Tải bản đầy đủ

Ngữ văn 11, bài viết số 5 có ma trận

Ngày soạn
15/12/2017

Lớp
Ngày
dạy

11b7

11b8

11b9

Tiết 82,83
ĐỀ KIỂM TRA ( Bài viết số 5)
Môn: Ngữ Văn 11
(Thời gian làm bài:90 phút)
A, MỤC TIÊU BÀI KIỂM TRA
1. Kiến thức
Kiểm tra mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng (được quy định trong chương
trình môn Ngữ Văn lớp 11 đến tiết 81) với ba nội dung : Văn học (VHVN), Làm

văn ( NLVH) và Tiếng Việt
Cụ thể:
+ Nhận biết về thể thơ, biện pháp tu từ sử dụng trong ngữ liệu.
+ Hiểu được tác dụng nghệ thuật của các biện pháp tu từ trong ngữ liệu.
+ Hiểu được nội dung, ý nghĩa của ngữ liệu.
+ Nắm được nội dung kiến thức của một văn bản đã học.
2. Kĩ năng
- Kĩ năng đọc hiểu văn bản.
- Kĩ năng tạo lập văn bản (viết đoạn văn nghị luận xã hội; viết bài văn nghị luận
văn học)
3. Thái độ
- Rèn luyện tính sáng tạo, khả năng tự lập cho học sinh.
- Giáo dục tính chuyên cần và lòng yêu thích môn học cho học sinh
4. Năng lực
- Cảm thụ văn học.
- Diễn đạt, trình bày suy nghĩ của bản thân.
- Tự học.
B. HÌNH THỨC KIỂM TRA: Tự luận
I. THIẾT LẬP MA TRẬN:
MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA HỌC KỲ II – MÔN NGỮ VĂN 11
M
ức độ
Chủ đề

Nhận biết

Thông hiểu

Vận dụng
thấp

Vận
dụng cao

Cộng


1.
hiểu


Đọc Xác
định
phương
thức
biểu đạt
- Nhận biết được
các biện pháp tu
từ đã được sử
dụng trong ngữ
liệu

Số câu: 4
Tỉ lệ: 30%
Điểm: 3
II. LÀM
VĂN

10 % x 10
điểm = 1

- Hiểu được
nội
dung
văn bản.
- Hiểu được
tác dụng của
các biện
pháp tu từ.
20 % x 10
điểm = 2
Hiểu được
nội dung
cần nghị
luận

Câu 1

Số câu: 1
Tỉ lệ: 20%
Điểm: 2

Câu 2

15 %
điểm = 1,5

- Nêu được hoàn
cảnh sáng tác,
những thông tin
về tác giả, tác
phẩm.
- Nêu được các
chi tiết tiêu biểu

30% X 10
= 3,0 điểm
- Vận dụng
các thao tác
lập luận
vào trình
bày các
luận điểm,
- Bố cục rõ
ràng, đầy
đủ.
2,5 %
điểm = 0,5

- Có nhận
xét, đánh
giá, bình
luận vấn
đề, liên hệ
thực tiễn,
bản thân.

2,5 %
điểm =
0,25
- Giải thích Vận dụng
- Có nhận
được những các thao tác xét, đánh
khái niệm, lập luận
giá, bình
hình
ảnh vào trình
luận vấn
tiêu
biểu bày các
đề, liên hệ
vấn đề nghị luận điểm, thực tiễn,
yêu cầu.
- Bố cục rõ bản thân.
- Hiểu được ràng, đầy
giá trị nội đủ.
dung, nghệ
thuật
của
văn
bản
nghệ thuật.

20%
2,0 điểm


Số câu: 1
Tỉ lệ:
100%
Số điểm 5
Số câu: 6
Tỉ lệ:
100%
Số điểm

20 % 10
điểm = 2,0

15% X 10
Điểm = 1,5

10 %
điểm =1,0

5%
điểm =
0,5

50 %
điểm =
5,0

30 % 10
điểm = 3,0

50%
Điểm = 5.0

12,5%
Điểm=
1,25

7,5%
Điểm=
0,75

100 %
điểm = 10

II. BIÊN SOẠN CÂU HỎI THEO MA TRẬN
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 3:
“Bất cứ ai cũng đã từng thất bại, đã từng vấp ngã ít nhất một lần trong đời
như một quy luật bất biến của tự nhiên. Có nhiều người có khả năng vực dậy, đứng
lên rồi nhẹ nhàng bước tiếp như thể chẳng có chuyện gì xảy ra, nhưng cũng có
nhiều người chỉ có thể ngồi một chỗ và vẫn luôn tự hỏi lí do vì sao bản thân lại có
thể dễ dàng “mắc bẫy” đến như thế…
(...) Đừng để khi tia nắng ngoài kia đã lên, mà con tim vẫn còn băng lạnh. Đừng
để khi cơn mưa kia đã tạnh, mà những giọt lệ trên mi mắt vẫn còn tuôn rơi. Thời
gian làm tuổi trẻ đi qua nhanh lắm, không gì là mãi mãi, nên hãy sống hết mình để
không nuối tiếc những gì chỉ còn lại trong quá khứ mà thôi...”
(Trích: Hãy học cách đứng lên sau vấp ngã - Nguồn: www.vietgiaitri.com,
4/6/2015)
Câu 1: Hãy chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn văn?
Câu 2: Đoạn văn trên đề cập đến nội dung gì?
Câu 3: Tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ gì trong hai câu văn sau: “Đừng để khi
tia nắng ngoài kia đã lên, mà con tim vẫn còn băng lạnh. Đừng để khi cơn mưa kia
đã tạnh, mà những giọt lệ trên mi mắt vẫn còn tuôn rơi”? Hiệu quả biểu đạt của
biện pháp tu từ đó?
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1: (2 điểm): Hãy viết một đoạn văn (6-8 dòng) trình bày suy nghĩ của bản
thân về vấn đề: Sống như thế nào để không phải nuối tiếc khi nhìn lại quá khứ.
Câu 2: ( 5 điểm) Cảm nhận của anh ( Chị) hai khổ thơ cuối bài thơ Tràng giang
của Huy Cận.
-------HẾT------C. HƯỚNG DẪN CHẤM


PHẦ
N

CÂU

NỘI DUNG

1

Phương thức biểu đạt chính là nghị luận.
Nội dung đoạn trích:
- Hãy biết đứng lên sau vấp ngã vì mỗi lần vấp ngã là một
lần ta rút ra được những bài học cho bản thân.
- Hãy sống yêu thương, sẻ chia, đồng cảm để không phải
nuối tiếc khi nhìn lại quá khứ.

2

ĐIỂM
0,5

0,5
0,5

* Học sinh có thể trình bầy theo nhiều cách nhưng vẫn
hướng vào nội dung nói trên
Học sinh trả lời được một trong ba phép tu từ sau:
I.

* Biện pháp tu từ: Điệp ngữ (Đừng để khi) ; điệp cấu trúc
ngữ pháp (lặp CTNP); đối lập (tia nắng...đã lên>lê....rơi).

ĐỌC
HIỂU
3

* Tác dụng: Điệp ngữ ; điệp cấu trúc ngữ pháp: Tạo âm
hưởng nhịp nhàng, cân đối. Nhấn mạnh, khuyến khính mọi
người hãy từ bỏ những ưu phiền để sống vui vẻ, hòa nhịp
với thế giới xung quanh…

0,5
0,5

0,5

- Đối lập: Làm nổi bật sự trái ngược giữa ngoại cảnh với
tâm trạng con người, nhằm khích lệ con người từ bỏ
những ưu phiền, hướng đến cuộc sống vui tươi, ý nghĩa....
(HS có thể trả lời theo nhiều cách những vẫn xoay
quanh tác dụng nêu ở trên)
1

Học sinh có thể có nhiều cách làm bài khác nhau
nhưng cần đảm bảo được những yêu cầu sau:
-. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn. Triển khai vấn đề nghị luận
thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận
dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ
và dẫn chứng. Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ
sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.

0,25


- Giới thiệu vấn đề nghị luận.
- Phấn đấu hết mình trong học tập và rèn luyện để trở
thành người có ích cho xã hội:
+ Sống có mục đích, lí tưởng.
+ Luôn biết yêu thương, đồng cảm, sẻ chia, giúp đỡ mọi
người - Khái quát vấn đề, liên hệ thực tiễn, bản thân.
2

II.
LÀM
VĂN

0,25
0,5
0,5
0,5

Học sinh có thể có nhiều cách làm bài khác nhau
nhưng cần đảm bảo được những yêu cầu sau:
1. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: Có đủ các phần mở bài,
thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển
khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.
2. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Diến biến tâm
trạng của Chị em Liên trong cảnh đợi tàu.
3. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể
hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập
luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Có cách
diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về
vấn đề nghị luận:
Mở bài:
-Huy Cận là nhà thơ nổi tiếng của nền văn học Việt Nam,
ông có rất nhiều tác phẩm hay, nổi tiếng, trong đó bài thơ
Tràng Giang là một trong những bài thơ như thế.
-“Tràng giang” là một bài thơ nổi tiếng của Huy Cận, sáng
tác vào năm 1939, đăng lần đầu tiên trên báo “Ngày nay”,
sau đó in vào tập thơ “Lửa thiêng” (Lửa sáng tạo). Bài thơ
mang phong vị Đường thi khá rõ.
-Đây là bài thơ được cảnh sông nước mênh mông của sông
Hồng gợi tứ.
* Thân bài:
Tràng Giang là tác phẩm nói lên cảm xúc buồn mênh
mang của tác giả khi đứng trước dòng sông mênh mang,
nỗi buồn đó lại xuất hiện rõ nét, mang những cung bậc
cảm xúc đặc biệt trong tâm hồn của tác giả.

0,5

0,25


+ Khi đứng trước không gian rộng lớn của thiên nhiên,
khung cảnh của Tràng Giang ngày càng được thể hiện rõ
trong tác phẩm.

0,25

+ Tâm trạng của tác giả buồn, cô đơn, mênh mang trước
khung cảnh thiên nhiên rộng mênh mang, nỗi nhớ quê
hương ngày càng trở nên da diết trong tâm hồn của tác giả.

0,25

+ Những nỗi mênh mang trong cảm xúc của con người,
hình ảnh bèo nói lên thân phận của con người, không biết
đi về đâu, mênh mông trên chuyến đò ngang của cuộc đời.

0,25

0,25
+ Những nỗi buồn đó mênh mang trước thân phận của con
người, bèo dạt và sự mênh mang của con người.
+ Nỗi nhớ quê hương ngày càng da diết, bóng chiều sa của
quê hương, nỗi nhớ quê nhà da diết mang những cánh
chim chiều.
+ Những hình ảnh cánh chim chiều của quê hương, những
nỗi buồn đó ngày càng trở nên xa xôi trước không gian
quê hương.

0,25

0,25

0,25

+ Hình ảnh người thi sĩ xuất hiện trong đoạn cuối xuất
hiện rõ nét qua cách sử dụng ngôn ngữ, cách dẫn dắt và sử
dụng từ ngữ của chính tác giả về cách sử dụng ngôn ngữ
của chính tác giả.
0,25
+ Tâm trạng của tác giả bâng khuâng trước những sự vật
của cuộc sống, tác giả đang chênh vênh trên con đường đi
của mình, điều đó làm cho những khoảnh khắc buồn, mơ
mộng và có sự chếnh choáng hơn rất nhiều.

0,25

+ Những nỗi nhớ, quê hương, những khoảng lặng trong
tâm hồn làm cho tác giả như có điều gì đó lặng lẽ và mang
những dòng cảm xúc buồn.

0,5


+ Những hình ảnh thể hiện sự nhớ nhung, da diết của tác
giả đó là bóng chiều sa, lòng quê, khói hoàng hôn… Tất cả
những biểu hiện đó đều thể hiện sự da diết, sự chếnh
choáng trong nỗi nhớ quê hương, tình yêu da diết, cồn cào,
cháy bỏng của tác giả. Cả hai khổ thơ cuối là nỗi nhớ quê
hương, tình yêu với quê hương, đất nước.

* Kết bài:
-Những khoảng trống trong tâm hồn của tác giả làm dâng
lên những nỗi nhớ quê hương da diết, cuồng cháy của
chính tác giả về toàn bộ con người, cảnh vật và những
cảm xúc chân thành nhất
-“Tràng giang” của Huy cận không chỉ là một bức tranh
phong cảnh mà còn là một bài thơ về tâm hồn. Bài thơ thể
hiện nỗi buồn cô đơn trước vũ trụ, trước cuộc đời, luôn
luôn khao khát hoà hợp cảm thông trong tình đất nước,
tình nhân loại.
-Từ đề tài, cảm hứng, chất liệu đến giọng điệu, bút pháp,
“Tràng giang” vừa mang phong vị thi ca cổ điển, vừa
mang chất liệu hiện đại của thơ. Vẻ đẹp ấy cũng là nét đặc
trưng của phong cách Huy Cận.

0,25

4. Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ
sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận

0,25

5. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo quy tắc chính tả,
dùng từ, đặt câu.

0,5

0,25

0,25

Bài làm tham khảo:

Nhà thơ Huy Cận là một nhà thơ nổi tiếng với làng thơ mới, mỗi tác phẩm của ông
đều gửi gắm những tâm trạng, nỗi buồn phiền, sầu muộn của mình trong đó.


Bài thơ Tràng Giang là một bài thơ tiêu biểu gắn liền với Huy Cận, thể hiện nỗi
buồn của tác giả trước nhân tình thế thái, trước nỗi buồn nhân thế. Thể hiện tình
cảm yêu quê hương, đất nước của tác giả.
Đặc biệt là hai câu thơ cuối thể hiện rõ nét tâm trạng phiền não, sầu muộn của tác
giả Huy Cận với những nỗi sầu nhân thế.
“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”
Hình ảnh từng cụm bèo lững lờ trôi trên sông vô định không biết đời mình rồi sẽ đi
đâu về đâu, trong bối cảnh không gian mênh mông sông nước trời biển bao la, thời
gian là cảnh chiều tà, nhìn những đám bèo trôi vô định, không có phương hướng
khiến cho tác giả cảm thấy nôn nao buồn. Một nỗi buồn nhân thế không biết tỏ bày
cùng ai, chỉ có thể gửi gắm vào những câu thơ của riêng mình.
Trong câu thơ “mênh mông” hai từ láy này gợi lên cho người đọc sự sầu muộn bao
la, trước cảnh sông chiều nhưng không có một con đò nhỏ để qua sông, càng làm
cho lòng người thêm man mác.
Tác giả đã sử dụng nghệ thuật đối lập giữa không gian và con người bé nhỏ,
không gian càng mênh mông thì con người càng cảm thấy mình thật cô đơn bé
nhỏ, lạc lõng biết bao nhiêu.
Tràng Giang
Khung cảnh thiên nhiên thể hiện như tâm trạng của nhà thơ Huy Cận lúc này đều
gợi lên tâm trạng buồn. Giữa đất trời sông nước bao la không tìm được một người
bạn tâm giao tri kỷ, không ai có thể hiểu nỗi lòng của tác giả, làm cho nỗi cô đơn
cứ thế mà xô sóng ở trong lòng, con người cảm thấy mình thật bé nhỏ, bất lực
trước cuộc sống hiện tại.
“ Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.”
Cánh chim chiều nghiêng bóng trước hoàng hôn, một cánh chim nhỏ nhoi lẻ loi
trên bầu trời bao la rộng lớn, thể hiện sự cô liêu khắc khoải. Cánh chim chiều chao
nghiêng kia phải chăng chính là hiện thân của tác giả lúc này, đang cảm thấy trào


dâng nghiêng ngả những cơn sóng lòng. Đang cảm thấy mình lẻ loi, cô đơn trước
cuộc đời bao la rộng lớn.
Thiên nhiên trong khổ thơ này gợi lên cho người đọc cảm giác buồn thê lương, não
lòng, đúng như câu thơ của Nguyễn Du viết trong tác phẩm Truyện Kiều rằng:
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” để thể hiện sự cô đơn, lẻ loi buồn chán của
tác giả trước thiên nhiên, cuộc đời.
Tác giả Huy Cận đã vô cùng tinh tế khi đặt cánh chim đối lập cô đơn với không
gian bao la rộng lớn, mênh mông của đất trời, vũ trụ…
“Lòng quê rờn rợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”
Trong hai câu thơ này thể hiện tâm trạng nhớ nhà nhớ quê hương của tác giả Huy
Cận. Người xưa thường nhìn khói lam chiều gợi lên cảnh nhớ nhà, nhớ mùi khói
bếp thơm ngai ngái để hướng tới quê hương, gia đình, hướng tới người thân thương
nhất của mình.
Nhưng Huy Cận viết “không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” thể hiện nỗi nhớ của
ông là nỗi nhớ thường trực, nó luôn chứa đựng in sâu trong lòng tác giả, không cần
phải có chất xúc tác là khói lam chiều mới nhớ.
Bài thơ “Tràng Giang” là một bài thơ vô cùng hay thể hiện bức tranh quê hương
trong cảnh hoàng hôn vô cùng tươi đẹp, sinh động, với hình ảnh thân thuộc như
cánh chim, mây trời, sông nước, rồi những cánh bèo trôi…
Tất cả đều gợi lên một bức tranh chiều tà vô cùng tinh tế, tươi đẹp nhưng thể hiện
một nỗi sầu nhân thế vô cùng sâu sắc trong lòng tác giả.
“Tràng giang” là bài thơ kiệt tác của Huy Cận rút trong tập thơ “Lửa thiêng”
(1940). Bài thơ có một câu đề từ rất đậm đà: “Bâng khuâng trời rộng, nhớ sông
dài”. Tác giả đã có lần nói: “Tràng giang là một bài thơ tình và tình gặp cảnh, một
bài thơ về tâm hồn”, “Tràng giang” tiêu biểu cho vẻ đẹp của hồn thơ Huy Cận
trước cách mạng: hàm súc, cổ điển, giàu chất suy tưởng triết lí, thấm thía một nỗi
buồn nhân thế “sầu trăm ngả".
Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn trường thiên, có 4 khổ thơ hợp thành
một bộ tứ bình về tràng giang một chiều thu. Đây là khổ thơ thứ hai của “Tràng
giang” :


“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đây tiếng làng xa vãn chợ chiều,
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót:
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”.
Từ dòng sông, sóng gợn, con thuyền xuôi mái và cành củi khô bập bềnh trôi dạt
trên sông., ở khổ một, Huy Cận nói đến cảnh tràng giang một buổi chiều mênh
mông, vắng vẻ. Giọng thơ nhè nhẹ man mác buồn. Không gian nghệ thuật được
mở rộng về đôi bờ và bầu trời. Những cồn cát thưa thớt nhấp nhô “lơ thơ” như nối
tiếp mãi dài ra. Gió chiều nhè nhẹ thổi “đìu hiu” gợi buồn khôn xiết kể. Hai chữ
“đìu hiu” gợi nhớ trong lòng người đọc một vần thơ cổ:
“Non Kì quạnh quẽ trăng treo,
Bến Phi gió thổi đìu hiu mấy gò".
( Chinh phụ ngâm)
Làng xóm đôi bờ sông, trong buổi chiều tàn cũng rất vắng lặng. Một chút âm
thanh nhỏ bé lao xao trong khoảng khắc tan chợ, vãn chợ ở đâu đây, ở từ một làng
xa vẳng đến. Lấy động để tả tĩnh, câu thơ “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều” đã
làm nỗi bật sự ngạc nhiên, chút bâng khuâng của người lữ khách về cái vắng vẻ,
cái hoang vắng của đôi bờ tràng giang. Các nhà Thơ mới coi trọng tính nhạc trong
thơ, vận dụng nghệ thuật phối âm, hòa thanh rất thần tình, tạo nên những vần thơ
giàu âm điệu, nhạc điệu, đọc lên nghe rất thích. Hai câu thơ đầu đoạn có điệp âm
“lơ thơ” và “đìa hiu”, có vần lưng “nhỏ - gió”, có vần chân: “hiu - chiều”. Câu thơ
của Huy Cận làm ta liên tưởng đến câu thơ của Xuân Diệu:
“Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu,
Lả lả cành hoang bóng trở chiểu...”
( Thơ duyên)
Các điệp thanh: “Nhỏ nhỏ”, “xiêu xiêu”, “lả lả”; các vần thơ, như vần lưng “nhỏ"
với “gió”, vần chân “xiêu” với “chiều”. Những vần thơ “tươi nhạc tươi vần” ấy đã
trở thành thơ trong trí nhớ của hàng triệu con người yêu thích văn học.
Trở lại đoạn thơ trong bài “Trùng giang” của Huy Cận, ta như được nhập hồn
mình vào cõi vũ trụ mênh mông và bao la. Trời đã về chiều. Nắng từ trên cao chiếu
rọi xuống làm hiện ra những khoảng sâu thăm thẳm trên bầu trời, vẻ đẹp của bầu
trời thu quê hương ta đã trở thành vẻ đẹp của thi ca dân tộc: “Trời thu xanh ngắt
mấy tầng cao” (Thu vịnh); và “Trời cao xanh ngắt - ô kìa...” (Tiếng sáo Thiên


Thai); “xanh biếc trời cao, bạc đất bằng” (Xuân Diệu). Thi sĩ Huy Cận lại nhận
diện bầu trời không phải là cao mà là sâu, “sâu chót vót”:
“Nắng xuống, trời lên sâu chót vót”
Bầu trời và lòng sông “sóng gợn” là không gian hai chiều, rộng và cao, sâu. Trời
cao thăm thẳm, rộng mênh mông in xuống, soi xuống lòng sông. Người ta thường
nói “cao chót vót” và “sâu thăm thẳm”, nhưng Huy Cận lại cảm nhận là “sâu chót
vót” vừa để làm nổi bật hai vế tiểu đối: “nắng xuống ” và “trời lên”, vừa gây ấn
tượng về cái bao la, mênh mỏng đến rợn ngợp của không gian vũ trụ vô tận, và
cũng là nỗi buồn như vô tận trong lòng người. Khách li hương càng cảm thấy nhỏ
bé, lẻ loi và cô đơn trước không gian vô hạn của vũ trụ. Dòng sông như dài thêm
ra, bầu trời như rộng thêm ra, bến đò (hay bến lòng?) như cô liêu hơn. xa vắng
quạnh hiu hơn. Lời đề từ nhà thơ đã viết: "Bâng khuâng trời rộng, nhớ sông dài’’,
cảm hứng ấy đã được láy lại ở thơ số 8, mở ra một trường liên tưởng đẩy ám ảnh
về vũ trụ thì vô hạn vô cùng, còn kiếp người thì nhỏ bé, hữu hạn:
‘‘Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”.
Cảnh sắc tràng giang được nói đến trong đoạn thơ là một không gian nghệ thuật
đẹp mà buồn, vẻ đẹp của những dòng sông trên mọi miền đất nước hội tụ trong tâm
hồn thi nhân, vẻ đẹp của tình yêu quê hương, tình yêu sông núi. Tình yêu đó mang
nỗi buồn sông núi, nỗi buồn về đất nước của Huy Cận, của thê hệ các nhà thơ thời
tiền chiến. “Tràng giang” đã hợp lưu trong lòng người hơn 60 năm rồi. Đọc đoạn
thơ trên, ta mới thấu hiểu nỗi lòng thi nhân trước Cách mạng: “Chàng Huy Cận khi
xưa hay sầu lắm...”.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×