Tải bản đầy đủ

THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Việc làm cho người lao động là một trong những vấn đề mang tính ch ất
toàn cầu, là mối quan tâm lớn của mỗi quốc gia. Việt Nam trong quá trình
chuyển sang kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa đã đ ạt đ ược
những kết quả nhất định trong phát triển kinh tế. Tuy nhiên Vi ệt Nam cũng
đang phải đối phó với nhiều thách thức to lớn trong quá trình h ội nh ập kinh
tế, một trong những vấn đề đó là tạo việc làm cho người lao động.
Trong bối cảnh đó, đối tượng người khuyết tật luôn là đối tượng đ ược
Nhà nước quan tâm và chú trọng. Việc chăm lo giải quy ết việc làm cho
người khuyết tật đã trở thành nhiệm vụ cơ bản và cấp bách, đòi h ỏi m ỗi
cấp, mỗi ngành và trên hết là toàn xã hội phải quan tâm. Chính vì v ậy vi ệc
xây dựng và ban hành những chính sách giải quyết việc làm cho người
khuyết tật là nhiệm vụ hết sức quan trọng và cần thiết. Đo đó em xin ch ọn
đề tài “Chính sách việc làm cho người khuyết tật tại Thành phố Hồ Chí
Minh”.
Trong thời gian làm bài, em xin chân thành cảm ơn Cô Phan Th ị Vinh,
giảng viên trường Đại Học Lao động – Xã hội đã giúp em hoàn thành bài ti ểu
luận này. Rất mong nhận được sự góp ý của cô để em có thể hoàn thiện tốt
nhất bài tiểu luận.


CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Một số khái niệm
Theo điều 9 của Bộ luật lao động 2012: Việc làm là hoạt động lao động
tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm. Theo quan điểm của Mac: Việc
làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và nh ững điều
kiện cần thiết (vỗn, tư liệu sản xuất, công nghệ,…) để s ử d ụng sức lao đ ộng
đó).
Tiêu biểu cho cách nhìn nhận này là đạo luật về người khuyết tật của
Hoa Kỳ năm 1990 (ADA- Americans with Disabilities Act of 1990), đạo luật
này định nghĩa: “Người khuyết tật là người có sự suy yếu về thể chất hay
tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động trong
cuộc sống”
Quan điểm người khuyết tật ở Việt Nam Điều 2 Luật người khuyết tật
năm 2010 có quy định cụ thể về khái niệm Người khuyết tật, theo đó Ng ười
khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoăc nhiều bộ phận cơ th ể hoăc
bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động,
sinh hoạt, học tập găp khó khăn.
Chính sách việc làm người khuyết tật là chương trình hành động do các
nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quy ết một vấn đề việc làm cho
người khuyết tật.
1.2 Vai trò chính sách việc làm cho người khuyết tật
Việt Nam có hơn 6.7 triệu người khuyết tật trong đó có 1.6 triệu
người có khả năng lao động. Do đó, chính sách việc làm cho người khuyết
tật là một trong những vấn đề quan trọng giúp người khuyết tật nâng cao
chất lượng cuộc sống, hòa nhập với cộng đồng và khẳng định khả năng,
thể hiện bản thân và vị thế trong xã hội.
Chính sách việc làm người khuyết tật là yếu tố thúc đẩy sự hòa nh ập
của người khuyết tật với cộng đồng, xã hội và không bị phân biệt đối x ử về
măt thái độ. Hiện thực hóa quyền và lợi ích hợp pháp c ủa ng ười khuy ết
tật.Có thể thấy lực lượng lao động khuyết tật là một lực lượng không nh ỏ
trong xã hội, tạo việc làm cho người khuyết tật cũng làm tăng m ức s ống c ủa


xã hội, là một trong những yếu tố giải quyết được vấn đề “xóa đói giảm
nghèo”, đồng thời tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội.
1.3 Đăc điểm người khuyết tật
* Theo tổ chức y tế thế giới (WHO-1999), có ba hình thức khác nhau
về tình trạng khuyết tật của người khuyết tật:
Khiếm khuyết (impairment): Sự mất mát hoăc không bình thường
của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoăc/và sinh lý.
Khuyết tật (disability): Chỉ sự giảm thiểu chức năng hoạt động là


hậu quả của khiếm khuyết
Tàn tật (handicap): Đề cập đến tình thế bất lợi hoăc thiệt thòi của
người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên
trình trạng khuyết tật của họ
* Theo điều 3 luật người khuyết tật 2010
Dạng tật bao gồm:
- Khuyết tật vận động;
- Khuyết tật nghe, nói;
- Khuyết tật nhìn;
- Khuyết tật thần kinh, tâm thần;
- Khuyết tật trí tuệ;
- Khuyết tật khác.
Người khuyết tật được chia theo mức độ khuyết tật sau đây:
- Người khuyết tật đăc biệt năng là người do khuyết tật dẫn đến
không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;
- Người khuyết tật năng là người do khuyết tật dẫn đến không th ể t ự
thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;
- Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp
trên.


CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM CHO NGƯỜI
KHUYẾT TẬT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Giới thiệu chung về Thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh (được biết đến với tên cũ là Sài Gòn) là thành
phố lớn nhất Việt Nam đồng thời cũng là đầu tàu kinh tế và là m ột trong
những trung tâm văn hóa, giáo dục quan trọng nhất của nước này. Hiện nay,
thành phố Hồ Chí Minh là thành phố trực thuộc Trung ương cùng v ới th ủ đô
Hà Nội là đô thị loại đăc biệt của Việt Nam. Diện tích : 2.095,239 km2 . Dân
số : 8.297.500 người (2016) . Dân tộc : Việt , Hoa , Khơme , Chăm… . Đơn vị
HC : 24 quận huyện . Khí hậu hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng
11, lượng mưa bình quân năm 1.979 mm. Mùa khô t ừ tháng 12 đ ến tháng 4
năm sau. Nhiệt độ trung bình năm 27,55 0C, không có mùa đông
Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố trẻ, với hơn 300 năm hình
thành và phát triển, thành phố có rất nhiều công trình kiến trúc cổ, nhi ều di
tích và hệ thống bảo tàng phong phú. Thành phố Hồ Chí Minh cách th ủ đô
Hà Nội gần 1.730km đường bộ, nằm ở ngã tư quốc tế gi ữa các con đ ường
hàng hải từ Bắc xuống Nam, từ Ðông sang Tây, là tâm đi ểm của khu v ực
Đông Nam Á. Với vị trí địa lý thuận lợi, Thành phố H ồ Chí Minh n ơi m ột th ời
được mệnh danh là "Hòn ngọc Viễn Đông" đã là trung tâm th ương m ại và là
nơi hội tụ của nhiều dân tộc anh em, mỗi dân tộc có tín ngưỡng, sắc thái
văn hoá riêng góp phần tạo nên một nền văn hoá đa dạng. Đ ăc tr ưng văn
hoá của vùng đất này là sự kết hợp hài hòa gi ữa truyền th ống dân tộc v ới
những nét văn hoá phương Bắc, phương Tây, góp phần hình thành lối s ống,
tính cách con người Sài Gòn. Đó là những con người th ẳng th ắn, bộc tr ực,
phóng khoáng, có bản lĩnh, năng động, dám nghĩ, dám làm .
2.2 Thực trạng chính sách việc làm cho người khuyết tật tại Thành ph ố
Hồ Chí Minh
2.2.1 Thực trạng việc làm cho người khuyết tật tại Thành ph ố H ồ Chí
Minh
Theo thống kê của Sở lao động thương binh và xã hội TP.HCM năm
2014, trên địa bàn thành phố có khoảng 44.352 người khuyết tật, trong đó
tại các quận – huyện trên địa bàn có khoảng 36.314 hộ dân trong đó có
40.826 người khuyết tật; tại các trung tâm bảo trợ có khoảng 3.526 người
khuyết tật (Phụ lục 1).


Theo Trung tâm nghiên cứu phát triển năng lực NKT (DRD) có tới
85% người khuyết tật ở thành thị và 25% người khuyết tật đến từ các
vùng khác. Do những hạn chế từ khuyết tật, và trình độ năng lực nên đa
phần người khuyết tật có ít nguồn thu nhập, thu nhập không ổn định và
chưa đủ để trang trải cuộc sống. Số người khuyết tật có thể tự lập được
cuộc sống và nhà ở ổn định chỉ vào khoảng 11% trong tổng số người
khuyết tật. Gần 24% hộ gia đình có người khuyết tật phải sống trong điều
kiện nhà tạm, 65% sống trong những ngôi nhà bán kiên cố.
Cũng theo báo cáo, chỉ gần 6% NKT học hết THPT, hơn 20% có trình
độ THCS. Và có 93,5% NKT không có trình độ chuyên môn và chỉ 6,5%
NKT có chứng chỉ đào tạo nghề. Trong số này chỉ có khoảng 6.000 người có
việc làm chính thức. Không có tay nghề cộng với hoạt động xúc tiến việc
làm dành cho NKT còn hạn chế nên cơ hội việc làm đối với NKT ngày càng
bó hẹp.

Biểu đồ 1. Biểu đồ thể hiện tỷ lệ người khuyết tật có việc làm
Nguồn: Trung tâm nghiên cứu phát triển năng lực người khuyết tật
năm 2014
Không chỉ thiếu cơ hội ráp nối với doanh nghiệp, lao động khuyết
tật còn chịu nhiều thiệt thòi khi họ chưa thực sự với tới các chính sách
việc làm. Hiện nay có 70% NKT đang trong độ tuổi lao động nhưng chỉ
30% trong số đó có thu nhập ổn định. Điều này cho thấy NKT vẫn còn
nằm ngoài hệ thống việc làm, dễ lâm vào tình cảnh đói nghèo.


Đối với người khuyết tật, việc làm có ý nghĩa đăc biệt quan tr ọng bởi
nó không những tạo ra thu nhập để đáp ứng nhu cầu của bản thân và gia
đình người khuyết tật mà còn giúp cho người khuyết tật phục hồi ch ức
năng, có cơ hội giao tiếp xã hội, hòa nhập cộng đồng, đảm bảo quy ền công
dân của người khuyết tật. Tiềm ẩn trong mỗi người khuyết tật là một ý chí
vươn lên, khát khao được học tập, làm việc theo khả năng của mình. Vì v ậy,
việc NKT hiện nay đã thay vì chờ đợi sự may mắm đến, họ đã luôn n ỗ l ực
không ngừng để cải thiện nâng cao trình độ, tay nghề nhằm tìm kiếm đ ược
một công việc có thể đảm bảo cho bản thân và thể hiện được mình.
2.2.2 Thực trạng chính sách việc làm cho người khuyết tật tại Thành
phố Hồ Chí Minh
Hệ thống các chính sách về việc làm đối với người khuyết tật hiện nay,
bao gồm:
- Luật người khuyết tật; Điều 176 của Bộ Luật Lao động
- Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10 tháng 04 năm 2012, về việc
Quy định chi tiết là hướng dẫn thi hành một số điều của luật ng ười khuy ết
tật. Cụ thể chương 2. Việc làm cho người khuyết tật:
Điều 8. Khuyến khích người khuyết tật tự tạo việc làm, hộ gia
đình tạo việc làm cho người khuyết tật
1. Người khuyết tật tự tạo việc làm, hộ gia đình tạo việc làm cho người
khuyết tật được hưởng chính sách sau đây:
a) Vay vốn với lãi suất ưu đãi để sản xuất kinh doanh t ừ Ngân hàng
Chính sách xã hội. Điều kiện, thời hạn và mức vốn cho vay th ực hiện theo
các quy định hiện hành áp dụng đối với các dự án vay v ốn gi ải quy ết vi ệc
làm;
b) Hướng dẫn về sản xuất kinh doanh, hỗ trợ chuyển giao công nghệ
sản xuất, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm.
2. Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quy ền h ạn c ủa
mình có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ ch ức và cá nhân
liên quan hướng dẫn về sản xuất kinh doanh, chuy ển giao công nghệ, h ỗ tr ợ
tiêu thụ sản phẩm do người khuyết tật làm ra.


Điều 9. Cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao
động trở lên là người khuyết tật
1. Cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao đ ộng tr ở lên
là người khuyết tật quy định tại Điều 34 Luật Người khuyết tật được
hưởng các chính sách ưu đãi sau đây:
a) Hỗ trợ kinh phí cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù h ợp cho
người khuyết tật theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
Mức hỗ trợ theo tỷ lệ người khuyết tật làm việc ổn định tại cơ sở sản xuất,
kinh doanh, mức độ khuyết tật của người lao động và quy mô c ủa c ơ s ở s ản
xuất, kinh doanh theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố tr ực thuộc Trung ương (sau
đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quyết định m ức kinh phí h ỗ tr ợ
cải tạo điều kiện, môi trường làm việc cho cơ sở sản xuất, kinh doanh s ử
dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật;
b) Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về
thuế;
c) Vay vốn ưu đãi theo dự án phát triển sản xuất kinh doanh từ Ngân
hàng Chính sách xã hội. Điều kiện vay, thời hạn vay, mức vốn vay và m ức lãi
suất vay thực hiện theo quy định hiện hành áp dụng đối với d ự án vay v ốn
giải quyết việc làm;
d) Ưu tiên cho thuê đất, măt bằng, măt nước theo quy định của pháp
luật;
đ) Miễn tiền thuê đất, măt bằng, măt nước phục vụ sản xuất kinh
doanh đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng t ừ 70% lao đ ộng là ng ười
khuyết tật trở lên. Giảm 50% tiền thuê đất, măt bằng, măt n ước ph ục v ụ
sản xuất kinh doanh đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh s ử dụng t ừ 30%
đến dưới 70% lao động là người khuyết tật.
Trong thời gian được miễn, giảm tiền thuê đất, măt bằng, măt n ước,
cơ sở sản xuất, kinh doanh không được chuyển đổi, chuy ển nh ượng, tăng,
cho, cho thuê quyền sử dụng đất, măt bằng, măt n ước; không đ ược th ế
chấp, cầm cố, bảo lãnh, góp vốn liên doanh, liên k ết bằng quy ền s ử d ụng
đất, măt bằng, măt nước theo quy định của pháp luật về đất đai.


2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trình Thủ tướng Chính phủ quy
định danh mục, tiêu chí xác định cơ sở sản xuất, kinh doanh, m ức h ỗ tr ợ
kinh phí quy định tại Điểm a và Điểm đ Khoản 1 Điều này.
3. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn việc xác đ ịnh t ỷ lệ
lao động là người khuyết tật; trình tự, thủ tục, hồ sơ để cơ sở sản xuất, kinh
doanh sử dụng từ 30% lao động trở lên là người khuyết tật được h ưởng ưu
đãi quy định tại Khoản 1 Điều này.
Điều 10. Khuyến khích cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhận
người khuyết tật vào làm việc
1. Doanh nghiệp sử dụng từ 10 người khuy ết tật làm việc ổn đ ịnh đ ược
hưởng chính sách ưu đãi quy định tại Điểm a và Điểm c Khoản 1 Đi ều 9
Nghị định này.
2. Cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp sử dụng t ừ 10 người khuy ết
tật làm việc ổn định được hưởng chính sách quy định tại Điểm a Khoản 1
Điều 9 Nghị định này.
Ngoài ra TP.HCM còn có các Chính sách
- Cấp đất cho Trung tâm Dạy nghề cho người khuyết tật và trẻ mồ côi
thành phố để mở rộng cơ sở hiện hữu, tăng thêm số lượng xưởng dạy ngh ề
cho người khuyết tật và trẻ mồ côi.
- Cấp đất cho Hội Nạn nhân chất độc Da cam/Dioxin thành phố tại
Huyện Hóc Môn xây dựng cơ sở điều trị, dạy nghề cho nạn nhân chất đ ộc
Da cam/Dioxin thành phố.
- Dạy văn hóa, dạy nghề miễn phí cho người khuyết tật tại Trung tâm
Bảo trợ Dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật thành phố (thuộc
Sở Lao động – Thương binh và Xã hội) và Trường Dạy nghề cho người
khuyết tật và trẻ mồ côi thành phố (thuộc Hội bảo trợ người khuyết tật và
trẻ mồ côi thành phố).
Việc triển khai các chính sách chung của nhà n ước cũng nh ư các chính
sách riêng của TP.HCM đã được Thành phố thực hiện một cách khá hiệu
quả. Theo số liệu thống kê của DRD, số lượng cơ sở sản xuất, kinh
doanh của người khuyết tật và số lao động là người khuyết tật tham gia
vào các loại hình sản xuất tại TP.HCM đã tăng lên đáng kể. Từ 77 cơ sở với


1.821 lao động (năm 2000) đến năm 2014 đã có hơn 150 cơ sở và khoảng
6.000 lao động người khuyết tật.. Tuy nhiên, ại hầu hết các cơ sở này, cơ sở
hạ tầng, việc trang bị các kiến thức về an toàn, vệ sinh lao đ ộng còn nhi ều
hạn chế. Nguyên nhân của tình trạng này một măt, là do doanh nghiệp còn
xem nhẹ vấn đề an toàn vệ sinh lao động, chưa chú trọng đến vi ệc mua s ắm
trang thiết bị bảo hộ lao động, huấn luyện an toàn vệ sinh lao động và khám
sức khoẻ định kỳ cho lao động là người khuyết tật. Măt khác do trình độ văn
hóa của người khuyết tật còn thấp nên việc hiểu biết về an toàn vệ sinh lao
động rất hạn chế, mơ hồ, nhiều khi bảo hộ lao động được phát nh ưng
không sử dụng, việc hướng dẫn quy tắc an toàn ph ải lăp lại nhiều lần….
Điều này cho thấy rằng, chăm lo cho người khuyết tật, Đảng và Nhà
nước đã có nhiều chính sách ưu đãi. Có điều, chính sách ưu đãi chỉ là tiền
đề, còn việc thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống người
khuyết tật rất cần sự cộng đồng trách nhiệm của xã hội, dia phuong và nỗ
lực của chính người khuyết tật.
2.3 Đánh giá việc thực hiện chính sách việc làm cho người khuyết tật
tại Thành phố Hồ Chí Minh
2.3.1 Măt đạt được
Với các chính sách trên, trong những năm gần đây, người khuyết tật có
việc làm tạo TP.HCM đã tăng lên đáng kể. Giải quyết việc làm cho người
khuyết tật đã từng bước được xã hội hoá với sự tham gia ngày càng nhiều
của khu vực tư nhân . Đối với người khuyết tật, để khuyến khích và hỗ
trợ cho người khuyết tật dễ kiếm việc làm, Nhà nước đã có các chính sách
để người khuyết tật được tư vấn học nghề miễn phí, lựa chọn và học nghề
theo khả năng, năng lực bình đẳng như những người khác. Có thể nói chính
sách hỗ trợ của Nhà nước trong việc giải quyết việc làm cho người khuyết
tật đã đạt được nhiều thành công.
Những năm gần đây, Trung tâm bảo trợ - Dạy nghề và đào tạo việc làm
cho người tàn tật TPHCM, tổ chức ngày hội việc làm ưu tiên cho người
khuyết tật. Qua các hoạt động đó, Hội mong muốn để người khuyết tật tự
thể hiện những khả năng của mình, thể hiện cho cộng đồng thấy rằng
những thành quả mà họ đã làm được không phải người bình thường nào
cũng làm được. Thông qua đó để cộng đồng thay đổi cách nhìn nhận đối
với người khuyết tật. Chính những việc làm của người khuyết tật đã


mang một thông điệp không chỉ đến với những người đồng cảnh về sự tự
tin, nỗ lực, phấn đấu vươn lên hòa nhập cộng đồng, mà còn như một lời
kêu gọi đối với cả xã hội hãy nhìn nhận họ một cách bình đẳng.
Chính sách chế độ hỗ trợ người khuyết tật đã tạo khung pháp lý về
chăm sóc người khuyết tật, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan ch ức
năng, tạo môi trường thuận lợi cho người khuyết tật tiếp cận học nghề,
việc làm và các dịch vụ xã hội cơ bản. Nhờ vậy, những năm qua đ ời sống v ật
chất, tinh thần và vị thế của người khuyết tật trong xã h ội được c ải thi ện
một bước
2.3.2 Nhược điểm
Tuy nhiên quá trình thực hiện cho thấy hệ thống các văn bản chưa
thật sự đồng bộ, tính khả thi của một số chính sách chưa cao, công tác
tuyên truyền, kiểm tra giám sát thực hiện chưa thường xuyên, nguồn
lực về tài chính và nhân lực cũng chưa đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn.
Chính sách về việc làm ban hành còn tản mạn ở nhiều văn bản gây
chồng chéo. Các quy định của chính sách việc làm mang tính quy phạm chưa
cao, chính sách chủ yếu hướng vào hỗ trợ, khuyến khích chưa rõ trách
nhiệm của các đối tượng điều chỉnh của chính sách. Một số chính sách
hỗ trợ việc làm chưa được hướng dẫn cụ thể như: chính sách miễn giảm
thuế để khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị và cá nhân tạo
việc làm cho nhiều người lao động khuyết tật.
Các tổ chức của người khuyết tật còn non yếu, thiếu chiến lược,
phương pháp điều hành,kế hoạch tài chính và quản lý, kỹ năng tư v ấn kém
hiệu quả, và không có được sự phối hợp chăt chẽ giữa các tổ ch ức. Nhiều t ổ
chức thiếu kỹ năng lãnh đạo và khuyến khích sự tham gia hiệu quả của
thành viên. Bên cạnh đó nhà tuyển dụng cũng không tìm được thông tin ứng
tuyển của những ứng cử viên khuyết tật.
Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng không nhắc đến nhân lực cho
để thực hiện cầu nối giữa doanh nghiệp và NKT. Nghề công tác xã hội
đang phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây ở Việt Nam. Giá
trị và chuyên môn công tác xã hội đã được khẳng định tại các nước phát
triển. Những lĩnh vực nhân viên xã hội tham gia làm việc khá rộng và hầu
hết trong khuvực dịch vụ xã hội.


Khó khăn về việc tiếp cận dành cho người khuyết tật, bao gồm tiếp
cận thông tin về các chính sách, tiếp cận giao thông và tiếp cận cơ sở vật
chất. Người khuyết tật muốn tham gia vào các hoạt động của xã hội
nhưng họ lại không thể tiếp cận giao thông. Người khiếm thị không thể
tiếp cận trường lớp vì thiếu giáo trình (phần mềm đọc chữ, chữ nổi ..) và
chưa có phương pháp giảng dạy phù hợp. Ngoài ra, khó khăn nằm trong
chính nội lực của người khuyết tật khi nhiều người khuyết tật còn chưa
thực sự cố gắng để vượt qua khiếm khuyết, hoà nhập cộng đồng và
khẳng định bản thân.
CHƯƠNG 3. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM
CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT
3.1 Hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật quy định về
quyền và nghĩa vụ hợp pháp của ngƣời khuyết tật
Cần sửa đổi bổ sung các văn bản pháp luật quy định quyền và nghĩa
vụ của người khuyết tật để tương thích với công ước của người khuyết
tật. Trong thời gian qua Luật Người Khuyết Tật ngày càng được cải thiện
và có những bước đi tiền trạm, mở đầu cho những hướng đi mới, bền
vững trong công cuộc giải quyết những khó khăn trong cuộc sống, tạo
công ăn việc làm cho người khuyết tật.
Ngoài ra, Nhà nước phải có quy định về việc tổ chức dịch vụ việc làm
cho lao động là NKT, với mục tiêu tư vấn, hướng nghiệp, giới thiệu việc làm
và kết nối cung - cầu lao động, đồng thời có sự tham gia của các thành
phần kinh tế, các tổ chức, cá nhân… trong việc cung cấp các dịch vụ việc
làm là cần thiết. Luật cần quy định điều kiện cụ thể để cấp phép đối với
doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm và nghiên cứu để cho phép
doanh nghiệp này tham gia thực hiện một số chính sách bảo hiểm thất
nghiệp như dạy nghề, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng nghề
cho người lao động, cũng như tham gia thực hiện một số chương trình, dự
án về việc làm để vừa quản lý chăt chẽ, vừa khuyến khích sự tham gia
nhiều hơn của các doanh nghiệp này.
3.2 Đẩy mạnh liên kết giữa các tổ chức tuyển dụng và người khuyết tật
Thành phố cần đẩy mạnh xây dựng các công cụ nhằm liên kết giữa các
tổ chức có nhu cầu tuyển dụng với người khuyết tật.Việc xây dựng này sẽ
tạo điều kiện cho các tổ chức tuyển dụng với người người khuyết tật có mối


liên kết chăt chẽ với nhau. Bên cạnh đó các tổ chức của người khuyết tật
cần phải có tiếng nói cũng như hoạt động mạnh mẽ hơn nhằm liên kết tổ
chức tuyển dụng với người khuyết tật. Vì hơn ai hết, các tổ ch ức này chính
là những người tiếp xúc cũng như gần người khuyết tật nhất, sẽ hiểu được
những điểm mạnh cũng như điểm yếu của người khuyết tật, từ đó sẽ có
hướng giúp người khuyết tật dễ dàng tìm kiếm việc làm.
3.3 Đẩy mạnh công tác đào tạo cho người khuyết tật
Thực trạng khao khát được học nghề, được làm việc phù hợp với sức khỏe, khả năng của
bản thân, đang là vấn đề cần giải quyết trước hết. Người khuyết tật bẩm sinh cần được học tập và
đào tạo ngay từ nhỏ, phối hợp với truyền thông không phân biệt đối xử và hòa đồng với NKT cần
được tến hành song song, nhằm đảm bảo môi trường mà NKT phát huy được sở trường ngay từ
nhỏ. Cần: Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy nghề và tư vấn viên hướng nghiệp, việc làm
đáp ứng nhu cầu của người khuyết tật; Nghiên cứu xây dựng và nhân rộng mô hình dạy, học nghề
gắn với tạo việc làm phù hợp cho người khuyết tật; Xây dựng chương trình, giáo trình, trang thiết
bị dạy nghề phù hợp với người khuyết tật

3.3 Cung cấp các thiết bị chuyên dụng cho người khuyết tật thực hiện
công việc
Trong một số trường hợp một NKT cần được trang bị những thiết bị chuyên dụng để có thể
tến hành công việc . Đôi khi thiết bị này có thể chế tạo hoặc chỉnh sửa tại chỗ và không tốn kém
nhiều và việc tạo ra những thiết bị này không gặp trở ngại gì lớn. Tuy nhiên trong một số trường
hợp, việc chi phí cho thiết bị là một việc khó khăn đối cả người lao động và doanh nghiệp.
trong những trường hợp như vậy, TP.HCM cần đóng một vai trò quan trọng giúp họ có được những
thiết bị đó, có thể thông qua cho vay hoặc cho hẳn. Thiết bị này có thể được cấp cho NKT hoặc
doanh nghiệp. nếu là cấp cho NKT, người đó có thể đem theo mình thiết bị này khi thay đổi công
việc.Thành phố có thể thu thập các thông tn liên quan đến những thiết bị chuyên dụng vào một
đầu mối. Cũng có thể tạo đầu mối mua sắm những thiết bị như vậy để tạo điều kiện tết kiệm và có
thể nhận được những ưu đãi do việc mua với số lượng lướn đem lại mà nếu mua nhỏ sẽ không
được hưởng.


13


Phụ lục 1. Bảng tổng hợp tình trạng của người khuyết tật tại TP.HCM năm 2014

Nguồn: Một số giải pháp giải quyết việc làm dành cho người khuyết tật tại Tp. Hồ Chí Minh


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật lao động 2012
2. Luật người khuyết tật 2010
Đoàn Thị Cẩm Vân (2015), Một số giải pháp giải quyết việc làm
dành cho người khuyết tật tại Tp. Hồ Chí Minh
Bách khoa toàn thư mở. Được lấy về từ
https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H
%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh
Thư Viện Học Liệu Mở Việt Nam. Được lấy về từ https://voer.edu.vn/



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×