Tải bản đầy đủ

hay kythuatxemtuvidongian

Tử Vi giản dị, kỹ xảo thiên
Phan Học Sơn
Ngày 14 tháng 2 năm 2011


Mục lục
1 Mở Đầu
1.1 Lời nói đầu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
1.2 Lời người dịch . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

2
2
4

2 Tổng Quan
2.1 1- Lập lá số . . . . . . . . . . . . . . .
2.2 Giới thiệu các sao: . . . . . . . . . . .
2.3 Làm quen với các cách cục . . . . . .
2.4 Giới thiệu các thuật ngữ cơ bản . . .

.

.
.
.

.
.
.
.

.
.
.
.

5
5
6
7
8

3 Quyển I: Cung Vị Trọng Điểm
3.1 Tổng Quan . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
3.2 Chuyện tình cảm của cô Kha . . . . . . . . . . . . . . . . . .
3.3 Cuộc Hành Trình Sang Đại Lục Của Sư Huynh . . . . . . . .
3.4 Vấn Đề Của Thầy: Một Bức Thư Của Độc Giả Từ Hongkong

.
.
.
.

.
.
.
.

9
9
14
18


26

4 Quyển 2: Phép nhập quái
4.1 1. Người . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
4.2 2. Vật . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
4.3 Đoán Số Mạn Đàm: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
4.3.0.1 Cách Vận Dụng Phép Nhập Quái . . . .
4.3.0.2 Kẻ Vô Ơn: Ông Trương Bỏ Nhà Bỏ Con
4.3.0.3 Phong Thủy Nơi Ở . . . . . . . . . . . .

.
.
.
.
.
.

.
.
.
.
.
.

27
27
27
27
27
27
27

1

.
.
.
.

.
.
.
.

.
.
.
.

.
.
.
.

.
.
.
.

.
.
.
.

.
.
.
.

.
.
.
.

.
.
.
.

.
.
.
.

.
.
.
.

.
.
.
.

.
.
.
.
.
.

.
.
.
.
.
.


Chương 1

Mở Đầu
1.1

Lời nói đầu

Khi bái sư học thuật, ai cũng muốn học lấy bí quyết tuyệt diệu từ thầy hòng
nắm lấy tất cả các mật quyết. Nên từ xưa tới nay, người mà học thuật càng
cao thâm thì càng nhiều người muốn tìm đến bái làm sư phụ. Mọi người đều
cho rằng, cứ được sư phụ chân truyền thì đều có thể trở thành thiên hạ đệ nhất
nhân.
Trong xã hội hiện nay, chúng ta thấy tình trạng như vậy rất nhiều, nơi nơi
mở lớp chiêu sinh, các đệ tử nô nức đi tìm thầy học đạo. Chúng ta mỗi ngày
phải đối mặt với các vấn đề của nhân sinh, thế tục như các biển hiệu “cổ truyền
mật phương, không có chi nhánh” được trưng bày đầy rẫy trên các đường phố.
Dù ở những nơi phồn hoa nhất, cũng thấy nhan nhản trên các bãi trống đầy
rẫy các “bảng hiệu danh truyền.”
Truy đến gốc các nguyên nhân xảy ra các hiện tượng này, vấn đề quan trọng
nhất vẫn là phải đưa ra những bí quyết giúp người khác nhanh chóng đạt đến
đạt hiệu quả học thuật vượt trội. Có nhiều người muốn trưng biển “lớp học bảo
đảm chất lượng” để hấp dẫn khách hàng, bảo đảm “khách hàng có được bằng lái
thì sẽ biết lái xe”, để bảo đảm “thi đại học nhất định có tên trong bảng vàng”,
“Giảm béo bảo đảm thành công”. Nhưng nghĩ kĩ, nếu những người bỏ những
khoản tiền lớn như vậy đề cầu thầy dạy, nhưng trong lòng chỉ vì hai chữ “bảo
đảm” mà không thèm bỏ công sức ra học, thì hai cái chứ “bảo đảm” có đạt đến
hiệu quả hay không? Nếu cứ mê muội vào hai chữ bảo đảm, thì sợ rằng cái thất
bại càng thảm hại hơn.
Có một câu nói rằng, “người thầy hướng dẫn ta con đường học, nhưng việc
tu hành là ở mỗi cá nhân con người”, chúng ta cần hiểu rõ điều này. Hãy thử
nghĩ từ kinh nghiệm của các tiền nhân, những người mà đã tốn rất nhiều thời
gian, công sức, gặp rất nhiều thất bại để đạt được thành quả học thuật, nếu
đem so với những người thầy ta bái một cách tùy tiện ở các lớp “bảo đảm”, thì
có thể sánh nổi hay không? Những cái mà những người thầy cho chúng ta chỉ
có thể là các kinh nghiệm của họ, những kinh nghiệm mà có thể làm cho chúng

2


CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU

3

ta càng phạm sai lầm, đi vào ma đạo dù chính họ cũng không muốn.
Để có được những thành tựu về học thuật, vì vậy quan trọng nhất vẫn là dựa
vào nỗ lực bản thân tự mình luyện tập hết sức. Trong mỗi lãnh vực học thuật
cũng như nghề nghiệp đều có những biến hóa, áp dụng một cách vô thường. Cái
môn Tử Vi Đẩu Số cao thâm bất biến đối với một người sơ học mà nói, khi cầm
một lá số đều thấy mờ ảo mông lung và thường không biết nên bắt đầu từ đâu.
Để có thể nhìn ra sự khác biệt, những biến hóa của nó, cũng như đạo lý đằng
sau, ngoài việc học từ các cái sai thì người học cần phải hiểu các quy tắc và các
cách tận dụng các kỹ thuật suy luận, đồng thời tin tưởng vào Đẩu số như các
môn học khác. Những cái như là các kỹ thuật suy luận đẩu số mà chúng tôi sẽ
nói đến dưới đây bao gồm các vấn đề sau:
1. Vị trí cung trọng điểm: tức là làm thế nào để xác định được một hoặc
hai cung có giá trị phán đoán nhân quả.
2. Phép nhập quái: làm thế nào để đưa các dữ kiện của một người liên
quan vào trong một lá số, chỉ ra tính khác biệt mà phán đoán ra kết quả.
3. Phép ba tầng: thế nào là bản mệnh, đại hạn, lưu niên và quan hệ giữa
chúng. Dự doán một sự kiện cần vận dụng như thế nào.
4. Định cung: tại một thời điểm, nếu mà đồng thời có hai sự việc đồng thời
thì chúng ta làm sao phân tách ra được tốt xấu của từng việc.
5. Mượn cung: khi mà không có cách nào biết được các dữ kiện liên quan
thì chỉ từ một lá số có thể có cách nào suy luận ra sự sai khác, dị biệt của
nó để đi ra kết quả được không?
6. Kỹ thuật dẫn động:dưới sự tác động lẫn nhau của hạn vận lộc kị, thì
làm thế nào để phán đoán và kết quả suy ra được liên có khác nhau không
7. Các kỹ thuật khác: ví dụ vận dụng Đẩu Số để bốc quẻ không?
Thông qua cuốn sách này, hi vọng ngoài việc đưa ra các kỹ xảo về luận mệnh,
còn có thể cung cấp cho bạn đọc cách lập lá số, các tính chất cơ bản của sao,
cách cục, cũng như giới thiệu sơ bộ về các thuật ngữ cơ bản để từ nay có thể
nhất quán trong cách hiểu các thuật ngữ đó cũng như có một hệ thống thuật
ngữ thống nhất cho tử vi. Đồng thời tác giả cũng đưa ra một vài nhận xét riếng
của mình về một số các trọng điểm trong việc đoán mệnh.
Tác giả xin cảm ơn.
Phan Học Sơn


CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU

1.2

4

Lời người dịch

Nhân một cơ duyên chúng tôi được biết đến trường phái Tử vi Đài Loan và giai
đoạn trăm hoa đua nở vào những năm 90 của thế kỷ trước, thông qua tiến sĩ
Đằng Sơn và chuỗi các bài dịch của ông.
Trong số các tác giả của giai đoạn này nổi bật nhất là Tử Vân, và một trong
những thành tựu quan trọng nhất của ông chính là lý thuyết cung trọng điểm.
Tôi nhận thấy đây là những kĩ thuật tử vi rất độc đáo, sáng tạo, đồng thời
có rất nhiều tương tác với các kỹ thuật cổ điển khác trong Tử Vi Việt Nam như
lý thuyết sao rung, sao treo, lý thuyết mệnh chủ...
Trong một chuyến công tác tại Học Viện Công Nghệ Massachusetes (MIT),
tôi nhận thấy một số ý tưởng xuất hiện trong vật lý toán có thể được áp dụng
sang lãnh vực Tử Vi Đẩu Số. Nếu ta nghĩ về một cung vị như là một sao (sẽ
có rất nhiều người phản đối ý tưởng này), tương tự như việc nghĩ về lý thuyết
xem vận/di cung kiểu Đài Loan theo Lưu Thái Tuế và các phiên bản suy rộng
của chúng là như trường hợp suy rộng của Thái Tuế Nhập Quái, thì lý thuyết
cung trọng điểm đóng vai trò tương tự như là lý thuyết mệnh chủ.
Hệ quả, tôi hi vọng rằng có thể sử dụng các ý tưởng và kỹ thuật của lý
thuyết mệnh chủ (sao treo, sao rung) sang bên lý thuyết cung trọng điểm và
ngược lại, có thể sử dụng các công cụ, ý tưởng và kỹ thuật của lý thuyết cung
trọng điểm, đem suy rộng lên, và áp dụng sang lý thuyết Mệnh Chủ và tạo ra
được sự phát triển mới trong lãnh vực. Đây là bài toán hoàn toàn mở, ít nhất
là với hiểu biết sơ học của chúng tôi.\
Quan điểm của chúng tôi, cách nhanh nhất để học một lý thuyết là thực
hành tính toán thông qua một ví dụ không tầm thường. Vì vậy, nhận thấy rằng
tác phẩm của tác giả Phan Học Sơn chứa rất nhiều ví dụ tường minh, chúng tôi
cho rằng đây là một cuốn sách rất tốt và thú vị để độc giả có thể nghiên cứu. Vì
vậy, tôi cùng một người bạn đã quyết định dịch tác phẩm này sang tiếng Việt,
với hy vọng có thể giới thiệu với độc giả người Việt nói chung và giới Lý học
phương Đông nói riêng tuyệt tác này của Phan Học Sơn.
Chúng tôi hy vọng độc giả, những nhà nghiên cứu Lý học phương Đông, có
thể tiếp tục nghiên cứu và phát triển lý thuyết này.
Whitebear
University of California, Berkeley
USA


Chương 2

Tổng Quan
2.1

1- Lập lá số

• 1- Đầu tiên cần phải hiểu:
10 Thiên can là: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý.
12 Địa chi là: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất,
Hợi.
• 2- Chuyển ngày tháng năm sinh (âm lịch) của mình thành cách tính theo
thiên can, địa chi. Ví dụ: Người sinh năm 56 (năm Dân quốc?->1967), tức
là năm Đinh Mùi; người sinh năm 43 tức là năm Giáp Ngọ.
• 3- Lần lượt điền 12 địa chi theo vòng tròn trên một tờ giấy trắng. (Hết
trang 8) Tỵ Ngọ Mùi Thân Thìn Giờ, ngày sinh Dậu Mão Cục Tuất Dần
Sửu Tý Hợi
Tỵ
Thìn
Mão
Dần

Ngọ

Mùi

Sửu



Thân
Dậu
Tuất
Hợi

• 4- Tiếp theo, dựa vào thiên can theo năm sinh để điền vào các cung theo
chi (bắt đầu từ Dần) giống hình vẽ:

5


CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN

6

Niên Can/Cung vị
Dần

Giáp/Kỷ
Bính

Ất/Canh
Mậu

Bính/Tân
Canh

Đinh/Nhâm
Nhâm

Mậu/Quý
Giáp

Mão
Thìn

Đinh
Mậu

Kỷ
Canh

Tân
Nhâm

Quý
Giáp

Ất
Bính

Tỵ
Ngọ

Kỷ
Canh

Tân
Nhâm

Quý
Giáp

Ất
Bính

Đinh
Mậu

Mùi
Thân

Tân
Nhâm

Quý
Giáp

Ất
Bính

Đinh
Mậu

Kỷ
Canh

Dậu
Tuất

Quý
Giáp

Ất
Bính

Đinh
Mậu

Kỷ
Canh

Tân
Nhâm

Hợi


Ất
Bính

Đinh
Mậu

Kỷ
Canh

Tân
Nhâm

Quý
Giáp

Sửu

Dinh

Kỷ

Tân

Quý

Ất

• Với người sinh năm Bính Ngọ, trên lá số người đó, tại cung Dần, điền
Canh; với người sinh năm Quý Mão, điền Giáp. Để tiện giải thích, chúng
ta lấy người A (sinh ngày 16/8/43, tức người sinh giờ Thìn) làm ví dụ.
(hết trang 9)
Ví dụ:
Kỷ Tỵ
Mậu
Đinh Mão

Canh Ngọ
năm Giáp Ngọ

Tân Mùi
1*2+1=Bính

Nhâm Thân
Quý Dậu
Giáp Tuất

Bính Dần

Đinh Sửu

Bính Tý

Ất Hợi

• Cách tìm vị trị Mệnh Thân: xuất phát từ cung Dần, đếm xuôi đến tháng
thì dừng lại, coi là giờ Tý, rồi đếm ngược đến giờ sinh thì đó là cung an
Mệnh, đếm xuôi thì đó là cung an thân.

2.2

Giới thiệu các sao:

Hiểu được ý nghĩa và đặc tính của các sao là điều kiện đầu tiên để bước vào
thế giới đẩu số. Tuy nhiên trong đẩu số, tính gộp tất cả các sao lớn nhỏ lại, có
tới hơn một trăm ngôi sao, để hiểu cặn kẽ cũng như có thể vận dụng linh hoạt
tính chất các sao không phải là chuyện dễ dàng. Từ thực tiễn quá trình đoán
mệnh, chúng ta sẽ thấy, thật ra chỉ có 37 ngôi sao là thường xuyên phải dùng
tới. Nắm vững được tính chất của 37 sao này kể như tạm đủ để giải đoán một
lá số. Một số người cho rằng, một nghìn ngôi sao nhỏ cũng không thắng nổi sức
ảnh hưởng của một ngôi sao lớn, vì thế cần gì bày cả trăm ngôi sao trên một lá
số để làm nhiễu quá trình suy đoán cũng như gây ra những giải đoán sai lầm
chỉ vì bận tâm vào một vài ngôi sao không chủ chốt.
Dưới đây, chúng tôi sẽ giới thiệu sơ lược về 37 ngôi sao thường dùng, phân
loại lần lượt như sau:


CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN

7

14 Chính Tinh (Chủ Tinh): tử vi, thiên cơ, thái dương, vũ khúc, thiên
đồng, liêm trinh, thiên phủ, thái âm, tham lang, cự môn, thiên tướng, thiên
lương, thất sát, phá quân.
6 cát tinh: tả phù, hữu bật, văn xương, văn khúc, thiên khôi, thiên việt.
6 sát tinh: kình dương, đà la, địa kiếp, địa không, hỏa tinh, linh tinh.
tứ Hóa tinh: Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kỵ
sao khác: lộc tồn, thiên hình, thiên diêu, hồng loan, thiên hỉ, đào hoa, thiên
mã.
Sao tử vi

2.3

Làm quen với các cách cục

Một số cách cục tử vi quan trọng:
• (1) Quân thần khánh hội Tam phương tứ chính có Tử vi, Thiên phủ, Thiên
tướng, Tử phù, Hữu bật và các cát tính khác hội.
• (2) Nhất hô bách nặc cư thượng phẩm Tử vi có hai sao Tả phù, Hữu bật
phù tá.
• (3) Dương Lương Xương Lộc Tam phương tứ chính có 4 sao Thái dương,
Thiên lương, Văn xương và Lộc tồn (hoặc Hóa Lộc).
• (4) Nhật Nguyệt tịnh minh Tam phương hoặc tứ chính có hai sao Thái
dương và Thái âm. Đồng thời hai sao này đều tọa thủ ở vị trí vượng địa.
• (5) Thạch trung ẩn ngọc Cự môn tọa thủ cung Tý hoặc cung Ngọ.
• (6) Tọa quý hướng quý Chỉ cung vị này có Thiên khôi mà cung đối lại có
Thiên việt.
• (7) Tam kỳ gia hội Tam phương tứ chính có Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa
Khoa.
• (8) Hỏa Tham Linh Tham Tam phương tứ chính có Hỏa tinh, Linh tinh
và Tham lang
• (9) Mã đầu đới tiễn Chỉ sao Kình dương tọa thủ cung Ngọ nhưng có Lộc
tinh tọa thủ hoặc hội nhập.
• (10) Thất sát ngưỡng Đẩu Thất sát tọa thủ cung Dần hoặc Thân.
• (11) Quan tư thanh hiển Thiên lương tọa thủ cung Ngọ, lại có cát tinh
hội chiếu.
• (12) Linh Xương La Vũ Tam phương tứ chính có Linh tinh, Văn Xương,
Đà la, Vũ khúc (Đà la có thể thay thế bằng các sao Hóa Kỵ)
• (13) Quả túc Tam phương tứ chính có Vũ khúc, Hỏa tinh.


CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN

8

• (14) Cơ Lương Kình dương hội Tam phương tứ chính có Thiên cơ, Thiên
lương và Kình dương
• (15) Nhân ly tài tán Tam phương tứ chính có Thái âm và Kình dương.
• (16) Chiết túc mã Chỉ tổ hợp Đà la ngộ (gặp) Thiên mã.
• (17) Chung thân ích tử Tam phương tứ chính có Cự môn, Hỏa tinh và
Kình dương.
• (18) Lãng lý hành chu Chỉ sự gặp gỡ của hai sao Kiếp và Không.
• (19) Nhật Nguyệt phản bối Chỉ Thái Dương và Thái âm khi ở vào các
cung vị yếu, hiểm.
• (20) Quân thần bất nghĩa Tam phương tứ chính có Tử vi và Phá quân.
• (21) Tử Phủ Tướng Tam phương tứ chính có Tử vi, Thiên phủ và Thiên
tướng.
• (22) Sát Phá Lang Tam phương tứ chính có Thất sát, Phá quân, Tam
lang.
• (23) Cơ nguyệt đồng lương Tam phương tứ chính có Thiên cơ, Thái âm,
Thiên đồng và Thiên Lương.
• (24) Cự Nhật Tam phương tứ chính có Thái dương và Cự nhật. Tổ hợp
hai sao này có ý nghĩa: trong sự cạnh tranh, khó khăn, sẽ có thể vượt lên
khẳng định bản thân.
• (25) Song lộc giáp Chỉ hiện tượng cung vị trước và sau đều có Hóa Lộc
hoặc Hóa Kỵ.
• (26) Lộc mã giao trì Là cách cục có cả Lộc tồn (Hóa Lộc) và Thiên mã.
• (27) Đào hoa phạm chủ Tử vi và Tham lang tọa thủ cung Mão và cung
Dậu.

2.4

Giới thiệu các thuật ngữ cơ bản

Mười hai cung vị
Bản mệnh, đại hạn, lưu niên
Tam phương tứ chính, giáp, phù
Tam phương tức là cung X (lấy làm tiêu chuẩn, cung thứ nhất) cung thứ 5
và cung thứ 9 theo chiều thuận. Tính thêm cung đối với cung tiêu chuẩn thì gọi
là tứ chính.


Chương 3

Quyển I: Cung Vị Trọng
Điểm
3.1

Tổng Quan

Cung vị trọng điểm tức là cung vị quan trọng nhất. Điều này nghĩa là, khi suy
đoán một sự kiện nào đó, chúng ta sẽ phát hiện trong số một vài cung vị liên
quan đến nhau, sau khi nhập vào một số điều kiện/dữ kiện đã biết, luôn có một
cung có ảnh hưởng mạnh nhất. Trong trường hợp này, chúng ta không cần thiết
phải chú ý đều tới tất cả các cung vị (bản mệnh, đại hạn, lưu niên) mà chỉ cần
chú ý tới “cung trọng điểm” là được. Sau khi tìm được cung trọng điểm, chúng
ta chỉ cần chú ý tới các đặc tính của nhóm sao trong cung đó, kết hợp với việc
xem xét tác động của vận hạn, tứ hóa đối với cung vị này là có thể suy luận
chiều hướng phát triển của nó về sau. Nhưng dự kiện cần thiết phải nhập vào,
bao gồm:
• (1)Năm tháng xảy ra sự kiện hoặc năm tháng xảy ra biến động, năm tháng
kết thúc sự kiện.
• (2) Năm sinh của người liên quan (cung vị nhập quái).
• (3) Ngày tháng xảy ra những sự kiện đặc biệt.
Dưới đây chúng tôi xin nêu 3 ví dụ để tiện suy ngẫm.
Example 1. Ví dụ 1:
Giả sử người A, ở đại hạn Canh Tý (năm Giáp Tuất) được tuyển vào công
ty hiện đang làm việc, nay thấy không hài lòng lắm với công việc, muốn tìm
một công việc khác và muốn biết: có cơ hội đổi việc không? con duyên phận với
công ty cũ hay không?
Từ các dữ liệu người A đã cung cấp ở trên:
(1) đại hạn Canh Tý năm Giáp Tuất vào công ty
9


CHƯƠNG 3. QUYỂN I: CUNG VỊ TRỌNG ĐIỂM

10

(2) lưu niên Bính Tý công việc không thuận lợi,
Sau khi vận dụng vào lá số, chúng ta có thể thấy, cung trọng điểm của sự
việc này là cung Thìn. Lý do như sau:

+
• 1. Đại hạn Canh Tý, bước vào cung sự nghiệp tiên thiên, cung đại hạn
sự nghiệp tại Thìn, có can Canh Vũ khúc Hóa Quyền để cát hóa.
• 2. Lưu niên Giáp Tuất vào làm công ty hiện thời, can Giáp tạo thành Liêm
Trinh Hóa Lộc, Vũ Khúc Hóa Khoa, cùng nhập cung Thìn.
Giải thích: Ngoài 4 hóa tinh (lộc, quyền, khoa, kị) trên lá số tiên thiên,
thiên can của đại hạn và lưu niên cũng tạo ra tứ hóa của riêng nó. Vào
năm Giáp Tuất, lưu niên tứ hóa của can Giáp chính là Liêm trinh Hóa
Lộc, Phá quân Hóa Quyền, Vũ khúc Hóa Khoa, Thái Dương Hóa Kỵ).
• 3. Năm vào công ty cũng vừa vặn là cung đối (đối xứng?) với cung đại
hạn
về
sự
nghiệp,
Thìn.
Giải thích: Năm vào công ty là năm Giáp Tuất, lưu niên ở cung Tuất
(lấy các cung địa chi để xem), Tuất và Thìn là hai cung có quan hệ đối
xứng, sức ảnh hưởng sẽ lớn hơn).
• 4. Lưu Niên Bính Tý bước vào cung vị đại hạn, sự nghiệp lưu niên cũng
ở cung Thìn.
• 5. Lưu Niên Bính Tý Công việc không thuận lợi, về lý phải do ảnh
hưởng của Hóa Kỵ. lưu niên Bính Tý chính là lúc có Liêm Trinh Hóa Kỵ
thủ tọa cung Thìn.
Sau khi nhập các dữ kiện như trên, chúng ta có thể thấy rõ ràng, cung Thìn là
cung trọng điểm đối với công việc hiện tại của người A. Nếu chúng ta xem xét


CHƯƠNG 3. QUYỂN I: CUNG VỊ TRỌNG ĐIỂM

11

tính chất của các sao chính tinh phụ tinh (nguyên văn: tam phương tứ chính)
tại cung Thìn cũng như những biến đổi theo lưu niên trong tuơng lai tại cung
này thì có thể luận ra người A có duyên phận như thế nào đối với công việc
hiện nay. Khi tim ra được cung trọng điểm, chúng ta sẽ không còn phải phân
vân: rốt cuộc nên suy đoán dựa trên cung sự nghiệp tiên thiên (quan lộc?) ,
cung đại hạn sự nghiệp tiên thiên, hay cung sự nghiệp lưu niên. Ba cung này
ngộ nhỡ không thống nhất thì có phải sẽ khiến chùng ta hao tổn tâm trí vô ích?
Example 2. Ví dụ 2:
Người B muốn hỏi về chuyện tình cảm trong tương lai với bạn gái hiện thời.
B cho biết, hai người quen nhau năm kia (Ất Hợi), bạn gái sinh năm 57 (>1968,
tức Mậu Thân). Từ các dữ liệu B cung cấp:
1. Hai người quen nhau năm Ất Hợi.
2. Bạn gái sinh năm Mậu Thân, nhập vào lá số của B, chúng ta sẽ tìm ra
được cung trọng điểm đối với chuyện tình cảm này là cung Thân.
Lý do như sau:
1. Hiện nay là đại hạn Canh Tuất, can Canh Thái Dương Hóa Lộc do Tý
hội nhập đại hạn phu thê cung Thân, khiến nó được cát hóa (trở nên tốt
lành).
2. Năm kia (Ất Hợi) quen nhau, can Ất Thiên cơ Hóa Lộc cũng do cung Dần
hội nhập cung Thân.
3. Bạn gái sinh năm Mậu Thân, đem nhập vào lá số, thủ tọa cung Thân của
lá số.
4. Vào đại hạn khi quen nhau cũng như năm quen nhau, thiên can Hóa Lộc
ảnh hưởng mạnh nhất là cung phu thê của đại hạn còn cung phu thê tiên
thiên cũng như lưu niên đều không có biểu hiện rõ ràng. Thêm vào đó,
cung vị nhập quái của bạn gái cũng là cung Thân. Vì thế, chúng ta nên
chọn cung Thân là cung trọng điểm để đi sâu phân tích.


CHƯƠNG 3. QUYỂN I: CUNG VỊ TRỌNG ĐIỂM

12

Chọn được cung trọng điểm là cung Thân rồi mà trong quá trình luận giải
về tình cảm giữa hai người, chúng ta không lấy cung Thân làm chỗ dựa để phán
đoán, lại dựa vào cung phu thê tiên thiên của lá số, hoặc cung phu thê lưu niên
thì kết quả e rằng kết quả sẽ sai lệch ngàn dặm. (Bởi vì, năm Ất Hợi, cung phu
thê lưu niên tại Dậu, đại hạn Thiên đồng Hóa Kỵ cũng như lưu niên Thái âm
Hóa Kỵ song kị giáp (giáp nhau?), cung phu thê tiên thiên tại Tuất, có đại hạn
Thiên đồng Hóa Kỵ thủ tọa cũng như tiên thiên Cự môn Hóa Kỵ hội ngộ, lưu
niên Thái âm Hóa Kỵ ảnh hưởng liên tục.. Trong cảnh cung phu thê tiên thiên
và lưu niên đều bị ảnh hưởng của Kị, rất khó xảy ra chuyện người B có thể kết
được bạn gái.)
Example 3. Ví dụ 3
Người C vào năm 83 Dân quốc, tức là năm giáp tuất, đặt mua một căn
phòng trả góp. Căn phòng này năm đó khởi công năm Bính Tý thì hoàn thành.
Người C muốn biết căn phòng này tương lai có tăng giá hay không. Theo những
tư liệu người C đã cung cấp ở trên:


CHƯƠNG 3. QUYỂN I: CUNG VỊ TRỌNG ĐIỂM

13

1. Năm 1983, giáp tuất mua nhà.
2. Căn nhà này năm đó khởi công,
3. Bính Tý Lưu Niên hoàn thiện.
Từ các dữ kiện này có thể thấy, cung trọng điểm đối với căn phòng này có thể
định tại cung mùi với lý do như sau:
1. Lưu niên giáp tuất cũng như đại hạn giáp thìn, với giáp can thì phá quân
Hóa Quyền, và Tiên Thiên Tử Vi Hóa Quyền, hình thành hiện tượng song
quyền giáp với Vận Hạn điền trạch thì sẽ tự phát sinh tham vọng mua
bán bất động sản.
2. Lưu niên giáp tuất, Can giáp làm thái dương Hóa Kỵ, cũng do cung Mão
tam hợp với cung Mùi. Sự dẫn động của Hóa Kỵ cũng có thể giải thích
cho hiện tượng khởi công. Năm này cũng gặp Lưu Kình Dương.
3. Lưu niên bính tí, can Bính làm thiên đồng Hóa Lộc làm đại hạn điền trạch
cung Mùi hóa cát (hoàn thành công trình).
4. Đại Hạn điền trạch cung Mùi vào năm mua nhà trả góp và năm hoàn
thành công trình nói chung đều gặp lộc quyền làm cát hóa. Năm bắt đầu
khởi công thì cũng có sát tinh Hóa Kỵ dẫn động. Vì thế chúng ta nên lấy
cung mùi làm cung trọng điểm cho sự việc mua bán nhà cửa này.
Từ suy luận trên có thể thấy, nếu mà sự kiện này phải liên quan tới cung trọng
điểm, bởi vì cung điền trạch tiên thiên ở tại mão, đại hạn điền trạch ở tại cung
mùi, những cung này tại các năm tiếp theo đều sẽ phát sinh những biến đổi có
tính chất khác nhau.
Từ 3 ví dụ trên đây, có thể thấy rõ, biết vận dụng “cung trọng điểm” là
phương pháp suy luận đơn giản và sáng sủa nhất. Nếu không có cung trọng
điểm, ngoài việc làm nhiễu mạch tư duy, cũng sẽ thường xuyên gặp cảnh “húc
đầu vào đá”. Chỉ cần tìm được cung trọng điểm ở đâu, kết quả ta cần suy đoán,
nếu không trúng cũng không quá sai lệch! Trong những phần suy đoán dưới đây,
chúng tôi sẽ thử phân tích cách tìm cung trọng điểm.


CHƯƠNG 3. QUYỂN I: CUNG VỊ TRỌNG ĐIỂM

3.2

14

Chuyện tình cảm của cô Kha

Mấy ngày trước, đồng nghiệp bảo tôi, cô ấy có một người bạn là cô Kha. Cô
Kha từng nhờ tôi coi số tuy nhiên khi đó tôi mới chỉ viết một số nét cơ bản về
vận hạn sắp tới của cô ấy, giảng cũng sơ lược, nên cô ấy muốn hẹn tôi một dịp
nào đó gặp mặt trực tiếp. Cô Kha đang gặp một số khó khăn trong công việc
và tình cảm nên mong tôi giúp đỡ, thảo gỡ một số nghi vấn, giải tỏa tâm lý.
Dưới sự sắp xếp của bạn đồng nghiệp, ba người chúng tôi hẹn gặp nhau tại
một nhà hàng cà phê sau giờ làm việc ngày thứ bảy. Trong hương thơm của cà
phê và tiếng nhạc êm ái, chúng tôi nói chuyện gần ba giờ đồng hồ. Những vấn
đề có thể hỏi, cô Kha đều đã hỏi hết. Ngay cả những vấn đề bình thường rất
khó mở miệng, cô Kha – con người vốn có tác phong “hào phóng”- hầu như cũng
không bỏ qua. Trong quá trình đoán số, cô Kha cũng để lại cho tôi ấn tượng
sâu sắc về tác phong hành xử và cuộc đời của mình.

Khi luận lá số này, chúng tôi thấy cung trọng điểm- cung mệnh chiếm vai
trò quan trọng, tổ hợp cách cục của nó cũng rất đặc biệt nên nêu ra để cùng
bàn luận.
Ngay sau khi lập xong lá số của cô Kha, tâm lý của chúng tôi đều có phần
chùng xuống, cuộc sống của cô ấy dường như rất nhiều màu sắc: tổ hợp cung
mệnh có tính “biến hóa”, nếu chúng ta xét thêm cả sự biến hóa của vận hạn thì


CHƯƠNG 3. QUYỂN I: CUNG VỊ TRỌNG ĐIỂM

15

càng thấy rõ. Nghe đồng nghiệp nói, cô Kha hiện nay quan tâm hai vấn đề là
tình cảm và sự nghiệp nên tôi bắt đầu xem từ vấn đề tình cảm.
Sau khi xem một lát, tôi nói với cô Kha: “chuyện tình cảm của cô hẳn là rất
phong phú, phức tạp!”
“Cách cục trong lá số tiên thiên là cách cục “đào hoa phạm chủ” Tử Tham
hội Thiên hỷ điển hình. Hiện nay, đại hạn ở Kỉ Sửu, can Kỷ Vũ khúc Hóa Lộc
tại đại hạn cung phu thê, Tham lang Hóa Quyền tại cung mệnh tiên thiên, vận
hạn cung phu thê và cung mệnh tiên thiên tại phương tam hợp, lại chịu sự ảnh
hưởng của quyền lộc thì chuyện tình cảm rất khó suôn sẻ, đơn thuần.”
“Đúng thế! Mấy năm nay chuyện tình cảm của tôi đúng thực là như vậy. Tôi
yêu hết anh này đến anh khác, thấy hợp thì đến, không hợp lại đi. Tuy đã yêu
rất nhiều người, cuộc sống sống động muôn màu nhưng tôi không hề có cảm
giác an toàn, nghĩa là vẫn chưa tìm được ai thật sự tri kỷ”, cô Kha trả lời tôi.
“Những người cô yêu đại đa số sinh năm bao nhiêu?” “Trước đây tôi từng đi
lại với mấy anh sinh năm 56, 58 dân quốc. Gần đây, tôi yêu một anh sinh năm
52, một anh sinh năm 54 dân quốc.” (chú thích, năm n dân quốc tương ứng với
năm n+12 theo lịch thông thường)
Khi nhập các dữ kiện này vào lá số, tôi hỏi cô Kha, có phải cô ấy đã chia
tay với người sinh năm 52 rồi không? Dường như cô ấy có duyên hơn đối với
người sinh năm 54?
Người sinh năm 52, nếu nhập vào cung mệnh tiên thiên trên lá số của cô,
cung vị nhập quái này sẽ cùng với cung phu thê theo vận hạn của cô tạo
thành phương tam hợp. Như vậy, ngoài việc xuất hiện hiện tượng tác động lẫn
nhau/kéo theo? của quyền lộc tạo ra cách cục hay người gặp gỡ, quen biết như
đã nói trên đây, vận hạn Hóa Kỵ cũng khiến cho cung Tỵ và cung Hợi rơi vào
cách cục xấu Xương Tham Khúc Tham.
Người sinh năm 52, can Quý, Tham lang Hóa Kỵ cũng vừa khéo tọa thủ
cung Mão đồng thời hội nhập cung Hợi, năm Bính Tý lại chịu ảnh hưởng của
Liêm trinh Hóa Kỵ, e rằng dữ nhiều lành ít, tình cảm dễ đi vào hồi kết.
Người sinh năm 54, cung bát quái tại Tỵ. Cung vị này cùng với cung mệnh
và cung phu thê trên lá số của cô Kha tạo thành phương tam hợp. Tương tự,
cũng có lộc tinh Vũ Khúc cát hóa. Điểm khác biệt so với người sinh năm 52 là,
cung Tỵ có Thiên tướng tọa thủ, tam phương không hình thành cách cục xấu.
Do đó, cô Kha và người này chắc là có duyên với nhau hơn.
“Đúng thế, tình hiện hiện nay đúng là như vậy. Tôi với người sinh năm 52
chắc là khó có cơ hội gặp lại. Còn người sinh năm 54 hiện đang sống chung với
tôi.”
“Ngoài người hiện tôi đang sống chung, sắp tới có thể quen thêm bạn trai
nào khác không? Tại sao ngoài người sinh năm 54, chuyện tình cảm với những
người khác đều không đi đến đâu? Rốt cuộc tôi có cơ hội gặp được người tôi
thực sự yêu thương không?” cô Kha hỏi.
“Như tôi vừa nói, đại hạn Kỷ Sửu cũng tức là trước 34 tuổi, cuộc sống tình
cảm của cô không thể nào dứt (có kết quả?). Do vậy với những người đã gặp
trước đây, đều đổ vỡ. Có thể thấy, cung vị nhập quái của những người này đều
trùng hợp rơi vào phương tam hợp với cung mệnh tiên thiên, chịu ảnh hưởng
của cách cục Xương Tham Khúc Tham nên không thể bền lâu. Giả sử hôm nay


CHƯƠNG 3. QUYỂN I: CUNG VỊ TRỌNG ĐIỂM

16

cô gặp một người sinh năm 53 hoặc 57, tôi tin rằng người đó sẽ đối với cô rất
tốt, quan hệ của hai người cũng sẽ không tệ. Tình cảm mà! Có thể nâng niu thì
hãy nâng niu, duyên phận vốn là đến không dễ, nếu không nắm lấy, sau này hối
hận cũng không kịp. Người bạn hiện nay đối với cô cũng không tệ, tại sao phải
nghĩ ngợi nhiều như vậy? Hơn nữa, phân tâm hai lòng đối với cô cũng không
tốt đâu”.
“Nhiều khi tôi cũng cảm thấy mình trăng hoa quá! Có phải do tôi có số đào
hoa nên mới như vậy hay không?”. Tôi sống với bạn trai hiện nay, kỳ thực không
phải là có tình cảm gì cả, chỉ đơn thuận là như cầu sinh lý! Từ lá số, có thể luận
ra vần đề “dục vọng” không?”, cô Kha nói với tôi quan điểm của cô ấy về tình
cảm một cách rất thoải mái. (Cung Mệnh Thân có Kình dương, thông thường
đều có tính hỏi gì thì hỏi đến cùng.)
PHÂN TÍCH CUNG VỊ TRỌNG ĐIỂM
Đào hoa có thể sinh ra hay không, điều này có thể phân tích từ cung Mệnh
tiên thiên. Trong cung Mệnh tiên thiên, có mấy tổ hợp, mấy tổ hợp này gặp
nhau sẽ làm phát sinh một số hiện tượng dưới đây, tạo ra những biểu hiện trong
tác phong làm việc của đương số:
• 1. Tử vi tọa mệnh nhưng không hội tả phù hữu bật, làm việc gì cũng khó
tránh khỏi cảnh cô độc một mình. Thêm vào đó có Dương Đà đến quấy
nhiễu, vậy ai tác động thế nào, đương số cũng vẫn theo ý mình mà làm.
• 2. Cách cục Sát Phá Lang hội sát tinh làm gia tăng tính hay thay đổi ở
đương số, cuộc sống càng khả giả, càng phù hợp với lý tưởng của cô ấy.
Điều này cũng giải thích tại sao đương số không hài lòng với hiện trạng.
• 3. Tử Tham gia thêm Thiên Hỷ là cách cục Đào hoa phạm chủ, cách cục
này sau khi chịu ảnh hưởng bởi lộc, quyền của vận hạn , ngay cả khi đại
hạn cung Sửu không phải là cách cục của Đào hoa, vẫn sinh ra hiện tượng
đào hoa. Nếu lại thêm có Kình Đà hội hợp, cảnh “dã đào hoa” (đào hoa
dại) là không thể tránh khỏi. Do vậy, trong chuyện tình cảm, đương số
cũng cần biết tiết chế, nếu không sẽ không tốt.
• 4. Do cách cục Xương Tham Khúc Tham, cuộc sống tình cảm hiện tại của
đương số sẽ có nhiều biến động. Nói một cách trực tiếp là việc kì quái đến
mấy, cô ấy cũng có thể làm. Trong đại hạn hiện nay, can Kỷ Văn khúc
hóa kỵ ảnh hưởng tới cách cục này, khiến cho tính biến động càng rõ nét.
• 5. Tham lang Hóa Quyền trong vận hạn và Vũ khúc Hóa Quyền tiên thiên
càng ảnh hưởng mạnh tới cung mệnh có Đào hoa, đồng thời hội với (?)
cung phu thê của đại hạn, ít nhiều cũng làm tăng mong muốn chiếm hữu
đối với người khác giới của đương số. Nếu mang tổ hợp quyền tinh và kị
tinh kết hợp với tính cường vượng của chủ tinh để suy xét, càng thấy rõ
tình hình này.
Nếu kết hợp 5 điểm nêu trên để luận giải sẽ thấy khá phù hợp với tình hình
thực tế hiện nay của đương số. Thực ra, những cách cục này không phải hoàn
toàn xấu, không có điểm nào tốt, do đó tốt hay xấu cần phải xem đương số


CHƯƠNG 3. QUYỂN I: CUNG VỊ TRỌNG ĐIỂM

17

hành động như thế nào. Nếu đương số biết lợi dụng những tính chất này vào
công việc, ví dụ làm một số việc liên quan đến mỹ thuật, nghệ thuật, phục trang
v.v... rất có thể sẽ đạt được thành tựu hơn công việc hiện tại, có cơ hội thăng
tiến. Đương số là nữ giới, cuộc sống tình cảm quá “phong phú” cũng không tốt:
trên lá số đã tiềm ẩn một số tính chất như vậy, nếu bất cẩn không lưu ý, người
phải chịu thiệt hại sẽ chính là cô ấy.
“Còn về vấn đề “dục vọng” mà cô hỏi, tôi chưa từng nghiên cứu qua nên
không thể luận ra điều gì từ lá số của cô. Huống hồ, tìm hiểu điều này, thực ra
cũng không có ý nghĩa gì nên câu hỏi này tôi tạm không trả lời. Điều đáng quan
tâm, theo tôi là làm thế nào để “xu cát tị hung” (thêm cái tốt, bớt cái xấu), làm
thế nào để lợi dụng những điểm trên lá số để phát triển tiềm năng của mình”.
“Nói thế mà được! Trước đây không phải anh đã bảo, từ lá số có thể nhìn
được những điều này? Sao giờ anh lại không nghiên cứu nữa? Anh cứ nói đi mà!
Nói ra thì có làm sao? Người ta đã hỏi, anh còn ngại gì chứ?”, đồng nghiệp của
tôi ngồi bên cạnh, thúc bách tôi phải nói.
“Cung tử tức là cung đại diện cho ham muốn tình dục, cung tật ách là cung
đại diện cho khả năng tình dục. Cung tử tức tiên thiên của cô là Thái dương
Hóa Lộc tọa thủ tại cung Tý. Thái dương của người sinh giờ Mão chính là hiện
tượng “ánh nắng sớm đợi mọc”, cung Tý tam phương lại có hai sao Hỏa, Linh
làm tăng thêm sức mạnh của Thái dương. Cho nên.....”
“Đại hạn, cung tử tức tại Tuất. Cung Tuất có Vũ khúc Hóa Quyền tiên thiên
và Tham lang Hóa Quyền của đại hạn (nhập cung Dậu), tức là giáp song quyền.
Điều này có thể giải thích cho sự hưng vượng về ham muốn tình dục của đương
số.”
“Nếu tiếp tục xem xét đại hạn tiếp theo, đại hạn đi vào vị trí cung tử tức
tiên thiên, sẽ xuất hiện hiện tượng giống như trên. Cung tử tức của đại hạn tại
Dậu, có Tham lang Hóa Lộc của vận hạn làm cát hóa, như vậy tôi nghĩ rằng
tuổi đương số càng cao, hứng thú tình dục e rằng càng mãnh liệt”.
Cô Kha và đồng nghiệp nghe xong những lời giải đoán “thoải mái” của tôi
đều không nhịn được, cười lớn nói: thế thì biến thành “hoa si” (kẻ ham mê sắc
dục) hay sao?
Sau khi đã hỏi rất nhiều câu nên hỏi và không nên hỏi, cô Kha hỏi một câu
có liên quan tới công việc của cô ấy. Cô nói, năm kia (Ất Hợi), cô vào làm việc
cho công ty hiện tại, không rõ có nên tiếp tục công việc này hay không? Nếu
đổi việc khác, trong tương lai nên làm việc trong ngành nghề gì thì tốt nhất?
Nếu xét dựa trên dữ kiện là năm vào công ty, cung Mão và cung Hợi là hai cung
có ảnh hưởng lớn nhất đến sự nghiệp. Hai cung vị này, ngoài việc có tiên thiên
Vũ khúc Hóa Quyền, đại hạn Vũ khúc Hóa Lộc, Tham lang Hóa Quyền và lưu
niên Lộc tồn dẫn động, còn là cung mệnh của lưu niên và cung sự nghiệp (quan
lộc?) của lưu niên.
Hai cung vị này vào năm Bính Tý, sau khi có Liêm trinh Hóa Kỵ dẫn động
(sau khi có ảnh hưởng của Liêm trinh Hóa Kỵ?), sợ rằng đã ngầm ẩn hung cơ
(việc xấu/ cơ hội xấu), muộn nhất chắc đến năm Đinh Sửu.
Về tính chất công việc, đương số có tử vi tọa mệnh, tuy không có tả phù hữu
bật hội chiếu nhưng tính chất công việc vẫn thuộc loại “đa nguyên”: có thể làm


CHƯƠNG 3. QUYỂN I: CUNG VỊ TRỌNG ĐIỂM

18

việc trong nhiều ngành nghề, không chê ngành nào. Nếu lại phối hợp với cách
“Xương Tham, Khúc Tham” thì càng rõ ràng. Nhưng tôi vẫn khuyên giống như
đã nói ở trên: đối với đương số, nếu có thể chuyển tính chất “đào hoa” trong
cung mệnh vào nghề nghiệp, chú trọng đến những sở trường này (Kình Dương,
Đà La hội nhập), chắc rằng sẽ có nhiều thành tựu.
Chúng tôi kết thúc 3 giờ đồng hồ đoán mệnh. Tuy tôi vẫn chưa đưa được đáp
án nào cụ thể, rõ ràng cho cuộc sống tình cảm thăng trầm của cô Kha nhưng
dựa vào thiên tính lạc quan của cô ấy, tôi tin cô ấy sẽ nhanh chóng tìm được
một người bạn đời lý tưởng. Một lần nữa, tôi muốn gửi lời chúc phúc tới cô.

3.3

Cuộc Hành Trình Sang Đại Lục Của Sư Huynh

Chủ nhân của lá số này là sư huynh, đồng thời là đồng nghiệp của tôi. Khi tôi
mới vào công ty, anh ấy đã giúp tôi rất nhiều. Trong công việc, chúng tôi luôn
cùng vai sát cánh, trong đời tư, chúng tôi là bạn bè tốt, chia sẻ mọi việc.
Còn nhớ, năm tôi mới vào công ty (Dân quốc thứ 82), tôi đã từng xem giúp
lá số của sư huynh, đoán rằng vào năm Dân quốc 83, anh ấy sẽ có bước phát
triển tốt, cần chuẩn bị thực lực để đến khi gặp thời cơ có thể phát huy. Đầu
năm sau, sư huynh quả nhiên được thăng chức, được điều đến một xí nghiệp
có liên quan, giữ chức trưởng phòng tài vụ (tài vụ trưởng). Chế độ đãi ngộ tuy
không tốt hơn rõ rệt nhưng là bàn đạp để thăng tiến. Làm công việc này chưa
đầy một năm, sư huynh được cử đi công tác ở đại lục. Công ty ở đại lục mới
bắt đầu gây dựng, mọi chế độ đều đang trong quá trình xây dựng, tất nhiên
công việc rất vất vả nhưng lương bổng nhiều hơn gấp đôi so với công việc cũ.
Những công nhân viên chức được cử sang đại lục, càng có cơ hội nắm nhiều
quyền lợi cho mình, tích lũy càng nhiều kinh nghiệm. Chỉ cần công tác đủ hai
năm ở đại lục, khi quay lại công ty mẹ, đều có thể được thăng chức. Đây là lợi
thế mà những nhân viên ở lại Đài Loan không thể có được.
Do có nhiều lợi ích như vậy nên các nhân viên ở công ty đều muốn giành lấy
cơ hội đi đại lục. Nhân viên trong công ty quá đông, trong cảnh “người nhiều
cháo ít” như vậy, sư huynh của tôi có thể được cấp trên đề bạt, khởi hành đi
đại lục một cách thuận lợi, tôi nghĩ không hẳn chỉ vì biểu hiện trong công việc
của anh ấy tốt mà còn vì anh hơn người ta một chút cơ duyên.
Vào khoảng mấy ngày giáp Tết âm lịch năm 85, tôi nhận được điện thoại
của sư huynh, ngoài việc hàn huyên tâm sự, sư huynh cũng tiết lộ, lần này về
nghỉ tết, anh ấy muốn tranh thủ lại thăm tôi, nhờ tôi xem giúp cho anh ấy vận
hạn lưu niên Bính Tý. Cũng bởi vì gần đây công việc của anh ấy không thuận
lợi lắm, anh cảm thấy không đáng phải vất vả như vậy nên muốn xem thử vận
thế sắp tới thế nào. Khi đó đúng dịp quyết toán cuối năm, công việc của chúng
tôi đều rất bận nên chúng tôi không nói nhiều qua điện thoại, chỉ hẹn cuối năm
gặp nhau sẽ đàm đạo.
Tôi nhớ rằng, trong lần thứ hai luận giải lá số cho sư huynh, tôi có nói với
anh ấy, anh ấy đang gặp một số khúc mắc trong quan hệ, mặc dù cụ thể là gì
tôi chưa biết rõ. Qua sự kiểm chứng của sư huynh, quả thật anh ấy đang gặp
khó khăn trong quan hệ với cấp trên ở đại lục. Đây cũng là vấn đề khiến anh


CHƯƠNG 3. QUYỂN I: CUNG VỊ TRỌNG ĐIỂM

19

ấy lo phiền nhất hiện nay. Nhiều lúc, anh ấy cũng đã định từ chức nhưng nghĩ
đến việc đã đổ sức làm việc 5, 6 năm, anh ấy lại không cam tâm từ bỏ. Nghe
xong những lời bất bình của sư huynh, tôi hỏi thêm anh ấy một số thông tin
liên quan và từ đó có một số suy luận như sau:

Sư huynh vào công ty năm Canh Ngọ, năm đó 27 tuổi, đại hạn tại Bính Tý.
Đại hạn Bính Tý là cách cục Sát Phá Lang chủ, cách cục này nếu có kị sát tinh
dẫn động (ảnh hưởng?) mới xuất hiện khuynh hướng “động”, ngược lại nếu gặp
cát tinh thì sẽ chuyển hướng phát triển bình ổn, không có biến động lớn (Tuy
có Liêm Trinh Hóa Kỵ ở đại hạn nhưng may mắn là không hình thành hung
cách (cách cục xấu), nên không có khả năng phát sinh điều dữ. Tuy nhiên, do
sự tác động của Liêm Trinh Hóa Kỵ, vận thế bình ổn, thuận lợi trước đây sẽ
này sinh một chút dao động khiến đương số có ý muốn thay đổi).
Đại hạn tọa quyền hội lộc và đại hạn hóa kỵ tự nhiên (tự nhiên nhi nhiên)
sẽ khiến đương số kiên trì hơn người khác trong công việc.
Lưu niên Canh Ngọ, chuyển sang cung Thiên Di của đại hạn, can Canh khiến
Thái dương Hóa Lộc và Thiên đồng Hóa Lộc ở đại hạn, song lộc giáp cung sự
nghiệp của lưu niên. Khi lưu niên đến cung vị cường vượng đồng thời cung sự
nghiệp lưu niên hình thành cát hóa, tìm được một công việc tốt là chuyện không
khó khăn gì (tuy nhiên, năm đầu tiên vào công ty, cũng sẽ vất vả một chút, lưu


CHƯƠNG 3. QUYỂN I: CUNG VỊ TRỌNG ĐIỂM

20

niên chuyển đến vị trí đại hạn Liêm trinh Hóa Kỵ , cung sự nghiệp lưu niên
cũng ở cách “ủy khuất” của song kị giáp (gặp hai Hóa Kỵ?). Bởi vậy, đương số
có thể bình an qua một năm là do ảnh hưởng của cách cục cường vượng tạo ra
bởi tam phương chính tứ ở cung Ngọ). Giáp Tuất lưu niên, khi xưa tôi đoán
giải là năm này sẽ có bước tiến tốt trong công việc, lí do như sau:
• Giáp Tuất lưu niên, chính là rơi vào cung sự nghiệp (Canh Ngọ niên) của
năm vào công ty, lực tác động tương hỗ tự nhiên sẽ mạnh.
• Lưu niên bước vào cung vị cường vượng, năng lực tự nhiên và vận thế đều
tốt.
• Lưu niên thiên can Giáp khiến lưu niên tam phương hình thành cách cục
“tam kì gia hội”
• Thiên can của lưu niên và tiên thiên tương đồng, vì vậy năm này sẽ có tứ
lộc cát hội, đồng thời tạo ra những cách cục tốt như Tử Phủ tương hội
Tả Hữu, Hỏa Tham...
Đại khái chính vào thời điểm giữa năm Giáp Tuất, sư huynh được cất nhắc
và cử sang công ty có liên quan phụ trách tài vụ. Công việc này tuy chức cao
nhưng trách nhiệm cũng lớn. Dù sao cũng là một bàn đạp để thăng tiến. Lưu
niên Ất Hợi, sư huynh được công ty cử đi công tác tại Quảng Châu, đại lục,
đảm nhiệm chức giám đốc phụ trách tài chính, cả chức vị và lương bổng đều
thăng tiến vượt bậc.
Lưu niên Ất Hợi, Lộc tồn và Thiên cơ Hóa Lộc giáp cung sự nghiệp tiên
thiên, Thiên cơ Hóa Lộc và Thái dương Hóa Lộc can Canh trong năm vào công
ty giáp đại hạn cung mệnh. Do sự cường vượng của bản mệnh và đại hạn, đương
số sẽ có cơ hội thăng chức.
Nhưng năm này không phải là năm chỉ cát mà không có hung. Lưu niên khi
đó rơi vào cung vị yếu thế bị kị sát xung (xung chiếu) đồng thời hội hung cách
(cách cục xấu). Do vậy tôi cho rằng, năm này là năm đương số phải làm việc
vất vả, hao tâm tổn trí hơn nhiều so với mấy năm trước đó.
Năm tiếp theo (Bính Tý), sư huynh từ đại lục quay lại Đài Loan nghỉ phép,
vừa về đến Đài Loan, liền gọi điện thoại tìm tôi, nói rằng lại muốn tìm tôi xem
số giúp. Những vấn đề cần hỏi, anh ấy cũng không nói rõ, chỉ nói là sẽ tìm thời
gian đến tìm tôi tại công ty, khi nào gặp mặt sẽ nói cụ thể.
Trong ngăn bàn của tôi tình cờ lại có lá số của sư huynh nên tranh thủ khi
anh ấy chưa tới, tôi xem qua lá số của anh. Xưa nay tôi vẫn luôn như vậy, trước
khi gặp đương số, thường tranh thủ xem qua lá số của họ, ghi lại những điểm
quan trọng, một là để tiết kiệm thời gian khi gặp mặt, hai là tôi nghĩ khi đó tư
duy thường rành mạch, chưa bị nhiễu loạn bởi các thông tin. Những điểm tôi
ghi lại khi đó là:
• Công việc: năm Bính Tý cần chú ý, nếu kết giao với người sinh năm 41,
dễ có vấn đề trong quan hệ giữa hai người. Nếu qua năm sau thì lại không
có vấn đề gì nữa.


CHƯƠNG 3. QUYỂN I: CUNG VỊ TRỌNG ĐIỂM

21

• Hôn nhân: năm 87 dân quốc, dễ có duyên phận quen biết người sinh năm
năm 53, 57 dân quốc.
Một ngày sau hôm nói điện thoại, sư huynh của tôi đến công ty giải quyết công
việc rồi qua tìm tôi. Sau khi tôi vừa cầm lá số đã lập ra, anh ấy liền hỏi ngay :
“Anh cảm thấy tôi tìm việc thì thế nào? Có vấn đề gì không?”.
Sau khi xem xét lại lá số lần nữa, tôi bảo anh, năm nay anh cần chú ý vấn
đề quan hệ, cần cẩn thận trong quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp. Bởi vì
cung Thiên di có Hóa Kỵ đồng thời hình thành hung cách mà cung Thiên di
chính là đại diện cho những việc này. Còn công việc thì chắc là không có vấn
đề gì lớn.
Sư huynh nghe xong lời luận giải của tôi, lập tức trả lời: “Chuẩn! Không sai,
hiện nay anh đang bất hòa với cấp trên đây. Hắn ta việc gì cũng soi mói, làm
khó dễ, anh chịu hết nổi rồi”.
Nghe xong những lời sư huynh phàn nàn về cấp trên, tôi lại chú mục vào lá
số, xem một lúc rồi bảo anh: “nếu mà cấp trên của anh là người sinh năm 41,
thì anh cần cẩn thận đấy”.
Sư huynh lập tức đáp lời tôi bằng một giọng vừa ngạc nhiên và kinh hoàng:
“đúng đấy, cấp trên của tôi đúng là sinh năm 41. Sao mà trùng hợp thế nhỉ?”.
Tôi bảo: “Vậy sau khi anh quay lại đại lục, anh cần phải chú ý xử lý mâu
thuẫn giữa hai người nhé. Nếu không, làm việc mà không vui vẻ với nhau, đến
mức phải bỏ việc thì lợi bất cập hại. Có nhiều việc trùng hợp như vậy đấy, gặp
rồi thì chịu vậy thôi, biết sớm như thế thì anh có thể chuẩn bị tâm thái cho
mình. Qua năm nay thì mọi việc sẽ ổn cả, làm thế nào là do anh.” Cuối cùng,
tôi khuyên sư huynh như vậy.
Tiếp theo, chúng tôi cùng nhau xem xét, tại sao năm Bính Tý, sư huynh lại
gặp khó khăn trong quan hệ.
• Lưu niên Bính Tý rơi vào cung đối với cung Ngọ. Cung Ngọ này là năm
đương số vào công ty (Canh Ngọ). Nói một cách khác, cung vị năm nay
là “cung Thiên di” của năm vào công ty. Khi lưu niên chạy đến một cung
vị có ít nhiều liên quan đến cung Thiên di của việc vào công ty, nếu năm
nay phát sinh vấn đề trong quan hệ với cấp trên, lực tác động tương hỗ
giữa các cung vị này đương nhiên sẽ không phải là nhỏ.
• Lưu niên Bính Tý chạy đến cung Mệnh của đại hạn, tứ hóa và đại hạn
giống nhau, Bính Tý Liêm trinh Hóa Kỵ vừa khéo ở vận hạn này, cùng
với cung Thiên di của lưu niên và lưu niên Kinh Dương tọa thủ cung Ngọ,
khiến cho vận hạn thiên di hình thành hung cách “hình nhân giáp ấn” .
• Cung Thiên di của đại hạn và lưu niên này tuy là cách cục lớn (Tử Tướng
triêu đàn, đồng thời hội Tả Hữu, thêm Lộc Quyền Khoa), về lý, quan hệ
giao tế, thậm chí là quan hệ với cấp trên sẽ phát triển theo hướng tốt,
chính diện nhưng do bị Liêm trinh Hóa Kỵ phá nên những hung cách
“hình nhân giáp ấn”, “Linh Xương La Vũ’, “Vũ khúc, Hỏa tinh” đều ẩn
chứa nhiều mối họa.


CHƯƠNG 3. QUYỂN I: CUNG VỊ TRỌNG ĐIỂM

22

• Cung Thiên di của lưu niên và đại hạn đã hình thành hung cách. Nếu
hung cách này bị dẫn động bởi việc tiếp xúc với cấp trên hoặc cấp dưới,
hoặc tọa nhập vào cung vị không thực sự tốt thì trong quan hệ của đương
số ở đời thực tất nhiên sẽ nảy sinh những điều không như ý.
Chú thích: Khi cung Thiên di tốt, cung vị nhập quái của những người liên
quan cũng tốt: do quan hệ tương hỗ tốt, quan hệ của đương số và những người
đó cũng sẽ là quan hệ tương trợ, giúp đỡ nhau.
Khi cung Thiên di tốt, cung vị nhập quái của những người liên quan không
tốt: đương số sẽ cảm thấy làm việc với người này vất vả, nhiều ý kiến này nọ,
nhưng nhìn chung cũng sẽ không có hiện tượng xấu.
Khi cung Thiên di không tốt, cung vị nhập quái của những người liên quan
tốt: trong môi trường khó khăn, đương số vẫn sẽ tìm được bạn tốt.
Khi cung Thiên di không tốt, cung vị nhập quái của những người liên quan
cũng không tốt: đương số không chỉ gặp khó khăn trong việc tìm bạn, tìm người
phù trợ mà càng tiếp xúc lâu xung đột giữa đôi bên sẽ càng lớn.
Dựa vào lý do gì tôi cho rằng cấp trên của sư huynh có lẽ là người sinh năm
41, khiến hai người nảy sinh xung đột trong công việc? Nguyên nhân kì thực
rất đơn giản, như sau:
• Tất cả những hiện tượng bất hòa với cấp trên trong lưu niên và đại hạn
Bính Tý, chưa vội để ý tới năm sinh của “nhập quái”, thì theo như đã nói
ở trên, chúng ta có thể xác định cung Ngọ là một vị trí hung (xấu) để cho
những hiện tượng như vậy xảy ra.
• Nếu chúng ta nhập vào lá số dữ kiện năm sinh của cấp trên, thiên can
Hóa Kỵ của ông ấy chắc sẽ cùng cung đối với cung Ngọ tạo ra hiện tượng
xấu. Chỉ có như vậy, giữa hai người mới có thể có hiện tượng xung khắc,
bất hòa, phù hợp với tình hình thực thế của đương số.
• Năm sinh có thể tạo ra quan hệ tương tác mạnh nhất nên xuất hiện tại
cung vị tam hợp phương của lưu niên hoặc vận hạn. Nếu như vậy thì
những năm sinh có khả năng cao nhất phải là những năm nhập quái tại
cung Tý (năm 49 dân quốc), cung Thân (năm 45), cung Ngọ (năm 43) và
cung Thìn (năm 41).
Tổng hợp 3 điểm nêu trên, tôi thấy năm sinh 41 dân quốc (năm Nhâm Thìn)
là có khả năng cao nhất vì:
• Can Nhâm trong năm sinh 41 dân quốc có Vũ khúc Hóa Kỵ xung với cung
Ngọ.
• Người sinh năm Nhâm Thìn nhập cung Thìn trên lá số (của đương số).
Cung này vừa là cung Thiên di của lá số tiên thiên, vừa là cung quan lộc
của vận hạn. Như thế tác động của nó tới quan hệ của đương số và cấp
trên trọng vận hạn này cũng sẽ khá mạnh.
• Người sinh năm Nhâm Thìn nhập cung Thìn, đối xứng với cung mệnh tiên
thiên của đương số. Can Nhâm Vũ khúc Hóa Kỵ tại Tuất. Nếu thêm yếu


CHƯƠNG 3. QUYỂN I: CUNG VỊ TRỌNG ĐIỂM

23

tố Đà La trong lưu niên của người sinh năm Nhâm vào lá số thì sẽ khiến
cung Mệnh tiên thiên của đương số tạo thành hung cách Linh Xương La
Vũ . Hung tính này sẽ khiến đương số và người sinh năm Nhâm khó duy
trì quan hệ hòa hợp.
• Cung Thìn có cách cục Xương Tham Khúc Tham, một khi lại gặp sao
Hóa Kỵ thì vị cấp trên này sẽ thường có những hành vi, mệnh lệnh và
chính sách mà cấp dưới không ngờ tới được.
• Giả thiết vị cấp trên này nhập quái ở cung Thìn. Như thế, Tham lang
trong cung mệnh (Thìn) của ông ta sẽ vừa khéo kết hợp với Văn xương
trong cung mệnh tiên thiên của đương số (Tuất) tạo thành cách cục Xương
Tham. Ý nghĩa của cách cục này cũng là: nếu hai người kết hợp trong công
việc sẽ dễ phát sinh mâu thuẫn.
• Cung thiên di của vận hạn là hung cách, cung nhập quái của chủ quản
cũng tạo ra cách xấu “Linh Xương La Vũ”. Hai cung có ý nghĩa quan trọng
nhất trong mối quan hệ giữa đương số và cấp trên đều rơi vào thế xấu,
tất nhiên mối quan hệ này sẽ nảy sinh vấn đề.
Sang đại lục để phát triển sự nghiệp, hi vọng có thể tích lũy nhiều kinh nghiệm,
phát huy sở trường, không ngờ lại gặp phải một vị chủ quản khắc tinh, khiến
cho mình bị bó buộc chân tay, không có đất dụng võ... Cần làm gì để đối phó
với những việc sẽ phát sinh trong tương lai, có thể qua năm Bính Tý một cách
yên ổn hay không là những vấn đề hiện nay sư huynh đang mong mỏi được biết.
Lá số có nói lên điều gì? Nên luận giải chúng như thế nào? Dưới đây người viết
xin nêu ra một số thiển ý như sau:

Cung Vị Trọng Điểm
Xét cả quá trình từ khi sư huynh vào công ty đến lúc phát sinh mẫu thuận với
cấp trên như hiện nay, sau khi nhập thêm dữ liệu là các năm sinh có liên quan,
có thể thấy, hai cung vị có sức dẫn động mạnh nhất là cung Ngọ và cung Tuất.
Do vậy, để phán đoán các bước phát triển tiếp theo trong công việc hiện nay
của đương số, tôi cho rằng, cung Ngọ và cung Tuất chính là hai cung vị trọng
điểm để suy ngẫm.
1. Cung Ngọ:
(a) Cung Ngọ là cung đương số vào công ty (Canh Ngọ).
(b) Cung Ngọ là cung thiên di của đại hạn Bính Tý. Cung thiên di đại
diện cho duyên phận của đương số với công ty. Nếu cung thiên di
cường vượng, đồng thời cùng với mệnh cung của vận hạn hình thành
những cách tốt, chính diện thì tất nhiên đương số sẽ tận tâm tận lực
với công ty. Nhưng nếu cung thiên di yếu hiểm đồng thời cùng với
cung mệnh tạo thành hung cách, e rằng phải thắp hương niệm Phật
mới có thể có được một kết cục tốt đẹp!


CHƯƠNG 3. QUYỂN I: CUNG VỊ TRỌNG ĐIỂM

24

(c) Lưu niên Giáp Tuất, đương số được điều đến xí nghiệp có liên quan,
Can Giáp của năm này khiến cho cung Ngọ, vốn có nhiều cách tốt
lại một lần nữa tạo thành cách tốt “Tam kì gia hội”. Trong năm mà
cung Ngọ - đại diện cho công ty- ở vào thế tốt như vậy, tất nhiên sẽ
có những bước tiến tốt.
(d) Lưu niên Bính Tý, can Bính lại khiến cung Ngọ hình thành hung
cách. Do đó phát sinh việc bất hòa với cấp trên.
(e) Ngọ cung là tam hợp phương với cung Mệnh của lưu niên, đại vận
và tiên thiên, sức ảnh hưởng của nó đương nhiên không nên bỏ qua.
2. 2-Cung Tuất
(a) Cung Tuất là cung mệnh, thân tiên thiên.
(b) Cung Tuất là cung sự nghiệp lưu niên của năm vào công ty.
(c) Trong năm vào công ty (Canh Ngọ), cung Tuất được Thiên đồng Hóa
Lộc của can Bính đại hạn và Thái Dương Hóa Lộc của can Canh lưu
niên đến giáp, phù.
(d) Lưu niên giáp Tuất, đương số được điều đến xí nghiệp khác, cũng
khiến cho cung Tuất hình thành đại cách cục “Quân thần khánh hội”
do tam lộc hội kết hợp với tam kỳ gia hội. (?)
(e) Lưu niên Bính Tý, đương số và cấp trên nảy sinh bất hòa, lúc này
cung Tuất cũng hình thành các hung cách như “Linh Xương La Vũ’,
“Hình nhân giáp ấn”... (Hết trang 59/118).
(f) Vị cấp trên sinh năm Nhâm Thìn cũng ứng với cung đối với cung
Tuất. Thiên can Vũ khúc Hóa Kỵ và lưu niên Đà la của vị cấp trên
cũng khiến cung Tuất sinh hiện tượng xấu (hung tượng).
Dưới đây, chúng ta cùng xem xét sự biến hóa của tứ hóa trong những lưu niên
tiếp theo của cung Ngọ và cung Tuất, dựa vào cách cục của nó và sự dẫn động
của tứ hóa để suy luận ra kết quả.
• 1. Tam phương tứ chính của cung Ngọ và cung Tuất có rất nhiều cách
cục. Về các cách tốt, có các cách sau: tam phương có đại cách cục “Quân
thần khánh hội” Tử Phủ Tướng hội Tả Hữu Xương Khúc, “Song Lộc giao
trì”, Hỏa Tham, Linh Tham, Lộc Quyền Khoa- “Tam kỳ gia hội”. Về hung
cách, tuy tàng ẩn có các cách cục Linh Xương La Vũ, “Hình nhân giáp
ấn”, Xương Tham, Khúc Tham v.v. nhưng cân chú ý, nếu như không có
các sát tinh và Hóa Kỵ đặc thù dẫn động, những “hung cách có tính tàng
ẩn” này trái lại sẽ có tính chất kiên trì, bền gan, càng lay chuyển càng
mạnh. Cũng chính vì ảnh hưởng của những hung cách này, sư huynh mới
dám một mình đi đến nơi đất khách quê người để lập làm việc (những chi
nhánh mới xây dựng ở đại lục, ngoài mấy vị lãnh đạo là người Đài, công
nhân viên đều là người bản địa.)


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×