Tải bản đầy đủ

Các bước luận đoán tử vi

Các bước luận đoán tử vi- cách học tử vi
Muốn lập thành một lá số Tử Vi cần phải hội đủ 4 yếu tố là Năm-Tháng-Ngày-Giờ
sinh theo Âm Lịch. Cách lập thành lá số Tử Vi nói chung có nguyên tắc chỉ dẩn
khá rỏ ràng, nhưng về phương cách giải đoán thì còn phải tùy theo trình độ, cơ
duyên và kinh nghiệm... của người giải đoán mà sẽ có những lời giải đoán khác
nhau cho lá số tu vi.
Để giải đoán được Tử Vi giỏi, đại khái cần phải có 4 điều kiện sau:
• Trí nhớ - Tử Vi là một khoa lý số cổ học rất phức tạp nên rất cần có trí nhớ
tốt để thuộc các nguyên lý của Âm dương, Ngũ hành, Can Chi và ý nghĩa
tính chất của các Sao.
• Suy luận - Phải suy luận để phân tích, phối hợp, chế hóa sự sinh khắc của
âm dương ngũ hành và xấu tốt của các sao đóng tại mỗi cung số.
• Trực giác - Cần phải có trực giác bén nhạy để giúp ích cho những sự suy
luận.
• Kinh nghiệm - Phải thực hành cho nhiều, đối chiếu phần thực nghiệm với lý
thuyết để suy luận ra những lời giải đoán cho súc tích, phong phú và chính
xác.
Để giúp các bạn mới bắt đầu tự nghiên cứu Tử Vi được dễ dàng, dễ hiểu và có kết
quả, chúng tôi mạo muội xin đưa ra những phương pháp, hướng dẫn cụ thể để các
bạn theo thứ tự học hỏi hầu có thể tự giải đoán được lá số của mình.
Xem giải thích cách trình bày và hiểu ý nghĩa của lá số.

Những Nguyên Tắc Căn Bản phải nhớ trong tu vi
Những nguyên tắc căn bản về Âm Dương / Can Chi và Ngũ hành sinh khắc trong
tu vi .
Những quy tắc phối chiếu của Tam hợp - Nhị hợp - Xung chiếu giữa các cung
trong lá số Tử Vi.


Những Tiến Trình Luận Đoán Số phải theo:
Xét sự thuận nghịch về lý âm dương giữa Năm sinh với vị trí cung an Mệnh để biết
tổng quát tốt xấu của cung cần giải đoán.
Xét sự sinh khắc ngũ hành của Can Chi Năm sinh
Xét sự tương quan ngũ hành giữa bản Mệnh và Cục
Xem phối hợp hai cung tam hợp với cung an Mệnh-Thân
Xem phối hợp cung nhị hợp với cung an Mệnh-Thân
Xem phối hợp cung xung chiếu với cung an Mệnh-Thân
Xem vị trí của tam hợp hai cung Mệnh/Thân và vòng Thái Tuế trên lá số
Xem vị trí của tam hợp hai cung Mệnh/Thân và vòng Lộc Tồn trên lá số
Xem vị trí của tam hợp hai cung Mệnh/Thân và vòng Tràng Sinh trên lá số
Phải xét qua tất cả các yếu tố trên rồi phối hợp lại để đưa ra lời lý giải tổng quát về
những nét đại cương của cuộc đời cho lá số.
Những Đặc Tính của các Sao phải hiểu trong tu vi
Xem tổng hợp bộ cách của Chính tinh và các trung tinh tại ba cung Mệnh-TàiQuan, cung an Thân và cung Phúc Đức để biết tổng quát lá số của mình được các
cách gì.
Xem ý nghĩa và đặc tính của Chính tinh tọa thủ, hợp chiếu và nhị hợp tại cung
Mệnh và Thân.
Xem ý nghĩa và đặc tính của các Trung tinh và Phụ tinh tọa thủ, hợp chiếu và nhị
hợp của cung Mệnh-Thân.


Xét ý nghĩa, đặc tính, vị trí và sự đắc hãm của các Hung Sát tinh trên lá số.
Xem ảnh hưởng của các Hung Sát Bại tinh (nếu có) tọa thủ, hợp chiếu và nhị hợp
tại các cung quan trọng như tại ba cung Mệnh-Tài-Quan, cung an Thân và cung
Phúc Đức.
Xét tới giá trị và ảnh hưởng biến đổi của các sao theo thời gian của mệnh số.
Xem sự liên đới của các sao với nhau, nếu các sao này kết hợp thành cách cục hay
bộ cách thì sẽ có tác dụng mạnh mẽ hơn là đóng đơn lẽ hay lạc lỏng.
Nếu muốn xem cung nào thì phải phối hợp ý nghĩa, đặc tính và đặc điểm của các
sao tọa thủ, hợp chiếu và nhị hợp tại cung đó, quân bình số lượng các sao rồi đúc
kết các yếu tố lại để đưa ra lời lý giải kết luận về cung muốn xem.
Phải tập xem phần giải đoán qua các lá số mẫu để biết cách lý giải lá số. Phần này


có thể xem qua các bài sưu tập về "Vấn đáp Tử Vi < vdap_tv.html&g thienduc
thamluan.lysodongphuong.com" của Tướng Số gia Thiên Đức đăng lại trên trang
Web này để rút tỉa kinh nghiệm về cách thức giải đoán lá số. Mỗi câu vấn đáp nói
trên đều có phần lược giải về Tử Vi cho người đặt ra câu hỏi.
Hiện tại phần "Tính lý các sao" của trang Lý Số Đông Phương chưa được hoàn
thành đầy đủ, nên các bạn có thể qua trang Web của Vietshare , sau khi lấy xong lá
số thì nhấn nút chuột trên tên của mỗi sao tại cung nào muốn xem thì sẽ có ngay
lời giải tóm tắt về đặc tính của sao đó ngay trên màn ảnh.
Những cung cần phải xem
Cùng một cách xem cho cung Mệnh-Thân và Phúc Đức, xét và luận đoán các cung
liên hệ đến bản thân mình là Quan lộc - Tài bạch - Tật ách - Thiên di - Điền trạch Nô bộc.
Cùng một cách xem cho cung Mệnh-Thân và Phúc Đức, xét và luận đoán các cung
liên hệ đến lục thân như Phối ngẫu - Tử tức - Phụ mẫu - Huynh đệ


Những Vận Hạn Trong Cuộc Đời phải biết
Cách Giải Đoán Vận Hạn
Xem các Đại vận 10 năm của lá số
Xem Tiểu vận từng năm
Luận về cung tam hợp
Sách số nào cũng chỉ khi xem một cung thì phải xem phối hợp: cung chính, hai
cung tam hợp, cung xung chiếu và cung nhị hợp, tất cả là 5 cung cùng một lúc để
giải đoán.
Có quan điểm còn đánh giá thứ tự ưu tiên hoặc xếp đặt ra giá trị tỷ lệ cho cung
chiùnh là quan trọng nhất, thứ nhì là cung xung chiếu, thứ ba mới đến hai cung tam
chiếu với cung chính và sau hết là cung nhị hợp. Sự đánh giá này nhằm phân định
được các ảnh hưởng nào là trực tiếp và ảnh hưởng nào là gián tiếp để giúp cho việc
giải đoán được cụ thể và đầy đủ hơn.
Riêng theo cụ Thiên Lương thì căn bản chính yếu của một cung chỉ có một cung
chính và hai cung tam hợp. Cung nhị hợp (tương sinh) chỉ phụ thêm bổ túc cho
cung chính. Còn cung xung chiếu (tương khắc) tuyệt đối chính là đối phương.
Dưới đây là 4 bảng Tam Hợp trong tu vi:
Sở dĩ không có tam hợp hành Thổ vì trong 4 tam hợp trên đều có hành Thổ làm
nền tảng để cho Tứ Sinh (Dần-Thân-Tỵ-Hợi) phát nguồn bồi đắp cho Tứ Chính
(Tý-Ngọ-Mão-Dậu) được đầy đủ sung túc để trở thành những hành chính trong
tam hợp.
Theo Dịch học, hành Thổ là nguồn gốc phát xuất ra các hành khác, rồi tập trung về
lại nguồn cội trung ương, hành Thổ phối hợp với 4 hành Kim-Mộc-Thủy-Hỏa
thành 4 cục diện, là thế tam hợp căn bản của Tử Vi Đẩu Số.


Nhận xét về bảng Tam Hợp dưới đây sẽ thấy trong mỗi cục diện gồm có 3 hành,
tuy khác nhau nhưng cùng liên minh với nhau thành một hành chung, để cùng các
cục diện khác tranh đua biến đổi sinh khắc lẫn nhau.
Ngoài ra, theo cụ Việt Viêm Tử thì cần phải phân biệt đến hai chiều thuận nghịch
theo quy lý âm dương của tam hợp cục nữa. Lấy ví dụ người có cung mệnh tại Ngọ
trong tam hợp cục Dần-Ngọ-Tuất. Nếu là Dương Nam/ Âm Nữ khởi theo chiều
thuận đi từ cung Dần đến cung Tuất nên những sao tam hợp đóng tại cung Dần sẽ
ảnh hưởng nhiều hơn là những sao cùng tam hợp tại cung Tuất. Còn với người Âm
Nam/ Dương Nữ theo chiều nghịch đi ngược lại từ cung Tuất đến cung Dần nên
những sao tam hợp tại cung Tuất sẽ ảnh hưởng nặng hơn là những sao tại cung
Dần.
Thuyết Âm Dương theo kinh Dịch Chúng tôi xin sơ lược tóm tắt về thuyết Âm
Dương:
Theo học thuyết cổ của Trung Hoa, nguồn gốc sơ khởi của vạn vật trong vũ trụ là
Thái Cực. Trong thái cực có hai động thể tiềm phục đó là hai khí Âm Dương - gọi
là Lưỡng Nghi.
Âm và Dương là hai mặt tương phản đối lập, mâu thuẫn, ức chế lẫn nhau nhưng
thống nhất, nương tựa, thúc đẩy lẫn nhau, trong Dương có mầm của Âm và trong
Âm có mầm của Dương. Vạn vật được sinh thành và biến hóa nhờ hai khí Âm
Dương này phối hợp.
Hai khí Âm Dương giao tiếp tuần hoàn sinh hóa ra vạn vật theo 4 trạng thái phát
triễn và suy tàn được gọi là Tứ Tượng (Thiếu Dương - Thái Dương và Thiếu Âm Thái Âm)
"Khí của trời đất, hợp thì là một, chia thì là Âm và Dương, tách ra làm bốn mùa,
bày xếp thành Ngũ hành." (Đổng Trọng Thư)
Tứ tượng nhờ ảnh hưởng của hai khí Âm Dương thúc đẩy và biến hóa khai sinh ra:


4 mùa - Xuân Hạ Thu Đông
5 chất gọi là Ngũ hành : Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ
8 hình dạng khác nhau của vũ trụ được gọi là Bát Quái
Càn chỉ trời, Khảm chỉ nước, Cấn chỉ núi non, Chấn chỉ sấm sét, Tốn chỉ gió, Ly
chỉ lửa, Khôn chỉ đất, Đoài chỉ đầm lầy.
Liên hệ giữa Mệnh-Thân và Hạn trong Tu Vi
Mệnh Thân và Hạn tốt - Người có cung Mệnh tốt thì chỉ xứng ý toại lòng lúc còn
trẻ tuổi, đến tuổi trung niên và hậu vận thì cũng cần phải được cung Thân tốt thì
mới được trọn vẹn. Nếu được Hạn tốt nữa thì ví như gấm thêm hoa.
Mệnh Thân tốt gặp Hạn xấu - Mệnh Thân tốt có thể giải trừ được một phần lớn ảnh
hưởng xấu của Hạn.
Mệnh Thân xấu được Hạn tốt - Được phát ví như lúa non gặp mưa thuận gió hòa,
cây khô gặp mùa Xuân, nhưng không bền.
Mệnh Thân và Hạn xấu - Rất xấu như sinh bất phùng thời.
Ảnh hưởng của Chính tinh là Nam hay Bắc Đẩu Tinh nhập hạn trong Tu Vi
Nam Đẩu Tinh nhập hạn - Ảnh hưởng mạnh mẽ vào khoảng nữa phần thời gian sau
của Đại và Tiểu vận. Nếu bị Tuần Triệt thì đoán ngược lại.
Các Nam Đẩu Tinh là Thái Dương - Thiên Cơ - Thiên Đồng - Thiên Lương - Thiên
Tướng và Thất Sát. Các chính tinh trên hợp với người dương nam và âm nữ, nếu
được miếu vượng hay đắc địa thì càng thêm tốt đẹp.
Riêng hai chính tinh Tử Vi và Thiên Phuû là Nam Bắc Tinh
Bắc Đẩu Tinh nhập hạn - Ảnh hưởng mạnh mẽ vào khoảng nữa phần thời gian đầu
của Đại và Tiểu vận.


Các Bắc Đẩu Tinh là Thái Âm - Vũ Khúc - Tham Lang - Liêm Trinh - Phá Quân và
Cự Môn. Các chính tinh trên hợp với người âm nam và dương nữ, nếu được miếu
vượng hay đắc địa thì càng thêm tốt đẹp.
Ảnh hưởng của Sao nhập hạn
Ảnh hưởng các Sao lưu động mỗi năm
Đại Tiểu Hạn trùng phùng
Cung gốc đại vận 10 năm với lưu niên tiểu vận đồng cung, sự việc tốt xấu hay dở
của năm xem hạn tại cung trùng phùng này sẽ gia tăng.
Thí dụ: hạn năm Ngọ 32 tuổi lưu niên chữ Ngọ trùng với cung gốc của đại vận 2332 tuổi
Yếu tố thiên thời của đại-vận (10 năm) trong Tu Vi
Mỗi đại-vận là một thiên-thời, đắc được thiên-thời gặp vận hội tốt đời sẽ lên
hương, còn mất thiên-thời thì đời sẽ thấy khó-khăn để rồi đi xuống.
Lấy ngũ hành của tam hợp tuổi đem so-sánh với hành tam hợp của cung đại vận
nhập hạn:
Tam hợp tuổi tương đồng hành tam hợp vận - đắc vận Thái-tuế (thiên-thời) là đạivận tốt đẹp nhất trong đời; thêm sao tốt nhập hạn thì được như gấm thêu hoa, nếu
gặp ách-nạn thì cũng sẽ được cứu-giải mà qua khỏi.
Trường-hợp bị Hung-sát-tinh phá cách như Không-Kiếp ... thì vẫn được lên nhưng
rồi dễ xuống, hay gặp khó-khăn và trở-ngại, vận hội tốt còn hưởng độ 50% mà
thôi.
Đại-vận này cần phải được thêm tam-hợp Sinh-Vượng-Mộ hổ trợ thì mới được
hưởng vận Thiên-thời một cách chính-đáng, trọn-vẹn và bền-bỉ.


Thí dụ: các người tuổi Dần-Ngọ-Tuất đại vận 10 năm đến các cung Dần-Ngọ-Tuất
(đại vận hỏa đồng hành tam-hợp tuổi hỏa)
Tam-hợp-vận sinh-nhập hành tam-hợp-tuổi - được thuận-lợi và sức-khỏe tốt; tuynhiên vì nằm trong tam-hợp Thiên-không nên cũng hay dễ xảy ra những sự thất-bại
và buồn lòng, nếu đắc Hóa-khoa có thể cứu-giải.
Thí dụ: các người tuổi Dần-Ngọ-Tuất đại vận 10 năm đến các cung Hợi-Mão-Mùi
(đại vận mộc sinh hành tam-hợp tuổi hỏa)
Tam-hợp-tuổi khắc-xuất hành tam-hợp-vận - bị sa-lầy, nhiều vất-vả (Thiếu-âm),
phải gắng công tranh-đấu (Phá-Hư-Mã); có thể nhờ đến phần Nhân-hòa (sao) giúpđỡ.
Thí dụ: các người tuổi Dần-Ngọ-Tuất đại vận 10 năm đến các cung Tỵ-Dậu-Sữu
(đại vận kim bị hành tam-hợp tuổi hỏa khắc)
Tam-hợp-vận khắc-nhập hành tam-hợp-tuổi - khắc ngược rất xấu, cần phải có được
nhiều sao tốt để cứu giải.
Thí dụ: các người tuổi Dần-Ngọ-Tuất đại vận 10 năm đến các cung Thân-Tý-Thìn
(đại vận thủy khắc hành tam-hợp tuổi hỏa)
Yếu tố địa lợi của Đại-vận (10 năm) trong Tu Vi
Địa-lợi là nơi an thân của bản mệnh tại đại vận. Nếu cung hạn tương sinh tất bản
mệnh sẽ được vững chắc an lành. Phần này phải lấy ngũ hành nạp âm của mệnh
so-sánh với ngũ hành của cung nhập-hạn :
Tương-Sanh - sức-khỏe dồi-dào và thường gặp may-mắn.
Thí dụ người mệnh hỏa đại vận đến hai cung Dần-Mão thuộc mộc được tương
sinh.


Tương-Khắc - sức-khỏe kém, thường gặp nhiều khó-khăn và bất trắc xảy ra.
Thí duï người mệnh hỏa đại vận đến hai cung Hợi-Tý thuộc thủy bị tương khắc.
Nếu hành bản mệnh bị hành của cung đại-vận khắc rất xấu, nhưng được Chính-tinh
tại cung đại-vận sinh-nhập lại mệnh (tức cung sinh sao và sao sinh lại mệnh) là
cách "tuyệt xứ phùng sinh" rất tốt (ví dụ người mệnh hỏa bị hành của cung đại vận
tại Hợi hay Tý thuộc thủy khắc, nhưng lại được chính tinh Thiên Cơ hoặc Thiên
Lương tại Hợi-Tý thuộc mộc sinh lại bản mệnh)
Yếu tố nhân hòa của đại-vận (10 năm) trong Tu Vi
Nhân-hòa là thứ cách quan trọng sau yếu-tố Thiên-thời, nếu được Thiên-thời và
Địa-lợi nhưng không được phần "Nhân-hòa" thì dù bản-thân có may-mắn đến đâu
thì cũng phải bị nhiều vất-vả mới được thành-công, vì ít được sự trợ-giúp của bên
ngoài.
Phần này phải xem bộ Chính tinh Đại-vận có cùng hay khác thế lưỡng-nghi với bộ
Chính tinh của tam hợp Mệnh:
Nếu Chính tinh đồng bộ cùng phe phái lưỡng-nghi (như Tử-Phủ-Vũ-Tướng gặp
Sát-Phá-Liêm-Tham) thì khi chuyển vận gặp nhau ít thay-đổi, thêm Trung-tinh đắc
cách tam-hợp thì được hòa-thuận tốt đẹp.
Bằng như khác phe phái (như Cơ-Nguyệt-Đồng-Lương gặp Sát-Phá-Liêm-Tham)
thì hẳn là có sự đụng-độ và khó-khăn, phần thiệt-hại vẫn là phần của phe yếu thế là
Cơ-Nguyệt-Đồng-Lương; nếu gia thêm Sát-tinh nhập hạn thì sẽ gặp nhiều chuyện
không may.
Tư-thế của bốn bộ Chính tinh (Tứ tượng) trên muốn được thêm hoàn-mỹ và thànhcông thì cần phải có tối thiểu:
- Bộ T-P-V-T cần nhất là Tả-Hữu, Thai-Tọa
- Bộ S-P-L-T cần nhất là Thai-Cáo và Lục-sát-tinh


- Bộ C-N-Đ-L cần nhất là Xương-Khúc và Khôi-Việt
- Bộ C-N cần nhất là Hồng-Đào, Quang-Quý
* So-sánh hành Sao nhập hạn sinh hay khắc với hành Mệnh, bộ Sát-Phá-LiêmTham mỗi khi nhập hạn thường có những cuộc thăng-trầm khá quan-trọng xẩy ra.
Luận về Lưu niên đại hạn trong Tu Vi
Ngoài cách xem các đại vận 10 năm ra, nếu muốn xem đại vận một cách tường tận
hơn thì phải xem cả lưu đại hạn của từng năm một.
Nếu muốn biết xem lưu đại vận từng năm một của mỗi 10 năm đại vận thì phải
khởi năm thứ nhất từ con số đầu ghi ở cung gốc đại hạn muốn xem, tính tiếp sang
cung xung chiếu của cung gốc hạn là năm thứ hai, sau đó:
Dương Nam - Âm Nữ : Từ năm thứ hai ở cung xung chiếu lùi lại một cung (theo
chiều nghịch kim đồng hồ) là năm thứ ba, xong trở thuận lại cung xung chiếu ghi
số tiếp năm thứ tư, rồi tiếp tục theo chiều thuận ghi tiếp mỗi cung một số cho các
năm kế tiếp cho đến cung gốc của đại hạn sau.
Xem bảng thí dụ cách tính lưu đại vận của 10 năm đại vận từ 22 đến 31 tuổi của
tuổi Dương Nam / Thủy Nhị Cục bên trái dưới đây.
Âm Nam - Dương Nữ : Từ số của năm thứ hai ở cung xung chiếu tiến lên một cung
(theo chiều thuận kim đồng hồ) ghi số kế tiếp là năm thứ ba, xong trở lùi lại cung
xung chiếu ghi số tiếp năm thứ tư, rồi tiếp tục theo chiều nghịch ghi tiếp mỗi cung
một số cho các năm kế tiếp cho đến cung gốc của đại hạn sau.
Luận về Lưu niên tiểu vận (1 năm) trong Tu Vi
Trong lá số Tử Vi, chung quanh phần địa bàn (trung tâm của lá số) kế bên ô mỗi
cung đều được ghi 1 địa chi (ví dụ Tý-Sửu-Dần-Mão ...) theo chiều nam thuận nữ
nghịch, đó chính là năm tiểu vận tại mỗi cung của đời người - ví dụ năm Kỷ Mão


thì xem tiểu vận tại cung có ghi chữ Mão, năm Canh Thìn thì xem tiểu vận tại cung
có ghi chữ Thìn ...
Khi xem tiểu vận phải xem phối hợp với cung gốc của 10 năm đại vận của tiểu vận
đó. Tiểu hạn (dầu tốt hay xấu) chỉ phụ giúp thêm hay làm giảm bớt 10% ảnh hưởng
của Đại vận.
Mỗi tiểu hạn, chúng ta cần phải so sánh đến các tương quan giữa Can Chi của tuổi
với Can Chi của năm nhập hạn vaø ngũ hành của các sao nhập hạn, sau đó phải so
sánh hành bản mệnh với hành của cung tiểu vận nhập hạn theo bảng dưới đây để
biết được tiểu vận đó tốt hay xấu.
So sánh hành Can của tuổi và Can năm nhập hạn (gốc, quan hệ)
So sánh hành Chi của tuổi và Chi năm nhập hạn (ngọn, thứ yếu)
So sánh hành bản mệnh và hành của năm hạn (tính theo nạp âm) để biết mức độ
đắc thất.
So sánh Can của tuổi và Hành sao nhập hạn phụ thêm để quyết định.
Phụ luận :
Trong đời người từ nhỏ đến 60 tuổi có 5 lần gặp năm Thiên khắc Địa xung nhưng
chỉ có 2 lần xung quan trọng là Năm 43 tuổi (hàng Can bị sinh xuất) và Năm 67
tuổi (hàng Can bị khắc nhập) vừa là giai đoạn gặp Thiên thương hay Thiên sứ.
Còn Năm 49 tuổi thường xấu vì tuy hàng Can của năm được sinh nhập (hưng
vượng) nhưng hàng Chi lại nằm ở thế Phá Hư (không đắc ý) nên khiến cho từ chổ
thành công mà lại đưa đến chỗ thất bại bất mãn; chẳng khác gì cây bị úng nước, rể
phải hư và ngọn bị héo tàn.
Từ 49 đến 50 tuổi, 53 đến 60 tuổi và từ 67 đến 70 tuổi là ba đoạn đường đổ dốc để
lượn lên các ngôi sơ thọ (50) - trung thọ (60) và thượng thọ (70) luôn luôn có
Thương cung Nô và Sưù cung Ách là hai đồn canh đứng chặn giữa ba đoạn đường


đại vận này để kiểm soát suôi ngược.
Người lái xe phải lành nghề (vòng Thái Tuế) vững tay lái, xe không ham chở nặng
(Quyền Lộc) thì mới mong được an toàn.
Thương (thổ cung Nô) phụ tá của Thiên Sứ, gây ra tổn hại; có phần nào nhẹ tay
hơn Sứ (cho người có đại vận đi xuôi gặêp Thương trước).
Sứ (thủy cung Ách) thi hành lệnh gieo tai ách
Mức độ nặng nhẹ của Thương-Sứ thi hành nhiệm vụ là tùy thuộc vào các Sát tinh
nhập cuộc tại cung Nô và Ách như Văn Xương, Kình Dương (cung Tứ chính / các
tuổi Giáp Mậu Canh Nhâm), Không Kiếp, Thiên Không, Tang Môn ...
Ngoài ra trong 3 đại vận liên tiếp trên, ít nào cũng năm sáu lần tiểu hạn đụng đầu
Đào Hồng gặp Thiên không, Lưu hà và Kiếp Sát rất dễ gây ra sức ép với tuổi già.
Trừ phi Mệnh hay Thân đắc Thọ tinh hợp hành làm nồng cốt và không bị nghiệp
báo Hình Riêu, Không Kiếp lũng đoạn.
Trong đời người, cứ mỗi 12 năm thì có 3 năm liên tiếp gặp hạn tam tai, thường thì
hạn năm giữa là nặng nhất. Trong các năm nhập hạn tam tai thường gặp nhiều trở
ngại, rủi ro hoặc khó khăn trong công việc. Ngoài ra không nên tu tạo hay tậu mãi
nhà đất trong những năm hạn này. Còn việc hôn nhân, cưới hỏi thì ít bị ảnh hưởng.
Đây chỉ là những dự đoán về hạn xấu chung để mà phòng tránh thôi chứ không
chắc hẳn sẽ xảy ra như vậy.
Nếu năm nhập hạn trong lá số Tử Vi tốt thì hạn xấu của năm tam tai sẽ được giảm
bớt, ngược lại nếu năm hạn trong lá số xấu mà gặp thêm năm tam tai thì năm hạn
xấu sẽ càng xấu thêm.
Luận về Tuần (hỏa) / Triệt (kim)
Tuần Trung Không Vong là cây cầu nối tiếp giữa hai giai-đoạn, kiềm hãm bớt từ từ
lại, là trung gian kiềm chế, không cho quá trớn.


"Tứ chính giao phù kỵ nhất Không chi trực phá"
Triệt Lộ Không Vong là bao vây, ngăn cách từ cái xấu đến cái tốt, đã không cho
xâm nhập từ ngoài vào (xấu cũng như tốt) , mà còn phá đổ tất cả những gì trong
cung bị nó phong tỏa.
"Tam phương xung sát hạnh nhất Triệt nhi khả bằng"
(Không vong định yếu đắc dụng, nhược phùng bại địa chuyên khán phù trì chi
diệu, đại hữu kỳ công)
Tuần Triệt chỉ có thể làm giảm sự tốt đẹp của Cát-tinh hay tiêu-tán bớt sự xấu của
Hung-tinh, chứ không thể biến đổi tính cách của sao được, như biến Cát-tinh trở
thành Hung-tinh và ngược lại.
Tuần-Triệt có thể làm cho bộ SPT thành hiền dịu lại đôi chút, còn đối với CNĐL
thì làm cho bộ này trở nên chậm rãi, phấn-đấu hơi khó-khăn chứ không thể biến
đổi từ ôn-hòa trở nên hào hùng và khí-phách như bộ SPT được.
Tuần-Triệt cũng không thể thay-đổi tính-cách của vòng Thái-tueá được, nhưng các
sao trong tam-hợp Thái-tuế bị Tuần-Triệt phải tùy thuộc vị-trí mà thay-đổi tư-cách.
Trường-hợp những người chẳng may bị đặt để vào những vị-trí bất mãn (tam-hợp
Tuế-phá, Thiếu-dương, Thiếu-âm) dễ tự thiêu thân, làm những việc xấu (nếu gặp
SPT và Sát-tinh); được Tuần hay Triệt đóng khiến tự hạn-chế những tham-vọng và
hành-động của mình mà thuận theo đường lợi-ích, nâng cao tư-cách không kém gì
những người tam-hợp Thái-tuế.
Tuần-Triệt đóng giữa 2 cung trong tu vi, nghĩa là chỉ có liên-quan đến 2 cung đó
mà thôi.
Dương-Nam / Âm-Nữ = ảnh-hưởng Tuần-Triệt tại cung Dương 70% và tại cung
Âm 30%


Âm-Nam / Dương-Nữ = ảnh-hưởng Tuần-Triệt tại cung Dương 80% và tại cung
Âm 20%
Mệnh bị Tuần hay Triệt thiếu-niên tân-khổ, luôn gặp trở-ngại lúc đầu thực-hiện
công-việc.
Mệnh bị cả Tuần lẫn Triệt thì đời bị vùi xuống đất đen, không phải là Tuần-Triệt
phá nhau để cho đương-số được thong-thả.
Tuần-Triệt phá nhau dành cho những người thuận lý âm-dương:
Mệnh hay Thân có một Tuần hay Triệt, đến đại-vận từ 30 tuổi trở đi gặp Tuần hay
Triệt hay Triệt thì sẽ được tháo-gỡ cho hanh-thông, dầu chỉ là một vài năm (bất
chấp đến vòng Thái-tuế).
Trường-hợp người Dương đóng cung Âm (hoặc ngược lại) mà Mệnh-Thân có một
Tuần hay Triệt, khi đến đại-vận gặp Tuần hay Triệt thì thời-vận tốt mở làm hai lần
chậm chậm ở 2 cung đại-vận có Tuần hay Triệt đóng (mỗi đại-vận là 5 năm).
Mệnh Tuần Thân Triệt (hoặc ngược lại) không còn gì để tháo-gỡ; ngay cả khi đến
đại-vận Thái-tuế, ảnh-hưởng tốt đẹp cũng chỉ thỏa mãn 50% mà thôi.
Trên đây là kinh nghiệm về hai sao Tuần Triệt của học phái Thiên Lương trong
việc bình lá số Tử Vi, thật ra vấn đề đặc tính, ngũ hành và tác dụng của Tuần Triệt
hiện còn đang là những nghi vấn, đề tài gây ra nhiều tranh luận, tùy theo mỗi người
có lối tiếp thu, suy luận và khám phá riêng mà giải đoán.

Vấn đáp Tử Vi – Thiên Đức
PHONG CÁCH CỦA NGƯỜI GIẢI TỬ VI:
Điều quan tâm của người viết là làm sao lời giải đáp của mình đem đến cho các
bạn đọc một vài hửu ích áp dụng trong cuộc sống hằng ngày, thì chính điều đó là
thành quả và đạt được mục đích mà tòa báo đặt ra khi mở mục giải đáp tử vi này,
nếu bạn đọc quan tâm và có nghi vấn nào về vận mệnh củamình, trong khả năng
của người viết sẽ cố gắng giải đáp cho bạn đọc và mong mỏi bạn đọc góp thêm ý


kiến trước là vấn đề được sáng tỏ thêm sau là cùng nhau học hỏi nhất là trong lảnh
vực khoa học xã hội tùy theo cơ duyên và khả năng mỗi người lảnh hội được ít
nhiều rất khác nhau không ai giống ai và cũng không có vấn đề hơn kém trong lãnh
vực này.
Trở lại khoa tử vi do ông Trần Đoàn sáng lập cách nay đã lâu có quan niệm con
người sinh ra là do số mệnh tức là thiên mệnh đã định sẵn, vì thế vận mệnh của con
người hoàn toàn được giải đoán dựa trên căn bản lá số tử vi lập thành bởi ngày giờ
sinh của mình thuần túy không chịu ảnh hưởng bởi bất cứ yếu tố bên ngoài nào kể
cả vấn đề "nhân mệnh thắng thiên". Thế nhưng dần dần qua thời gian biến đổi quan
điểm này không còn thích hợp nữa vì lộ ra nhiều nhược điểm không hóa giải được
ví dụ như một người có vận hội tốt mà ở trong một căn nhà xấu, một môi trường
xấu cũng không thành công (Địa lợi), một cung quan và cung tài tốt đối với người
đàn bà cũng vô ích vì trước đây người đàn bà chỉ thuần túy lo việc bếp núc trong
gia đình, nếu người chồng thất nghiệp thì te tua (Nhân mệnh).
Riêng về thời mệnh lại càng không được chú ý đến mặc cho xã hội đổi thay. Trước
đây trong xã hội trọng nam khinhnữ, người phụ nữ bị ràng buộc bởi tam tòng "tại
gia tòng phụ,xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử" vì thế khi giải đoán lá số phụ nử chỉ
cần quan tâm 3 cung chính đó là cung PHÚC, MỆNH và PHU ngoài ra các cung
khác chỉ là thứ yếu kể cả cung thân của mình vì khi phụ nữ đã lấy chồng thì hoàn
toàn tùy thuộc vào hoàn cảnh gia thế chồng. Ngày nay xã hội hoàn toàn đổi thay,
quan niệm về nam nữ cũng hoàn toàn khác hẳn. Gia đình tạo dựng nên là do sự
đóng góp công sức của hai người, và người đàn bà trong gia đình mang nhiều trọng
trách hơn trước như là vấn đề góp gạo nấu cơm chung, tham gia xã hội kễ cả việc
nuôi dạy con cái. Vì thế khi giải đoán cung phu ở lá số nữ giới mất dần giá trị, trở
lại vị trí bình thường giống như cung thê ở nam giới mà thôi, cung Tài, Quan lại
thêm giátrị trong giải đoán. Và vấn đề thời mệnh phải được đặt ra đó là thời điểm
lúc đương sự sinh sống chứ không phải lúc giải đoán lá số, thời gian trưởng thành
cũng như thời gian đầu tư vào côngviệc, thời vận do xã hội đưa đến.
Xuất phát từ những khuyết điểm kể trên không lý giải được,nên ngày nay nếu luận
giải vận mệnh con người chỉ căn cứ trên lá số tử vi thì chỉ chỉ nói lên được phần
thiên mệnh mà thôi giá trị thực tế đi vào vận mệnh con người không cao vì ngoài
Thiên mệnh con người còn chịu ảnh hưởng của Địa mệnh tức là môi trường sống


địa lý phong thủy, thời mệnh là thời gian và thời điểm xã hội của đương số và cuối
cùng là nhân mệnh tức là yếu tố tích cực của người này tham gia vào xã hội. Nếu là
một người có vận hội tốt mà gặp phải bịnh lười, chán nản hay ỷ lại vào người thân
thì la ùsố tốt cũng vô ích.
Đúc kết các vấn đề trên người viết đã tự mình đưa ra một phong cách giải đoán
mới hoàn toàn có tính khách quan hơn, đó là giải đoán vận mệnh của một người
thông qua hàm số : Vận mệnh = f (Thiên mệnh, Thời mệnh, Địa mệnh, Nhân
mệnh) Tất cả các yếu tố đều có tầm quan trọng ngang nhau. Và để có cơ sở giải
đoán về nhân mệnh, thời mệnh thì nên tìm biết chứng tích của nó thông qua lảnh
vực tướng diện và bàn tay vậy. Đây là phương pháp giải đoán tổng hợp hiện nay
khả dỉ thỏa mãn nhu cầu giải đoán vận mệnh của con người trong khi chờ đời một
phương pháp giải đoán mới, hữu hiệu hơn xuất hiện. Rất mong bạn đọc cảm thông
lối giải đoán của người viết, thành thật cảm ơn.
PHÊ SỐ TỬ VI:
Bực chẳng nhẽ anh hùng khi vị ngộ
Như lúc đen chơi cuộc tổ tôm
Bài chạm thành cuối cánh phỗng ầm ầm
Ngôi thôi chẳng bốc quân rác rãnh
Cũng có lúc thông chi thời bát sách
Cũng có khi bạch định bốc yêu hồng
Cất bài lên ông lão lẩn về không
Không đâu cả gặp kề năm bảy phỗng
Cũng có ván tôm lèo lên chờ rộng
Vớ phải thằng bạch thủ phỗng tay trên
Gớm ghê thay đen thực là đen
Sắc như mác cũng thua thằng vận đỏ
May mắn nhễ hữu duyên năng tương ngộ
Bĩ cực rồi đến hội thái lai
Tiếng tam khôi chi để nhường ai
Hết bạch lại hồng thông mãi mãi
Nào những kẻ tay trên ban nẫy
Tới giờ thây lẩy dưới tay ta


Tiếng bài cao lừng lẩy khắp gần xa
Bát vạn người ta ai dám đọ
Thế mới biết cuộc đời đen có đỏ
Thời anh hùng vị ngộ có lo chi
Trước sau sau trước làm gì
Huyền nghĩa của nó là gì?
Bài Thái vi phú có câu: "Đẩu số chí huyền chí vi, lý chỉ dị minh, tuy thiết vấn ư
bách thiên nhi vị tận..." (Nghĩa là: Khoa đẩu số huyền diệu lắm, lý chỉ truy có vẻ rõ
ràng nhưng dù có xem cả trăm pho sách cũng chưa hết...)
Luận mệnh cần phải khơi đào đến chổ tinh tế mới mới có thể hạ đoán chính sác.
Luận mệnh ngoài hiểu biết về mệnh học còn phải là người tịch lịch thế sự. Việc đời
quanh co như ruột dê cần con mắt sáng như hổ để phát hiện. Từ ngữ và diệu thú
của từ ngữ là gì?
Lúc phê mệnh mà không có một từ ngữ chứa chan diệu thú thì việc phê mệnh đã
giảm đi quá nửa phần khuất phục tâm lý người có lá số được phê.
Hãy lấy tỉ dụ một cảnh biệt ly trong bài từ của Âu Dương Vĩnh Thục:
Ly sầu tiệm viễn tiệm vô cùng
Siêu siêu bất đoạn như xuân thủy
..... làm cho người đọc xúc động ngay và thấy ngay hình ảnh buồn thê thiết đó.
Cũng như phê mệnh con gái chìm nổi phiêu bồng bằng bốn chữ: Lưu thủy lạc hoa
(Nước chảy hoa trôi) hoặc nặng hơn: Lạc hoa ngộ vũ (Hoa rơi gặp bão) chỉû vào
những ai mang bệnh Đào Hoa, Không Kiếp, Linh Hỏa.
Từ ngữ khoa Tử Vi về phần chuyên môn đã có những câu phú đoán phú chữ nôm.
Nhưng về phần phê mệnh đòi hỏi ở tưởng tượng lực phong phú và khả năng từ ngữ
dồi dào cộng với đôi mắt quan sát bén nhọn của người phê. Mỗi lá số làm sao chỉ
cần phê vào đó bốn hoặc năm chữ hoặc cùng lắm là hai câu thơ bảy chữ mà phát
hiện ra một được một hình ảnh rõ rệt cho một đời người:


- Cuộc sống thế sự mang muôn hình vạn trạng mà có thể đem đến cho từng người
từng việc một hình ảnh chính sác thì quả là diệu thú của từ ngữ.
- Kẻ có tài lớn mà cô độc vô trợ được phê bốn chữ "Ngưu miên hoang vu" (Trâu
ngủ trong bãi hoang)
- Người luôn bị lỡ thời khinh miệt là hình ảnh "Phá phiến giao thu" (Quạt rách cuối
thu)
- Một nhà chính khách bù nhìn tượng gỗ vi như "Thạch thượng kim hoa" (Hoa
bằng sắt trên tảng đá)
- Cuộc đời trôi nổi là cuộc đời "Phù bình vũ loä" (Đám bèo trong mưa)
- Chỉ được một vận sáng đẹp trong thời gian ngắn là "Vũ lý hoa khai" (Hoa nở
dưới trời bão tố)
- Số dựa vào qúi nhân mà phát đạt gọi bằng: "Hồ giả hổ uy" (Cáo mượn oai hùm)
- Cùng đến cực rồi biến để thành oanh liệt là: "Thần kiếm hóa long" (Kiếm thần
biến ra rồng)
- Danh phận hiển đạt dễ dàng là "Bảo mã kim yên" (Ngựa tốt yên vàng)
- Số bôn ba tân khổ thất bại vẫn hoàn thất bại: "Đại lãng hành châu" (Thuyền nan
trong sóng lớn)
- Hội hợp đúng thời công thành danh toại: "Vân long phong hổ" (Rồng gặp mây,
hổ đựơc gió)
Còn muôn vàn hình ảnh khác. Qúi vị say mê số mệnh Tử Vi hãy đóng góp cho từ
ngữ của khoa này. Từ ngữ càng giàu càng nhiều diệu thú thì triết lý nhân sinh quan
mệnh học càng sâu sắc.


(Trích Tử Vi đẩu số toàn thư - Vũ Tài Lục bình chú)
ẢNH HƯỞNG CỦA CUNG NHỊ HỢP:
Khoa Tử vi do ông Trần Đoàn sáng lập rất lâu trước đây, căn cứ vào ngày tháng
năm sinh. Cách thành lập lá số tử vi thì có nguyên tắc chỉ dẩn rỏ ràng bất cứ ai theo
đúng sách vở đều có thể tự mình lấy cho mình một lá số tử vi, nếu có cùng một
ngày giờ sinh thì tất yếu sẽ có cùng một lá số giống nhau cho dù lá số đó do một
người chuyên nghiệp hay mới tập sự nghiên cứu. Thế nhưng khi giải đoán lá số thì
không giống nhau vì theo sách vở hiện tại phương cách giải đoán còn bỏ ngỏ tùy
theo cơ duyên, trình độ, và kinh nghiệm của người giải đoán mà sẽ có lời giải đoán
khác nhau.
Nói như vậy không hẳn trong khoa tử vi không có những nguyên tắc cơ bản để giải
đoán. Thật ra khoa tử vi cũng có đề ra những nguyên tắc cơ bản để giải đoán nhưng
rất là tổng quát theo thứ tự như sau:
1)- Xét Âm dương, Ngủ hành của hành bản mệnh, cục và hành cung bản mệnh để
biết nét đại cương cuộc đời.
2)- Xét cung tọa thủ so với hành bản mệnh để biết tổng quát tốt xấu của cung cần
giải đoán.
3)- Phối hợp với cung trực chiếu
4)- Phối hợp với các cung hội chiếu (Tam hợp)
5)- Sau cùng là phối hợp với cung Nhị hợp.
Để dễ hiểu về tầm mức quan trọng các cung này có thể xếp đặt giá trị tỷ lệ của nó
như sau: Cung tọa thủ (40%), Trực chiếu (30%), Tam hợp (20%) và Nhị Hợp
(10%). Vì với giá trị thẩm định chỉ có 10% nên những người giải đoán tử vi tài tử
hay thiếu chuyên tâm thường không để ý đến cung Nhị Hợp.
Sự thiếu chú ý này cũng có những nguyên do của nó vì rằng trên thực tế khi so
chiếu cân nhắc 4 cung trên gồm tọa thủ, trực chiếu và tam hợp cũng đã khó khăn
và rối rắm lắm rồi vì mức độ tốt xấu, khắc hạp rất lung tung thậm chí mâu thuẩn
nhau rất khó mà có lời kết luận vững chắc nay thêm cung Nhị hợp nữa thì càng khó
khăn hơn nữa..


Thật ra cung Nhị hợp vẫn có một giá trị thẩm định riêng của nó, đó là khi gặp
trường hợp bốn cung trên đều tốt đẹp hay xấu cả thì nên xét đến cung Nhị hợp để
có kết luận sau cùng. Nói một cách nôm na dễ hiểu ta cứ xem cung Nhị Hợp như là
lô an ủi sau cùng của giải xổ số thời vận vậy. Trường hợp này cũng tương tự như
trong khoa tướng diện có nói đến gọi là THANH TRUNG HỮU TROÏC nghĩa là
một người nhìn bề ngoài rất rất đẹp và hoàn mỹ thế nhưng nhìn kỹ vẫn có khuyết
điểm. Và trái lại là TROÏC TRUNG HỮU THANH: Một người tuy xấu xí nhiều
khuyết điểm về tướng diện nhưng nhìn kỹ vẫn có điều tốt, vì vậy khoan vội kết
luận một người trong giải đoán tử vi khi chưa xét kỷ càng về cung nhị hợp. Nếu 4
cung thủ, xung hợp chiếu tốt mà cung nhị hợp xấu sẽ rơi vào trường hợp Thanh
trung hữu trọc đưa đến kết quả TIỀN CÁT HẬU HUNG . Trái lại 4 cung trên xấu
cung nhị hợp tốt là Trọc trung hữu thanh đạt được TIỀN HUNG HẬU CÁT.
Khi xét 6 cặp cung nhị hợp (xét cả hai chiều thuận và nghịch) là: Tý-Sửu, DầnHợi, Mão-Tuất, Thìn-Dậu, Tỵ-Thân, và Ngọ Mùi. Thì nên chú ý hai trường hợp
quan trọng đó là Tý-Sửu và Ngọ Mùi vì ngoài giá trị Nhị Hợp nó còn là hai cung
giáp nhau nữa, một số chính tinh, phụ tinh nằm giáp nhau lại được thế nhị hợp có
tác dụng rất cao. Ngoài ra hai cung Dần-Hợi, Tỵ-Thân tuy là Nhị Hợp nhưng nó lại
nằm trong vị trí tứ hành xung thì tác dụng của nó lại có phần gia giảm. Như vậy tự
thân sau cặp cung Nhị hợp cũng đã có giá trị khác nhau. Đó cũng là thêm một lý do
khiến cho người giải đoán ít chú ý đến.
Lấy ví dụ :
Đi vào lá số tử vi của tuổi Bính Thân mệnh Sơn Hạ Hỏa sinh nhập Mộc Tam Cục
cùng với hành cung bản mệnh đóng tại Mão âm mộc một cuộc đời nhiều may mắn
thuận lợi. Mệnh cung Thái Âm hãm địa Hỏa Tinh Văn Khúc tọa thủ là người
không nhiều thông minh, tính tình có phần nóng nảy lại bướng bỉnh, thích văn
chương đa sầu lảng mạn, Cung Quan có Hồng Loan, cung Di thủ Đào Hoa thì
đương số là người có nhan sắc một bước ra đường có người đưa đón hay là có
người cận vệ tự nguyện.
Xét cung Phu Thiên cơ đắc địa tại Sửu như vậy đương số đúng ra lập gia đình sau
34 tuổi mới tốt đẹp tránh được xung khắc (Hóa Quyền, tướng quân tọa thủ,) người


chồng bác sỉ nhiều tài năng. Đằng này theo vận số đào hoa lại ham vui nên lở bước
(Thiên hỷ, Riêu Thai) đương số vội lấy chồng vào năm 22 tuổi khi tiểu hạn rơi vào
cung phu, chồng là một bác sỉ tài giỏi (Quốc Ấn Thiên y Thiên Hỷ) thế nhưng cuộc
sống gia đình thiếu hạnh phúc do chênh lệch trình độ và tính ý nên hai người cũng
đã sớm chia tay trong những năm 30-31 và đương số đã ở vậy cho đến nay. Năm
nay cung tiểu hạn đi vào cung Bào tại Dần Tử Vi Thiên Phủ miếu địa Thiên Quí
Lưu Thiên Mã trùng phùng với Thiên Mã là một năm may mắn mọi mặc, đương số
có thể tính toán thay đổi cuộc sống tương lai của mình bằng cách bước thêm một
bước nữa khi mà cung tiểu hạn năm tới lại rơi vào cung phu một lần nữa, những
xung khắc và vận hạn xấu qua rồi thì đương số khó mà từ chối được trước lời cầu
hôn chân tình của một người chủ nhà hàng xét theo cung nhị hợp với cung Phu đó
là cung Tử có đầy đủ Ân Quang, Long Trì, Thiên Trù, Tấu Thơ. Đây mới chính là
nguồn hạnh phúc an ủi vào cuối đời của mình. Âu là vận số vậy.
Đi vào hàm số hiện đương số chưa có định hương rõ ràng, nên thường hoài nghi về
hạnh phúc của chính mình. Thiên mệnh thuận lợi, Thời mệnh và địa mệnh vẫn
chưa thay đổi theo như định hướng của mình. Về nhân mệnh, đương số là người
nghiên cứu tử vi thì nên chìu theo vận số tức là chuẩn bị tâm lý để đón nhận cuộc
hôn nhân sắp tới cho dù người chồng sau này không có địa vị và danh phận bác sỷ
như người chồng trước nhưng vẫn an ủi là người sau này cũng có tài năng tạo nên
sự nghiệp và đương số còn nhiều cơ hội phát tính hỏa vượng của mình qua nghề
nấu bếp Nhà Hàng hơn là thực hiện đối với người chồng thì đó chính là điểm căn
bản để xây dựng hạnh phúc lâu dài sau một lần gảy đổ và đó chính là lô an ủi theo
cung nhị hợp vừa giáp chiếu của cô vậy. Chúc đương số hạnh phúc trong ngày
tháng tới.
TAI NẠN "TRINH TIẾT" :
Trước hết bất cứ là lá số phụ nữ nào khi cung Quan lộc hay cung Thân có Tuần hay
Triệt, bất luận về yếu tố sao, chắc chắn sẽ không còn là con gái trước khi về nhà
chồng.
Các lá số phụ nữ có các sao thuộc về dâm tinh thủ mệnh như Tham Lang, Thai,
Đào, Riêu, Cự, Kỵ, Xương Khúc, Hoa Cái, Mộc Dục thì trong trường hợp này
không coi là một tai họa, mà còn được họ coi là tự nhiên, một nhu cầu hay một sở


thích, không đặt vấn đề luân lý đạo đức.
Trường hợp được coi là tai họa khi ở Mệnh hay hạn có các sao Thai, Phục gặp
Không Kiếp chỉ sự bạo hành, cưỡng bức. Kinh nghiệm cho thấy hầu hết các lá số
bị tai nạn tập thể do hải tặc Thái Lan đều thấy có Đào Hồng gặp Hình, Riêu,
Không Kiếp.
Cự Môn và Hóa Kỵ hay Tham Lang và Hóa Kỵ chủ sự tình ngang trái mà sự thiệt
thòi về phần phái nữ.
Thai, Hình, Tang, Hổ chỉ sự hiếp dâm đi liền với án mạng, nghĩa là người con gái
sau khi bị bạo hành sẽ bị giết chết. Ý nghĩa của sao Thai khi đi chung với các sao
dâm dục khác còn mang ý nghĩa có thai của phụ nữ.
Tại sao có lá số "Mã ngộ Khốc Khách" mà lại nghèo, công danh thất bại?
Mã là ngựa, Khốc-Khách là tiếng nhạc ngựa đeo, khi ngựa chạy thì nhạc rung mà
phát ra tiếng. Nhưng ngựa có no thì mới chạy được, ví như xe của ta ngày nay phải
có nhiên liệu thì mới chạy, muốn có nhiên liệu cho xe thì ta phải có tiền, một chiếc
xe hết xăng mà trong túi ta lại không có lấy một xu, thì chiếc xe lúc ấy trở thành vô
dụng.
Bởi vậy muốn được hưởng Mã ngộ Khốc-Khách cho đúng cách thì trong tam hợp
với Mã-Khốc-Khách phải có Lộc Tồn, tùy theo ở Mệnh hay ở hạn mà cách MãKhốc-Khách sẽ được hưởng lâu dài hay ngắn hạn.
Mã ngộ Khốc Khách mà không có Lộc Tồn là tiếng rên của ngựa chết đói.
Mệnh và Thân khác Tam Hợp
Mệnh và Thân không cùng thuộc tam hợp (như Thân cư Phúc Đức, Thân cư
Phối...) luôn luôn là người có hai nghề nghiệp song hành trong đời (tệ lắm cũng là
người có một nghề chính thức và một nghiệp phải đam mê theo đuổi).
Tùy theo mức độ của cung Mệnh (và Thân) so với vòng Thái Tuế, mà biết được cái
nghề (do Thân) hay cái nghiệp (do Mệnh) có chính đáng không? Nghề Thiên


Không (là Thân lấn) thì nghiệp Long Đức (Mệnh lùi) có vay thì có trả!
Nghề Tuế Phá và nghiệp Thái Tuế (hay ngược lại) là mẫu người có nhân cách đôi,
rất ít khi gặp may mắn kéo dài, cũng bởi không dứt điểm được với những ràng
buộc phức tạp trong cuộc sống!
Mệnh vô chính diệu:
Lá số vô chính diệu là một trong những lá số khó giải đoán nhất, và từ trước cho
đến nay vẫn là một vấn đề tranh cải và còn bỏ ngỏ vì chưa có lời giải đáp thuyết
phục. Hiện nay tùy theo kinh nghiệm của mỗi người để giải đoán lá số vô chính
diệu, chưa có một cách giải đoán chính thức bởi các lý do như sau:
- Chưa có sự lý giải chính thức về mức độ tốt khác nhau và tốt về phương diện nào
theo số lượng sao Không thủ chiếu cung vô chính diệu?
- Tác dụng của các sao Không này đối với chính tinh trực chiếu ra sao?
- Giá trị của chính tinh trực chiếu so với giá trị của phụ tinh tọa thủ ra sao?
- Phải chăng 4 Không (Thiên Không, Địa Không, Triệt Không và Tuần Không) có
giá trị như nhau?
Để trả lời cho những vấn đề này chúng ta nên tìm hiểu vô chính diệu là như thế
nào?
Cung vô chính diệu là cung mà không có chính tinh tọa thủ. Theo khoa tử vi có tất
cả 14 chính tinh phân phối đều 12 cung như vậy thông thường trong một lá số, mỗi
cung có một chính tinh tọa thủ và quản lý chi phối cung đó, và hai cung là có 2
chính tinh đồng quản lý. Trong trường hợp có hơn hai cung mà có hai chính tinh
tọa thủ thì sẽ có cung thiếu chính tinh như vậy sẽ cung thiếu chính tinh sẽ rơi vào
trường hợp vô chính diệu. Và cung vô chính diệu là cung bị thiệt thòi vì không có
sự tác động của chính tinh như là con thuyền không lai hay miếng đất chưa khẩn
hoang.


Trường hợp cung vô chính diệu lại rơi vào cung mệnh hay thân thì mức độ ảnh
hưởng lại quan trọng hơn. Theo suy luận trên đưa đến hệ quả là cung vô chính diệu
vì không có sự quản lý của chính tinh nên mọi sự giải đoán tại cung này khác hẳn
với cung có chính tinh tọa thủ.
Hiện nay có hai khuynh hướng giải quyết sự việc này:
- Khuynh hướng thứ nhất cho rằng cung vô chính diệu có chính tinh đắc địa chiếu
mới tốt hơn chính tinh hãm địa. Và chính tinh đắc địa là căn cứ vào vị trí tọa thủ
chứ không căn cứ vào cung chiếu vô chính diệu.
- Khuynh hướng khác cho rằng phải có hung sát tinh hợp hành bản mệnh mà không
bị Tuần Triệt án ngữ mới tốt. Theo ý kiến và kinh nghiệm riêng của người viết có
nhận xét như sau:
+ Không có trường hợp nào cung vô chính diệu lại gặp cung trực chiếu cũng vô
chính diệu. Như vậy cung vô chính diệu luôn luôn có chính tinh trực chiếu.
+ Vì cung vô chính diệu khiếm khuyết chính tinh do vậy chỉ nên căn cứ vào số
lượng sao Không thủ chiếu và chính tinh trực chiếu để giải quyết. Các phụ tinh dù
là cát tinh hay hung tinh vì chịu ảnh hưởng của nhiều sao Không thủ chiếu nên
mức độ tốt xấu đã thay đổi, không còn thuần nhất như ở cung chính diệu.
+ Các sao Không ở cung vô chính diệu ngoài ý nghĩa cơ bản của nó, nó còn có ý
nghĩa bổ khuyết trong trường hợp thủ chiếu cung vô chính diệu, về mặt lý thuyết
THIÊN, ĐỊA, NHÂN.
. THIÊN: đó là sao Thiên Không nói về thiên thời tùy theo vị trí đắc địa hay hãm
địa.
. ĐỊA: Đó là Địa Không nói về môi trường sống và hoạt động
. NHÂN: Triệt Không (cuộc sống trước 30 tuổi) Tuần (cuộc sống sau 30 tuổi) Như
vậy tùy theo số lượng và ý nghĩa của sao Không chỉ nên được lý giải tốt xấu do sự
hiện diện của các yếu tố Thiên Địa Nhân đắc địa và hãm địa.Và các sao này chịu


ảnh hưởng trực tiếp của cung tọa thủ chứ không phải cung chiếu mà cũng không
phải hành bản mệnh của đương số.
Tóm lại lá số vô chính diệu hiệu nay vẫn còn nhiều nghi vấn mà câu trả lời vẫn còn
trong tìm kiếm và sự đóng góp của các bậc thức giả quan tâm. Thân chào bạn đọc
Tướng Số Thiên Đức Đốc Nguyễn
Khi Nào Tôi Lập Gia đình ?
Tuổi trẻ đi học mong đỗ đạt thành tài. Khi ra trường kiếm được tiền, tâm hồn lâng
lâng trống trải như thiếu thốn tình cảm, tình dục căng đầy nhưặ sống. Ai cũng thắc
mắc làm thế nào để được mái nhà, có vợ đẹp, ông xã học giỏi tài cao.
Câu hỏi đầu tiên, nhờ thầy đoán dùm liệu năm nào tôi lập gia đình? Thầy ngắm
nhìn thân chủ như muốn xem tướng. Nhìn lá số Tử Vi tìm kiếm bộ Nhật-NguyệtĐào-Hồng-Hỷ ở chổ nào? Rồi xem đại vạn có Sát-Phá-Liêm-Tham? Thầy thở nhẹ
vì mình sẽ làm vừa lòng thân chủ. Chưa chắc ăn đâu, vì năm lập gia đình thấy vậy
mà rắc rối vô cùng. Ngoài lệ công thức của tiền nhân, đôi khi ở trong nghịch cảnh
nữa vì chồng chết hoặc mất tích ở mặt trận, thấy vụ đau buồn không dám đoán là
hôn nhân.
Vậy cách nào trong khoa Tử Vi cho biết hôn nhân?
Khi xưa ở nông thôn Việt Nam việc dựng vợ gả chồng hiếm có giá thú, xã hội Mỹ
trai gái sống chung để tìm hiểu nhau. Việc lập gia đình xét về mặt thực tế là đám
cưới hoặc trở thành vợ chồng ăn ở lâu dài. Còn như xã hội Mỹ có tính cách giai
đoạn, thì pháp lý kể như lập gia đình. Khoa Tử Vi muốn nói tình già, kề nhau than
thở. Thật ra rất khó đoán đúng vì nó có nhiều giai đoạn kết hợp, khi hết yêu thì ly
hôn. Cho nên chúng ta dè dặt phải phối kiểm cả hai lá số. Có nhiều người tha thiết
mong mỏi cứ hết năm này đến năm mới, một vì bản tính chọn lựa chưa hợp ý, hai
bị từ chối vì trèo cao, lại nữa tình nghèo nên chùn bước.
Thực ra các yếu tố trên hoàn toàn nằm trong tiểu vận. Huyền diệu thay, năm hạn
đầy ý nghĩa cho việc suy tính của lòng người. Tuy nhiên, ưu tiên thứ nhất của việc


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×