Tải bản đầy đủ

Quản kiến tử bình bình chú (ok)

Người dịch: Thachmoc và Hung804

Kimtubinh.net

Quản Kiến Tử Bình bình chú
Tác giả: Lôi Minh Hạ
Bình chú: Thương Hải Châu
1. Chính quan cách
Chính quan nhất vị cách thanh cao, đới ấn trung lương quả tuấn hào.
Vô sát thân cường tình thản thản, hữu tài khí vượng chí hiêu hiêu.
Khước hiềm phân đoạt ưu mai một, tối kị hình xung thán tịch liêu.
Nội ngoại hợp đa quan bất hiển, chi can thương tận số nan đào.
Chính quan chỉ nên có một, tất một mình nắm giữ quyền thế. Mừng gặp được Ấn thụ,
bản tính trung thực lương thiện, anh hùng tuấn tú. Không nên kiến Sát, không có Sát thì
tính tình thư thái ung dung, Tài chính là nguyên thần của Quan (sinh ra Quan), gặp Tài thì
trong lòng có chút tự đắc. Nếu có kẻ tranh đoạt tái nhập cách, cần ẩn tàng không nên thấy.
Tham hợp quên Quan, kị thấy trong trụ; Hình xung phá hại, nội cục tối hiềm. Về phần
Thương quan, là Kị thần của cách này, thấy thì chẳng thọ.
Dịch nghĩa:
Trong Chính quan cách, Quan tinh tốt nhất chỉ nên có một, như vậy Quan tinh quý khí
sẽ thuần mà chuyên. Quan tinh thích Ấn tinh, người Chính quan bội Ấn, bản tính trung

lương, đa phần là hạng người anh hùng hào kiệt. Quan cách không thích Sát tinh, không có
Sát tinh đồng thời nhật nguyên cường vượng là người có sức lực, tính tình thư thản; Tài
tinh là nguyên thần của Quan tinh, người Quan cách kèm theo Tài, thường thì chí cao khí
ngạo (ngang tàng). Nếu như Quan cách đồng thời kiêm nhập cách, chính là Quan bị "phân
đoạt"; Hoặc là Quan tinh tàng dưới địa chi và không thấu, chính là Quan bị "mai một", đều
là không tốt. Nhưng tối kị chính là Quan tinh bị hợp hoặc thụ hình xung phá hại, như vậy
cách cục hoàn toàn bị phá. Mà Thương quan là kị thần của Chính quan cách, Quan cách
ngộ Thương, thường thọ mệnh không dài.
Bình chú:
Chính quan cách đứng đầu lục cách, người phú quý đa phần nhập cách này. Bát tự
cách cục, chuyên cầu nguyệt lệnh, theo như lời này thì hẳn là nguyệt lệnh Chính quan cách.
Nguyệt lệnh Chính quan cách có thể thành cách hay không, còn phải xem hỷ kỵ phối hợp
Hỷ
1) Nguyệt lệnh Chính quan tốt nhất là phải lộ ra thiên can, nếu như Quan tinh giấu ở
nguyệt lệnh và không thấu, phải đợi đại vận lộ ra, khi đó cách cục mới có thể mới có thể
phát huy tác dụng.
2) Hỷ thân cường hữu căn. Quan tuy kèm theo quý khí, nhưng cũng là thứ câu thúc
bản thân, nếu như nhật nguyên vô căn, thì không thể hưởng thụ hết quý khí của Quan tinh
mang đến.
3) Thích kèm theo Ấn. Quan cách bội Ấn cách nguyên là cách cục rất cao, một là Ấn
tinh có thể khắc chế Thương quan mà bảo vệ Quan tinh, như vậy cho dù nguyên cục hoặc
đại vận có Thương quan xuất hiện cũng không sợ; hai là Ấn tinh sinh thân, bản thân Ấn lại
được Quan tinh sinh, như vậy Quan sinh Ấn, Ấn sinh thân, quý khí Quan có thể chảy tới
thân.

1


Người dịch: Thachmoc và Hung804

Kimtubinh.net

4) Hỷ Tài tinh. Quan cách kèm theo Tài, cũng là một trong những phối hợp tốt của
Quan cách. Tài là nguyên thần của Quan, kèm theo Tài thì Quan tinh hữu lực. Nếu như
thân cường Quan nhược mà kèm theo Tài, hẳn rất có tình.
Kị
1) Kị trọng Quan. Nguyệt lệnh Quan tinh, nếu như trên thiên can có 2 Quan tinh lộ ra;
Hoặc nguyên cục thấu một, đại vận lại qua can Quan vận, thì gọi là trọng Quan. Quan
nghĩa là quản vậy. Nếu bên trên có 2 Quan tinh tới quản chế bản thân, nhật chủ chẳng còn
cách nào khác đành phục tùng, chẳng những không chiếm được phú quý, mà bởi chân đạp


hai thuyền nên như rổ tre tát nước đều mất công toi cả. Chữ "trọng", tức là nặng vì trùng
lặp chồng chéo, không phải nặng do trọng lượng. Có người cho rằng nhiều Quan tinh thì
lực lượng Quan tính quá lớn mà bại nên mới gọi là trọng Quan. Thực ra cũng không phải,
mà là hai Quan tinh xuất hiện bên trên, quý khí sẽ không chuyên, bởi vậy không cách nào
thành cách. Khi có hiện tượng trọng Quan, phải xem nguyên cục và đại vận, có khả năng
hợp trụ Quan tinh dư thừa, mới có khả năng đắc phú quý.
2) Kị Thất Sát. Quan cách ngộ Sát, bại ở quý khí bất thuần, luận thành bại như trọng
Quan ở trên.
3) Kị Tỉ Kiếp. Tỉ Kiếp có thể làm phân tán quý khí Quan tinh, cho nên thành kị. Quan
cách ngộ Tỉ Kiếp, cho dù thành cách bất bại, đoạt được phú quý nhưng phần lớn phải cùng
người khác chia xẻ. Chữ "phân đoạt" trong bài thơ trên ý là chỉ Tỉ Kiếp phân đoạt Quan
quý, đoạn giải thích ở trên "kẻ tranh đoạt tái nhập cách" e rằng không phải là chính giải.
4) Kị hình xung phá hại. Ở đây chỉ ra khí Quan tinh sợ nhất hình xung phá hại, một
khi thụ hình xung thì cách cục toàn phá hư, biến thành tạp khí Chính quan cách, luận theo
đường hướng khác.
5) Kị hợp Quan. Thiên can chỉ lộ ra một Quan tinh, sợ nhất Thiên can ở ngoài hợp
mất (trừ nhật nguyên). Dương nhật can Quan cách, nếu ngộ Thực thần thì thành hợp khử,
Quan chẳng còn là Quan, nhật chủ không cách nào nhận được quý khí Quan tinh. Còn âm
nhật can Quan cách, nếu gặp Tỉ kiên, cho dù không hoàn toàn hợp khử cũng là tranh hợp,
nhật chủ nhận được quý khí cũng rất ít. Đây cũng là biểu hiện của kị, cụ thể mức độ phá
hoại thế nào, cần phải xem 3 vị trí Quan tinh, nhật chủ và can tranh hợp, lực lượng của Tỷ
mới có thể định lượng. Về phần bản thân nhật chủ hợp Quan, vô tranh vô đoạt, chính là
Quan tinh hợp nhập bản thân, toàn bộ quý khí Quan tinh đều cho ta sở dụng, không gọi là
hợp khử.
6) Kị hợp Tài. Ngoại trừ Quan tinh đã bị bên ngoài hợp khử, bên trong dương can
Chính quan cách, nhật chủ hợp Tài cũng là điều kị của cách cục này. Chỗ này gọi là tham
hợp quên Quan, là nhật chủ tham luyến Tài tinh quấn quít tình cảm, lệnh dụng thần Quan
tinh không chỗ nào dựa vào. Nhật chủ vô tâm khi muốn hướng tới Quan lấy quý, nhưng
không chiếm được quý khí Quan tinh, nhật can thiên là người quá yếu nhược.
7) Kị Thương quan. Quan cách ngộ Thương, cũng rõ ràng là phá cách. Nếu như
nguyên hoặc đại vận không có Ấn tinh giải cứu, thì gặp nhiều kiện cáo hoặc bị tiểu nhân
làm hại, ảnh hưởng đến sự nghiệp chức vị. Về phần ý bài thơ nói: Quan cách ngộ Thương
thì đoản thọ, e rằng không hẳn như vậy. Nhân thụ mệnh do trời, sinh tử chẳng thể ngoa
ngôn, cũng là do tạo ác nghiệp mà người mệnh này phải thận trọng.
2. Thiên quan cách
2


Người dịch: Thachmoc và Hung804

Kimtubinh.net

Thiên quan phú tính tối cương cường, thân sát tương tranh định bất tường.
Sát thiển thân cường quyền khả tiện, khí suy sát trọng mệnh nan trường.
Nhận tinh đắc hợp công danh viễn, ấn thụ tương sinh phúc lộc xương.
Chỉ phạ sát quan đa ấn thiểu, thủy chung bần khốn sự quai trương.
Thiên quan, thuộc loại dương khắc dương, âm khắc âm. Không có âm dương phối
hợp cho nên gọi là thiên (nghiêng, lệch). Thân cường có chế phục thì thành Thiên quan,
thân nhược vô chế phục làm thành Thất sát. Thân Sát tương đình (tương hỗ) thật là khéo:
như thân nhược Sát vượng, thân Sát tranh chấp, chẳng hề tốt đẹp; Thân cường Sát thiển
(mỏng, ít), mượn Sát làm quyền; Sát trọng thân khinh, cuối cùng cũng tổn hại, cơ bản là
vậy. Dương Nhận có thể hợp Sát, Thương quan có thể giá (chống) Sát, Thực thần có thể
chế Sát, Ấn thụ có thể hóa Sát, gặp được 4 thứ này chủ mệnh công danh cao rộng, phú quý
lâu dài. Nhưng kị Quan Sát hỗn tạp, lại không có Ấn hóa, chẳng những phúc khí phỉ bạc, e
rằng còn khó thọ. Âm nhật Thương quan giá Sát, dương nhật Thương quan không thể giá
Sát, chỉ có thể luận Thương quan đới (kèm theo) Sát.
Dịch nghĩa:
Loại lục thần gọi là Thiên quan vì khắc chế nhật chủ, dương khắc dương, âm khắc âm.
Bởi trong quan hệ tương khắc này không có âm dương phối hợp, nên gọi là "thiên". Có
điều thông thường Nhật chủ cường vượng mà lục thần chủ khắc có chế mới gọi là "Thiên
quan", nếu như Nhật chủ nhược mà lục thần chủ khắc vô chế thì gọi là "Thất Sát". Thiên
quan bản tính cương cường, trong mệnh cục, sức mạnh của nhật nguyên và Thất Sát cân
bằng là tốt nhất, nếu như thân nhược mà Thất Sát vượng, thân Sát tranh chấp, đều không
tốt. Nếu thân cường mà Thất Sát nhược có thể dụng Thất Sát này làm quyền bính, khả dĩ
đạt được phú quý; nếu như Thất Sát cường mà thân nhược, chính là bất cát, thậm chí ảnh
hưởng tới thọ mệnh, thi văn trên chính là ý này. Dương Nhận có thể hợp Sát, Thương quan
có thể giá Sát, Thực thần có thể chế Sát, Ấn thụ có thể hóa giải Thất sát - Thất Sát mà gặp
tứ thần này thì có công danh, phú quý. Cách cục này sợ Quan tinh tới hỗn tạp, nếu như
Quan sát hỗn tạp đồng thời lại không có Ấn tinh tới hóa giải, chẳng những bần khốn mà
còn vô phúc, sợ rằng thọ mệnh bất trường. Mặt khác, âm nhật can Thương quan mới có thể
giá Sát, dương nhật can Thương quan không thể giá Sát, chỉ có thể nói Thương quan đới
Sát.
Bình chú:
Nhiều cổ thư giải thích hữu chế phục thì gọi Thiên quan, vô chế phục gọi Thất Sát,
quy luật là thế nhưng lấy kết quả để phân biệt tên lại không cần phải như vậy. Đối với cách
cục này, khi dự đoán chúng ta đều có thể gọi là Thiên quan hoặc là Thất Sát không việc gì
cả. Từ xưa người luận mệnh rất xem trọng Thất Sát, nguyên nhân là nó "thiên kích" lại kèm
tính chất công kích, với nhật chủ cùng tính tương khắc bất lưu tình, Thất Sát và Chính quan
không giống nhau.
Nguyệt Nguyệt Thất Sát cách hỷ thân vượng. Nếu như Thất Sát và nhật nguyên tại
nguyên cục có lực lượng quân bình, hoặc Thân cường Sát nhược, Thất Sát sẽ không dám
tùy tiện công kích Nhật chủ, vẫn có thể hi vọng đạt phú quý. Thư sách nói "Thân Sát lưỡng
đình" là quý mệnh, chính là kết cấu Thất Sát đới Nhận, lúc này không cần phải chế Sát, nên
có phú quý. Nhưng muốn đạt được cái phú quý này, ví như lấy hạt dẻ trong lò lửa vậy, thật
3


Người dịch: Thachmoc và Hung804

Kimtubinh.net

chẳng dễ dàng. Lúc niên vận xung Nhận thì có khả năng xuất hiện đại tai nạn, điều này là
do sau khi Nhận bị xung, lực lượng Thân Sát sẽ mất cân bằng. Vì lẽ đó, nói tóm lại điều
kiện tốt nhất phối hợp là Thất Sát cách lấy hợp Sát, chế Sát, hóa Sát làm thành cách. Nếu
như trong cục không có 3 loại đáp phối này, mà chỉ là Thân Sát lưỡng đình, thì cho dù phú
quý, vẫn có khả năng gặp một vận không may mà tai họa diệt vong, bởi thế không thể luận
là mệnh tốt được.
Dương Nhật can lấy Nhận (Thiên can Kiếp tài) hợp Sát, lấy Thực thần Thương quan
chế Sát, lấy Ấn hóa Sát, đều là hảo mệnh. Có điều khi thân nhược dụng Ấn hóa Sát là hữu
tình nhất, Thương quan chế Sát không bằng Thực thần chế Sát bởi Thương quan và Sát là
dị tính tương khắc, không thể dốc toàn lực mà chế Sát vậy.
Âm Nhật can lấy Thương quan hợp Sát, lấy Thực thần chế Sát, lấy Nhận Kiếp tài mà
trợ thân (gián tiếp kiềm chế Thất Sát), lấy Ấn trực tiếp hóa Sát - tất cả đều là đáp phối (kết
hợp) tốt.
Thất Sát cách sợ thân nhược vô căn, sợ Tài sinh Sát, sợ Quan tới hỗn Sát. Thông
thường mà nói, Thất Sát cách trừ phi là kết cấu "Sát - Nhận", bằng không cho dù là Thân
cường Sát thiển đều kị Tài đến trợ Sát. Về phần Quan Sát hỗn tạp, bất kể là trong Quan
cách hay là Thất Sát cách, đều là yếu kị. Xuất hiện Quan sát hỗn, nếu như không thể thủ
thanh, cho dù hữu Ấn hóa giải, nhiều nhất cũng chỉ có thể lấy bình an vô tai mà luận, còn
phú quý thì vô vọng, đây là cái lý của thuần tạp.
Thời thượng Thiên quan cách
(Thời thượng nhất vị quý cách)
Thời thượng thiên quan nhất vị lương, bất phân minh ám hỷ tài cường.
Thực thần tối ái can đầu kiến, dương nhận thiên nghi chi hạ tàng.
Tính cách cương cường đa trí lược, khâm hoài lỗi lạc hảo văn chương.
Thực thần thái trọng vô thê thiếp, hoàng quyển thanh đăng không tự mang.
Thiên quan trên trụ giờ chỉ hỷ có một vị trí, tức thời thượng nhất vị quý cách, tái kiến
cũng không được. Có tại thiên can hoặc địa chi, đều hỷ Tài tinh sinh cho. Mà một vị Thiên
quan, e rằng không thể cổ vũ tạo hóa, tất mượn Tài để sinh, chính là Tài tư (sinh) Thất sát,
anh hùng độc áp vạn nhân (anh hùng một mình chấn áp vạn người). Thực thần trên can
dùng để chế Sát, Dương Nhận dưới chi dùng để hợp Sát, hai loại thích hợp thấy ở thời
thượng Thiên quan. Chủ người quang minh chính trực, dùng học vấn mà nổi danh. Nếu
như Sát tại trụ giờ vô khí, Thương quan Thực thần khắc chế thái quá, lại không có Chính
Tài tinh sinh trợ, chính là người gặp chẳng bằng không gặp. Phú rằng: Thiên quan thời ngộ,
chế phục thái quá, chính là hàn nho, nguyên nhân là vậy.
Dịch nghĩa:
Thời thượng Thiên quan đồng thời là thời thượng nhất vị quý, Sát tinh chỉ có một ở
trụ giờ mới thành cách. Nếu như trong cục bên trên có 2 Sát tinh thì không phải. Thời
thượng Sát tinh này bất luận là ở thời can hay tại thời chi, đều thích nguyên cục có Tài tinh
sinh trợ. Bởi lẽ Sát tinh chỉ có một vị trí tại trụ giờ, sợ vận mệnh con người bất lực trước
tạo hóa, cho nên cần thiết dụng Tài tới sinh, do vậy bình thường mới nói " Tài tư Thất sát,
anh hùng độc áp vạn nhân". Cách cục này thích thiên can có Thực thần chế Sát, địa chi có
Dương Nhận hợp Sát. Người nhập cách cục này, tính cách cương cường, quang minh lỗi
lạc, lại đầy mưu trí, văn chương xuất chúng. Nếu như thời thượng Thất Sát quá yếu vừa bị
4


Người dịch: Thachmoc và Hung804

Kimtubinh.net

Thương quan Thực thần khắc chế quá độ, nguyên cục lại không có Chính Thiên Tài sinh
trợ, thì không thể đạt được điểm tốt của loại cách cục này, thậm chí không có vợ con, dễ
thành hạng người không nhà (đi tu). Cổ phú thuyết: "Thiên quan thời ngộ, chế phục thái
quá, chính là hàn nho" - nói ra như vậy chính là ý tứ này.
Bình chú:
Đây là một loại cách cục đặc thù, bởi vì tại trụ giờ tìm cách cục, nhất định là nguyệt
lệnh bất thành cách cục, bằng không cách cục vẫn phải tìm trong nguyệt lệnh. Cách cục
này có một vài yếu điểm, một là thời thượng nhất vị quý, nhất định chỉ có một vị tại trụ giờ,
nhiều hơn sẽ không thành quý cách, cũng không có thể có Quan tới hỗn tạp. Tam Mệnh
Thông Hội nói rằng: Với cách cục này, nếu như niên nguyệt nhật trọng kiến Sát tinh là
mệnh vất vả khổ cực. Hai là phải thân cường. Ba là phải có chế phục, trong nguyệt lệnh có
chế thì thành cách tốt, nhưng lại không thể chế phục thái quá. Nếu có hai ba tầng chế phục,
chính là chế phục thái quá. Chế phục thái quá, cuộc đời tựa như lý đỗ (bế tắc), tuy văn
chương xuất chúng nhưng suốt đời không được như ý, chỉ có thể là giới hàn nho. Bốn là,
Sát phải cần có Tài sinh, nếu như vô Tài, phải tự tọa vượng (lâm quan), nói vậy ý là trong
cục không có Tài tinh mà thời trụ là Canh Thân Ất Mão - Sát tinh thì hợp cách.
Chính Tài cách
Chính tài vượng tương yếu căn thâm, nội trợ thê hiền cổ sắt cầm.
Trụ đới bỉ kiên hằng bất túc, vận lâm thất sát phúc di thâm.
Ngũ hành sinh xứ đa hoạch bảo, tam hợp phùng thời quảng tích kim.
Quan ấn lưỡng bàn đồng nhập cách, công danh tảo toại thiểu niên tâm.
Chính Tài cách, nhất định phải có căn dưới địa chi mới quý. Phú rằng: Địa chi Tài
phục ám sinh giả kỳ. Cho nên Tài đó mới làm vợ. Tài tinh hữu khí tất có vợ đức hạnh tài
năng. Tỉ Kiên phân Tài, đương nhiên thành thiếu, nhưng kẻ Tài đa thân nhược, chuyển
thành bất kị. Phú nói: Mệnh dụng Tài, vận gặp Sát, việc cát cũng có thể bày ra. Nên mới
"phúc di thâm" như vậy (phúc lành đầy đủ, thâm sâu) . Kẻ dụng Tài, nguyên trong trụ phải
có sinh khí, cục có tam hợp là tốt nhất, Tài hợp thì tụ. Người như thế, tích góp được nhiều
tiền của, đầy ngọc ngà châu báu, tái kiến Quan Ấn, đây chính là tam kỳ toàn bị (đầy đủ cả
Tài Quan Ấn), định chủ sớm đăng khoa đệ, lại phú quý song toàn. Nhưng Lộc hiềm xung
phá, Mã kị Không vong, không thể không biết đến.
Dịch nghĩa:
Chính Tài cách, Tài phải vượng, Tài cường căn, Tài mới thành quý mệnh. Cổ phú có
nói: Địa chi có Tài ám tàng, phù trợ thành Tài cách, là kỳ mệnh, hảo mệnh. Tài tinh, đại
biểu cho vợ của người đàn ông, vậy mới nói Tài tinh hữu khí hữu căn nhất định có thê tử
hiền năng. Trong cục có Tỉ Kiên thì phân tán tài vận, tài vận dĩ nhiên không đủ, thành ra
không được tốt lắm, tuy nhiên nếu như mệnh cục Tài đa thân nhược, ngược lại không sợ Tỉ
Kiên. Cổ phú văn thuyết: Mệnh cục lấy Tài làm dụng, đại vận gặp Sát thì may mắn, cho
nên thơ trên mới nói "phúc di thâm". Nếu dụng Tài, trong nguyên cục Tài phải có sinh khí,
ví như địa chi tam hợp Tài cục thì càng tuyệt vời, hoặc hợp Tài chẳng khác nào thành nơi
Tài tụ họp, như vậy mệnh có nhiều khả năng giữ được vàng bạc tiền của, rất giàu có. Nếu
như có thêm Quan tinh và Ấn tinh đồng thời thấu lộ trên thiên can, thì được gọi là Tài
Quan Ấn tam kỳ toàn, có khả năng thiếu niên đắc chí, phú quý song toàn. Mặt khác phải
chú ý: Lộc sợ xung phá, Mã kị Không vong.
5


Người dịch: Thachmoc và Hung804

Kimtubinh.net

Bình chú:
Nguyệt lệnh Chánh Tài cách, yêu cầu thân cường. Nếu như nhật nguyên quá nhược,
tất không có năng lực được hưởng phúc thê tài. Tài sợ Tỉ Kiếp Lộc Nhận, trừ phi Tài đa
thân nhược, bằng không bất cát. Thông thường mà nói, Tài cách cần Thực Thương tới sinh
Tài, dụng Quan đến hộ Tài, đó là nguyên lý cách cục thuận dụng. Sợ nhất trong nguyên cục
tình cờ gặp Sát tinh, vì Sát có năng lực chuyển Tài công thân. Nguyên văn nói Tài cách hỷ
Thất Sát đại vận hẳn là tại nguyên cục có Tỉ Kiếp Lộc Nhận, vận gặp Thất Sát có thể chế
Kiếp hộ Tài, nguyên cớ như vậy, bình thường Tài cách dưới tình huống lấy Quan hộ Tài
mới là tốt đẹp. Dù cách cục Tam Kỳ đầy đủ Tài Quan Ấn cũng phải nhìn vị trí, chỉ có Tài
Ấn không phương ngại lẫn nhau mới có thể phú quý song toàn. Về phần "Lộc hiềm xung
phá, Mã kị Không vong" là một câu cổ ngữ, "Lộc" có thể giải thích là Quan, vừa có thể giải
thích là Lộc thần. "Mã" có thể giải thích là Tài, cũng có thể giải thích là Dịch Mã. Như
trong《 Ngũ hành tinh kỷ 》nói đến giờ Thiên Lộc Thiên Mã khi giải thích câu: "Lộc hiềm
xung phá, Mã kị Không vong", ý tương ứng với Dịch Mã. Trong《 Tinh Mệnh tổng
quát 》thuyết: "Lộc hiềm xung phá, y thực (cơm áo) gian nan. Như Giáp sinh nhân Lộc tại
Dần, lập mệnh tại Thân, Lộc làm mệnh xung phá, suốt đời gian nan bôn tẩu. Mã kị Không
vong, y thực bôn ba. Như Kỷ Tị sinh nhân Mã tại Hợi, hành hạn sẽ gặp, hoặc tự thân mệnh
từ lúc sanh ra đã khốn đốn" cũng xu hướng cho là Dịch Mã. Còn《 Tam Mệnh Thông
Hội 》 thuyết, Tài khố sợ không (không vong), khố gặp không thì không thể tụ Tài, như
Nhâm sinh tháng Tuất tuần Giáp Tý, Tuất (hỏa khố) làm Tài mà rơi Không vong bất cát.
Có thể thấy rõ, nguyệt lệnh Tài cách nếu như lạc Tuần Không, cũng là không tốt. Tại Quản
kiến luận Chánh Tài khảo thích câu "Lộc hiềm xung phá, mã kị Không vong", đương nhiên
ý là "Nguyệt lệnh Quan cách sợ hình xung, và nguyệt lệnh Tài cách sợ gặp Không vong".
Thiên Tài cách
Thiên tài sinh vượng tại nguyệt chi, khảng khái phong lưu quả xuất kỳ.
Quan sát thanh thuần tài lộc thịnh, bỉ kiên hỗn loạn lợi danh khuy.
Bình sinh sự nghiệp do thê quản, bán thế sinh nhai lại tử vi.
Mộ khố vận lâm xung kiếp địa, thọ nguyên phúc khí lưỡng tham sai.
Nguyệt thượng Thiên Tài, tốt nhất là nên sinh vượng. Tính tình khẳng khái phong lưu.
Hoặc Quan hoặc Sát, chỉ cho phép một vị, chỉ thuần mà không tạp, mới là người có phúc
có lộc. Trọng kiến Tỉ Kiên Kiếp Tài thì hỗn loạn. Thiên Tài chính là tiền tài của mọi người,
có thể tận dụng được nó chăng? Nếu bị Tỉ Kiếp phân khử, lợi danh tất tự nhiên hao tổn.
Người mang Thiên Tài cách, tính cách chây lười, tản mạn, thích tự do. Tất cả mọi việc đều
dựa vào vợ, sủng ái vợ nhỏ (không phải vợ cả). Như hành vận đến vận đến mộ khố tử tuyệt
kiếp sát, phân đoạt tú khí, phúc thọ chẳng phải trôi qua vô ích rồi.
Dịch nghĩa:
Nguyệt thượng Thiên Tài cách, Tài vượng là điều kiện tốt nhất. Người nhập cách cục
này, tính tình khẳng khái phong lưu. Thiên Tài kèm theo Chính quan cũng tốt, kèm theo
Thất Sát cũng tốt, nhưng chỉ cần một vị, mới gọi thuần mà không tạp, Quan Sát thuần tất là
người có phúc có lộc. Nếu như kèm theo Tỉ kiên Kiếp tài, lập tức danh lợi hữu khuy (suy
giảm, thua lỗ). Bởi Thiên Tài thuộc của cải mọi chúng nhân, có được bao nhiêu đây? Nếu
như Tỉ Kiếp phân khử, danh lợi tự nhiên có khuy tổn. Người Thiên Tài cách, tình cảm tính

6


Người dịch: Thachmoc và Hung804

Kimtubinh.net

cách lười biếng, hời hợt, thích vui vẻ giống như "phủi trưởng quỹ", việc lớn việc nhỏ đều
do vợ phụ nữ giao thiệp quản lý, đồng thời loại người này yêu thiên thê hơn hẳn chánh thê.
Hành vận nếu như Thiên Tài nhập vận mộ khố tử tuyệt, hoặc vận Kiếp Sát thì tài vận bị
phân,, thọ nguyên phúc khí đều bị ảnh hưởng.
Bình chú:
Thiên Tài thích hợp Tài vượng, sợ nhất Tỉ Kiếp phân đoạt, bởi vì Thiên Tài cơ bản là
tài vật đến từ bên ngoài, cho nên càng nhiều càng tốt; bản thân Thiên Tài là vật vô chủ, vì
thế rất dễ dàng bị phân đoạt. Đương nhiên, Thiên Tài cách cũng phải Thân vượng mới tốt.
Nếu như Tài tinh thái suy, Nhật chủ quá yếu, hoặc là kèm theo Sát mà vô chế, đa phần là
mệnh phá tổ tông, vất vả. Còn Thiên Tài kèm theo Quan Tỉ Chánh Tài đới Quan càng tuyệt
vời, do âm dương hữu tình, Thiên Tài sinh Quan, Quan hộ Tài, song phương cùng đem hết
sức mình. Thiên Tài cách hành vận sợ Tài tinh mộ khố tử tuyệt, sợ Tỉ Kiếp phân đoạt, bởi
gặp loại vận khí này sẽ phá hoại Tài tinh tú khí.
Hai loại Chánh Tài Thiên Tài cách, khác biệt ở tính chất âm dương cần nhận thức kỹ
lưỡng. Nhưng theo cách phân loại lục cách thấy rằng Tài cách chẳng phân biệt thiên chính,
hỷ kỵ giống nhau, cùng luận như sau:
Hỷ:
1) Hỷ Tài vượng căn thâm, Thiên can một vị làm dụng. Thiên can đa thấu làm Tài lộ,
lúc này càng sợ Tỉ Kiếp, chỉ có tái kèm theo Chính quan giải cứu mới có thể thành cách,
không thể lấy hợp Tài thủ thanh.
2) Hỷ thân cường.
3) Hỷ Quan tinh. Quan tinh làm quý khí, đồng thời lại có thể hộ Tài, dụng Quan kị Sát
tương hỗn, đồng thời kị Thực Thương. Đáp phối loại này càng yêu cầu nhật nguyên cường
vượng hữu lực. Hoặc là qua đại vận thân vượng lúc này mới phát, bằng không phát phúc
nhỏ.
4) Hỷ Thực Thương sinh Tài. Nhưng cái này cần khi Tài nhược mà thân cường thấu
Tỉ Kiếp, không thấu Quan tinh mới hữu tình, bằng không bất hỷ, bởi Thực Thương đều là
kị vật của Quan tinh. Dụng Thực thần lúc này lược thấu Tỉ Kiếp là trọng yếu, Tỉ Kiếp là
Thực thần chi nguyên, lược thấu thì hữu tình, đa thấu sẽ có Kiếp tài nghi kị. Nếu dụng
Thương quan, cũng tại thân cường Tài nhược và Tỉ Kiếp đa thấu, bất đắc dĩ mà dụng,
không phải hoan hỷ nhất. Vả lại so với Thực thần sinh Tài, Thương quan sinh Tài chỉ là
cách cục bình thường.
Kị:
1) Kị thân nhược.
2) Kị nguyệt lệnh gặp không (không vong) hoặc thiên can khác hợp Tài.
3) Kị Tỉ Kiếp phân Tài.
4) Kị Thất Sát, nếu đới Thất Sát, Sát cần hữu chế hợp, có thể luận quý.
5) Kị Ấn Tài lưỡng tinh tại thiên can đối đầu với nhau. Tài vượng sinh Quan cùng với
Thực thần sinh Tài cách, Tài cách dụng Ấn không phải là lựa chọn hay, nhưng có thể dụng
Ấn giúp thân thủ quý, hơn nữa thường thì thân nhược Tài cường đành phải dụng Ấn thủ
Tài, đồng thời phải xem vị trí ở đâu nữa. Nếu như Tài Ấn kề nhau, hoặc là thân cường Tài
nhược cũng không thể luận cát được.
Thời thượng Thiên Tài cách
7


Người dịch: Thachmoc và Hung804

Kimtubinh.net

Thời thượng thiên tài nhất vị giai, công danh hữu phân sĩ đồ xa.
Tha hương phát phúc cao tương kính, chính thất phân duyên ái thiếp hoa.
Quan sát bất tạp thành cát khánh, bỉ kiên đa kiến mạn tư ta.
Trọng trọng tài vượng thân vô lực, nguyên thị danh môn lão cố gia.
Thời thượng Thiên Tài và Thời thượng Thiên quan có điểm tương đồng, chỉ hỷ một vị,
nhiều thì không đẹp. Nếu Tài ở trụ giờ hữu khí, Nhật chủ cương cường, thì công danh rộng
lớn, là mệnh làm quan lâu bền. Thời thượng Thiên Tài, đa phần phúc khí đến từ bên ngoài,
chủ việc có cao nhân tương trợ, mời chào. Dù có Quan hay Sát đều không thể hỗn tạp,
điểm này lại càng tương đồng hơn. Thiên Tài nhiều thì thiên vị thê thiếp (vợ bé). Thời
thượng Thiên Tài, trên trụ năm lại thấy mà Nhật chủ vô khí thì trở thành Tài đa thân nhược,
chính là "phú ốc bần nhân". Phú nói rằng: Thời thượng Thiên Tài, khác cung kị kiến. Lại
nói thêm: Thời thượng Thiên Tài, sợ gặp huynh đệ. Chỗ này theo cách xưng hô nên nói
như vậy.
Dịch nghĩa:
Thời thượng Thiên Tài cách và Thời thượng Thiên quan cách quả thực giống nhau,
chỉ cho phép Tài tinh có một vị trí, nhiều hơn là không tốt. Nếu trên trụ giờ Tài tinh hữu
khí, Nhật chủ lại cường, chính là đường công danh rộng lớn, mệnh quan lộ lâu dài. Bất quá
nhiều người có cách Thời thượng Thiên Tài đều ở quê người mà phát đạt, có cao nhân
tương trợ, chào mời, ngoài ra còn yêu quý thê thiếp hơn hẳn chính thê. Trong cục có thể
dụng Quan tinh, có thể dụng Sát tinh phối hợp mà thành cách, nhưng không thể hỗn tạp,
Quan Sát hỗn tạp thì cần lấy hợp mà thủ thanh mới tốt. Trụ giờ đã có Thiên Tài, nếu trụ
năm, trụ tháng lại có Tài tinh, đồng thời nhật nguyên nhu nhược, lúc bấy giờ lại thuộc Tài
đa thân nhược, giống như một người nghèo sống trong một căn nhà xa hoa tráng lệ, cách
cục thực mất cân đối. Cổ phú văn giải thích: Trụ giờ đã có Thiên Tài tinh, kị thấy tiếp Tài
tinh ở cung vị khác. Lại giải thích thêm: "Thời thượng Thiên Tài, sợ gặp huynh đệ", chính
là nói ý: Thời thượng Thiên Tài cách sợ gặp Tỉ kiên Kiếp tài.
Bình chú:
Thời thượng Thiên Tài không phải dùng nguyệt lệnh mà lấy cách, vì vậy thuộc phạm
vi của ngoại cách. Bất kể là thời can lộ ra Tài tinh hay thời chi có tàng Tài đều có thể nhập
cách cục này. Nhười nhập cách cục này phần lớn dùng tiền bạc đều hào phóng, mưu mô
xảo trá, lại còn dễ dàng có được tiền của phi nghĩa bất chính, yêu thích vợ nhỏ hơn...vv. Hỷ
kỵ như sau:
1) Cách cục chỉ hỷ một vị Tài tinh, không nên gặp nhiều.
2) Bất kể thân cường thân nhược, đều kị thiên can có Tỉ Kiếp tinh, mệnh và tuế vận 3
thứ này đều luận giống nhau. Có Tỉ Kiếp tinh xuất hiện, cho dù phú quý nhưng cuộc đời
hay gặp trắc trở.
3) Hỷ thân cường Tài vượng. Thân cường Tài vượng thì công danh rộng lớn, tối kị
nhật nguyên nhược mà Tài cường. Thân cường Tài hơi yếu, vận nhập nơi Tài thì đắc tài
sinh lợi, hoặc xuất thân hàn môn mà cuối cùng có thể được phú quý vinh hoa. Nhưng nếu
là thân nhược Tài cường thì vận nhập Tài địa bất cát, vận nhập địa chi Lộc Vượng thì còn
có thể đắc Tài, nhưng cuối cùng cũng khó tránh khỏi túng quẫn nghèo khó.

8


Người dịch: Thachmoc và Hung804

Kimtubinh.net

4) Hỷ Quan Ấn, bởi Quan có thể hộ Tài, Ấn có thể trợ thân, nhưng kị ở trên can gặp
nhau bị Tài khắc (Ấn). Bất kể thân cường thân nhược đều kị Sát tinh, bởi Sát có thể chuyển
Tài công thân, trừ phi Thất Sát bị hợp chế và được cứu ứng.
5) Kị trụ khác xung phá cách cục.
Chính Ấn cách
Chính ấn tòng lai sinh ngã thân, trụ trung tiên yếu thức nguyên thần.
Sát quan bất kiến nan ngôn quý, thiên chính tài đa định thị bần.
Kiếp trọng kiến tài hoàn hữu dụng, ấn khinh thấu sát phản vi thân.
Thực thần ngẫu nhĩ lai tương phạm, phong tật triền miên bệnh bất nhân.
Ấn thụ, sinh Ta - nhật can. Quan Sát chính là nguyên thần của Ấn thụ, trong trụ không
thể không có; Tài làm Kị thần của Ấn thụ, trong trụ không nên có. Tử Bình nói rằng:
"Trọng trọng sinh khí nhược vô quan, đương tác thanh cao kỹ nghệ khán, quan sát bất lai
vô tước lộc, túng vi kỹ nghệ dã cô hàn" (Sinh khí trùng trùng mà không có Quan tinh, mắt
thấy tài nghệ rất cao nhưng bởi Quan Sát không đến nên chẳng có tước lộc gì, mặc dù có
tài nghệ mà vẫn cô hàn). Lại nói: Nguyệt sinh nhật can vô Thiên Tài, mới gọi là Ấn thụ
(đeo ấn). Lại nói rằng: Dụng Ấn kiến Tài, mười người thì chín người bần hàn; nếu trong trụ
Tỉ Kiếp trọng trọng, thấy Tài ngược lại thành cát. Phú có nói: Tài tinh phá Ấn, cần gặp nơi
Tỉ Kiếp. Nếu Ấn thụ nhẹ, hỷ Sát tinh lộ ra, hợp thành Sát Ấn tương sinh, rất hợp với thân.
Ấn thụ gặp Thực thần, Tỉ Tài cũng vậy. Phú rằng: "Ấn thụ trọng trọng hưởng hiện thành,
thực thần chỉ khủng ám tương hình, tảo niên nhược bất quy hoàng thổ, cô khổ linh đình
phong tật oanh" ( Ấn thụ trọng trọng hưởng cái có sẵn, thêm Thực thần thì e ám tương hình,
thủa nhỏ nếu không chết, lớn lên sống lẻ loi hiu quạnh, bệnh tật quanh mình). Ý nói là như
vậy.
Dịch nghĩa:
Sinh nhật can thì gọi là Ấn thụ. Quan sát là nguyên thần của Ấn thụ, nguyên cục
không thể không có. Tài tinh là kị thần của Ấn thụ, nguyên cục không thể xuất hiện. Tử
Bình nói rằng: Ấn thụ trọng trọng, nếu không có Quan tinh tương phụ, chỉ có thể đoán
người thanh cao và có tài nghệ, không có Quan Sát thì không có tước lộc, cho dù là người
có tài năng cũng là mệnh cô hàn. Lại nói: Nguyệt lệnh sinh nhật nguyên, trên thiên can
không có một Tài tinh, mới có thể gọi là Ấn thụ cách. Còn nói: Ấn cách kiến Tài, tám chín
phần mười là mệnh nghèo khó, nhưng nếu Ấn thụ cách mà tứ trụ nhiều Tỉ Kiếp, có thêm
Tài tinh ngược lại luận cát. Cổ phú văn nói: Nếu như Tài tinh phá Ấn, đại vận cần đi qua
nơi Tỉ Kiếp. Nếu như Ấn tinh quá khinh, vậy thích Sát tinh lộ ra, xuất hiện ý đồ Sát Ấn
tương sinh, đây là cách cục hữu tình nhất. Mà Ấn thụ kiến Thực thần, Tỉ thấy Tài lại càng
bất lợi. Cổ phú nới: Ấn thụ trọng trọng, là mệnh hưởng cái phúc vốn có, nhưng thấy Thực
thần đến, Thực Ấn gặp nhau âm thầm tương khắc, loại cách cục này nếu như không phải
chết sớm thì nhất định là mệnh bơ vơ, thân thể bệnh tật triền miên. Đó là ý tứ của đoạn thơ
văn trên.
Bình chú:
Nguyệt chi sinh nhật can, chính là Ấn cách, ở đây trước tiên nói về Chính Ấn cách.
Lấy nguyên lý thuận nghịch của lục cách để nói. Chính Ấn cách là thuận dụng, nên hỷ

9


Người dịch: Thachmoc và Hung804

Kimtubinh.net

Quan tinh tương sinh, vừa hỷ Tỉ Kiếp hộ Ấn. Tối kị Tài tinh phá hư Ấn. Về Sát tinh và
Thực Thương cần nói rõ ràng hơn:
1) Ấn cách gặp Quan là hỷ, thân Ấn Quan ba loại này đều càng cường vượng càng tốt.
Bởi vì Quan chủ quý khí, cho dù thân Ấn lưỡng tái kiến Quan cũng không thành kị. Nhưng
phối hợp này chỉ ngại Thất Sát đến tương hỗn, cũng sợ tái kiến Thực Thương. Nếu có Thất
Sát cần hợp chế Sát tinh để thủ thanh. Nếu kiến Thực Thương phải can đầu minh thấu Ấn
tinh hộ Quan, mới có thể nói rằng quý.
2) Ấn cách kiến Sát, hỷ kỵ cần căn cứ vào năng lực của thân Ấn hoặc tình huống cứu
ứng mà luận. Nếu như nguyên cục không có Thực Thương thì yêu cầu nhật nguyên và Ấn
tinh một cường một nhược, năng lực một phía không đủ mới khả dụng Sát tinh sinh Ấn thủ
quý. Nếu thân Ấn lưỡng vượng, vì thân vượng không cần Ấn sinh, Ấn vượng không nhọc
Sát trợ, khi đó Sát tinh chỉ biết phát huy tác dụng tiêu cực, mệnh chủ không cô thì bần. Mà
nếu như Ấn cách kiến Sát, lại thấy Thực Thương, do Thực Thương có thể chế Sát, vừa có
thể tiết tú, nhìn nhận kết quả tuy kèm theo kị mà có cứu ứng, mặc kệ thân Ấn mạnh yếu,
đều có thể luận quý.
3) Ấn cách kiến Tài là kị. Trừ phi thân cường mà Ấn tinh tại nguyên cục đa thấu và
thâm căn, thì có thể dụng Tài ức chế Ấn tinh một chút và không luận kị. Nếu như Ấn
nhược mà Tài tinh quá cường, chính là đáp phối tham Tài hoại Ấn, lúc này tại nguyên cục
hoặc ở đại vận có Kiếp tài giải cứu cũng tốt, bằng không chính là mệnh bần tiện. Nguyên
trong đoạn chú thích có trích dẫn câu phú: "Tài tinh phá Ấn, cần gặp nơi Tỉ Kiếp", chính là
nói đến sự cứu ứng ở đại vận. Mà nếu Ấn cách kèm theo Tài lại thấy Thực Thương, Tài
Thực có khả năng hợp một lưu một thì có thể luận quý. Nếu không thì cũng muốn thân
cường Ấn vượng mà Tài nhược, mới đạt phú mà không luận quý, bởi vì dụng Thực
Thương sinh Tài tuy tốt, nhưng chung quy lại chúng vẫn là thứ phương ngại Quan tinh.
4) Ấn cách thấy một Thực Thương, duy chỉ thân Ấn lưỡng vượng thì mới lấy Thực
Thương tiết tú luận cát, nếu như thân Ấn đều nhược, trái lại bị Thực Thương tiết khí sẽ là
kẻ bần hàn. Bất quá cách cục thân Ấn lưỡng vượng mà Thực Thương tiết tú cũng phải kết
hợp phân tích đại vận, hành vận kiến Tài có khả năng thủ phú, kiến Sát có khả năng thủ
quý, bằng không nhiều nhất chỉ có tài Trạng nguyên nhưng vô phú quý.
5) Ấn cách mà thiên can minh kiến Tài Sát, bởi Tài có thể phá hư Ấn, vừa sinh Sát,
cho nên là vật tối kị trong cục, lúc này nếu nguyên cục hoặc đại vận có thiên can Kiếp tài
giải cứu, tái lập phân tích hỷ kỵ "Ấn-Sát" mới có thể có phú quý. Bất quá thông thường
nguyên cục có điều kị, nhưng tại nguyên cục được cứu ứng, thì vẫn là mệnh tốt, nếu
nguyên cục vô cứu ứng mà tại đại vận lại tìm thấy thì vận đó có thể chuyển cát, qua vận đó
lại như trước. Thời gian hiệu lực của vận và mệnh khác nhau, luận giả không thể không
biết.
Thiên Ấn cách
Thiên ấn kiêu thần đề thượng cư, vô quan vô sát lợi danh hư.
Thiếp tinh ám kiến sầu vô hạn, thiên trù minh phùng bệnh hữu dư.
Tính cách bôn mang đa kế giảo, hành tàng trì độn thậm tư thư.
Vận lâm tử tuyệt tài hương địa, số xích hồng la tính tự thư.

10


Người dịch: Thachmoc và Hung804

Kimtubinh.net

Thiên Ấn là dương sinh dương, âm sinh âm. Tên gọi khác là Kiêu thần, vì sao vậy?
Kiêu, chính là ác điểu ( con chim ác) vậy, tiếng của nó rất quái dị, người nghe thấy tiếng
kêu của nó thì hung,. Trong trụ không có Thực thì gọi là Ấn, có Thực gọi là Kiêu, nó có thể
đoạt đồ ăn thức uống của ta. Như đề cương Thiên Ấn, trụ vô Quan sát, là người hư danh hư
lợi, mà cũng là sao Thiếp (vợ nhỏ) vậy. Người có Thiên trù tức là Thực thân thì kị gặp
Kiêu Ấn. Nói đến Kiêu thì kị gặp Thực, nói đến Thực thì kị gặp Kiêu. Phú viết: Năm Giờ
Nguyệt lệnh có Thiên Ấn, cát hung chưa manh nha. Đại vận, Tuế quân gặp Thọ tinh, tai
ương lập tức đến, chính là lý này vậy. Bản tính của Thiên Ấn ngược xuôi buôn tẩu, mà
trong công việc phần đa chủ chậm chạp không nhạy bén. Trong lòng tuy đắn đo tính kế thì
rườm rà ngập ngừng sợ hao phí. Nếu hành vận Tử Tuyệt, Tài tinh lại đến khắc phá, Quan
sát không đến cứu giải, chắc chắm làm người dưới hoàng tuyền (chết). Thiên Ấn nhiều là
thiên về vượt ra ngoài, sống nhờ người khác, chủ mang ám tật, đầy tớ trong nhà quyền thế.
Phần nhiều lấy cháu nam nuôi dưỡng để kế thừa, lấy con gái nuôi làm vợ, thường rất hữu
nghiệm. Chữ Kiêu không thể xem thường. Thông thường trong trụ Kiêu Thực tranh chấp,
không có Quan sát giải cứu, quyết không được tốt đẹp đến cuối đời.
Dịch nghĩa:
Nguyệt lệnh sinh Nhật can, dương sinh dương, âm sinh âm gọi là Thiên Ấn cách.
Thiên Ấn lại gọi Kiêu thần là vì sao vậy? Kiêu có ý nghĩa là con chim lớn hung ác, loại
chim này có tiếng kêu kỳ dị, người nghe được tiếng kêu của nó là điềm báo đại hung.
Thông thường nguyên cục không mang theo Thực thần thì gọi là Thiên Ấn, kèm theo Thực
thần mới gọi Kiêu, nguyên nhân bởi trong mệnh có Thực thần thì Thiên Ấn tinh sẽ đoạt
Thực. Nếu như Thiên ấn cách ở trụ tháng, nguyên cục không có Quan tinh và Sát tinh, thì
không tốt, chỉ là người hư danh hư lợi. "Thiếp tinh" theo lời nói trong bài thơ chỉ là Thiên
tài. Thiên tài hội khắc Thiên ấn, phần nhiều mệnh chủ sầu lo. Trong thơ lại nói " Thiên trù"
tức chỉ Thực thần, Kiêu Ấn cách cũng tối kị gặp phải. Nói chung Thiên Ấn kị gặp Thực
thần. Phú văn nói: Trên trụ năm trụ giờ hoặc trong nguyệt lệnh có Thiên ấn mà nguyên cục
không có Thực thần, hung cát chỉ ẩn dấu mà chưa xuất hiện, nếu như đại vận lưu niên gặp
phải Thực thần, lập tức có tai ương, nói như thế chính là đạo lý này. Người có Thiên ấn
cách phần đa bận rộn bôn tẩu khắp nơi, nhưng làm việc thì trì trệ, trong lòng có kế hoạch
tốt, nhưng khi làm thì lại lề mề dây dưa. Khi hành vận nếu như Ấn tinh nhập vận Tử tuyệt,
lại có Tài tinh đến khắc phá mà không có Quan Sát sinh trợ giải cứu, nhất định mệnh này
nhập hoàng tuyền (suối vàng). Người có Thiên Ấn cách đa phần khi sinh ra đã nghiêng về
vợ nhỏ, hoặc thuộc loại được gửi làm con nuôi. Trên cơ thể có thể mang ám tật, đa phần là
đầy tớ cho gia đình quyền thế. Hơn nữa tự mình tìm cháu trai trong dòng tộc để nhận con
nuôi, hoặc lấy con gái nuôi làn thê tử, thường thường những luận đoán như vậy rất chính
xác. Thiên Ấn hóa Kiêu không thể xem thường, phàm mà nguyên cục Kiêu Thực tương
tranh, lại không có Quan Sát giải cứu, người đó nhất định không chết một cách tử tế được.
Bình chú:
Lấy sáu cách từ Tử Bình Chân Thuyên đại ý luận, Ấn cách chẳng phân ra thiên chính,
hỷ kị có thể cùng luận giống nhau, bản thân tôi đã bình chú Chính Ấn cách kĩ càng và có
thêm giải thích rồi. Nhưng Chính Ấn và Thiên ấn, bởi tính chất âm dương khác nhau, nên
khi luận Thiên ấn còn có một chút khác biệt nho nhỏ, chính là nội dung mà mục này đang
đề cập. Ngoài ra người nhập Thiên ấn cách tối hỷ thân vượng, Thiên ấn là Thiên mẫu tinh,
11


Người dịch: Thachmoc và Hung804

Kimtubinh.net

nếu như nhật nguyên vô lực, Thiên ấn chẳng sinh thân mà chuyên làm chuyện xấu. Chỉ có
nhật nguyên hữu lực, thì Thiên ấn mới cam tâm tình nguyện làm dụng của ta. Người nhập
Thiên ấn cách, phần nhiều làm việc có đầu mà không có đuôi, mang tính cách học nhiều
mà ít có thành tựu. Lại có sách mệnh lý nói rằng: Thiên ấn mừng Tài khắc.., chính là lập
luận Thiên Ấn trở thành hung vật, không thể bê nguyên xi trực tiếp ở cách cục hỷ kỵ như
vậy được, bản văn này là luận nguyệt lệnh Thiên ấn cách, trong bài nói "Vô Sát lợi danh
hư", kị gặp Thực thần..., cũng là có tiền đề riêng biệt. Tóm lại Thiên ấn gặp Tài, Thiên Ấn
gặp Sát hoặc gặp Thực thương phân biệt hỷ kị như thế nào cũng không thể một mực nói ra
hết được, độc giả cần đối chiếu với nội dung bình chú tỉ mỉ mục luận Chính Ấn cách để có
thể lĩnh hội thêm.
Thực thần cách
Thực thần nguyên thị thọ tinh danh, tối ái tài phù hỷ đệ huynh.
Minh ám yếu phân khinh dữ trọng, âm dương đương biện trọc trung thanh.
Tài chương sát ẩn hình hoàn tráng, ấn vượng quan cường thế tất khuynh.
Kế mẫu kiêu thần lai nhập cách, ta phu phúc thọ lưỡng vô thành.
Thực thần tên gọi Thiên Trù, lại có tên gọi khác là Thọ Tinh. Hỷ Tài tinh Tỉ Kiên phụ
trợ, có thể ở can hoặc chi nhưng cần biện giải sự nặng nhẹ của chúng. Sách viết: Ngày
dương Thực thần đắc địa không thương tổn, thì ám hợp Quan tinh; Ngày âm Thực thần
không phá cần hợp ý, thì tự nhiên gần gũi với Ấn thụ. Ngày dương Thực thần thân vượng,
kị gặp Quan tinh; Ngày âm Thực thần thân nhược, kị gặp Ấn thụ. Nếu như gặp hai thứ này,
trở thành phá cách, Điền thực thì không đẹp. Tài thấu Sát tàng, đủ để tăng cường căn gốc,
vốn gặp được là tốt nhất cho cách này. Ấn vượng Quan cường thì cướp đoạt sự uy nghi, thế
lực hiển nhiên nghiêng đổ mà suy sụp. Bất luận âm dương Thực thần, đều lấy Thiên Ấn
làm kị. Dụng Thực gặp Kiêu, thì tuổi thọ chẳng kéo dài, vậy phúc đức có thể thành được
sao?
Dịch nghĩa:
Thực thần vừa gọi là Thiên Trù hoặc là Thọ Tinh. Cách cục này mừng nhất là dùng
Tài tinh hoặc Tỉ Kiên đến phụ trợ Thực thần, bất kể ở can hay ở chi, đều cần phân biện
nặng nhẹ rõ ràng. Trong sách nói: Thực thần của dương Nhật can đắc địa nếu mà không bị
thương tổn, sẽ ám hợp Quan tinh; Thực thần của âm Nhật can nếu không bị phá hoại thì hội
hợp với Ấn thụ. Cho nên, dương nhật Thực thần cách lại thân vượng thì kị gặp phải Quan
tinh, âm nhật Thực thần cách thêm thân nhược thì kị nhìn thấy Ấn tinh. Nếu có Quan Ấn và
Thực thần tương hợp, chính là phá cách, hay gọi là Điền thực, không thể lấy mệnh tốt mà
luận được. Nếu nguyên cục Sát tàng Tài thấu, có thể tăng cường căn cơ của Thực thần, là
sự phối hợp đẹp nhất của cách cục này. Còn nếu như trong cục Ấn vượng Quan cường, thì
sẽ dồn ép sự uy nghi của Thực thần, khí thế của Thực thần liền nghiêng lệch suy sụp ngay.
Bất luận là âm can Thực thần hay là dương can Thực thần, đều kị gặp Thiên Ấn. Thực thần
cách mà gặp Kiêu Ấn, thọ mệnh đều chẳng thể dài, lại càng không cần nói đến xuất hiện
phúc khí khác.
Bình chú:

12


Người dịch: Thachmoc và Hung804

Kimtubinh.net

Thực thần là cát thần, nhưng Thực thần có năng lực tiết khí của nhật nguyên, cho nên
đều mừng thân vượng. Thân vượng mà cách cục phối hợp thỏa đáng, còn tốt đẹp hơn cả
Tài Quan. Hỷ kỵ của nguyệt lệnh Thực thần cách như sau:
1) Thực thần cách hỷ kèm theo Tài, có Tài gọi là Thực thần sinh Tài cách. Ngoài thân
vượng ra, điều kiện tiên quyết để Thực thần sinh Tài cách có thể hiển quý là Thực thần
vượng còn Tài tinh thuần và có căn. Thực thần kèm theo Chính Tài thì tốt hơn là kèm theo
Thiên Tài, nếu như Chính Thiên Tài cùng thấu, nhiều nhất chỉ có thể tiểu phú. Cách cục
này hành vận sợ nhất Quan Sát vận.
2) Nguyên cục Thực thần cách hỷ kèm theo Sát tinh và kỵ thấu Quan tinh. Kèm theo
Sát thì quý, kèm theo Quan thì bại, nếu Quan Sát hỗn xuất có thể luận tiểu quý. Kim Thủy
Thực thần không kị Quan nếu kèm theo Sát thì cực quý, đạo lý bởi điều hậu, có thể tham
khảo phần bình chú về Thương quan cách để hiểu rõ thêm.
3) Thực thần cách kị gặp Ấn tinh. Chính Thiên Ấn đều không thích gặp được, trong
đó tối kị Thiên Ấn, nếu như Thực Ấn cùng thông nguyệt lệnh, càng trở thành vô tình.
Nhưng Mộc Hỏa Thực thần, gặp Ấn thì không kỵ, cũng bởi đạo lý điều hầu.
4) Đơn dụng Thực thần có thể phú mà không quý, nhưng vẫn cần thân cường, với lại
hành vận gặp Tài mới phú, bằng không thì bần hàn.
5) Thực thần cách phối Tài Sát: hợp Sát tồn Tài, hợp Tài tồn Sát thì quý. Hoặc là yêu
cầu vị trí bên trên phải Thực cách xa Tài Sát, mà Tài trước Sát sau mới cát, bằng không thì
đại hung.
6) Thực thần cách phối Sát Ấn thành quý mệnh, Kim Thủy Thực thần kèm theo Sát
Ấn cũng là tốt nhất. Nhưng loại phối hợp này, nguyên cục và đại vận tối kị gặp tiếp Tài
tinh. Bởi lẽ Tài tinh có thể hoại Ấn, lại còn chuyển Thực sinh Sát, thành đại hung. Đồng
thời cũng kị Quan tinh hỗn tạp.
7) Thực thần cách phối Tài Ấn, có thể cầu quý. Bởi vì Tài có thể chế ước Ấn tinh và
phát huy tác dụng của Thực thần, nhưng cần xem vị trí, Ấn trước Tài sau, trước bại sau
thành, trung niên hoặc về già phát đạt; Tài trước Ấn sau, toàn cục đều bại.
Dương Nhận cách
Cách trung Dương Nhận mạn ngôn hung,
Thất Sát Thương quan hoan hỷ nhất gặp.
Điệp kiến Nhận tinh thê bất khắc,
gặp lại Tài phá định nan dung.
Đề cương Sát hợp chân hào kiệt,
nguyệt lệnh gặp xung là lão nông.
Vô phá vô thương Sát Nhận hiển,
bên thùy ngàn dặm mịch hầu phong.
Dương nhận trong trụ, không thể dễ dàng nói nó là hung, nếu có Thương quan tiêu tiết
mạnh, hoặc Thất sát chế, ngược lại là quý mệnh. Phú nói: "Trong mệnh tiểu nhân cũng có
Chính ấn Quan tinh, trong cách quân tử, cũng phạm Thất sát Dương nhận" là chính xác vậy.
Dương nhận không kị nhiều, chỉ sợ gặp Tài, (gặp Tài) thì có họa tranh đoạt. Nếu như Đề
( lệnh tháng) gặp Dương nhận, cho dù có Thất Sát hợp, vẫn là trí sĩ Anh hùng hào kiệt, là
mệnh chân quý. Nếu nguyệt lệnh Dương nhận mà bị xung phá, lại không có Sát giá ( chèo
lái) uy nghiêm, thì chỉ là một người dân thường mà thôi. Nếu như không bị thương phá mà
13


Người dịch: Thachmoc và Hung804

Kimtubinh.net

có Sát tinh chế phục, thì đa số xuất lộ võ chức, chủ nắm Binh phù ( phù tiết để điều binh
khiển tướng xưa),công danh khởi phát ở biên thùy. Dương nhận khắc thê (vợ), nếu có
Dương nhận nhiều mà trái lại không khắc, đúng là chưa gặp Tài vậy, nếu gặp Tài thì tranh
đoạt, e rằng khó khoan dung với không bị thương tổn vậy.
Dịch nghĩa:
Dương nhận cách không thể hết thảy xem là hung để luận, nếu có Thương quan tiêu
tiết Nhận, có Thất sát chế Nhận, trái lại là mệnh quý. Dường như phú văn đã nói: Mệnh cục
tiểu nhân cũng có Ấn Quan cách mà, mệnh cách Quân tử cũng có thể là Thất Sát Dương
nhận. Trong Dương nhận cách không kị có Kiếp tài trùng trùng tàng thấu, chỉ sợ gặp được
Tài tinh, vừa thấy Tài tinh thì hội lại đoạt Tài. Nguyệt lệnh Dương nhân cách, trong cục có
Thất sát hợp Nhận, đó chính là trí sĩ anh hùng hào kiệt, mệnh đại quý. Nếu Nguyệt lệnh
Dương nhận bị xung phá, mệnh cục lại không có sự phối hợp của Dương nhận giá Sát, thì
chỉ là mệnh nông dân bình thường. Nếu như Dương nhận không bị thương phá, mà còn có
Sát tinh chế phục, đa số là loại quân quan, trấn thủ nơi biên ải mà có uy danh. Dương nhận
cách đa số khắc thê, nếu như trong cách Dương nhận Tỷ kiêp trùng trùng mà Tài tinh
không bị khắc, đó cũng chỉ là nguyên do nguyên cục đại vận không thấy Tài tinh xuất hiện
mà thôi, nếu như Dương nhận nhiều mà gặp được Tài tinh thì không có lý do gì mà không
khắc vợ cả.
Bình chú:
Trong thuật Tử Bình cổ thì Dương nhận và Dương nhận có khác biệt, [ND- Để giải
thích hai chữ Dương nhận thì trong tiếng Hán có phân biệt là Chữ Dương (羊): nghĩa là
con Dê hay con Cừu, hay chữ Dương (阳):Mặt trời....], mà còn Dương nhân có phân chia
ra Năm Nhận, Tháng Nhận, Ngày Nhận, Giờ Nhận, tiết này đương nói về lấy nguyệt lệnh
Dương nhận cách làm trọng điểm. Thông thường mà nói, chỉ có 5 can dương với nguyệt
lệnh gặp Nhận, thì mới gọi là Dương nhận cách. 5 can âm sinh ở tháng Nhận thì không gọi
là Nhận, mà gọi là Nguyệt Kiếp, thì nhập cách Lộc Kiếp. Đã nói rõ thấy ở Bình chú của tiết
bên trên). Cơ bản mà nói, Dương nhận cách hỉ Quan Sát, kị Tài tinh, kị xung Nhận. Cụ thể
sự phối hợp hỉ kị như sau:
1. Dương nhận dụng Sát chế phục: Hỉ Tài Ấn phối hợp Sát tinh; Nguyên cục kị có vật
chế Sát, trừ phi nguyên cục Sát tinh lưỡng thấu mà lại căn trọng, có thể dụng Thực thần chế
Sát mà không mất đi sự phú quý, bằng không cho dù khí Sát tinh trọng nặng mà thân thể
hơi nhược, khi hành vận thì hỉ Ấn hơn với hỉ Thực Thương; Mặt khác, lời thơ vốn nói " Đề
cương Sát hợp" ứng với tình hình là chỉ thiên can không thấu Nhận, nếu như vậy mới luận
là quý, bởi vì sự phối hợp này của Nhân- Sát tối kị thiên can thấu Kiếp Tài, trên can đại
vận gặp Kiếp Tài cũng kị, nguyên nhân là thấu Kiếp tài thì hợp khứ Sát tinh, thì Nhận của
nguyệt lệnh không bị chế. Tức là: Thất sát chế Nhận, thì cái cần chế là nguyệt lệnh địa chi,
không phải là Kiếp tài trên can. Học giả cần cẩn thận tỉ mỉ lĩnh hội.
2. Dương nhận dụng Quan chế phục: Hỉ Tài Ấn trợ Quan, kị Thực Thương hợp Quan
khắc Quan. Thiên can thấu Kiếp tài cũng không kị, bởi vì nguyên nhân Kiếp tài sẽ không
hợp khử Quan tinh.
3. Dương nhận cách kị Quan sát hỗn tạp, Quan Sát hỗn trọc thì cần phải làm cho
thanh, lúc này hành vận chỉ mừng có Thực Thương hoặc đất thân vượng, không hỉ vận Tài
Quan Sát.
14


Người dịch: Thachmoc và Hung804

Kimtubinh.net

4. Dương nhận cách kị mang Tài, phạm cách này thì bất lợi cho Thê Tài. Trừ phi
trong cục Tài tinh căn thâm mà kiêm thấu Thực Thương, thì mới có thể lấy Thực Thương
chuyển hóa Nhận sinh Tài, nhưng như vậy thì cũng chỉ đạt được giầu có mà không thể đạt
được quý hiển vậy.
5. Dương nhận cách chỉ thấu Thực Thương, là lấy Thực Thương tiết khí vượng Nhận
làm dụng, có thể luận là cát, nhưng không giống dụng Quan sát như vậy thì phát quý hiển.
6. Dương nhận cách tối kị xung Đề ( cương). Nguyên cục hoặc đại vận xung nguyệt
đề là phá cách, dễ có họa bất ngờ. Về phương diện này có hai nguyên nhân sau. Thứ nhất là
nguyệt lệnh Dương nhân cực vượng lại có hung khí, bị xung thì kích thích tính hung bạo
của Dương nhận, thần đến xung ngược lại bị xung cho đến chết, đa số ứng ở bản thân hoặc
thần xung Nhận đại biểu cho lục thân; Hai là, nếu như nguyên cục vốn là thân Sát lưỡng
đình ( cân bằng), lúc niên vận xung Nhận, lực lượng mất cân bằng mà mối họa nảy sinh.
Nhật Lộc quy thời cách
Nhật lộc quy thời cách tối thân,
đề cương tái kiến bất vi chân.
Thực thương ái hữu phương ngôn quý,
thiên chính tài vô định thị bần.
Hữu phá hữu xung tâm phất toại,
vô thương vô hại chí hoàn thân.
Sát quan bất kiến đồng nhân thiểu,
chính hốt thùy thân bái tử thần.
Tử Bình nói: Nhật lộc quy thời không có Quan tinh, mà vẫn nói Thanh vân đắc lộ
( Quan vị thuận lợi mà lên cao). Lý lẽ này rất thâm thúy sâu xa, cần phải nghiên cứu lý do
vì sao vậy, thì mới biết sự thật của cách cục này, sau đó mới có thể đoán được họa
phúc.Đắm chìm ( chết, Ẩn núp) là chôn vùi vậy. Điều này chưa phải là điểm trọng yếu nhất
của văn tự, chớ có xem nhẹ mà không chú ý. Còn như Giáp lộc đến Dần, mà Bính hỏa
trong Dần trường sinh, dụng chữ Bính ám hợp chữ Tân, thì ngày Giáp được Quan tinh; Ất
lộc đến Mão, dùng Ất mộc trong Mão ám hợp Canh kim, thì ngày Ất được Quan tinh, Bính
Mậu lộc cư ở Tỵ, dụng Canh trong Tỵ hợp Ất, thì ngày Mậu được Quan tinh, Mậu hợp
Quý, thì ngày Bính được Quan tinh; Đinh Kỷ lộc cư ở Ngọ, trong Ngọ có Đinh hỏa, Kỷ thổ,
Đinh hỏa ám hợp Nhâm thủy, thì ngày Đinh được Quan tinh, Kỷ thổ ám hợp Giáp mộc, thì
ngày Kỷ được Quan tinh; Canh lộc cư ở Thân, trong Thân Nhâm thủy trường sinh, dụng
chữ Nhâm ám hợp chữ Đinh, thì ngày Canh được Quan tinh; ngày Tân lộc đến Dậu, Tân
kim trong Dậu ám hợp Bính hỏa, thì ngày Tân được Quan tinh; Nhâm lộc đến Hợi, Giáp
mộc trong Hợi trường sinh, dụng chữ Giáp ám hợp chữ Kỷ, ngày Nhâm được Quan tinh;
Quý lộc ở Tý, dụng Quý thủy trong Tý ám hợp Mậu thổ, thì ngày Quý được Quan
tinh. Như vậy dựa vào thời nguyên, địa chi ẩn giấu sự may mắn, ám hợp Quan lộc, cho nên
mới nói: " Không có Quan tinh, mà vẫn nói Thanh vân đắc lộ". Như gặp Quan tinh, Điền
thực ( Quan tinh, Điền thực lộ rõ), cho nên không quý vậy. Đây chính là nguyên nhân vì
sao của cách cục, người nói mệnh không thể không biết. Quy lộc chỉ cho phép một vị trên
trụ giờ mới là chuẩn xác, nếu như trên Đề cương lại gặp, thì tạp mà không thuần, cách
không thật vậy. Thương quan Thực thần mừng gặp, chính là lấy chúng ( Thực Thương) ám

15


Người dịch: Thachmoc và Hung804

Kimtubinh.net

chế Quan Sát, rõ ràng là ý sinh Tài tinh. Tài tinh có thể thấy, tức là ý lấy ám sinh Quan tinh.
Xung phá hại cách, Tỷ kiên phân lộc, đều là kị trong cách cục vậy.
Giải thích: Học thuyết Tử bình cho rằng: Nhật can đắc lộc ở chi Giờ mà lại không có
Quan tinh, vẫn cho là " Thanh vân đắc lộ". Đạo lý trong đó rất vi diệu, cần phải biết như
vậy là ra làm sao, thì mới hiểu và phân biệt được sự thật giả của cách cục, sau đó mới có
thể dự đoán họa phúc. " Một (đắm chìm, chết, Ẩn núp)", là "chôn giấu, chôn vùi". Chữ
"Một" cực trong yếu mà không thể xem nhẹ. Ví như ngày Giáp gặp Dần là lộc, Bính hỏa
trong Dần là trường sinh, Bính hỏa này có thể ám hợp Tân kim, Tân kim là Quan tinh của
Giáp nhật chủ, cho nên có Dần thì ngày Giáp ám được Quan tinh; ngày Ất lộc ở Mão, Ất
mộc tàng trong Mão ám hợp Canh, thì ngày Ất được Canh làm Quan tinh; ngày Bính Mậu
lộc ở Tỵ, nói nhật can là Mậu, trong Tỵ tàng Canh có thể ám hợp Ất, thì ngày Mậu được Ất
làm Quan tinh, nếu nhật can là Bính, thì Mậu tàng trong Tỵ ám hợp Quý, thì ngày Bính
được Quý làm Quan tinh; ngày Đinh Kỷ lộc ở Ngọ, trong Ngọ có tàng Đinh hỏa Kỷ thổ,
Đinh hỏa có thể ám hợp Nhâm thủy, thì ngày Đinh được Nhâm làm Quan tinh, mà Kỉ thổ
có thể ám hợp Giáp mộc, thì ngày Kỷ được Giáp làm Quan tinh; ngày Canh lộc ở Thân,
Nhâm thủy tàng trong Thân là trường sinh, Nhâm này có thể ám hợp Đinh, thì ngày Canh
được Đinh làm Quan tinh; ngày Tân lộc ở Dậu, trong Dậu có tàng Tân kim, mà Tân có thể
ám hợp Bính hỏa, thì ngày Tân được Bính hỏa làm Quan tinh; ngày Nhâm lộc ở Hợi, Giáp
tàng trong Hợi là trường sinh, dụng can Giáp này ám hợp chữ Kỷ, thì ngày Nhâm được chữ
Kỷ làm Quan tinh; ngày Quý lộc ở Tý, dụng Quý thủy có tàng trong Tý ám hợp Mậu thổ,
thì ngày Quý được Mậu thổ, cũng chính là có được Quan tinh. Đây chính là Nhân nguyên
mà chi giờ tàng, đến ám hợp Quantinh, cho nên gọi là: " không có Quan tinh, mà vẫn
Thanh vân đắc lộ". Nếu như có Quan tinh Điền thực, thì không quý hiển rồi. Đây là yếu
điểm của cách cục này, mà người luận mệnh không thể không biết, Quy lộc yêu cầu chỉ có
một vị ở trong chi giờ mới xem là hợp cách. Nếu như trong nguyệt lệnh lại gặp lộc thần, thì
gọi là tạp mà không thuần, cách cục không thật. Trong thơ nói Cách cục này mừng gặp
được Thương quan Thực thần, nguyên nhân là Thương quan Thực thần có thể ngầm kìm
hãm Quan Sát, lại có thể sinh Tài tinh. Lại nói mừng gặp được Tài tinh, là ý muốn dùng
Tài tinh ngầm lén đến sinh trợ Quan tinh. Nếu như lộc thần bị xung phá, đó chính là bại
cách, nếu có Tỷ Kiên hội lại phân khử quý khí của Quan tinh, đây đều là chỗ kị của cách
này.
Bình chú: Nhật lộc quy thời cách là một loại các cục đặc thù, nói chung xem mệnh
yêu cầu nguyệt lệnh không thành cách mới tìm cách cục đặc thù ( ngoại cách), song chỉ cần
đảm bảo đủ điều kiện thành lập, cách này và cách cục khác có thể kiêm luận với nhau.
Cách này có hai đặc điểm, Một là ám hợp để đạt được quý hiển, Hai là Thời thượng nhất vị
lấy quý. Chính là lộc thần có thể ngầm lén hợp Quan, sở dĩ nguyên cục tuy không có Quan
tinh hiện rõ, thực tế lại có Quan tinh có thể dụng, với lại lộc thần này lại là một vị trong trụ
giờ, cho nên trở thành quý cách. Ngoài ra dương can hợp Tài mà không hợp Quan, cho nên
dương nhật can dụng can tàng trường sinh trong lộc thần để ám hợp Quan tinh ( ngoại trừ
sự đặc thù của ngày Bính), âm can không thể tự hợp Quan tinh, cho nên âm nhật can dụng
can tàng trong lộc thần ở vào vị Lâm quan để ám hợp Quan tinh. Nói chung, có thể ám
hợp Quan tinh đều là 10 can tàng trong lộc thuộc vào đất trường sinh, Lâm quan.

16


Người dịch: Thachmoc và Hung804

Kimtubinh.net

Cách này cần nhật can sinh vượng, kị Điền thực,Thất Sát, Tỉ Kiếp, kị hình xung phá
hại; hỷ Thực Thương và Tài tinh.
Ám hợp lấy quý mà sợ Điền thực, Nhất vị lấy quý sợ gặp vượng trọng. Cho nên cách
này nếu như chi khác mang lộc hoặc trong trụ đại vận gặp Quan, đều là phạm kị mà không
hỉ; nếu như chi giờ ở trong nguyên cục với đại vận phùng xung, lại là hoại cách, mà không
thể nói là quý. Nếu như trên can gặp Tỷ Kiếp, cũng là phạm kị, cho dù phát quý cũng
không lớn, bởi Tỷ kiếp phân khử quý khí của ám Quan.
Hỉ Thực thương, là bởi vì Thực Thương có thể khắc chế Quan Sát lộ rõ hoặc sinh trợ
Tài tinh đã xuất lộ rõ; Hỉ Tài tinh, là nguyên nhân Tài tinh có thể sinh trợ Quan tinh đến ám
hợp.
8. Thương quan cách( hai kỳ )
Kỳ thứ nhất
Ngũ dạng thương quan luận bất đồng,
thân cường tài sát thị anh hùng.
Hỏa thổ thổ kim quan khử quý,
thủy kim mộc hỏa vô quan cùng.
Trụ trung mộc hỏa như thành cách,
vận kiến tài quan phương thị hanh.
Chỉ phạ kiến quan tài ấn tuyệt,
chung thân lao lục nhậm tây đông.
Thương quan cách có 5 loại, có Hỏa Thổ Thương quan, có thổ kim Thương quan, hai
cách này không hợp với Quan, thân vượng dụng Tài, thân nhược dụng Ấn, chắc chắn chủ
phú quý, nếu gặp Quan tinh, phá bại cách cục, thì không lấy quý để luận. Lại có kim thủy
Thương quan, mừng gặp được Quan Ấn; thủy mộc thương Quan, mừng gặp được Tài Quan,
hai cách này nếu không có Quan tinh, trái lại là không phải đẹp. Lại có mộc hỏa Thương
quan cách, hoan hỷ nhất gặp Tài. Tài nhiều gặp Quan không kị; không có Tài gặp Quan tất
hung. Phàm Thương quan cách, Thân vượng vô Tài, Thân nhược vô Ấn, thì cuộc đời vất vả,
là người bần khổ vậy. Thông thường người có Thương quan, đa số có tài năng trong nghệ
thuật biểu diễn, nhưng khó tránh khỏi hình thương tử tức.
Dịch nghĩa: Thương quan cách có 5 loại, hỏa thổ Thương quan và thổ kim Thương
quan, hai loại này không hợp với gặp Quan, mà còn nói nhật nguyên vượng cần dụng Tài
phối hợp, thân nhược cần kèm theo Ấn, mới có thể phú quý, nếu như trong hai Cách gặp
phải Quan tinh, thì cách cục bị phá, không thể luận là có phú quý. Lại có kim thủy Thương
quan cách, vui mừng có Quan Ấn phối hợp; thủy mộc Thương quan cách, cần dụng Tài
Quan phối hợp; nếu như hai loại Thương quan cách không có Quan tinh này, trái lại không
phải là tốt. . Lại có mộc hỏa Thương quan cách, thích nhất gặp Tài tinh, Tài tinh nhiều lại
gặp Quan thì không phải là kị, nhưng không có Tài mà gặp Quan thì lấy hung luận. Phàm
là Thương quan cách, nếu như Thân vượng vô Tài, Thân nhược vô Ấn, là cả đời lao khổ,
mệnh nghèo túng vậy. Thương quan cách, phần nhiều là người làm trong nghề biểu diễn,
mà còn có thể hình thương tử tức.
Kì thứ hai
Thương quan linh lợi tính thông minh,
ngạo vật cao cường chí thượng thanh.
17


Người dịch: Thachmoc và Hung804

Kimtubinh.net

Tài ấn yếu phân khinh dữ trọng,
sát quan đương biện thiển hòa thâm.
Trụ trung nguyên hữu quan hương trọng,
trụ nội vô quan quan kiến khinh.
Tài ấn lưỡng minh sát nhận vượng,
định tri phú quý túc bình sinh.
Bản tính của Thương quan là kiêu ngạo khinh người, cho nên thường xem người trong
thiên hạ thua kém mình. Thông minh lanh lợi, trí còn thanh cao. Thân vượng có Tài, Thân
nhược có Ấn, hai cái rõ ràng, là mệnh phú quý hiển đạt. Trong trụ nếu như Sát Quan cùng
gặp, cần phải biện giải sự nông sâu của nó, sau đó mới có thể đoán sự cát hung của nó vậy.
Thường trong trụ vốn có Quan tinh, lại gặp Quan thị tai họa nặng. Nếu như trong trụ vốn
không có Quan tinh, nếu như tuế vận gặp Quan tinh thì họa nhẹ. Trong trụ Tài Ấn đã rõ, lại
có Dương nhận Thất sát đến trợ uy cho nó, chắc chắn chủ công danh hiển đạt. Như Thân
nhược vô Ấn, Thân vượng vô Tài, Thương quan gặp Quan, hình xung phá hại, chủ khắc
hãm Lục thân, làm khó Thê tử, chính là cuộc đời Cửu lưu nghệ thuật* , hoặc mệnh tăng
đạo thày mo.
Dich nghĩa: Người có Thương quan cách tín cách rất kiêu ngạo khinh người, thông
minh lanh lợi, chí khí thanh cao, cho nên thường tin là người trong thiên hạ cũng không
bằng mình. Thân vượng có Tài phối hợp, Thân nhược kèm theo Ấn phối hợp, Tài Ấn nặng
nhẹ rõ ràng, mới là mệnh phú quý vinh hiển. Nguyên cục nếu như Quan sát đều xuất hiện,
cần phân biệt nông sâu cường nhược của Quan tinh và Thất sát, mới có thể suy đoán cát
hung, Nguyên cục nếu có Quan tinh, tuế vận tái gặp Quan tinh thì có đại họa, nếu như
nguyên cục không có Quan tinh, tuế vận gặp Quan tinh, tại họa thì nhỏ. Nguyên cục lấy Tài
Ấn làm dụng, lại có Dương Nhận Thất Sát phối hợp trợ uy, thì công danh hiển đạt. Nếu
như thân nhược mà không có Ấn tinh, thân vượng mà không có Tài tinh, hoặc Thương
quan gặp Quan lại đến hình xung phá hại, thì sẽ khắc hại lục thân, không vợ không con, là
tôi tớ của cửu lưu nghệ thuật. hoặc là mệnh hòa thượng đạo sĩ thày mo.
Bình chú: Người có Thương quan cách vô cung thông minh, nhưng Thương quan lại
không phải là cát thần, cho nên tính cách thiên lệch không công bằng, không có chế phần
đa là có tài nhưng không gặp thời mà còn là loại phần tử tri thức khi mở mồn là oán thán
chê trách. Thông thường mà nói, Thương quan và Quan là oan gia của trời sinh, cho nên
Thương quan cách không thích gặp Quan tinh, nhưng lại thích Tài tinh và Ấn tinh, bởi vì
Thương quan có Tài có thể sinh Tài, mang theo Ấn có thể chế Thương, đây là đạo thuận
nghịch vậy, là lẽ thường. Nhưng dưới lẽ thường, cũng muốn biến thông ( (dựa theo tình
hình khác nhau, thay đổi một cách vô nguyên tắc), không thể luận một cách đồng loạt như
nhau được.
1, Thương quan kị gặp Quan, chỉ có cần khi Điều hậu mới có thể tuỳ cơ ứng biến mà
dụng Quan. Thương quan cách mà trụ không một điểm Quan tinh, không có Quan có thể
Thương, chính là hay nói "Thương Quan Thương tận ", có thể luận là cát. Nhưng Thương
Quan Thương Tẫn, cũng sợ niên vận bị gặp Quan tinh; hoặc là nguyên cục không có Quan
tinh cũng không có Tài tinh, ngược lại Thân vượng Tỉ Kiếp trọng nặng, thì chính là người
cực kì nghèo khổ. Bình thường chúng ta căn cứ vào ngũ hành của nguyệt lệnh và nhật
nguyên và kèm theo phân tích tỷ mỉ, chính là phân ra có 5 loại Thương qua cách: Nhật
18


Người dịch: Thachmoc và Hung804

Kimtubinh.net

nguyên là Mộc mà nguyệt lệnh là Hỏa, Thương quan cách gọi là mộc hỏa Thương quan;
nhật nguyên là hỏa mà nguyệt lệnh là thổ thì Thương quan cách gọi là hỏa thổ Thương
quan...ngoài ra còn suy ra 3 loại Thương quan cách khác. Thông thường kim thủy Thương
quan và mộc hỏa Thương quan cách là tú khí nhất, bàn về sự phối hợp thỏa đáng của hai
loại này thì nó có quan hệ tốt hợn so với ba loại Thương quan cách khác. Mặc dù tổng thể
mà nói Thương quan gặp Quan là không cát, nhưng trong 5 loại Thương quan cách đã nói
ở trên, thì cũng có cách thiên về thích Quan tinh, đây chính là mối quan hệ có liên quan đến
điều hòa khí hậu ( điều hầu), cần xem vị trí tiết khí của nguyệt lệnh mà luận. Như: Kim
thủy Thương quan, kì thực là kim sinh vào tháng thủy mùa Đông, mùa này kim hàn thủy
lạnh, rất cần dụng hỏa điều hầu, mà Quan tinh của kim là hỏa, lúc này điều hầu là cần thiết,
cho nên nói kim thủy Thương quan hỉ gặp Quan; cùng với lý lẽ đó là mộc hỏa Thương
quan, chính là mộc sinh vào tháng hỏa mùa Hạ, hỏa mộc khô nóng mà dễ dàng tự thiêu, đòi
hỏi điều hầu là cần thiết, Quan tinh là kim, khí chất thuộc âm, với thủy cùng loại, cho nên
gặp Quan không kị, nhưng mộc hỏa Thương quan dụng thủy Ấn là tốt nhất, nói chung dụng
Quan không phải là thượng cách, khi dụng Quan tinh thì cần dụng Tài tinh phối hợp.
2, Thương quan mừng kèm theo Ấn. Thương quan bội Ấn, là đạo lý nghịch dụng
hung thần. Thân nhược Thương quan vượng, dụng Ấn là hữu tình nhất, lúc này cũng cần
Ấn tinh căn sâu, nhưng không thể Chính Thiên Ấn chồng chất xuất hiện. Mộc hỏa Thương
quan bội Ấn, lại phù hợp với điều kiện làm được thượng cách. Nếu như Thương quan bội
Ấn mà Ấn nhược, phải có Thất Sát phối hợp mới có thể đại quý.
3, Thương quan hỷ Tài tinh. Bởi vì Thương quan có thể sinh Tài, nhưng nếu Thân
cường mà nhật nguyên có căn, Thương quan hơi yếu, mới là quý cách, nếu như Tài tinh và
Thương quan cùng thông nguyệt lệnh, thì rất có tình. Dụng Tài thì nguyên cục đại vận kị
gặp Thất Sát.
4, Thương quan có thể đơn dụng Thất Sát. Lúc này kị Quan đến hỗn Sát, cũng tái kị
gặp Tài tinh.
5, Thương quan cách kèm theo Tài Ấn, Tài Ấn nếu tách ra, mà Tài và Ấn một cường
một nhược, tương hỗ điều đình, mới là quý cách.
6, Thương quan cách mà gặp Quan Sát hỗn tạp xuất hiện, chỉ có hợp Quan để đạt
được thanh, hoặc là kim thủy Thương quan cách mà cùng dụng Quan sát, mới có có thể
phú quý.
Ghi chú:
* Cửu lưu nghệ thuật: Cưu lưu nghệ thuật ( 9 môn nghệ thuật) đó là: văn học, hội hoạ,
điêu khắc, kiến trúc, âm nhạc, vũ đạo, hí kịch, điện ảnh, khúc nghệ...
Củng Lộc cách
Củng lộc cách trung chỉ hữu ngũ,
vô xung vô phá thủy vi lương.
Âm đinh tị Mùi nghi tài trợ,
dương thổ mã long đắc thủy cường.
Quý nhật trư ngưu điên đảo dụng,
kỷ can tị Mùi chính tương đương.
Sát quan bất kiến vô điền thực,
hảo dữ hoàng gia tố đống lương.
19


Người dịch: Thachmoc và Hung804

Kimtubinh.net

Trong cách Củng lộc có 5 tổ hợp, ở giữa ngày giờ có hư Củng lộc tinh để đạt được
quý hiển. Như ngày Đinh Tị giờ Đinh Mùi, ở giữa hư củng ( kẹp) một chữ Ngọ; Ngày Mậu
Thìn Giờ Mậu Ngọ, ở giữa hư củng một chữ Tỵ; ngày Quý Sửu Giờ Quý Hợi, ngày Quý
Hợi giờ Quý Sửu, ở giữa hư củng một chữ Tý; Ngày Kỷ Mùi giờ Kỷ Tỵ ở giữa củng một
chữ Ngọ, đây gọi là củng Lộc. Hỷ Tài tinh, kị Quan Sát, hình xung phá hại, điền thực
không quý, tuế vận cũng vậy.
Dịch nghĩa: Củng lộc cách có 5 tổ hợp, là ở giữa ngày giờ có hư cũng một Lộc tinh,
đó là lý do đạt được quý hiển. Ví như sinh ở ngày Đinh Tỵ giờ Đinh Mùi, ở giữa hai trụ
này hư củng một chữ Ngọ; sinh vào ngày Mậu Thìn giờ Mậu Ngọ, giữa hại trụ này hư củng
một chữ Tỵ; sinh vào ngày Quý Sửu giờ Quý Hợi hoặc ngày Quý Hợi giờ Quý Sửu, ở giữa
hai trụ đều hư củng một chữ Tý, Mà sinh vào ngày Kỷ Mùi giờ Kỷ Tị, giữa hai trụ củng
xuất một chữ Ngọ. 5 tổ hợp này đều gọi là Củng lôc cách. Loại cách cục này ưa thích Tài
tinh, kị Quan tinh và Thất sát, Điền thực hoặc có hình xung phá hại đều sẽ không phát quý
hiển, sự hỉ kị của mệnh cục, đại vận và lưu niên đều luận như vậy.
Bình chú: Củng lộc cách cũng là cách cục đặc biệt ( ngoại cách), nguyên nhân đạt
được quý hiển là ở Lộc thần củng xuất có thể ám hợp được Quan tinh, học giả không thể
không biết điểm này. Như ngày Đinh Tỵ giờ Đinh Mùi, củng xuất chữ Ngọ ở giữa Tỵ Mùi,
can trong Ngọ Lâm Quan Đinh lại ám hợp được Nhâm, mà Nhâm là Quan tinh của nhật
chủ, vì lẽ đó mà có thể quý hiển, cái khác tương tự mà suy ra.
Yếu điểm của cách này: Phải tìm ở hai trụ ngày giờ, thiên can của hai trụ tương đồng,
địa chi cách nhau một vị để củng xuất, chi củng xuất lại vừa khớp là Lộc tinh của nhật can,
cho nên gọi là Củng lộc. Vì sao cách này chỉ có 5 tổ hợp? Bởi vì tìm theo điều kiện này,
đòi hỏi tất cả sự phối hợp của bát tự vô cùng trọn vẹn, cho nên cũng chỉ có 5 loại, độc giả
không tin có thể tự mình dùng ngũ Thử độn pháp nghiệm chứng. Cách cục Củng lộc cách,
đại vận và lưu niên đều hỉ Tài tinh, kị trên can xuất hiên Quan tinh Thất sát, kị gặp chi Lộc
thần hoặc có thể chi hình xung phá hại Lộc thần. Nguyên nhân Tài tinh lộ rõ có thể ám sinh
Quan tinh hư hợp; mà có Quan tinh hiện rõ thì gặp được hư Quan, có Sát tinh là hư Quan
tạp Sát, gặp chi Lộc là Điền thực, phạm kị này là đều mất đi lý do đạt được quý hiển của
thể cách, chỗ vi diệu thâm thúy này độc giả cần lĩnh hội một cách tỉ mỉ cẩn thận.
Củng quý cách
Củng quý chân thời nghiệm nhược thần,
đề cương vô khí thủy vi chân.
Giáp can hổ thử phương vi dụng,
nhâm nhật dần thần quý hiển thân.
Dương hỏa khuyển hầu vi thượng cách,
mậu nhân thân ngọ mại di luân.
Vô xung vô phá vô điền thực,
định thị hoàng kim bảng thượng nhân.
Củng quý cách chỉ có 4 loại, Ngày Giáp Dần giờ Giáp Tý, ở giữa củng chữ Sửu; ngày
Nhâm Thìn giờ Nhâm Dần, ở giữa củng chữ Mão; ngày Bính Tuất giờ Bính Thân, ở giữa
củng chữ Dậu, ngày Mậu Thân giờ Mậu Ngọ, ở giữa cũng chữ Mùi. Đây đều là Quý nhân
hư củng nhật chủ, cho nên gọi là Củng quý. Hỉ Tài Thực, kị Quan Sát, hình xung Điền thực
không phạm, là mệnh chân quý nhân. Lại cần đề cương vô khí mới kỳ diệu. Nếu trên Đề
20


Người dịch: Thachmoc và Hung804

Kimtubinh.net

gặp Quan Sát, không cần lấy củng quý để luận. Sách ghi: "Đề cương hữu dụng đề cương
trọng, nguyệt lệnh vô thần dụng thử kì( củng quý cách)". Đại kị không vong, tuế vận cũng
giống như vậy.
Dịch nghĩa: Cũng quý cách chỉ có 4 tổ hợp, sinh vào ngày Giáp Dần giờ Giáp Tý,
giữa hai trụ ngày giờ củng một chữ Sửu; sinh vào ngày Nhâm Thìn giờ Nhâm Dần, giữa
hai trụ củng một chữ Mão; sinh vào ngày Bính Tuất giờ Bính Thân, giữa hai trụ củng một
chữ Dậu; sinh vào ngày Mậu Thân giờ Mậu Ngọ, giữa hại trụ củng một chữ Mùi. Đây
chính là quý nhân hư củng nhật chủ, cho nên gọi là củng quý. Cách cục này hỉ Tài tinh
Thực thần, kị Quan tinh, Sát tinh, cần không có hình xung, không có Điền thực mới là quý
mệnh chân chính. Mà còn cần nguyệt lệnh không có khí Quan Sát mới lưu thông, nếu trong
nguyệt lệnh có Quan Sát, thì không cần lấy củng quý để luận cách cục. Sách mệnh lý nói:
"Đề cương hữu dụng đề cương trọng, nguyệt lệnh vô thần dụng thử kỳ", đây chính là ý
nghĩa này vậy. Còn nữa, cách này đại kị Không vong, hỉ kị của đại vận và lưu niên cùng
cùng một cách xem như vậy.
Bình chú: Củng quý cách sở dĩ nói là quý, đây chính là quý bởi Thiên ất quý nhân
vậy, không phải sự quý của Quan. Quý nhân thi quyết nói: Giáp Mậu gặp Trâu Dê, Ất Kỉ
thấy nơi Chuột Khỉ, Bính Đinh gặp Lợn Gà, Nhâm Quý Thỏ Rắn tàng, Canh Tân phùng Hổ
Ngựa, đây là phương Quý nhân. 10 cân tất cả đều có Quý nhân, nhưng cách này cũng yêu
cầu tìm ở trong hai trụ ngày giờ, thiên can tương đồng, địa chi củng xuất. Phù hợp với cách
này cũng chỉ có 4 loại, như ngày Giáp Dần giờ Giáp Tý, củng chữ Sửu, mà Sửu là Thiên ất
quý nhân của Giáp, cho nên gọi là Củng quý cách. Ba tổ hợp khác thì đều giống đạo lý này.
Cách này cần nguyệt lệnh không không có Quan Sát thì cách thành mới lưu thông, nếu
không thì phải dùng thần của nguyệt lệnh để luận thành bại, ngày giờ lại thành Củng quý
cũng không thể thêm phân biệt. Mệnh cách này, hỉ kị của đại vận, lưu niên cũng luận giống
nhau, hỉ Tài tinh và Thực thần, kị Quan tinh Sát tinh, kị Quý nhân gặp Không vong, cũng
kị Quý nhân bị hình xung hoặc Điền thực.
Củng Lộc củng quý nhị cách hợp ngôn ( Bài thứ nhất)
(Nói về sự phù hợp của hai Cách Củng lộc Củng quý)
Lưỡng bàn hư củng diệu nan ngôn,
tối hỷ kỳ trung thức bản nguyên.
Quý kị không vong lộc kị phá,
thương hiềm đề trọng sát hiềm phồn.
Hình xung nhược hữu tai nan miễn,
dương nhận như vô phúc thủy tồn.
Nguyệt lệnh vô thần thành thượng cách,
cư quan tảo tễ tử vi viên.
Củng lộc củng quý, lý của chúng là như nhau. Bản nguyên ( nguyên khí) là vật nào
đó mà có thể củng. Như Củng lộc sợ xung, Củng quý sợ Không. Trên Đề Thương quan,
không nên thái trọng. Thất sát trên năm tháng không nên thấy nhiều. Dượng nhận Kiếp tài
đồng thời cần khứ. Hình xung phá hại, đồng thời đều kị. Nguyệt lệnh vô thần là không có
Quan Sát vậy. Trong cục kị thần không phạm, lại có Tài tinh sinh trợ, là mệnh đại quý.
Giải thích: Củng Lộc cách và Củng quý cách, nguyến tắc của chúng đều giống
nhau."Bản Nguyên" trong thơ nói là chỉ cái gì nhỉ? Chính là Lộc thần hoặc Quý nhân mà
21


Người dịch: Thachmoc và Hung804

Kimtubinh.net

củng xuất ra. Như củng xuất Lộc thần thì sợ có chi xung Lộc thần xuất hiện, củng Quý
nhân thì sợ chữ đó gặp Tuần không. Trên nguyệt lệnh nếu như có Thương quan thì không
nên quá vượng, trụ năm trụ tháng không thể thấy nhiều Quan sát. Dương nhận hoặc Kiếp
tài, đều không nên có. Hình xung phá hại, đều phải kị. Sao lại gọi lệnh tháng không có
Nguyên thần nhỉ? Chính là ý nói nguyệt lệnh không có Quan Sát có thể làm dụng thần.
Trong mệnh cục không có kị thần nói trên xuất hiện, lại có Tài tinh sinh trợ cách cục, chính
là mệnh đại quý.
Bình chú: Tiết này là bài có tính chất tổng kết của hai tiết phía trên. Củng kì thực là
có ý nghĩa của "Kẹp". Củng lộc Củng quý trong kết cấu thành cách rất giống nhau, mà về lí
khi phân định hỉ kị cũng không khác biệt nhau nhiều, cho nên ở đây tác giả kết hợp để tổng
luận, độc giả nên nhiều lần tham khảo sự phối hợp của hai bài bên trên, tự có thể lý giải.
Cái quý của hai loại cách cục này, đều ở trong Hư mà điều kiện của cách đòi hỏi phải
đạt được, Hư chính là sợ hiển lộ rõ ràng, đương nhiên cũng sợ kẹp tạp ( chen lẫn; xen lẫn;
pha trộn; pha lẫn), cho nên kị Quan Sát xuất hiện thành cách. Mà nếu nguyên cục hoặc niên
vận có vật mà Hư thần kị, thì Hư thần cũng không dám đến, cho nên sợ Thương quan quá
vượng, cũng sợ bản thân bị hình xung phá hại hoặc lạc Không vong. Mà hai loại cách cục
này đều mừng Tài tinh sáng tỏ trợ giúp, đồng thời kị Kiếp tài phân tán phúc phá hư Tài.
Nói chung, Quan tinh tối sợ xung, Thiên Ất quý nhân sợ nhất gặp Không. Cho nên
nguyên văn có luận" Củng Lộc sợ xung, Củng quý sợ Không", đây chỉ là hai cái có khác
biệt rất nhỏ, kì thực bất kể Củng lộc Củng quý, đều sợ hình xung hoặc rơi vào Không vong,
người học mệnh cần từ đây suy ra để biết, chứ không thể thấy bóng núi lại cho là núi, thấy
bóng nước lại cho là nước vậy.
Lục Nhâm xu Cấn, lục Giáp xu Càn
( Hai cách đồng ở một lý, cho nên luận chung)
Nhâm xu cấn vị giáp xu kiền,
hỗ hoán hợp lộc khởi ngẫu nhiên.
Xu cấn trọng dần danh hữu phân,
xu kiền điệp hợi phúc vô biên.
Tài quan ám kiến thành tai chướng,
xung tịnh minh phùng thị họa khiên.
Nguyệt lệnh hữu thần thành biệt cách,
tùy nghi suy bộ diệu tòng quyền.
Lục Nhâm xu Cấn, tức Lục Nhâm là nhật chủ, lại cần chữ Dần nhiều, nhất định thời
thượng gặp Dần, dùng chữ Dần ám hợp chữ Hợi, Nhâm lộc ở Hợi, gọi là hợp lộc. Lục Giáp
xu càn, tức Lục Giáp là nhật can, lại cần chữ Hợi nhiều, tất nhiên thời thượng gặp chữ Hợi,
dụng chữ Hợi ám hợp chữ Dần, Giáp lộc đến Dần, cũng là hợp lộc. Hai cách đều không
cần Tài Quan, hình xung phá hại điền thực thì vô dụng. Như nguyệt lệnh vừa thấy Tài
Quan, thì lấy Tài Quan luận, mà không dụng cách này nữa.
Dịch nghĩa: Lục Nhâm xu Cấn cách là chỉ nhật chủ lục Nhâm, trong trụ địa chi thấy
nhiều chữ Dần, mà còn chi giờ là chữ Dần, dùng chữ Dần này đến ám hợp chữ Hợi, mà
Hợi là lộc thần của Nhâm nhật chủ, cho nên lại gọi hợp lộc. Lục Giáp xu Càn cách là chỉ
ngày can lục Giáp, trong mệnh cục thấy nhiều chữ Hợi, đồng thời chi giờ lại là Hợi, dụng
chữ Hợi này ám hợp chữ Dần, mà Dần là lộc thần của Giáp nhật chủ, cũng là hợp lộc. Hai
22


Người dịch: Thachmoc và Hung804

Kimtubinh.net

loại cách cục này đều không ưa thích gặp Tài tinh Quan tinh, hoặc chi giờ bị hình xung, lộc
thần bị điền thực, đều là phá cách. Nếu trên nguyệt lệnh có Tài Quan, thì phải lấy nguyệt
lệnh Tài Quan để luận, chứ không luận theo cách cục này.
Bình chú: Cấn ở phương vị Hậu thiên Bát quái thuộc hướng Đông Bắc, là phương vị
của Dần; Càn ở phương vị Hậu thiên Bát quái thuộc hướng Tây Bắc, là phương vị của Hợi;
mà lục Nhâm, lục Giáp là chỉ Nhâm nhật can và Giáp nhật can. Bởi vì trong 60 Giáp Tý, 5
can dương kết hợp lại là 6 can dương, sở dĩ mỗi thiên can ở trong 60 Giáp Tý tổng cộng có
6 cái. Lục Nhâm xu Cấn và lục Giáp xu Càn từ tên gọi trên lý giải chính là nhật chủ Nhâm
sinh ở giờ Dần, nhật chủ Giáp sinh ở giờ Hợi, đồng thời trong cục Dần hoặc Hợi lại có ý
nghĩa rất nhiều. Đây tuy là hai cách cục, nhưng dịch lý là giống nhau, cho nên tiết này đặt
hai cách để cùng luận với nhau.
Ngày Nhâm giờ Dần, mà Dần lại thấy nhiều, lúc này Dần ám chính giữa lục hợp được
Hợi, Hợi là lộc thần của Nhâm. Kỳ thực chính là ám lộc phát quý, nguyên nhân ở chỗ ám
lộc có thể hợp ám Quan hoặc ám Tài. Như Hợi lộc tàng can có Nhâm và Giáp, Giáp ở
trong Hợi là trường sinh, cường vượng mà có thể hợp Kỷ, Kỷ lại là Quan tinh của Nhâm;
Nhâm ở trong Hợi là Lâm quan, cũng là cường vượng mà có thể hợp Đinh, mà Đinh là Tài
tinh của Nhâm, cho nên cách này là dụng Dần ám hợp Hợi lộc, Hợi lộc ám hợp Tài Quan
của nhật chủ, cho nên đã phú mà còn quý. Lý lẽ giống nhau, thì ngày Giáp giờ Hợi, Hợi lại
thấy nhiều, Hợi ám hợp Dần lộc, Dần lộc ám hợp Tài ( Kỷ) Quan ( Tân) của nhật chủ, cho
nên cũng là phú mà còn cả quý.
Ám đã thành thì rất sợ minh phùng ( gặp lộc lộ rõ), nguyên cục cùng với tuế vận đều
luận như nhau. Nếu như Lục Nhâm xu Cấn cách gặp Hợi, lục Giáp xu Càn
cách gặp Dần, đều gọi là Điền thực, thì phá cách; Hai cách này gặp Tài tinh Quan tinh, kì
thực cũng là một loại Điền thực, đối với hai loại cách cục này mà nói đều thuộc loại không
tốt, đương nhiên nếu như gặp Tài Quan mà có thể nhập vào nguyệt lệnh Tài Quan cách, có
thể bỏ cách này mà luận nguyệt lệnh, chứ không nhất định luận là phá cách.
Ngoài ra chi giờ của cách cục này sợ bị hình xung phá hại hoặc gặp tam hợp. Gặp
phải như vậy, thì trong cục chữ cách thành đã bị kiềm chế, không có cách nào để hợp lộc,
thì Tài Quan cũng sẽ vì như vậy mà mất cả hai.
Lục âm Triều Dương cách
Lục âm dĩ tận nhất dương Sinh,
tân nhật triều dương quý hiển danh.
quan sát hình xung bần thả tiện,
ấn tài sinh vượng phú hoàn vinh.
lưỡng tân can thấu vi hàn sĩ,
nhị tử chi tàng thị bạch đinh.
Thủy lãnh kim hàn thương thái trọng,
cửu lưu tăng đạo nhậm du hành.
Đây chính là luận lục âm Triều Dương cách, Tân chính là Lục âm của kim, Tý hàm
chứa khí nhất dương, lục âm đã tận, thì nhất dương phục sinh, gọi là Tân kim sinh ở đất Tý,
cho nên gọi Lục âm Triều Dương cách. Ngày lục Tân sinh vào giờ Mậu Tý, dùng chữ Tý
dao hợp chữ Tỵ, chữ Mậu động chữ Bính, Tân kim được nó ( Bính) là Quan lộc. Hỉ Tài Ấn
sinh phù, kị Tỷ kiên, Quan Sát, Tý trọng nặng. Phú viết: " Ngày Tân riêng chỉ gặp Mậu Tý,
23


Người dịch: Thachmoc và Hung804

Kimtubinh.net

Lục âm quý cách hỉ triều dương, Bính Đinh Tị Ngọ hưu Điền thực, Phúc quý song toàn
nhập triều đình". Nếu như Thương quan thái trọng, sinh ở trước mùa Đông, hàn khí quá
nặng, cuối cùng không có ý nghĩa hồi dương, nếu không phải mệnh tăng đạo, thì cũng
thuộc loại người của Cửu lưu nghệ thuật.
Dịch nghĩa: Ý của thi quyết này luân chính là Cách Lục âm triều dương, Can ngày
Tân thuộc âm kim, mà trong địa chi Tý hàm chứa có khí nhất dương, sở dĩ nếu như Tân
kim sinh ở giờ Tý, thì có tượng âm tận mà có một dương phục sinh, cho nên lấy cách cục
này gọi là Lục âm triều dương cách. Cách cục yêu cầu là ngày lục Tân phải sinh ở giờ Mậu
Tý, dụng giờ Tý này dao hợp chữ Tỵ, dụng chữ Mậu can giờ dẫn động chữ Bính, Tân kim
được chữ Bính làm Quan lộc. Cách cục mừng Tài tinh hoặc Ấn tinh sinh phù Quan tinh, kị
gặp Tỷ kiên, Quan tinh, hoặc Thất Sát, lại kị trong địa chi có hai chữ Tý trùng nhau. Cổ
Phú văn nói: " Ngày Tân nếu như chỉ gặp giờ Mậu Tý, là Lục âm triều dương mà được quý,
nếu không có Bính Đinh Tị Ngọ Điền thực, có thể phú quý song toàn, Quan cư ở Triều
đình.". Nếu như Thương quan thái trọng, lại sinh ở mùa Đông, thì hàn khí quá nặng, Cách
cục cuối cùng không có ý hồi dương, loại mệnh cục này không phải là hòa thượng đạo sĩ,
thì cũng là giang hồ thuật sĩ... hoặc cũng là loại người Cửu lưu nghệ thuật.
Bình chú: Cách cục này có thể nhập Cách nguyệt lênh thì lấy nguyệt lệnh cách để
luận, nếu thành cách này, thì là người cao điệu ( cao điệu; lên giọng; nói phách lối; cao
giọng; nói khoác, ví với nói phách nói tướng). Có tiếng tăm tốt đẹp hơn là được vận may
phát tài, nhưng do cách cục thiên về hàn lạnh, nói chung dễ dàng thương hại thê tử. Mà nếu
như cách cục phạm kị, thì phần nhiều là bần cùng bạc mệnh mà không quý.
Tý daoTị, là chữ can Quý trong Tý ở vào vị trí Lâm quan vượng có thể ám hợp chữ
can Mậu ở vào vị trí Lâm quan vượng, cho nên hai chữ Tý Tị luận là dao hợp. Cách này
thêm chữ Mậu trên can giờ dẫn động, thì hai chữ Tý Tị dao hợp càng thêm thành công.
Được chữ Tỵ tức là được chữ Mậu, cho nên luận ngày Tân được Quan tinh. Ám Quan hỉ
Tài Ấn làm hỗ trợ, sở dĩ cách này hỉ Tài Ấn; kị can đầy Tỷ kiên phân tán phúc, kị Can
thượng Thương quan, kị Bính Đinh lộ rõ hoặc lại xuất hiện chữ Tý, mà địa chi nếu có chữ
Tỵ chính là Điền thực, có Ngọ, thì xung Tý mà hỏng cách, cho nên Tỵ Ngọ cũng kị thấy.
Lại từ trên sự lý giải về quy luật vần hành tự nhiên của âm dương tiêu trưởng, thì cách
này lấy tên gọi là Lục âm triều dương, lấy bản tính hàn của nhật chủ, sinh vào giờ Tý thì
với ý âm cực thì dương sinh mà đạt được quý hiển. Nếu như lại sinh ở mùa Đông, chỉ dựa
vào sự biến hóa theo quy luật tự nhiên như ngày và đêm thì cuối cùng không thể chi phối
hàn khí đương lệnh của mùa Đông được, cho nên cách cục Hồi dương không có hi vọng.
Cho nên cách này lại kị sinh vào mùa Đông.
Lục Ất thử quý cách
Ất mộc thiên nguyên thời ngộ tử,
thủ danh thử quý lý u huyền.
Sát Quan không thấy công danh bị,
thiên Chánh Tài gặp phú quý toàn.
Xung bán nan triêm thiên tử Lộc,
diêu hợp sự chấp thuận đế vương tuyên.
Không vong bất phạm vô kim khí,
nhạn tháp đề danh tại Thiếu niên.
24


Người dịch: Thachmoc và Hung804

Kimtubinh.net

Ngày lục Ất được giờ Bính Tý, dụng chứ Tý dao với chữ Tị, Bính lộc quy về Tỵ,
Trong Tị có Canh Mậu, là Tài Quan của Ất mộc, Ất quý ở Tý, cho nên lấy nó gọi là Lục Ât
Thử quý, không thích hợp với Canh Tân Thân Dậu, thấy Sửu khiến trói buộc mà gặp Ngọ
thì lại xung, mà phá cục Tý, là không thể quý, hỉ Tài tinh, kị Không vong.
Giải thích: Ngày Lục Ất sinh vào giờ Bính Tý, dụng chữ Tý đến dao hợp chữ Tỵ.
Bính đắc Lộc ở Tỵ, trong Tỵ có tàng 2 vượng can Canh và Mậu, phân biệt ra là Quan tinh
và Tài tinh của Ất mộc, mà còn can Ất Quý nhân ở Tý, cho nên cách cục này gọi là Lục Ất
Thử quý. Cách cục kị Canh Tân Thân Dậu, Kị Sửu làm cho bị trói buộc và kị Ngọ đến
xung, nguyên do bởi vì xung và trói buộc thì sẽ hội phá chữ Tý ( Sửu thì hợp Tý mà Ngọ
thì xung Tý), cho nên không quý, mà cách cục này hỉ Tài tinh, kị Tý rơi vào Không vong
của nhật trụ.
Bình chú: Cách này lấy thân cường là tốt, nguyệt lệnh không có Quan Sát khi trở
thành cách thì mới dụng được.
Tý dao Tị, kỳ thực là ý nghĩa của ám hợp. Nhật chủ Ất sinh vào giờ Bính Tý, nguyên
nhân Tý chi giờ có thể ám hợp Tị, mà Tị lại là đất Lộc của can giờ Bính hỏa, cho nên nhật
chủ dễ dàng đạt được Tị, đây là chẳng khác nào đạt được Tài và Quan trong Tị. Đây là một
trong những nguyên nhân đạt được quý hiển của cách này. Mà Tý là Thiên Ất quý nhân
của nhật chủ Ất, Bính Tý là Thực thần tọa Quý nhân, là với ý nghĩa Thực Lộc phong phú,
đây là một trong hai nguyên nhân giành được quý hiển của cách này.
Lấy ám Quan để đạt được quý hiển, nguyên cục niên vận sợ tái gặp Quan tinh Thất
sát, cho nên mới kị Canh Tân Thân Dậu, mà hỉ Tài tinh sinh trợ ám Quan. Tý là trung tâm
của Cách cục, cho nên kị Sửu hợp bán, kị Ngọ xung Tý, kị Tý Không vong.
Tỉnh lan nghệ cách
Thân tử thần toàn tam thấu canh,
Tỉnh lan nghệ cách cục trừng thanh.
Bàn trung thiểu hỏa phương vô ngại,
Trụ nội đa kim khước hữu tình.
Thời đới tử thân ứng giảm phúc,
Vận lâm thần mão tất tăng vinh.
Can vô nhâm quý lai thương tả,
Bất chưởng hình danh diệc chưởng binh.
Thiên can ba chữ Canh, địa chi hoàn toàn là Thân Tý Thìn, thì mới hợp cách này. Lấy
Thân Tý Thìn ám xung Dần Ngọ Tuất, ngày Canh được Quan tinh, chính là mệnh đại quý
nhân, kị Bính Bính Đinh Tị Ngọ Dần Tuất và Nhâm Quý thấu lộ, trái lại không phải là quý.
Như giờ Tý, tức Bính Tý, trên trụ giờ gặp Thất sát; giờ Thân là nhật lộc quy thời; Nhâm
Quý Thương tổn Quan, đều không thuần túy đẹp đẽ, thì sẽ giảm đi điểm số, hai Canh hoặc
bốn Canh, lại không tính vào cách này. Hoặc nhật chủ một Canh hoặc 3 Canh, thì mới là
kim khí túc sát, cho nên chủ nắm binh hình.
Giải thích: Thiên can có 3 Canh, địa chi Thân Tý Thìn hoàn toàn đầy đủ, mới là Tỉnh
lan nghệ cách. Dụng Thân Tý Thìn ám xung Dần Ngọ Tuất, Canh Nhật chủ đạt được Quan
tinh, đây là mệnh đại quý nhân. Cách cục kị gặp Bính Đinh Tỵ Dần Ngọ Tuất, cũng kị
Nhâm Quý thấu lộ thiên can, như vậy trái lại không quý. Giải như sinh ở giờ Tý, chính là
giờ Bính Tý, thì làm thời thượng Thất sát cách; Sinh ở giờ Thân, thì là Nhật lộc quy thời
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×