, pháp luật về dân
sự cũng đòi hỏi cần phải được các nhà làm luật chú trọng hơn nữa mới có thể
bắt kịp xu hướng của xã hội, điều chỉnh quan hệ dân sự, góp phần đảm bảo
trật tự xã hội
Nước ta đang trong bối cảnh hội nhập mạnh mẽ kéo theo cơ chế, pháp
luật cũng phải dần thay đổi để đáp ứng nhu cầu hội nhập đó. Chính vì vậy,
Đảng, nhà nước đã và đang ban hành nhiều văn bản hướng dẫn nhằm thúc đẩy
cuộc cải cách tư pháp mạnh mẽ. Trong cuộc cải cách này, vẫn xác định
phương hướng tòa án là cơ quan có vị trí trung tâm trong cơ quan nền tư pháp
nước nhà. Kết hợp với việc quan hệ dân sự là tất yếu kéo theo các tranh chấp
sự, thì thẩm quyền của tòa án trong giải quyết các tranh chấp dân sự là một
vấn đề không chỉ được các nhà làm luật chú trọng mà còn được cả xã hội
quan tâm. Sự hiệu quả của tòa án trong giải quyết tranh chấp dân sự cũng
đóng góp không nhỏ và việc ổn định các mối quan hệ dân sự. Trong bộ luật tố
tụng dân sự đã cụ thể hóa rất rõ ràng tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải
quyết của tòa án nhân dân. Việc quy định cụ thể như vậy, đảm bào sự minh

5


bạch cho các đương sự và cả tòa án trong việc áp dụng các quy định để giải
quyết các tranh chấp dân sự. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề,
trogn đề tài khóa luận, em lựa chọn đề tài “Thẩm quyền giải quyết tranh
chấp dân sự của tòa án nhân dân”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở các quy định của pháp luật liên quan trực tiếp đến tranh
chấp dân sự thuộc thẩm quyền của tòa án, mục đích của bài khóa luận là tìm
hiểu quy định các pháp luật về vấn đề này, sau có thể đưa ra những đóng góp
nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp dân sự
của tòa án nói riêng và hoàn thiện pháp luật nói chung, nhằm đảm bảo nền tư
pháp nước nhà vững mạnh, tiên tiến.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Bài khóa luận của em tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về
tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân theo quy định của bộ
luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS) năm 2015 và các văn bản
pháp luật có liên quan khác
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của bài khóa luận nghiên cứu pháp luật thực định
quy định về tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân và so
sánh các quy định về tranh chấp dân sự trong bộ luật tố tụng dân sự cũ. Mặc
dù, tranh chấp dân sự không được hiểu gồm các tranh chấp dân sự,tranh chấp
về hôn nhân và gia đình,tranh chấp kinh doanh thương mại và tranh chấp lao
động, nhưng trong bài em nghiên cứu toàn bộ các tranh chấp nêu trên.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa triết
học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm đường lối, chính sách

6


của Đảng, Nhà nước ta về phát triển kinh tế xã hội, về xây dựng và hoàn thiện
pháp luật trong qua trình cải cách nên tư pháp nước nhà
Các phương pháp được sử dụng chủ yếu trong đề tài bao gồm các
phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung và phương pháp nghiên cứu
khoa học pháp lí nói riêng như phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so
sánh, hệ thống pháp luật…
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của khóa luận có bố cục gồm 3 chương.
Chương 1: Những vấn đề chung về thẩm quyền giải quyết tranh chấp
dân sự
Chương 2: Những quy định của pháp luật hiện hành về thẩm quyền của
tòa án trong giải quyết tranh chấp dân sự
Chương 3: Thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
việc thực hiện quy định về thẩm quyền của tòa án trong giải quyết tranh chấp
dân sự

7


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẨM QUYỀN
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ
1.1. Khái quát chung về tranh chấp dân sự

1.1.1. Khái niệm về tranh chấp dân sự
Tranh chấp dân sự hiện nay đã trở nên phổ biến trong cuộc sống. Phổ
biến bởi trong xã hội, ai cũng phải tham gia vào các quan hệ dân sự, và khi
đó, việc xảy ra những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và lợi ích là điều không
thể tránh khỏi. Tuy không xa lạ nhưng để đưa ra được khái niệm thuật ngữ
này một cách rõ ràng thì hiện nay vẫn chưa có được khái niệm nào cụ thể, kể
cả các nhà làm luật vẫn có những quan niệm khác nhau về khái niệm của
thuật ngữ này. Việc xác định được rõ khái niệm của thuật ngữ này có ý nghĩa
quan trọng trong cả lý luận cũng như thực tiễn
Khi nghiên cứu khái niệm này, trước hết phải chú ý đến khái niệm vụ
án dân sự theo nghĩa hẹp và theo nghĩa truyền thống. Nếu theo nghĩa truyền
thống, vụ án dân sự gồm những tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân
sự và quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình. Đây là những tranh chấp được
quy định thuộc thẩm quyền giải quyết về dân sự của Tòa án từ trước khi có
BLTTDS. Còn nếu hiểu theo nghĩa hẹp nhất của khái niệm vụ án dân sự thì nó
chỉ bao gồm những tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự
Các tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được
quy định tại các Điều 26, Điều 28, Điều 30 và Điều 32 BLTTDS, gồm:
- Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
(Điều 26);
- Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án (Điều 28);
- Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án (Điều 30);

8


- Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án (Điều 32).
Khi một tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án,
được đương sự yêu cầu tòa án giải quyết sẽ trờ thành vụ án dân sự. Vụ án dân
sự là các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ dân sự, hôn
nhân và gia đình, kinh doanh và thương mại, lao động giữa các cá nhân, tổ
chức tham gia quan hệ pháp luật đó, do các đương sự có yêu cầu giải quyết và
được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng. Đây cũng
là khái niệm vụ án dân sự theo nghĩa rộng nhất và mới nhất của BLTTDS.
Theo từ điển tiếng Việt thì tranh chấp là “giành nhau một cách giằng co
cái không rõ thuộc về bên nào”[13]. Tranh chấp cũng có nghĩa là đấu tranh
giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi ích giữa hai
bên
Từ những phân tích trên, có thể rút ra định nghĩa sau: tranh chấp dân
sự là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và lợi ích giữa các chủ thể tham
gia hoặc các chủ thể có liên quan đến quan hệ pháp luật dân sự.
Những tranh chấp dân sự sẽ trở thành vụ án dân sự, nếu có yêu cầu giải
quyết tại tòa án sẽ được giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự. Tranh
chấp dân sự và giải quyết tranh chấp dân sự là những vấn đề xuất hiện trong
thực hiện chức năng của tòa án. Tuy nhiên, không phải tất cả tranh chấp dân
sự sẽ dẫn đến việc giải quyết tranh chấp dân sự. Thực tế có tranh chấp dân sự
nhưng không có yêu cầu giải quyết. Nhưng đã nói đến tranh chấp dân sự
thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án thì tranh chấp dân sự và giải quyết
tranh chấp dân sự là những khái niệm luôn luôn tồn tại cùng nhau. Về nội
hàm đây là những khái niệm khác nhau, chỉ những vấn đề khác nhau. Nếu
tranh chấp dân sự chỉ sự việc cụ thể, thì giải quyết tranh chấp dân sự lại liên
quan đến thủ tục giải quyết những sự việc đó.
Theo quy định của pháp luật tố tụng, tòa án có trách nhiệm giải quyết

9


các tranh chấp dân sự phát sinh theo luật định. Đây là những việc liên quan đế
thụ lý vụ án như thủ tục nhận đơn khởi kiện, việc trả lại đơn khởi kiện, việc
thụ lý vụ án, phân công Thẩm phán giải quyết vụ án, thông báo việc thụ lý…
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án phải tiến hành những công việc chuẩn bị xét xử
như yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ, tiến hành một số các biện
pháp để thu thập chứng cứ, ra các quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết
vụ án nếu có căn cứ được quy định trong BLTTDS... Tòa án cũng có trách
nhiệm tiến hành hòa giải đối với những vụ án phải hòa giải theo quy định của
pháp luật, nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận, thương lượng với nhau về
việc giải quyết vụ án. Nếu hòa giải thành, Tòa án ra quyết định công nhận sự
thỏa thuận của đương sự và vụ án được kết thúc. Nếu hòa giải không thành,
Tòa án phải đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm. Bản án, quyết định sơ
thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Trường hợp nếu
có kháng cáo, kháng nghị, Tòa án phải giải quyết vụ án đó theo thủ tục phúc
thẩm. Sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực, nếu phát hiện ra sai
lầm hoặc tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án, nếu có kháng nghị của
người có thẩm quyền, vụ án sẽ bị xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, thủ tục
tái thẩm. Giải quyết tranh chấp dân sự sẽ không chỉ là những công việc mà
Tòa án phải thực hiện theo thủ tục sơ thẩm, mà còn bao gồm những công việc
mà Tòa án phải thực hiện theo thủ tục phúc thẩm và các thủ tục đặc biệt khác
theo quy định của pháp luật tố tụng. Đây chính là nội dung của khái niệm giải
quyết tranh chấp dân sự tại Tòa án.
1.1.2. Đặc điểm của tranh chấp dân sự
Thứ nhất, tranh chấp dân sự là những mẫu thuẫn, bất đồng về quyền và
nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ phát sinh từ hoạt động dân sự
Con người tham gia vào rất nhiều hoạt động trong xã hội, và hoạt động
dân sự là một trong số đó. Khi tham gia mới nảy sinh sự tương tác, dẫn đến
tạo ra lợi ích nhưng cũng kéo theo đó là mâu thuẫn bất đồng giữa các bên.
Trong đó, có bên được hưởng (quyền), nhưng có bên có trách nhiệm ( nghĩa
10


vụ), dẫn đến tranh chấp. Và tranh chấp đó được gọi là tranh chấp dân sự. Có
thể nói, đây là đặc trưng cơ bản nhất của tranh chấp dân sự
Thứ hai, việc giải quyết tranh chấp dân sự có thể do hai bên tự thỏa
thuận hoặc do tòa án giải quyết
Trong dân sự, luôn tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên nên khi có
tranh chấp dân sự xảy các bên trước nhất có quyền tự thỏa thuận với nhau.
Đây cũng có thể xem là đặc trưng nổi bật của tranh chấp dân sự, bởi khác với
dân sự, có thể lấy ví dụ trong hình sự, đó là mối quan hệ giữa nhà nước và
người phạm tội và hành vi phạm tội, không thể thỏa thuận như trong dân sự,
nên đây được coi là một trong những đặc trưng cơ bản của tranh chấp dân sự.
Nếu như không thỏa thuận được các bên có thể nhờ tòa án giải quyết, để đảm
bảo quyền và lợi ích của các bên
1.2. Khái quát về thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với tranh
chấp dân sự
1.2.1. Khái niệm về thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với tranh
chấp dân sự
Thẩm quyền của tòa án bao gồm quyền hạn cụ thể của tòa án trong việc
thụ lý và giải quyết tranh chấp dân sự, do đó, khái niệm về thẩm quyền giải
quyết tranh chấp dân sự của tòa án có tầm ảnh hưởng quan trọng. Có thể nói
khái niệm về thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự chưa được thực sự
nghiên cứu một cách kĩ càng và sâu sắc, nếu có chỉ là căn cứ vào khái niệm về
thẩm quyền của tòa án trong tố tụng hình sự và hành chính và sau đó đưa ra
khái niệm về tranh chấp dân sự và được sử dụng luôn. Chính vậy, khái niệm
về thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự của tòa án không cụ thể.
Để hiểu được khái niệm thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự của
tòa án thì ngoài việc phải nắm rõ được khái niệm thuật ngữ tranh chấp dân sự
như đã trình bày ở trên, thì cũng phải làm rõ được khái niệm về thẩm quyền
của tòa án.
Theo từ điển luật học Việt Nam: “Thẩm quyền là tổng hợp các quyền
và nghĩa vụ và hành động quyết định của cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ
11


máy nhà nước do pháp luật quy định”[10], theo đó, thẩm quyền bao gồm hai
nội dung: quyền hành động – là quyền được làm công việc nhất định, quyền
quyết định – là quyền hạn giải quyết công việc đó trong phạm vi pháp luật
cho phép. Như vậy, thẩm quyền của tòa án là thẩm quyền về hình thức và
thẩm quyền về nội dung. Thẩm quyền về hình thức thể hiện ở quyền hạn xem
xét và phạm vi xem xét của tòa án, còn thẩm quyền về nội dung thể hiện ở
quyền hạn giải quyết quyết định của tòa án đối với những vấn đề đã được xem
xét.
Từ những phân tích nêu trên, đồng thời căn cứ vào cơ cấu tổ chức của
tòa được quy định tại Luật tổ chức tòa án năm 2014 cũng như quy định về
thẩm quyền của tòa án trong BLTTDS năm 2015, tôi có thể rút ta khái niệm
sau: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự của tòa án nhân dân là quyền
của một tòa án hoặc các tòa án trong hệ thống tòa án nhân dân được tiến
hành theo thủ tục giải quyết một tranh chấp dân sự cụ thể theo quy định của
pháp luật tố tụng dân sự.
1.2.2. Căn cứ phân định thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với
tranh chấp dân sự
a. Căn cứ vào đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về hoạt động
tư pháp
Vai trò của Đảng Cộng sản đã được khẳng định qua hai cuộc kháng
chiến trường kì của dân tộc ta và bây giờ trong thời bình vai trò lãnh đạo của
Đảng vẫn không thể thiếu. Đảng được sinh ra từ nhân dân, vì nhân dân mà tồn
tại, tất cả đường lối chính sách của Đảng luôn vì lợi ích của nhân dân. Đảng
Cộng sản Việt Nam là tổ chức lãnh đạo trên thực tế, pháp luật luôn thể chế
hóa đường lối của Đảng, cũng chính là nguyện vọng của nhân dân, thành
những quy định chung thống nhất trong toàn xã hội. Trong lĩnh vực giải quyết
tranh chấp dân sự, đường lối của Đảng luôn là những căn cứ cho nhà làm luật
xây dựng các văn bản pháp luật. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra
đường lối đổi mới với quyết tâm: triệt để xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập
12


trung, bao cấp chuyển hẳn sang nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Với đường lối đó, Đảng đã đặt ra nhiệm vụ phải hoàn thiện bộ máy bảo vệ
pháp luật bằng công cuộc cải cách tư pháp. Trước yêu cầu đó, ngày
18/12/1993, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông
qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức tòa án nhân dân, quyết
định thành lập Tòa Kinh tế thuộc hệ thống tòa án nhân dân để giải quyết các
vụ án hành chính. Tuy nhiên, trước sự đổi thay của tình hình kinh tế - xã hội
và thực tiễn xét xử, những quy định của pháp luật về thẩm quyền của tòa án
đã không còn phù hợp. Để khắc phục sự bất cập này, Đảng đã có nhiều Nghị
quyết về công tác tư pháp trong đó nhấn mạnh yêu cầu phân định hợp lí thẩm
quyền của tòa án các cấp như: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/02/2002 của
Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian
tới lại khẳng định cần khẩn trương chuẩn bị tốt điều kiện để thực hiện việc
tăng thẩm quyền xét xử cho tòa án cấp huyện, đổi mới tổ chức của tòa án
nhân dân tối cao để tập trung làm tốt nghiên cứu giám đốc thẩm, tổng kết thực
tiễn xét xử, hướng dẫn các tòa án áp dụng pháp luật thống nhất. Tiếp đến là
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược
cải cách tư pháp đến năm 2020, tiếp tục từng bước hoàn thiện một cách căn
bản hệ thống pháp luật tố tụng dân sự nói chung và BLTTDS nói riêng; bảo
đảm ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá
nhân trong tố tụng dân sự đồng thời tạo điều kiện để tòa án thực hiện tốt hơn
công tác xét xử. Việc tuân theo đường lối, chính sách của Đảng là một trong
những yêu cầu cơ bản không thể thiếu khi sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các
quy định về thẩm quyền của tòa án các cấp. Sự ra đời của Luật tổ chức nhân
dân 2014, BLTTDS và BLDS 2015 đã khẳng định chủ trương đúng đắn đó.
b. Căn cứ vào các nguyên tắc hoạt động và cơ cấu tổ chức của hệ thống
Tòa án
Nhà nước Việt Nam được tổ chức và vận hành trên cơ sở và thống nhất
và phân công giữa ba hệ thống cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trên
13


cơ sở phân công, mỗi cơ quan nhà nước được giao nhiệm vụ riêng, tránh sự
chồng chéo trong qua trình các cơ quan đó thực hiện nhiệm vụ, dẫn đến, mỗi
cơ quan đều mang những đặc thù riêng. Nằm trong mối quan hệ chung đó, tòa
án Việt Nam có những đặc thù về nguyên tắc hoạt động cũng như về cơ cấu tổ
chức, điều này tác động không nhỏ đến sự phân định thẩm quyền giải quyết
tranh chấp dân sự của tòa án. Những đặc thù đó:
Trước hết, một vụ án có thề bị xét xử theo hai cấp sơ thẩm và phúc
thẩm và có thể có thêm một thủ tục đặc biệt là thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái
thẩm Thực tế giải quyết một vụ án như vậy, bởi tòa án được tổ chức hoạt động
theo nguyên tắc hai cấp xét xử, điều này ảnh hưởng quan trọng đến việc giải
quyết tranh chấp của tòa án. Nguyên tắc này bảo đảm việc xét xử của tòa án
đúng đắn, khách quan, toàn diện hơn và đồng thời bảo vệ tốt hơn lợi ích hợp
pháp của đương sự. Tuy nhiên, theo Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014,
các Điều 20, Điều 29, Điều 37, Điều 44 lần lượt quy định về nhiệm vụ quyền
hạn của tòa án nhân dân tối cao, tòa án cấp cao, tòa án cấp tỉnh, tòa án cấp
huyện thì mỗi cấp xét xử không được tổ chức tương ứng với mỗi cấp tòa án.
Vì vậy, pháp luật tố tụng lại phải có nhiệm vụ phân định thẩm quyền cho phù
hợp.
Thứ hai, hệ thống tòa án của Việt Nam được tổ chức theo địa giới hành
chính lãnh thổ, theo đó, thì ở mỗi tỉnh, huyện đều có tòa án nhân dân. Cách tổ
chức đó dẫn đến nhu cầu phân định thẩm quyền theo lãnh thổ hoặc theo sự
lựa chọn của nguyên đơn để xác định tòa án của địa phương nào có thẩm
quyền giải quyết tranh chấp
Thứ ba, hệ thống tòa án Việt Nam được tổ chức ở bốn cấp: tòa án nhân
dân tối cao, tòa án cấp cao, tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương (sau đây gọi chung là tòa án nhân dân cấp tỉnh), tòa án huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là tòa án nhân dân cấp huyện),
quy đinh định này đặt cho pháp luật tố tụng nhiệm vụ là phải quy định những
vụ án nào thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của tòa án nhân dân cấp huyện,

14


vụ nào do tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết, vụ nào thuộc tòa án cấp cao
hoặc tòa án tối cao giải quyết
Thứ tư, theo luật tổ chức tòa án nhân dân 2014 tổ chức tòa chuyên trách
tại tòa án nhân dân cấp cao, cấp tỉnh và cấp huyện (có thể có). Việc tổ chức
như vậy, đòi hỏi phải có sự phân định thẩm quyền giữa các tòa án chuyên
trách trong cùng một tòa án. Vì vậy, pháp luật tố tụng phải quy định thẩm
quyền theo vụ việc nhằm phân định những tranh chấp nào thuộc thẩm quyền
giải quyết cuat Tòa dân sự, những tranh chấp nào thuộc Tòa kinh tế hay Tòa
lao động giải quyết…
c. Căn cứ vào những đòi hỏi khách quan của thực tiễn giải quyết tranh
chấp dân sự
Sau hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, kinh tế nước nhà khó
khăn, đứng trước nhiệm vụ phát triền kinh tế, Đảng đã chèo lái con thuyền
cách mạng, đưa đất nước phát triển, đánh dấu sự thay đổi đó, đưa nước ta theo
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kết quả là trong những
năm qua, nền kinh tế nước ta có những bước phát triển mạnh mẽ dẫn đến sự
gia tăng các lĩnh vực trong đời sống xã hội và sự tham gia của nhân tố nước
ngoài trong các quan hệ dân sự, xuất hiện của một số lĩnh vực mới như
thương mại điện tử, môi trường, chứng khoán…
Đứng trước sụ thay đổi mạnh mẽ như vậy, pháp luật nói chung và pháp
luật dân sự nói riêng đòi hỏi phải có sự thay đổi lớn để bắt kịp được xu thế xã
hội hiện tại. BLTTDS năm 2015 mới ra đời, đã đáp ứng được những yêu cầu
của thực tiễn bằng việc mở rộng phạm vi thẩm quyền của tòa án trong việc
giải quyết tranh chấp dân sự cũng như có cách tiếp cận mới về phân định
thẩm quyền giải quyết giữa các cấp tòa án. Như vậy, đòi hỏi của thực tiễn,
cũng là một căn cứ quan trọng mà các nhà làm luật phải lưu ý khi xây dựng
quy định về thẩm quyền giải quyết của tòa án.
d. Căn cứ vào năng lực giải quyết tranh chấp dân sự của Tòa án
Căn cứ vào Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014, mỗi cấp tòa án
khác nhau, đòi hỏi những quy định không giống nhau về tiêu chuẩn của thẩm

15


phán. Đây là một căn cứ quan trọng để phân định thẩm quyền hợp lý, tránh
tình trạng quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp vượt quá khả năng giải
quyết của tòa án tòa án.
Sau một thời gian hoạt động, năng lực và trình độ của đội ngũ cán bộ,
Thẩm phán được nâng cao, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương tăng thẩm
quyền cho tòa án nhân dân cấp huyện, đáp ứng yêu cầu đó BLTTDS đã quy
định phạm vi thẩm quyền khá rộng cho tòa án nhân dân cấp huyện.
Mặc dù một số ý kiến cho rằng không nên quan niệm cứ nào khó hơn là
thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Thẩm phán
của tòa án nhân dân cấp tỉnh phải giỏi hơn Thẩm phán tòa án nhân dân cấp
huyện. Nhưng trong điều kiện hiện nay, khi mà pháp luật vẫn quy định những
tiêu chuẩn khác nhau đối với thẩm phán của tòa án nhân dân các cấp thì năng
lực và trình độ giải quyết tranh chấp giải quyết tranh chấp dân sự vẫn luôn là
một căn cứ quan trọng để phân định thẩm quyền cho tòa án các cấp.
e. Căn cứ vào tính chất xét xử
Để giải quyết một tranh chấp, pháp luật quy định nhiều thủ tục xét xử,
mỗi thủ tục xét xử lại có những yêu cầu khác nhau nên tính chất xét xử cũng
khác nhau
Đối với thủ tục xét xử sơ thẩm, với tính chất là xét xử lần đầu tiên nên
tòa án sơ thẩm được giải quyết toàn bộ mọi vấn đề của vụ án theo yêu cầu của
đương sự. Đối với xét xử phúc thẩm, với tính chất là tòa án cấp trên trực tiếp
xét lại toàn bộ hoặc từng phần cảu vụ án mà các bản án, quyết định sơ thẩm
chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định
nên tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét những vấn đề trong kháng cáo, kháng
nghị và những vấn đề có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị. Đối với giám
đốc thẩm, tái thẩm với tính chất là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu
lực pháp luật nhưng có vi phạm pháp luật trong quá trình xử lý vụ án hoặc có
tình tiết mới được phát sinh làm thay đổi nội dung cơ bản của vụ án nên Hội
đồng giám đốc thẩm và tái thẩm chỉ xem xét việc áp dụng pháp luật, việc giải
quyết vụ án của tòa án cấp dưới có đúng hay không, có tình tiết mới được
16


phát hiện hay không để khắc phục các sai lầm của cấp dưới mà không xét xử
lại về nội dung vụ án
Như vậy, tính chất của các thủ tục xét xử do pháp luật quy định thể hiện
bản chất của các thủ tục xét xử đó, đây chính là cơ sở để xác định nhiệm vụ,
quyền hạn của một cấp xét xử. Quy định nhiệm vụ, quyền hạn của một cấp
xét xử không được trái với tính chất của cấp xét xử đó mà phải bao gồm các
nội dung xác định rõ tòa án cấp đó đã xét xử vụ án nào, giới hạn xét xử và
quyền hạn giải quyết đến đâu và chính xác quyền năng này lại là nội dung
thẩm quyền của tòa án.
1.2.3. Phân định thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh
chấp dân sự
a. Phân định thẩm quyền theo vụ việc
Thẩm quyền theo vụ việc xác định những vụ việc nào thuộc thẩm
quyền giải quyết của tòa án, vụ việc nào không thuộc thẩm quyền của tòa án.
Tòa án chỉ giải quyết các vụ việc tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền được
quy định trong bộ luật tố tụng dân sự. Theo quy định của BLTTDS, các vụ
việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự của tòa án nhân
dân được quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32.
b. Phân định thẩm quyền theo cấp xét xử của Tòa án
Một vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án, ngay sau đó phải
xác định được vụ việc đó thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án cấp nào, bởi
trong các nguyên tắc của hoạt động của tòa án đó có nguyên tắc hai cấp xét
xử.Cụ thể, đây là sự phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm giữa toà án cấp
huyện và toà án cấp tỉnh. Việc phân định này xác định tòa án cấp nào có thẩm
quyền giải quyết sơ thẩm, từ đó tòa án đó có nhiệm vụ tiến hành các thủ tục tố
tụng như thụ lý, chuẩn bị xét xử và xét xử theo thủ tục sơ thẩm. Do đó, thẩm
quyền theo cấp xét xử của tòa án là việc quyền của tòa án cấp huyện hoặc tỉnh
thực hiện các thủ tục giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm
c. Phân định thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án
Hệ thống tòa án được tổ chức tương ứng theo đơn vị hành chính, nhằm
đảm bảo không chồng chéo, tranh chấp trong quá trình giải quyết tranh chấp
17


dân sự trên một địa bàn. Sau khi xác định được tòa án cấp nào có thẩm quền
giải quyết, phải cụ thể được tòa án ở địa giới hành nào trong cấp tòa án đó có
thẩm quyền giải quyết. Như vậy, việc phân định thẩm quyền theo lãnh thổ của
tòa án thực chất là sự phân định thẩmm quyền giữa các tòa án cùng cấp, nhằm
lựa chọn được tòa án có điều kiện tốt nhất giải quyết tranh chấp dân sự. Thẩm
quyền giải quyết tranh chấp dân sự theo lãnh thổ của tòa án là quyền của một
tòa án cụ thể thực hiện thủ tục giải quyết một tranh chấp cụ thể theo quy định
của pháp luật.
d. Phân định thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn
Pháp luật về dân sự luôn đề cao quyền tự định đoạt của các bên, và quy
định này cũng đã thể hiện chủ trương đó. Tuy nhiên việc lựa chọn của nguyên
đơn cũng không được trái các quy định của pháp luật dân sự về thẩm quyền
theo lãnh thổ, và các quy định khác, và quy định về thẩm quyền theo sự lựa
chọn của nguyên đơn được quy định cụ thể tại Điều 40 BLTTDS. Nên, thẩm
quyền giải quyết theo sự lựa chon của nguyên đơn là quyền của một tòa án cụ
thể thực hiện các thủ tục giải quyết một tranh chấp dân sự theo thủ tục sơ
thẩm dựa trên sự lựa chọn của nguyên đơn.
Tóm lại, nếu thẩm quyền theo vụ việc xác định vụ việc nào thuộc thẩm
quyền của tòa án, thì thẩm quyền theo cấp xác định tòa án huyện hay tỉnh có
thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm vụ việc cụ thể, thẩm quyền theo
lãnh thổ và thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn xác định cụ thể tòa
án nào có thẩm quyền giải quyết. Việc phân định như vậy đảm bảo không
chông chéo về thẩm quyền trong quá trình giải quyết các vụ việc của các tòa
án và đảm bảo tính kịp thời nhanh chóng trong giải quyết tranh chấp dân sự.

18


CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP DÂN SỰ
2.1. Những quy định về thẩm quyền theo vụ việc
Thực tế, có rất nhiều vụ việc xảy ra trong cuộc sống, nhưng không
phải vụ việc nào cũng thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án. Xác định thẩm
quyền theo vụ việc là xác định loại việc nào thuộc thẩm quyền giải quyết của
tòa án. Khi xảy ra một vụ việc, có rất nhiều cơ quan, tổ chức kể cả tòa án có
thẩm quyền giải quyết vụ việc đó. Cần căn cứ vào tính chất vấn đề cần giải
quyết đó xuất phát từ quan hệ pháp luật nào thì sẽ xác định cơ quan, tổ chức
nào có thẩm quyền giải quyết. Và cụ thể trong thẩm quyền giải quyết tranh
chấp dân sự của tòa án được quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 BLTTDS,
bao gồm:
2.1.1. Những tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền của tòa án
Về nguyên tắc, tòa án có thẩm quyền thụ lý và giải quyết theo thủ tục tố
tụng dân sự đối với những vụ án dân sự phát sinh từ các quan hệ pháp luật
dân sự do pháp luật dân sự điều chỉnh. Theo Điều 26 BLTTDS thì vụ án phát
sinh từ những quan hệ pháp luật dân sự thuộc thẩm quyền của tòa án gồm:
- Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam
Đây là lọai tranh chấp mới của BLTTDS năm 2015, có thể đưa ra ví dụ
như sau: A (quốc tịch Nga) kết hôn với B (quốc tịch Việt Nam) và sinh ra C.
Ở đây, xảy trường hợp A và B muốn con mang quốc tịch của mình, việc đó sẽ
thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án
- Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản thuộc thẩm quyền của tòa án
gồm các tranh chấp về quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản. Các tranh
chấp về các quyền khác đối với tài sản đó là quyền đối với bất động sản liền
kề, quyền hưởng dụng và quyền bề mặt cũng thuộc thẩm quyền giải quyết của

19


tòa án.Trường hợp đối tượng tranh chấp là các vật khác nhau của thế giới vật
chất nhưng không phải là tài sản theo quy định của pháp luật dân sự thì tòa án
không có thẩm quyền thụ lý, giải quyết
- Tranh chấp về hợp đồng dân sự
Tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết
cùa tòa án bao gồm những tranh chấp phát sinh từ việc giao kết, thực hiện,
sửa đổi và chấm dứt hợp đồng. Ngoài ra, những tranh chấp về các biện pháp
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự như cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký
quỹ, bảo lãnh, phạt vi phạm... cũng thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của
tòa án. Hiện nay, các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng dân sự, hợp đồng
thương mại, hợp đồng lao động đều thuộc thẩm quyền cùa tòa án theo tố tụng
dân sự. Tuy nhiên, cũng cần phân biệt tranh chấp giữa các hợp đồng đó, giúp
cho việc xác định luật nội dung được áp dụng để giải quyết tranh chấp, áp
dụng thời hiệu khởi kiện cũng như tính án phí mà các bên phải chịu.
- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường
hợp quy định tại Khoản 2 Điều 30 của BLTTDS
Căn cứ khoản 2 Điều 30 BTTDS quy định: “Tranh chấp về quyền sở
hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có
mục đích lợi nhuận” đây được quy định là tranh chấp kinh doanh thương mại.
Như vậy, ở đây, có thể hiểu tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao
công nghệ này là những tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công
nghệ, giữa các cá nhân, tổ chức với nhau mà chỉ một bên có mục đích lợi
nhuận hoặc các bên đều không có mục đích lợi nhuận. Khác với tranh chấp về
quyền sở hữu tài sản là động sản và bất động sản, các tranh chấp về quyền sở
hữu trí tuệ thuộc thẩm quyền dân sự của tòa án gồm: tranh chấp về quyền tác
giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền
đối với giống cây trồng. Ngoài ra, các tranh chấp về hợp đồng chuyển giao
công nghệ cũng thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án. Khi giải quyết các

20


tranh chấp này, tòa án có thẩm quyền buộc bên vi phạm phải chấm dứt hành
vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, thực hiện các cam kết trong hợp đồng chuyển
giao công nghệ, hủy bỏ hợp đồng hoặc buộc bồi thường thiệt hại xảy ra.
- Tranh chấp về thừa kế tài sản
Tòa án có thẩm quyền giải quyết đối với các tranh chấp về thừa kế như
yêu cầu tòa án buộc người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết
để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản hoặc yêu cầu chia di sản thừa kế
theo pháp luật hoặc di chúc, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ
quyền thừa kế của người khác...
- Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Đây là tranh chấp về thiệt hại xảy ra mà trước đó, người bị thiệt hại và
người gây thiệt hại không có quan hệ hợp đồng hoặc có quan hệ hợp đồng
nhưng thiệt hại xảy ra không có liên quan tới hợp đồng giữa các bên.
- Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do áp dụng biện pháp ngăn chặn
hành chính không đúng theo quy định của pháp luật về cạnh tranh, trừ trường
hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại được giải quyết trong vụ án hành chính
Theo quy định của pháp luật cạnh tranh, trường hợp áp dụng biện pháp
ngăn chặn hành chính theo đề nghị của bên khiếu nại thì bên khiếu nại có
trách nhiệm nộp một khoản tiền bảo đảm theo quy định của Chính phủ.
Trường hợp áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính không đúng gây thiệt
hại cho bên bị điều tra thì bên khiếu nại phải bồi thường. Mức bồi thường do
bên khiếu nại và bên bị điều tra tự thỏa thuận; nếu các bên không tự thỏa
thuận được thì có quyền khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu bồi thường thiệt hại
theo quy định của pháp luật về dân sự. Trường hợp áp dụng biện pháp ngăn
chặn hành chính không đúng theo đề nghị của điều tra viên, Chủ tọa phiên
điều trần mà gây thiệt hại cho bên bị điều tra thì cơ quan quản lý cạnh tranh,
Hội đồng cạnh tranh phải bồi thường. Mức bồi thường do bên bị điều tra và
cơ quan quản lý cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh tự thỏa thuận; nếu không tự

21


thỏa thuận được thì bên bị điều tra có quyền khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu
bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về dân sự. Trong trường hợp
phải bồi thường, cơ quan quản lý cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh phải xác
định trách nhiệm kể cả trách nhiệm vật chất của người đề nghị và những
người có liên quan để có hình thức kỷ luật thoả đáng và bồi hoàn khoản tiền
mà cơ quan quản lý cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh đã bồi thường cho bên bị
điều tra.
- Tranh chấp về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn
nước theo quy định của Luật tài nguyên nước
Theo quy định tại điều 76 Luật tài nguyên nước thì Ủy ban nhân dân
cấp huyện và Bộ tài nguyên và môi trường có trách nhiệm giải quyết tranh
chấp về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước; trường
hợp không đồng ý với quyết định giải quyết tranh chấp thì các bên tranh chấp
có quyền khiếu nại đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án
nhân dân theo quy định của pháp luật
- Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp
về quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng theo quy định của Luật bảo vệ và phát
triển rừng
Quyền sử dụng đất là loại tài sản đặc biệt, do vậy, các tranh chấp về
quyền sử dụng đất thực chất cũng là một dạng của tranh chấp về tài sản.
Quyền sử dụng đất được coi là tài sản và được pháp luật bảo hộ nếu như
người sừ dụng đất có đủ giấy tờ cần thiết chứng minh quyền sử dụng hợp
pháp của mình. Theo quy định cùa Luật Đất đai năm 2013, tranh chấp đất đai
mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định
tại Điều 100 của Luật đất đai 2013, và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất
thì do Tòa án nhân dân giải quyết. Ngoài ra, nếu không có Giấy chứng nhận
hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai

22


2013, tòa án vẫn có thẩm quyền giải quyết nếu như đương sự lựa chọ khởi
kiện tại tòa đúng thẩm quyền.
Đối với tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng, căn cứ vào
Điều 84 Luật bảo vệ và phát triển rừng, thuộc thẩm quyền giải quyền giải
quyết của tòa án nhân dân, và khi giải quyết các tranh chấp này tòa án áp
dụng quy định theo quy định pháp luật về đất đai
- Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định
của pháp luật về báo chí
Theo quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật báo chí, khi cơ quan, tổ chức,
cá nhân có căn cứ cho rằng cơ quan báo chí thông tin sai sự thật, xuyên tạc,
vu khống, xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của mình hoặc gây hiểu lầm
làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của mình thì có quyền nêu ý
kiến phản hồi bằng văn bản đến cơ quan báo chí, cơ quan chủ quản báo chí,
cơ quan quản lý nhà nước về báo chí hoặc khởi kiện tại Tòa án
- Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô
hiệu Theo Điều 52 của Luật Công chứng, “Công chứng viên, người yêu cầu
công chứng, người làm chứng, người phiên dịch, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền đề nghị Tòa án
tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu khi có căn cứ cho rằng việc công chứng
có vi phạm pháp luật", việc công chứng bị coi là có vi phạm pháp luật khi có
vi phạrn về thẩm quyền, thủ tục công chứng. Đối với trường hợp công chứng
không vi phạm pháp luật nhưng người yêu cầu công chứng có hành vi giả
mạo giấy tờ, hợp đồng giả mạo mà Công chứng viên không biết được thì theo
quy định của Bộ luật dân sự, văn bản công chứng này vẫn bị coi là vô hiệu.
Như vậy, có thể thấy BLTTDS đã quy định mở rộng cả đối với việc xem xét
trường hợp công chứng không vi phạm pháp luật nhưng người yêu cầu công
chứng làm giấy tờ giả, hợp đồng giả mạo (văn bản công chứng vô hiệu) thuộc
thẩm quyền giải quyết của tòa án. Thực tế hiện nay, có rất nhiều trường hợp

23


các bên yêu cầu công chứng hợp đồng ủy quyền để che giấu giao dịch bất
động sản với nhiều mục đích khác nhau. Vì vậy, quy định này nhằm đáp ứng
yêu cầu của thực tiễn.
- Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy
định của pháp luật về thi hành án dân sự
Thực chất, đây là tranh chấp về quyền sở hữu tài sản. Song đây là
trường hợp đặc thù, phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự. Theo đó, chủ
thể khởi kiện và thời hạn khởi kiện có những đặc thù khác so với các trường
hợp tranh chấp quyền sở hữu thông thường. Theo Điều 74, Điều 75 Luật Thi
hành án dân sự, chủ sở hữu chung, các bên tranh chấp, Chấp hành viên có
quyền khởi kiện, yêu cầu tòa án xác định phần sở hữu của người phải thi hành
án trong khối tài sản chung để bảo đảm thi hành án. Quy định này nhằm tạo
điều kiện cho Chấp hành viên xác định được tài sản của người phải thi hành
án trong khối tài sản chung với người khác hoặc tổ chức thi hành án trong
trường hợp tài sản của người phải thi hành án là tài sản thuộc sở hữu chung
với người khác nhưng các chủ sở hữu chung không khởi kiện.
- Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký
mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự, tài sản kê biên sẽ được xử
lý bằng một trong ba phương thức: Giao tài sản kê biên cho người được thi
hành án; bán đấu gíá và bán không qua thủ tục đấu giá. Trong trường hợp, tài
sản kê biên được xử lý bằng phương thức bán đấu giá thì trước khi mở cuộc
bán đấu giá 01 ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài
sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phi thực tế, hợp lý đã
phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá. Người phải thi
hành án có trách nhiệm hoàn trả phí tổn thực tế, hợp lý cho người đăng ký
mua tài sản. Mức phí tổn do các bên thoà thuận; nếu không thỏa thuận được
thì yêu cầu Toà án giải quyết (Khoản 5 Điều 101 Luật Thi hành án dân sự).

24


Trong trường hợp không đồng ý vói kết quả bán đấu giá, đương sự, Chấp
hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp về kết quả
bán đấu giá tài sản (Khoản 2 Điều 102 Luật Thi hành án dân sự).
- Các tranh chấp khác về dân sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải
quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật
2.1.2. Tranh chấp hôn nhân, gia đình thuộc thẩm quyền của tòa án
Theo Điều 28, BLTTDS, các tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc
thẩm quyền giải quyết của tòa án:
- Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản
sau khi ly hôn.
Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nguyên tắc
chia tài sản khi ly hôn, theo đó, việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa
thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết.... Tài sản
chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn
cảnh của của gia đình vợ, chồng; Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc
tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong
gia đình được coi như lao động có thu nhập; Bảo vệ lợi ích chính đáng của
mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện
tiếp tục lao động tạo thu nhập; Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu
của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy
định của Luật này.Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng
với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán
phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ
chồng có thỏa thuận khác; Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện
vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn
hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh
lệch...; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã
thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×