Tải bản đầy đủ

ngu hanh tuong sinh

CỰ MÔN
LIÊM TRINH
PHÁ QUÂN
THÁI ÂM
THÁI DƯƠNG
THAM LANG
THẤT SÁT
THIÊN CƠ
THIÊN ĐỒNG
THIÊN LƯƠNG
THIÊN PHỦ
THIÊN TƯỚNG
TỬ VI
VŨ KHÚC
Ân Quang
Bạch Hổ
Bác Sỹ
Bát Tọa
Bệnh
Bệnh Phú
Cô Thần

Dưỡng
Đà La
Đại Hao
Đào Hoa
Đẩu Quân
Đế Vượng
Địa Không
Địa Kiếp
Địa Võng
Điếu Khách
Đường Phù
Giải Thần
Hoa Cái
Hóa Khoa
Hóa Kỵ
Hóa Lộc
Hóa Quyền
Hỏa tinh
Hồng Loan
Hữu Bật
Hỷ Thần
Kiếp Sát
Kình Dương
Lâm Quan
Linh Tinh
Lộc Tồn
Long Trì
Lực Sỹ


Lưu Hà
Mộ
Mộc Dục
Nguyệt Đức
Phá Tóai
Phi Liêm
Phong Cáo
Phục Binh
Phúc Đức
Phượng Các


Quan Phù
Quả Tú
Quốc Ấn
Suy
Tam Thai
Tang Môn
Tả Phù
Tấu Thư
Thai
Thai Phụ
Thanh Long
Thiên Đức
Thiên Giải
Thiên Hình
Thiên Hư
Thiên Khốc
Thiên Khôi
Thiên Không
Thiên La
Thiên Mã
Thiên Quan
Thiên Riêu
Thiên Sứ
Thiên Tài
Thiên Thọ
Thiên Trù
Thiên Việt
Thiếu Âm
Thiếu Dương
Tràng Sinh
Triệt
Trực phù
Tử
Tuần
Tuế Phá
Tướng Quân
Văn Xương
Văn Khúc


1. GIỜ
Giờ Tý khởi từ 23 – 01
Giờ Sửu ------- 01 – 03
Giờ Dân ------- 03 – 05
Giờ Mão ------- 05 – 07
Giờ Thìn ------- 07 – 09
Giờ Tỵ ------- 09 – 11
Giờ Ngọ ------- 11 – 13
Giờ Mùi ------- 13 – 15
Giờ Thân ------- 15 – 17
Giờ Dậu ------- 17 – 19
Giờ Tuất ------- 19 – 21
Giờ Hợi ------- 21 - 23
Sinh tháng nhuận
- Nếu sinh vào tháng nhuận thì cách tính như sau :
- Từ ngày 1 đến ngày 15 thì tính là tháng chính ;
- Từ ngày 16 đến ngày 30 thì tính là tháng sau.
Ví dụ: Sinh ngày 3 tháng 5 nhuận thì tính là ngày 3 tháng 5
Sinh ngày 18 tháng 5 nhuận thì tính là ngày 18 tháng 6
2. CAN - CHI
Cần phân rõ hành CAN để biết được tuổi mỗi người thuộc về ÂM hay DƯƠNG. Ví dụ
người tuổi Giáp Tý mà đàn ông thì gọi là Dương Nam mà đàn bà gọi là Dương Nữ. Tuổi
At Sửu thì đàn ông gọi là Am nam, mà đàn bà thì gọi là ÂM nữ. Cứ theo Hành CAN, thì
có một ÂM, một Dương chen nhau:

CAN

CHI

Giáp = Mộc +

Tý = Thủy +

Ất = Mộc -

Sửu = Thổ -

Bính = Hỏa +

Dần = Mộc +

Đinh = Hỏa -

Mão = Mộc -

Mậu = Thổ +

Thìn = Thổ +

Kỷ = Thổ -

Tỵ = Hoả -

Canh = Kim +

Ngọ = Hoả +

Tân = Kim -

Mùi = Thổ -

Nhâm = Thủy +

Thân = Kim +

Quý = Thủy -

Dậu = Kim Tuất = Thổ +


Hợi = Thủy CAN PHÁ
Giáp >< Mậu >< Nhâm >< Bính >< Canh >< Giáp
Tân >< Ất >< Kỷ >< Quý >< Đinh >< Tân
CAN HỢP
Giáp - Kỷ, Ất - Canh, Bính - Tân, Đinh - Nhâm , Mậu - Quý
Hàng Can của tháng thay đổi tùy theo hàng Can của năm và theo công thức sau ấn
định cho tháng Dần (tháng Giêng).

Can của năm

Can của tháng Giêng

Giáp, Kỷ

Bính

Ất, Canh

Mậu

Bính, Tân

Canh

Đinh, Nhâm
Mậu, Quý

Nhâm
Giáp

GIÁP, KỶ chi niên BÍNH DÂN thủ
ẤT, CANH chi tuế MẬU DÂN đầu
BÍNH, TÂN định thị CANH DẦN khởi
ĐINH, NHÂM: NHÂM DẦN thuận số lưu
MẬU, QUÍ: GIÁP DẦN khởi ngoại cầu
Chú ý: Hàng Can của năm, tháng, ngày, giờ rất quan trọng trong việc giải đoán, vì nó
chủ về Mệnh Trời. (yếu tố Thiên Mệnh trong mạng vận).
Đem hành hàng Can của năm sinh so với hàng Can của năm vận là nắm được yếu tố
tốt, xấu của năm vận. Lại so sánh hành hàng Can với hành hàng Chi của năm sinh, là
biết được một nét chính tốt xấu của cuộc đời.

3. NGŨ HÀNH
a. Tương sinh
Mộc --> Hỏa --> Thổ --> Kim --> Thủy --> Mộc
b. Tương khắc


Mộc >< Thổ >< Thủy >< Hỏa >< Kim >< Mộc
c. Tam hợp
- Mỗi cung thuộc vào một bộ tam hợp. VD: Cung Tuất thuộc tam hợp Dần Ngọ Tuất.
- Khi đọc tam hợp lên, phải theo đúng thứ tự như đã ghi tức là đọc Dần trước rồi đến
Ngọ rồi đến Tuất. Đó là theo lễ Dịch, mỗi bộ tam hợp gồm những cung hợp nhau, sinh
nhau:
1. Dần Ngọ Tuất: Mộc (Dần) --> Hoả (Ngọ) --> Thổ (Tuất)
2. Tỵ Dậu Sửu: Hoả (Tỵ ) --> Thổ --> Kim (Dậu) --> Thổ (Sửu)
3. Thân Tý Thìn: Kim (Thân) --> Thủy (Tý) --> Thổ (Thìn)
4. Hợi Mão Mùi: Thủy (Hợi) --> Mộc (Mão) --> Thổ (Mùi)
Trong mỗi tam hợp, có chữ đầu, chữ giữa và chữ cuối. Chữ đầu sinh ra cung giữa, cung
giữa là cung chính (chính Hành và chính Phương), cung dưới bao giờ cũng là cung Thổ,
còn gọi là cung Mộ, vì mọi hành đều trở về Thổ. Vậy:
- Tứ sinh: Dần, Thân, Tỵ, Hợi
- Tứ tuyệt (chính): Tý, Ngọ, Mão, Dậu
- Tứ mộ: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi
Mỗi tam hợp có một hành, đó là hành của cung trong tứ chính. Như vậy:
- Dần, Ngọ, Tuất: hành Hỏa
- Tỵ, Dậu, Sửu: hành Kim
- Thân, Tý, Thìn: hành Thủy
- Hợi, Mão, Mùi: hành Mộc
Trong phép giải đoán, khi xét một cung, phải xét cả 2 cung kia trong tam hợp (gọi là
cung tam hợp chiếu) coi cả 3 cung như nhau. Như Mạng đóng ở Tuất, thì phải xét cả 2
cung Dần và Ngọ cũng quan trọng như Tuất.
d. Nhị hợp
- Sửu --> Tý (Tam họp Kim --> Tam hợp Thủy )
- Dậu --> Thìn (Tam họp Kim --> Tam hợp Thủy )
- Tỵ --> Thân (Tam họp Kim --> Tam hợp Thủy )
- Mùi --> Ngọ (Tam họp Mộc --> Tam hợp Hỏa)
- Hợi --> Dần (Tam họp Mộc --> Tam hợp Hỏa )


- Mão --> Tuất (Tam họp Mộc --> Tam hợp Hỏa)
- Vậy nhị hợp chỉ có một chiều; chiều ngược lại không đúng. Thí dụ: Sửu nhị hợp cho Tý,
nhưng Tý không nhị hợp cho Sửu. Ta nhận xét thêm là trong một cặp nhị hợp, chiều nhị
hợp do từ cung Âm sang cung Dương, vậy là cung Âm sinh xuất, cung Dương sinh
nhập.
- Trong phép giải đoán, cung nào bị sinh xuất thì không kể đến nhị hợp. Cung nào được
sinh nhập mới được kể đến nhị hợp. Thí dụ: Mạng ở Tuất, Tuất được Mão sinh nhập. Vậy
ta xem cả Sao ở Mão.
e. Nhị xung (cung xung chiếu)
Tý >< Ngọ (Tam họp Thủy >< Tam hợp Hỏa)
Sưu >< Mùi (Tam hợp Kim >< Tam hợp Mộc)
Dần >< Thân (Tam họp Thủy >< Tam hợp Hỏa)
Mão >< Tam hợp Mộc)
Thìn >< Tuất (Tam họp Thủy >< Tam hợp Hỏa)
Tỵ >< Hợi (Tam hợp Kim >< Tam hợp Mộc)
Lưu ý:
Tý >< Ngọ: Tý khắc xuất, Ngọ bị khắc nhập
Sửu >< Mùi: Sửu khắc xuất, Mùi bị khắc nhập
Dần >< Thân: Thân khắc xuất, Dần bị khắc nhập
Mão >< Dậu: Dậu khắc xuất, Mão khắc nhập
Thìn >< Tuất: Thìn khắc xuất, Tuất bị khắc nhập
Tỵ >< Hợi: Tỵ khắc xuất, Hợi bị khắc nhập
Tóm lại, khi xem cung nào phải ĐỒNG THỜI xem cả cung xung chiếu, 2 cung tam
chiếu và cung nhị hợp, tức là phải xem 5 cung cùng một lúc để cân nhắc chung.
Thông thường người ta xem 5 cung có tầm quan trọng ngang nhau. Nhưng có người
tinh vi hơn muốn đánh giá 5 cung đó theo ưu tiên quan trọng khác nhau. Theo quan
điểm này thì:
- Quan trọng nhất là cung chánh (ví dụ là Tuất)
- Quan trọng nhì là cung xung chiếu (Thìn)
- Quan trọng ba là 2 cung tam chiếu (Dần và Ngọ)


- Quan trọng bốn là cung nhị hợp (Mão)
Sự đánh giá này xét qua cũng hợp lý vì bao giờ sao tọa thủ tại cung chánh cũng nặng
cân hơn cả, rồi đến các sao tọa thủ tại cung trực chiếu, rồi đến tam chiếu và sau cùng
là nhị hợp.
Sự đánh giá này phân biệt được ảnh hưởng trực tiếp và các ảnh hưởng gián tiếp ngõ
hầu cân nhắc sự nặng nhẹ của biến cố, giúp cho việc luận đoán tinh vi hơn, cụ thể hơn,
có thể chính xác hơn, đầy đủ hơn. Trái lại, nếu gọp chung 5 cung lại coi nhưng ngang
giữa nhau thì chỉ có được ý niệm chung về biến cố, không suy diễn được chi tiết của
biến cố (nguyên nhân, hậu quả, hình thái, tính chất…) khiến cho sự lượng định, thẩm
định không rõ ràng.

4. NHỮNG TIẾN TRÌNH PHẢI THEO
Có 2 giai đoạn của tiến trình: Xem trước hết phần địa bàn. Kế đến xem phần thiên bàn.
Trong địa bàn các yếu tố phải xem là: Tuổi Âm Dương đối với vị trí cung an Mệnh và
Thân Tương quan ngũ hành giữa Bản Mệnh và Cục.
Trong thiên bàn, các yếu tố phải xem là: Cung Phúc đức Cung Mệnh, cung Thân, và
những cung cường của mỗi phái. Phái Nam có các cung Quan, Tài, Di, Thê. Phái Nữ có
cung Phu, Tài, Tử.
a. Xem tuổi Âm Dương với vị trí cung an Mệnh, Thân
- Âm Dương thuận lý: Là trường hợp tuổi Dương mà Mệnh đóng ở Dương cung, hoặc
tuổi Âm mà mệnh đóng ở Âm cung. Việc thuận lý này được kể như một lợi điểm đầu
tiên: đó là một điểm tốt, một yếu tố thuận lợi.
- Âm Dương nghịch lý: ngược lại trường hợp trên. Sự nghịch lý này là một bất lợi, một
chỉ dấu trục trặc đầu tiên. Chưa thể xác định ngay phương diện nào bị trục trặc. Phải
tìm thêm các yếu tố khác bổ túc. Điều cần lưu ý rằng sự thuận lý hay nghịch lý của qui
luật Âm Dương trong tiến trình này không hoàn toàn có tính cách quyết định. Đó chỉ là
một yếu tố như những yếu tố khác và phải được cân nhắc trong bối cảnh các yếu tố
khác. Tuy nhiên, nó cũng giúp ta một ý niệm tiên khởi và rất tổng quát về một đặc
điểm nhỏ của lá số.
b. Xem tương quan ngũ hành giữa Bản Mệnh và Cục


Giữa 2 yếu tố này, có 2 trường hợp:
- Ngũ hành và tương sinh: Đó là Mệnh Cục tương sinh nói chung. Ví dụ: Mệnh Kim
sanh Cục Thủy, hay Cục Hỏa sanh Mệnh Thổ. Do đó, có 2 trường hợp Mệnh sanh Cục,
có trường hợp Cục sanh Mệnh. Dù cả 2 tương sinh nhau, nhưng tùy theo Mệnh sinh hay
Mệnh được sanh, giá trị hơn kém sẽ khác nhau. Tốt là trường hợp Cục sanh Mệnh. Nhờ
đó Bản Mệnh thịnh: đó là một yếu tố thuận lợi. Kém tốt là trường hợp Mệnh sanh Cục.
Vì vậy Bản Mệnh bị hao: đó là một yếu tố kém thuận lợi, tuy không hẳn là xấu.
Cục sinh Mệnh, còn gọi là sinh nhập, trái lại là sinh xuất. Mọi sự hao, xuất của Mệnh
trong luật tương sinh này đều kém tốt. Nhưng đó cũng còn đỡ hơn trường hợp tương
khắc.
- Ngũ hành tương khắc:

Đó là trường hợp hành Mệnh và hành Cục khắc nhau như Kim

khắc Mộc, Hỏa khắc Thủy. Ở đây, cũng có 2 hướng khắc: Mệnh khắc Cục và Cục khắc
Mệnh. Đỡ xấu là Mệnh khắc Cục. Như Kim Mệnh khắc Mộc Cục. Thế Kim ưu thắng nên
Mệnh đỡ hao. Xấu hơn là Cục khắc Mệnh. Trong trường hợp này Mệnh bị thiệt thòi rất lớn.

Như vậy, việc tương sanh hay tương khắc giữa Mệnh cục có 4 mức độ hay dở khác
nhau. Mỗi trường hợp hay dở, tuy có giá trị riêng rẽ, nhưng đáng kể là có giá trị trong thế
tương quan với sự thuận hay nghịch lý của tuổi Âm Dương nói trên.
Giữa 2 loại tương quan Âm Dương của tuổi và Ngũ Hành của Mệnh Cục, càng có nhiều
yếu tố thuận lợi thì số càng đẹp. Hai loại tương quan này kết hợp lại đưa đến 8 hướng luận
đoán:

Tương quan Âm Dương

Tương quan Ngũ hành

AD thuận lý

1. Cục sinh mệnh
2. Mệnh sinh cục

3. Mệnh khắc cục
4. Cục khắc mệnh

AD nghịch lý

5. Cục sinh mệnh
6. Mệnh sinh cục

7. Mệnh khắc cục
8. Cục khắc mệnh

Sự cân phân tốt xấu giữa 8 trường hợp này rất khó khăn nhất là đối với 4 trường
hợp 3, 4, 5 và 6.


Tất nhiên, ai cũng đồng ý rằng, lý tưởng nhất là ca 1, kế đến là ca 2, xấu nhất là ca 8,
xấu nhì là ca 7.
Đối với 4 trường hợp kia, có 2 cách đánh giá:
- Xem qui luật tương thuận Âm Dương quan trọng hơn. Cách này tham chiếu căn
bản triết lý cho rằng tác hóa Âm Dương sinh ra ngũ hành, nên qui luật tương thuận về
Âm Dương ưu thắng hơn. Theo cách giải thích này, thì trường hợp 3 và 4 phải hay hơn
trường hợp 5 và 6.
- Xem tương sinh ngũ hành của bản Mệnh là một yếu tố then chốt của lá số,
nên việc phù sinh cho Mệnh nhất định phải ưu thắng hơn, dù là gặp bối cảnh Âm Dương
nghịch lý. Theo đó, ca 5, 6 hay hơn ca 3, 4.
5. Xem số trẻ con
1 tuổi xem Mệnh, 2 tuổi xem Tài, 3 tuổi xem Tật, 4 tuổi xem Phu Thê, 5 tuổi xem Phúc,
6 tuổi xem Quan, 7 tuổi xem Nô, 8 tuổi xem Di, 9 tuổi xem Tử, 10 tuổi xem Bào, 11 tuổi
xem Phụ, 12 tuổi xem Điền.
Khi trẻ lên 13 thì bắt đầu xem hạn như người lớn. Thông thường trẻ dưới 12 tuổi ít khi
có biến cố chính xác. Nên có xem cũng chỉ nên dè dặt, cẩn thận

Muốn lập thành một lá số Tử Vi cần phải hội đủ 4 yếu tố là Năm-Tháng-NgàyGiờ sinh theo Âm Lịch. Cách lập thành lá số Tử Vi nói chung có nguyên tắc
chỉ dẩn khá rỏ ràng, nhưng về phương cách giải đoán thì còn phải tùy theo
trình độ, cơ duyên và kinh nghiệm... của người giải đoán mà sẽ có những lời
giải đoán khác nhau.
Để giải đoán được Tử Vi giỏi, đại khái cần phải có 4 điều kiện sau:
Trí nhớ - Tử Vi là một khoa lý số cổ học rất phức tạp nên rất cần có trí nhớ tốt
để thuộc các nguyên lý của Âm dương, Ngũ hành, Can Chi và ý nghĩa tính
chất của các Sao.
Suy luận - Phải suy luận để phân tích, phối hợp, chế hóa sự sinh khắc của âm
dương ngũ hành và xấu tốt của các sao đóng tại mỗi cung số.
Trực giác - Cần phải có trực giác bén nhạy để giúp ích cho những sự suy luận.
Kinh nghiệm - Phải thực hành cho nhiều, đối chiếu phần thực nghiệm với lý
thuyết để suy luận ra những lời giải đoán cho súc tích, phong phú và chính
xác.


Để giúp các bạn mới bắt đầu tự nghiên cứu Tử Vi được dễ dàng, dễ hiểu và
có kết quả, chúng tôi mạo muội xin đưa ra những phương pháp, hướng dẫn
cụ thể để các bạn theo thứ tự học hỏi hầu có thể tự giải đoán được lá số của
mình.
Vào một trong các trang Web Tử Vi Đẩu Số - VietShare An Sao - Tinh Vân
Horoscope hay Kinh Dịch - Tử Vi để lấy và in ra lá số. Mỗi khi điền vào các ô
ngày-tháng-năm sinh theo dương lịch, chương trình lấy lá số Tử Vi sẽ tự động
chuyển đổi ngày tháng và năm sang âm lịch mà không phải nhờ đến
software chuyển đổi hay tra cứu Vạn Niên Lịch.
Xem giải thích cách trình bày và hiểu ý nghĩa của lá số.
Những Nguyên Tắc Căn Bản phải nhớ
Những nguyên tắc căn bản về Âm Dương / Can Chi và Ngũ hành sinh khắc .
Những quy tắc phối chiếu của Tam hợp - Nhị hợp - Xung chiếu giữa các cung
trong lá số Tử Vi.
Những Tiến Trình Luận Đoán Số phải theo
Xét sự thuận nghịch về lý âm dương giữa Năm sinh với vị trí cung an Mệnh để
biết tổng quát tốt xấu của cung cần giải đoán.
Xét sự sinh khắc ngũ hành của Can Chi Năm sinh
Xét sự tương quan ngũ hành giữa bản Mệnh và Cục
Xem phối hợp hai cung tam hợp với cung an Mệnh-Thân
Xem phối hợp cung nhị hợp với cung an Mệnh-Thân
Xem phối hợp cung xung chiếu với cung an Mệnh-Thân
Xem vị trí của tam hợp hai cung Mệnh/Thân và vòng Thái Tuế trên lá số
Xem vị trí của tam hợp hai cung Mệnh/Thân và vòng Lộc Tồn trên lá số
Xem vị trí của tam hợp hai cung Mệnh/Thân và vòng Tràng Sinh trên lá số
Phải xét qua tất cả các yếu tố trên rồi phối hợp lại để đưa ra lời lý giải tổng
quát về những nét đại cương của cuộc đời cho lá số.
Những Đặc Tính của các Sao phải hiểu
Xem tổng hợp bộ cách của Chính tinh và các trung tinh tại ba cung Mệnh-TàiQuan, cung an Thân và cung Phúc Đức để biết tổng quát lá số của mình được
các cách gì.


Xem ý nghĩa và đặc tính của Chính tinh tọa thủ, hợp chiếu và nhị hợp tại
cung Mệnh và Thân.
Xem ý nghĩa và đặc tính của các Trung tinh và Phụ tinh tọa thủ, hợp chiếu và
nhị hợp của cung Mệnh-Thân.
Xét ý nghĩa, đặc tính, vị trí và sự đắc hãm của các Hung Sát tinh trên lá số.
Xem ảnh hưởng của các Hung Sát Bại tinh (nếu có) tọa thủ, hợp chiếu và nhị
hợp tại các cung quan trọng như tại ba cung Mệnh-Tài-Quan, cung an Thân
và cung Phúc Đức.
Xét tới giá trị và ảnh hưởng biến đổi của các sao theo thời gian của mệnh số.
Xem sự liên đới của các sao với nhau, nếu các sao này kết hợp thành cách
cục hay bộ cách thì sẽ có tác dụng mạnh mẽ hơn là đóng đơn lẽ hay lạc lỏng.
Nếu muốn xem cung nào thì phải phối hợp ý nghĩa, đặc tính và đặc điểm của
các sao tọa thủ, hợp chiếu và nhị hợp tại cung đó, quân bình số lượng các
sao rồi đúc kết các yếu tố lại để đưa ra lời lý giải kết luận về cung muốn xem.
Phải tập xem phần giải đoán qua các lá số mẫu để biết cách lý giải lá số.
Phần này có thể xem qua các bài sưu tập về "Vấn đáp Tử Vi <
vdap_tv.html&g thienduc thamluan.lysodongphuong.com" của Tướng Số gia
Thiên Đức đăng lại trên trang Web này để rút tỉa kinh nghiệm về cách thức
giải đoán lá số. Mỗi câu vấn đáp nói trên đều có phần lược giải về Tử Vi cho
người đặt ra câu hỏi.
Hiện tại phần "Tính lý các sao" của trang Lý Số Đông Phương chưa được hoàn
thành đầy đủ, nên các bạn có thể qua trang Web của Vietshare , sau khi lấy
xong lá số thì nhấn nút chuột trên tên của mỗi sao tại cung nào muốn xem
thì sẽ có ngay lời giải tóm tắt về đặc tính của sao đó ngay trên màn ảnh.
Những cung cần phải xem
Cùng một cách xem cho cung Mệnh-Thân và Phúc Đức, xét và luận đoán các
cung liên hệ đến bản thân mình là Quan lộc - Tài bạch - Tật ách - Thiên di Điền trạch - Nô bộc.
Cùng một cách xem cho cung Mệnh-Thân và Phúc Đức, xét và luận đoán các
cung liên hệ đến lục thân như Phối ngẫu - Tử tức - Phụ mẫu - Huynh đệ
Những Vận Hạn Trong Cuộc Đời phải biết
Cách Giải Đoán Vận Hạn
Xem các Đại vận 10 năm của lá số


Xem Tiểu vận từng năm
Luận về cung tam hợp
Sách số nào cũng chỉ khi xem một cung thì phải xem phối hợp: cung chính,
hai cung tam hợp, cung xung chiếu và cung nhị hợp, tất cả là 5 cung cùng
một lúc để giải đoán.
Có quan điểm còn đánh giá thứ tự ưu tiên hoặc xếp đặt ra giá trị tỷ lệ cho
cung chiùnh là quan trọng nhất, thứ nhì là cung xung chiếu, thứ ba mới đến
hai cung tam chiếu với cung chính và sau hết là cung nhị hợp. Sự đánh giá
này nhằm phân định được các ảnh hưởng nào là trực tiếp và ảnh hưởng nào
là gián tiếp để giúp cho việc giải đoán được cụ thể và đầy đủ hơn.
Riêng theo cụ Thiên Lương thì căn bản chính yếu của một cung chỉ có một
cung chính và hai cung tam hợp. Cung nhị hợp (tương sinh) chỉ phụ thêm bổ
túc cho cung chính. Còn cung xung chiếu (tương khắc) tuyệt đối chính là đối
phương.
Dưới đây là 4 bảng Tam Hợp:
Sở dĩ không có tam hợp hành Thổ vì trong 4 tam hợp trên đều có hành Thổ
làm nền tảng để cho Tứ Sinh (Dần-Thân-Tỵ-Hợi) phát nguồn bồi đắp cho Tứ
Chính (Tý-Ngọ-Mão-Dậu) được đầy đủ sung túc để trở thành những hành
chính trong tam hợp.
Theo Dịch học, hành Thổ là nguồn gốc phát xuất ra các hành khác, rồi tập
trung về lại nguồn cội trung ương, hành Thổ phối hợp với 4 hành Kim-MộcThủy-Hỏa thành 4 cục diện, là thế tam hợp căn bản của Tử Vi Đẩu Số.
Nhận xét về bảng Tam Hợp dưới đây sẽ thấy trong mỗi cục diện gồm có 3
hành, tuy khác nhau nhưng cùng liên minh với nhau thành một hành chung,
để cùng các cục diện khác tranh đua biến đổi sinh khắc lẫn nhau.
Ngoài ra, theo cụ Việt Viêm Tử thì cần phải phân biệt đến hai chiều thuận
nghịch theo quy lý âm dương của tam hợp cục nữa. Lấy ví dụ người có cung
mệnh tại Ngọ trong tam hợp cục Dần-Ngọ-Tuất. Nếu là Dương Nam/ Âm Nữ
khởi theo chiều thuận đi từ cung Dần đến cung Tuất nên những sao tam hợp
đóng tại cung Dần sẽ ảnh hưởng nhiều hơn là những sao cùng tam hợp tại
cung Tuất. Còn với người Âm Nam/ Dương Nữ theo chiều nghịch đi ngược lại
từ cung Tuất đến cung Dần nên những sao tam hợp tại cung Tuất sẽ ảnh
hưởng nặng hơn là những sao tại cung Dần.
Thuyết Âm Dương theo kinh Dịch Chúng tôi xin sơ lược tóm tắt về thuyết Âm
Dương:
Theo học thuyết cổ của Trung Hoa, nguồn gốc sơ khởi của vạn vật trong vũ
trụ là Thái Cực. Trong thái cực có hai động thể tiềm phục đó là hai khí Âm
Dương - gọi là Lưỡng Nghi.
Âm và Dương là hai mặt tương phản đối lập, mâu thuẫn, ức chế lẫn nhau


nhưng thống nhất, nương tựa, thúc đẩy lẫn nhau, trong Dương có mầm của
Âm và trong Âm có mầm của Dương. Vạn vật được sinh thành và biến hóa
nhờ hai khí Âm Dương này phối hợp.
Hai khí Âm Dương giao tiếp tuần hoàn sinh hóa ra vạn vật theo 4 trạng thái
phát triễn và suy tàn được gọi là Tứ Tượng (Thiếu Dương - Thái Dương và
Thiếu Âm - Thái Âm)
"Khí của trời đất, hợp thì là một, chia thì là Âm và Dương, tách ra làm bốn
mùa, bày xếp thành Ngũ hành." (Đổng Trọng Thư)
Tứ tượng nhờ ảnh hưởng của hai khí Âm Dương thúc đẩy và biến hóa khai
sinh ra:
4 mùa - Xuân Hạ Thu Đông
5 chất gọi là Ngũ hành : Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ
8 hình dạng khác nhau của vũ trụ được gọi là Bát Quái
Càn chỉ trời, Khảm chỉ nước, Cấn chỉ núi non, Chấn chỉ sấm sét, Tốn chỉ gió,
Ly chỉ lửa, Khôn chỉ đất, Đoài chỉ đầm lầy.
Bài đọc thêm nói về thuyết Âm Dương:
Căn cứ nhận xét lâu đời về giới thiệu tự nhiên, người xưa đã nhận xét thấy sự
biến hóa không ngừng của sự vật (thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh
tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái. Lưỡng nghi là âm và dương, tứ tượng là thái
âm, thái dương, thiếu âm và thiếu dương. Bát quái là càn, khảm, cấn, chấn,
tốn, ly, khôn và đoài).
Người ta còn nhận xét thấy rằng cơ cấu của sự biến hoá không ngừng đó là
ức chế lẫn nhau, giúp đỡ, ảnh hưởng lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau và thúc
đẩy lẫn nhau.
Để biểu thị sự biến hóa không ngừng và qui luật của sự biến hóa đó, người
xưa đặt ra "thuyết âm dương". Âm dương không phải là thứ vật chất cụ thế
nào mà thuộc tính mâu thuẫn nằm trong tất cả mọi sự vật. nó giải thích hiện
tượng mâu thuẫn chi phối mọi sự biến hóa và phát triển của sự vật. Nói
chung, phàm cái gì có tính chất hoạt động, hưng phấn, tỏ rõ, ở ngoài, hướng
lên, vô hình, nóng rực, sáng chói, rắn chắc, tích cực đều thuộc dương.
Tất cả những cái gì trầm tĩnh, ức chế, mờ tối, ở trong, hướng xuống, lùi lại,
hữu hình, lạnh lẽo, đen tối, nhu nhược, tiêu cực đều thuộc âm. Từ cái lớn như
trời, đất, mặt trời, mặt trăng, đến cái nhỏ như con sâu, con bọ, cây cỏ, đều
được qui vào âm dương.
Ví dụ về thiên nhiên thuộc dương ta có thể kể: Mặt trời, ban ngày, mùa xuân,
hè, đông, nam, phía trên, phía ngoài, nóng, lửa, sáng. Thuộc âm ta có: Mặt
trăng, ban đêm, thu, đông, tây, bắc, phía dưới, phía trong, lạnh nước, tối.


Trong con người, dương là mé ngoài, sau lưng, phần trên, lục phủ, khí , vệ;
Âm là mé trong, trước ngực và bụng, phần dưới ngũ tạng, huyết, vinh.
Âm dương tuy bao hàm ý nghĩa đối lập mâu thuẫn nhưng còn bao hàm cả ý
nghĩa nguồn gốc ở nhau mà ra, hỗ trợ, chế ước nhau mà tồn tại. Trong âm có
mầm mống của dương, trong dương lại có mầm mống của âm...
Hướng Dẫn Giải Đoán Vận Hạn
Muốn giải đoán được vận hạn của đời mình, cần phải theo các nguyên tắc
được hướng dẫn sau:
Những Nguyên Tắc Căn Bản
Quan sát gốc Đại hạn 10 năm
Quan sát lưu Đại Vận từng năm
Quan sát lưu niên Tiểu hạn 1 năm
Nhận Định về Hạn
Liên hệ giữa Đại hạn và Tiểu hạn
Đại hạn 10 năm tốt đẹp nhưng bị Tiểu hạn một năm xấu thì cũng không đáng
quan ngại vì ảnh hưởng tốt của đại hạn đã giải trừ được những sự xấu của
Tiểu hạn. Tiểu hạn (dầu tốt hay xấu) chỉ phụ giúp thêm hay làm giảm bớt
10% ảnh hưởng của Đại vận.
Đại hạn 10 năm xấu nhưng được Tiểu hạn một năm tốt thì sự tốt đẹp của
Tiểu hạn cũng bị giảm bớt.
Liên hệ giữa Mệnh-Thân và Hạn
Mệnh Thân và Hạn tốt - Người có cung Mệnh tốt thì chỉ xứng ý toại lòng lúc
còn trẻ tuổi, đến tuổi trung niên và hậu vận thì cũng cần phải được cung
Thân tốt thì mới được trọn vẹn. Nếu được Hạn tốt nữa thì ví như gấm thêm
hoa.
Mệnh Thân tốt gặp Hạn xấu - Mệnh Thân tốt có thể giải trừ được một phần
lớn ảnh hưởng xấu của Hạn.
Mệnh Thân xấu được Hạn tốt - Được phát ví như lúa non gặp mưa thuận gió
hòa, cây khô gặp mùa Xuân, nhưng không bền.
Mệnh Thân và Hạn xấu - Rất xấu như sinh bất phùng thời.
Ảnh hưởng của Chính tinh là Nam hay Bắc Đẩu Tinh nhập hạn
Nam Đẩu Tinh nhập hạn - Ảnh hưởng mạnh mẽ vào khoảng nữa phần thời
gian sau của Đại và Tiểu vận. Nếu bị Tuần Triệt thì đoán ngược lại.
Các Nam Đẩu Tinh là Thái Dương - Thiên Cơ - Thiên Đồng - Thiên Lương Thiên Tướng và Thất Sát. Các chính tinh trên hợp với người dương nam và âm
nữ, nếu được miếu vượng hay đắc địa thì càng thêm tốt đẹp.
Riêng hai chính tinh Tử Vi và Thiên Phuû là Nam Bắc Tinh
Bắc Đẩu Tinh nhập hạn - Ảnh hưởng mạnh mẽ vào khoảng nữa phần thời
gian đầu của Đại và Tiểu vận.
Các Bắc Đẩu Tinh là Thái Âm - Vũ Khúc - Tham Lang - Liêm Trinh - Phá Quân


và Cự Môn. Các chính tinh trên hợp với người âm nam và dương nữ, nếu được
miếu vượng hay đắc địa thì càng thêm tốt đẹp.
Ảnh hưởng của Sao nhập hạn
Ảnh hưởng các Sao lưu động mỗi năm
Đại Tiểu Hạn trùng phùng
Cung gốc đại vận 10 năm với lưu niên tiểu vận đồng cung, sự việc tốt xấu
hay dở của năm xem hạn tại cung trùng phùng này sẽ gia tăng.
Thí dụ: hạn năm Ngọ 32 tuổi lưu niên chữ Ngọ trùng với cung gốc của đại vận
23-32 tuổi
Yếu tố thiên thời của đại-vận (10 năm)
Mỗi đại-vận là một thiên-thời, đắc được thiên-thời gặp vận hội tốt đời sẽ lên
hương, còn mất thiên-thời thì đời sẽ thấy khó-khăn để rồi đi xuống.
Lấy ngũ hành của tam hợp tuổi đem so-sánh với hành tam hợp của cung đại
vận nhập hạn:
Tam hợp tuổi tương đồng hành tam hợp vận - đắc vận Thái-tuế (thiên-thời) là
đại-vận tốt đẹp nhất trong đời; thêm sao tốt nhập hạn thì được như gấm thêu
hoa, nếu gặp ách-nạn thì cũng sẽ được cứu-giải mà qua khỏi.
Trường-hợp bị Hung-sát-tinh phá cách như Không-Kiếp ... thì vẫn được lên
nhưng rồi dễ xuống, hay gặp khó-khăn và trở-ngại, vận hội tốt còn hưởng độ
50% mà thôi.
Đại-vận này cần phải được thêm tam-hợp Sinh-Vượng-Mộ hổ trợ thì mới được
hưởng vận Thiên-thời một cách chính-đáng, trọn-vẹn và bền-bỉ.
Thí dụ: các người tuổi Dần-Ngọ-Tuất đại vận 10 năm đến các cung Dần-NgọTuất (đại vận hỏa đồng hành tam-hợp tuổi hỏa)
Tam-hợp-vận sinh-nhập hành tam-hợp-tuổi - được thuận-lợi và sức-khỏe tốt;
tuy-nhiên vì nằm trong tam-hợp Thiên-không nên cũng hay dễ xảy ra những
sự thất-bại và buồn lòng, nếu đắc Hóa-khoa có thể cứu-giải.
Thí duï: các người tuổi Dần-Ngọ-Tuất đại vận 10 năm đến các cung Hợi-MãoMùi (đại vận mộc sinh hành tam-hợp tuổi hỏa)
Tam-hợp-tuổi khắc-xuất hành tam-hợp-vận - bị sa-lầy, nhiều vất-vả (Thiếuâm), phải gắng công tranh-đấu (Phá-Hư-Mã); có thể nhờ đến phần Nhân-hòa
(sao) giúp-đỡ.
Thí duï: các người tuổi Dần-Ngọ-Tuất đại vận 10 năm đến các cung Tỵ-DậuSữu (đại vận kim bị hành tam-hợp tuổi hỏa khắc)
Tam-hợp-vận khắc-nhập hành tam-hợp-tuổi - khắc ngược rất xấu, cần phải có
được nhiều sao tốt để cứu giải.


Thí dụ: các người tuổi Dần-Ngọ-Tuất đại vận 10 năm đến các cung Thân-TýThìn (đại vận thủy khắc hành tam-hợp tuổi hỏa)
Yếu tố địa lợi của Đại-vận (10 năm)
Địa-lợi là nơi an thân của bản mệnh tại đại vận. Nếu cung hạn tương sinh tất
bản mệnh sẽ được vững chắc an lành. Phần này phải lấy ngũ hành nạp âm
của mệnh so-sánh với ngũ hành của cung nhập-hạn :
Tương-Sanh - sức-khỏe dồi-dào và thường gặp may-mắn.
Thí dụ người mệnh hỏa đại vận đến hai cung Dần-Mão thuộc mộc được tương
sinh.
Tương-Khắc - sức-khỏe kém, thường gặp nhiều khó-khăn và bất trắc xảy ra.
Thí duï người mệnh hỏa đại vận đến hai cung Hợi-Tý thuộc thủy bị tương
khắc.
Nếu hành bản mệnh bị hành của cung đại-vận khắc rất xấu, nhưng được
Chính-tinh tại cung đại-vận sinh-nhập lại mệnh (tức cung sinh sao và sao sinh
lại mệnh) là cách "tuyệt xứ phùng sinh" rất tốt (ví dụ người mệnh hỏa bị
hành của cung đại vận tại Hợi hay Tý thuộc thủy khắc, nhưng lại được chính
tinh Thiên Cơ hoặc Thiên Lương tại Hợi-Tý thuộc mộc sinh lại bản mệnh)
Yếu tố nhân hòa của đại-vận (10 năm)
Nhân-hòa là thứ cách quan trọng sau yếu-tố Thiên-thời, nếu được Thiên-thời
và Địa-lợi nhưng không được phần "Nhân-hòa" thì dù bản-thân có may-mắn
đến đâu thì cũng phải bị nhiều vất-vả mới được thành-công, vì ít được sự trợgiúp của bên ngoài.
Phần này phải xem bộ Chính tinh Đại-vận có cùng hay khác thế lưỡng-nghi
với bộ Chính tinh của tam hợp Mệnh:
Nếu Chính tinh đồng bộ cùng phe phái lưỡng-nghi (như Tử-Phủ-Vũ-Tướng gặp
Sát-Phá-Liêm-Tham) thì khi chuyển vận gặp nhau ít thay-đổi, thêm Trung-tinh
đắc cách tam-hợp thì được hòa-thuận tốt đẹp.
Bằng như khác phe phái (như Cơ-Nguyệt-Đồng-Lương gặp Sát-Phá-LiêmTham) thì hẳn là có sự đụng-độ và khó-khăn, phần thiệt-hại vẫn là phần của
phe yếu thế là Cơ-Nguyệt-Đồng-Lương; nếu gia thêm Sát-tinh nhập hạn thì sẽ
gặp nhiều chuyện không may.
Tư-thế của bốn bộ Chính tinh (Tứ tượng) trên muốn được thêm hoàn-mỹ và
thành-công thì cần phải có tối thiểu:
- Bộ T-P-V-T cần nhất là Tả-Hữu, Thai-Tọa
- Bộ S-P-L-T cần nhất là Thai-Cáo và Lục-sát-tinh
- Bộ C-N-Đ-L cần nhất là Xương-Khúc và Khôi-Việt
- Bộ C-N cần nhất là Hồng-Đào, Quang-Quý


* So-sánh hành Sao nhập hạn sinh hay khắc với hành Mệnh, bộ Sát-Phá-LiêmTham mỗi khi nhập hạn thường có những cuộc thăng-trầm khá quan-trọng
xẩy ra.
Luận về Lưu niên đại hạn
Ngoài cách xem các đại vận 10 năm ra, nếu muốn xem đại vận một cách
tường tận hơn thì phải xem cả lưu đại hạn của từng năm một.
Nếu muốn biết xem lưu đại vận từng năm một của mỗi 10 năm đại vận thì
phải khởi năm thứ nhất từ con số đầu ghi ở cung gốc đại hạn muốn xem, tính
tiếp sang cung xung chiếu của cung gốc hạn là năm thứ hai, sau đó:
Dương Nam - Âm Nữ : Từ năm thứ hai ở cung xung chiếu lùi lại một cung
(theo chiều nghịch kim đồng hồ) là năm thứ ba, xong trở thuận lại cung xung
chiếu ghi số tiếp năm thứ tư, rồi tiếp tục theo chiều thuận ghi tiếp mỗi cung
một số cho các năm kế tiếp cho đến cung gốc của đại hạn sau.
Xem bảng thí dụ cách tính lưu đại vận của 10 năm đại vận từ 22 đến 31 tuổi
của tuổi Dương Nam / Thủy Nhị Cục bên trái dưới đây.
Âm Nam - Dương Nữ : Từ số của năm thứ hai ở cung xung chiếu tiến lên một
cung (theo chiều thuận kim đồng hồ) ghi số kế tiếp là năm thứ ba, xong trở
lùi lại cung xung chiếu ghi số tiếp năm thứ tư, rồi tiếp tục theo chiều nghịch
ghi tiếp mỗi cung một số cho các năm kế tiếp cho đến cung gốc của đại hạn
sau.
Luận về Lưu niên tiểu vận (1 năm)
Trong lá số Tử Vi, chung quanh phần địa bàn (trung tâm của lá số) kế bên ô
mỗi cung đều được ghi 1 địa chi (ví dụ Tý-Sửu-Dần-Mão ...) theo chiều nam
thuận nữ nghịch, đó chính là năm tiểu vận tại mỗi cung của đời người - ví dụ
năm Kỷ Mão thì xem tiểu vận tại cung có ghi chữ Mão, năm Canh Thìn thì
xem tiểu vận tại cung có ghi chữ Thìn ...
Khi xem tiểu vận phải xem phối hợp với cung gốc của 10 năm đại vận của
tiểu vận đó. Tiểu hạn (dầu tốt hay xấu) chỉ phụ giúp thêm hay làm giảm bớt
10% ảnh hưởng của Đại vận.
Mỗi tiểu hạn, chúng ta cần phải so sánh đến các tương quan giữa Can Chi
của tuổi với Can Chi của năm nhập hạn vaø ngũ hành của các sao nhập hạn,
sau đó phải so sánh hành bản mệnh với hành của cung tiểu vận nhập hạn
theo bảng dưới đây để biết được tiểu vận đó tốt hay xấu.
So sánh hành Can của tuổi và Can năm nhập hạn (gốc, quan hệ)
So sánh hành Chi của tuổi và Chi năm nhập hạn (ngọn, thứ yếu)
So sánh hành bản mệnh và hành của năm hạn (tính theo nạp âm) để biết
mức độ đắc thất.


So sánh Can của tuổi và Hành sao nhập hạn phụ thêm để quyết định.
Phụ luận :
Trong đời người từ nhỏ đến 60 tuổi có 5 lần gặp năm Thiên khắc Địa xung
nhưng chỉ có 2 lần xung quan trọng là Năm 43 tuổi (hàng Can bị sinh xuất)
và Năm 67 tuổi (hàng Can bị khắc nhập) vừa là giai đoạn gặp Thiên thương
hay Thiên sứ.
Còn Năm 49 tuổi thường xấu vì tuy hàng Can của năm được sinh nhập (hưng
vượng) nhưng hàng Chi lại nằm ở thế Phá Hư (không đắc ý) nên khiến cho từ
chổ thành công mà lại đưa đến chỗ thất bại bất mãn; chẳng khác gì cây bị
úng nước, rể phải hư và ngọn bị héo tàn.
Từ 49 đến 50 tuổi, 53 đến 60 tuổi và từ 67 đến 70 tuổi là ba đoạn đường đổ
dốc để lượn lên các ngôi sơ thọ (50) - trung thọ (60) và thượng thọ (70) luôn
luôn có Thương cung Nô và Sưù cung Ách là hai đồn canh đứng chặn giữa ba
đoạn đường đại vận này để kiểm soát suôi ngược.
Người lái xe phải lành nghề (vòng Thái Tuế) vững tay lái, xe không ham chở
nặng (Quyền Lộc) thì mới mong được an toàn.
Thương (thổ cung Nô) phụ tá của Thiên Sứ, gây ra tổn hại; có phần nào nhẹ
tay hơn Sứ (cho người có đại vận đi xuôi gặêp Thương trước).
Sứ (thủy cung Ách) thi hành lệnh gieo tai ách
Mức độ nặng nhẹ của Thương-Sứ thi hành nhiệm vụ là tùy thuộc vào các Sát
tinh nhập cuộc tại cung Nô và Ách như Văn Xương, Kình Dương (cung Tứ
chính / các tuổi Giáp Mậu Canh Nhâm), Không Kiếp, Thiên Không, Tang
Môn ...
Ngoài ra trong 3 đại vận liên tiếp trên, ít nào cũng năm sáu lần tiểu hạn đụng
đầu Đào Hồng gặp Thiên không, Lưu hà và Kiếp Sát rất dễ gây ra sức ép với
tuổi già.
Trừ phi Mệnh hay Thân đắc Thọ tinh hợp hành làm nồng cốt và không bị
nghiệp báo Hình Riêu, Không Kiếp lũng đoạn.
Trong đời người, cứ mỗi 12 năm thì có 3 năm liên tiếp gặp hạn tam tai,
thường thì hạn năm giữa là nặng nhất. Trong các năm nhập hạn tam tai
thường gặp nhiều trở ngại, rủi ro hoặc khó khăn trong công việc. Ngoài ra
không nên tu tạo hay tậu mãi nhà đất trong những năm hạn này. Còn việc
hôn nhân, cưới hỏi thì ít bị ảnh hưởng. Đây chỉ là những dự đoán về hạn xấu
chung để mà phòng tránh thôi chứ không chắc hẳn sẽ xảy ra như vậy.
Nếu năm nhập hạn trong lá số Tử Vi tốt thì hạn xấu của năm tam tai sẽ được
giảm bớt, ngược lại nếu năm hạn trong lá số xấu mà gặp thêm năm tam tai
thì năm hạn xấu sẽ càng xấu thêm.


Sao hạn Cửu Diệu :
Ảnh hưởng của Cửu Diệu tinh
La Hầu - còn gọi là Khẩu thiệt tinh, là sao xấu ảnh hưởng nặng cho Nam giới
và người mạng Kim, phái Nữ thì ảnh hưởng nhẹ. Thường gây ra những trở
ngại bất trắc, bệnh tật, khẩu thiệt, thị phi miệng tiếng. Hạn sao này cần phải
dè dặt cẩn thận. Ảnh hưỡng vào các tháng giêng và tháng 7.
Thổ Tú - còn gọi là Thổ Đức tinh hay Ách tinh chủ gia đạo bất an buồn phiền,
bệnh hoạn hay kéo dài, tiểu nhân phá phách, đi xa bất lợi. Hai tháng 4 và 8
bất lợi.
Thủy Diệu - còn gọi là Thủy Đức tinh là Phúc lộc tinh chủ bình an, giải trừ tai
nạn, đi xa có lợi, Phụ nữ bất lợi về đường sông biển. Ảnh hưỡng vào các
tháng 4 và tháng 8. Người mạng Kim và Mộc hợp với hạn sao này, riêng
người mạng Hỏa thì hơi bị khắc kỵ.
Thái Bạch - còn gọi là Kim Đức tinh, là hung tinh chủ về sự bất toại tâm, xuất
nhập phòng tiểu nhân, hao tán tiền bạc, bệnh tật nảy sinh. Phòng tháng 5
xấu, nhất là những người mệnh hỏa, kim và mộc.
Thái Dương - Phúc tinh chủ sự hanh thông, cứu giải nạn tai. Với Nữ giới thì
công việc vẫn thành công nhưng rất vất vả. Tốt vào các tháng 6 và 10.
Vân Hán - còn gọi là Hỏa Đức tinh là Tai tinh chủ hao tài, khẩu thiệt và tranh
chấp, kiện tụng bất lợi. Đề phòng những rủi ro bất ngờ. Tháng 4 và 8 xấu.
Kế Đô - được ví như bà hoàng hậu khắc khe, là sao xấu ảnh hưởng nặng nơi
phái Nữ, riêng những người có thai hay sinh đẻ trong hạn sao này thì ít bị ảnh
hưởng. Gặp hạn sao này những mưu sự thường gặp khó khăn, thành ít bại
nhiều, phòng thị phi, đau ốm hay tai biến bất ngờ. Sao Kế đô dù ít ảnh hưởng
tới Nam giới nhưng ít nhiều cũng có tác dụng không thuận lợi. Phòng tháng 3
và tháng 9
Thái Âm - Phúc tinh chuyên cứu giải bình an, tốt cho Nữ số. Sao Thái Âm
nhập hạn là tài tinh đem lại nhiều may mắn về tài lộc nhưng mang tính chất
bất thường, thời vận hay thăng trầm.
Mộc Đức - Phúc tinh chủ may mắn, gặp thời vận tốt. Sao Mộc đức cũng là
một phúc tinh cứu giải nên trong trường hợp dù gặp khó khăn gì vẫn có quý
nhân giúp sức vượt qua. Tháng 10 và 12 tốt, riêng người mạng Kim thì bất lợi
đôi chút vì không hợp với hạn sao này.
Năm hạn trong lá số Tử Vi tốt mà gặp Cửu Diệu tinh nhập hạn tốt thì lại càng
tốt thêm. Nếu gặp hạn sao xấu mà năm nhập hạn trong lá số tốt thì sao hạn
xấu sẽ được giảm bớt. Ngược lại nếu năm hạn trong lá số xấu mà gặp thêm
Cửu Diệu tinh nhập hạn xấu thì năm hạn xấu sẽ càng xấu thêm.
Luận về Tuần (hỏa) / Triệt (kim)


Tuần Trung Không Vong là cây cầu nối tiếp giữa hai giai-đoạn, kiềm hãm bớt
từ từ lại, là trung gian kiềm chế, không cho quá trớn.
"Tứ chính giao phù kỵ nhất Không chi trực phá"
Triệt Lộ Không Vong là bao vây, ngăn cách từ cái xấu đến cái tốt, đã không
cho xâm nhập từ ngoài vào (xấu cũng như tốt) , mà còn phá đổ tất cả những
gì trong cung bị nó phong tỏa.
"Tam phương xung sát hạnh nhất Triệt nhi khả bằng"
(Không vong định yếu đắc dụng, nhược phùng bại địa chuyên khán phù trì
chi diệu, đại hữu kỳ công)
Tuần Triệt chỉ có thể làm giảm sự tốt đẹp của Cát-tinh hay tiêu-tán bớt sự xấu
của Hung-tinh, chứ không thể biến đổi tính cách của sao được, như biến Cáttinh trở thành Hung-tinh và ngược lại.
Tuần-Triệt có thể làm cho bộ SPT thành hiền dịu lại đôi chút, còn đối với CNĐL
thì làm cho bộ này trở nên chậm rãi, phấn-đấu hơi khó-khăn chứ không thể
biến đổi từ ôn-hòa trở nên hào hùng và khí-phách như bộ SPT được.
Tuần-Triệt cũng không thể thay-đổi tính-cách của vòng Thái-tueá được, nhưng
các sao trong tam-hợp Thái-tuế bị Tuần-Triệt phải tùy thuộc vị-trí mà thay-đổi
tư-cách.
Trường-hợp những người chẳng may bị đặt để vào những vị-trí bất mãn (tamhợp Tuế-phá, Thiếu-dương, Thiếu-âm) dễ tự thiêu thân, làm những việc xấu
(nếu gặp SPT và Sát-tinh); được Tuần hay Triệt đóng khiến tự hạn-chế những
tham-vọng và hành-động của mình mà thuận theo đường lợi-ích, nâng cao
tư-cách không kém gì những người tam-hợp Thái-tuế.
Tuần-Triệt đóng giữa 2 cung, nghĩa là chỉ có liên-quan đến 2 cung đó mà thôi.
Dương-Nam / Âm-Nữ = ảnh-hưởng Tuần-Triệt tại cung Dương 70% và tại cung
Âm 30%
Âm-Nam / Dương-Nữ = ảnh-hưởng Tuần-Triệt tại cung Dương 80% và tại cung
Âm 20%
Mệnh bị Tuần hay Triệt thiếu-niên tân-khổ, luôn gặp trở-ngại lúc đầu thựchiện công-việc.
Mệnh bị cả Tuần lẫn Triệt thì đời bị vùi xuống đất đen, không phải là TuầnTriệt phá nhau để cho đương-số được thong-thả.
Tuần-Triệt phá nhau dành cho những người thuận lý âm-dương:
Mệnh hay Thân có một Tuần hay Triệt, đến đại-vận từ 30 tuổi trở đi gặp Tuần
hay Triệt hay Triệt thì sẽ được tháo-gỡ cho hanh-thông, dầu chỉ là một vài
năm (bất chấp đến vòng Thái-tuế).


Trường-hợp người Dương đóng cung Âm (hoặc ngược lại) mà Mệnh-Thân có
một Tuần hay Triệt, khi đến đại-vận gặp Tuần hay Triệt thì thời-vận tốt mở làm
hai lần chậm chậm ở 2 cung đại-vận có Tuần hay Triệt đóng (mỗi đại-vận là 5
năm).
Mệnh Tuần Thân Triệt (hoặc ngược lại) không còn gì để tháo-gỡ; ngay cả khi
đến đại-vận Thái-tuế, ảnh-hưởng tốt đẹp cũng chỉ thỏa mãn 50% mà thôi.
Trên đây là kinh nghiệm về hai sao Tuần Triệt của học phái Thiên Lương, thật
ra vấn đề đặc tính, ngũ hành và tác dụng của Tuần Triệt hiện còn đang là
những nghi vấn, đề tài gây ra nhiều tranh luận, tùy theo mỗi người có lối tiếp
thu, suy luận và khám phá riêng mà giải đoán.
Luận về Thiên Mã (hỏa)
Thiên Mã trong Tử-vi là một viên ngọc quí, viên ngọc quí này chỉ thấy ở trong
hoàn-cảnh trái nghịch mà số đã xếp đặt cho người cung Mệnh hay Thân nằm
trong tam-hợp Tuế-phá (bất mãn, đối kháng) của vòng Thái-tuế.
Thiên-mã là nghị-lực và khả-năng để giúp cho những người bất-mãn này
đương đầu với những ngang-trái của tâm-thức và cuộc đời mà họ phải chịu.
Đây chính là hình bóng một Tống Giang, một Đơn Hùng Tín, anh hùng hào
hiệp chỉ phù suy chứ không tơ hào đến người thịnh. Còn tùy theo Thiên-mã
có phải là của họ hay không mới là việc thành-bại quyết định.
Thiên Mã chủ tháo vát, tài năng và khéo léo. Ảnh hưởng nhiều đến công
danh, sự nghiệp. Ngoài ra Thiên Mã còn chủ về sự di chuyển, thay đổi, đi xa
và là phương tiện di chuyển như xe cộ, nếu gặp Sát tinh tùy theo mức độ
nặng nhẹ dễ bị xe cộ hay hư hỏng hoặc tai nạn.
Về cơ thể con người Thiên Mã là tứ chi, nếu gặp Sát tinh tùy theo mức độ
nặng nhẹ dễ bị thương tật.
Hành chính của Thiên Mã là hỏa, nhưng vì là dịch mã nên Mã đổi ngũ hành
tùy theo phương vị Mã đóng, muốn làm chủ được Mã này thì bản mệnh phải
đồng hành với cung Mã đóng thì mới có kết-quả được
Mã ngộ Tuần = Tuần là gạch nối liền giữa hai Giáp bắt cầu cho Mã trở nên
đắc dụng. Tuy-nhiên Mã phải chùng lại một bước trước khi nhảy thì mới được
thành-công, có nghĩa là vào giai đoạn đầu vẫn gặp những khó khăn, trở ngại
nhưng rồi sau sẽ được hanh thông, nếu Thiên Mã hợp Mệnh, còn Mã ngộ Triệt
là ngựa què ăn hại.
Người dương-nam - âm-nữ đại vận an theo chiều xuôi :
Mã mộc cung Dần gặp Tuần trở thành Mã hỏa
Mã hỏa cung Tỵ vì Tuần đứng sau nên không chuyển đổi
Mã kim cung Thân gặp Tuần trở thành Mã thủy


Mã thủy cung Hợi vì Tuần đứng sau nên không chuyển đổi
Người âm nam - dương nưõ đại vận an theo chiều ngược :
Mã mộc cung Dần vì Tuần đứng sau nên không chuyển đổi
Mã hỏa cung Tỵ gặp Tuần trở thành Mã mộc
Mã kim cung Thân vì Tuần đứng sau nên không chuyển đổi
Mã thủy cung Hợi gặp Tuần trở thành Mã kim
Thí dụ tuổi Kỷ Tỵ (Mệnh mộc) Mã tại cung Hợi ngộ Tuần đóng hai cung Hợi và
Tuất. Nếu là người âm nam đại vận theo chiều nghịch thì Mã thủy sẽ theo cầu
Tuần về lại cung Thân trở thành Mã kim khắc lại Mệnh mộc xấu. Còn với
người âm nữ đại vận theo chiều thuận Tuần đóng sau lưng không thể bắt cầu
cho Mã chạy nên Mã thủy sẽ sinh phò cho Mệnh mộc rất tốt.
Những cách tốt của Thiên Mã
Mã đắc Tràng-sinh = là giai-đoạn phát thịnh của tam-hợp Tuế-phá, Mã phải
nằm trong tam-hợp Sinh-Vượng-Mộ thì mới được gọi là thanh vân đắc lộ
nhưng chỉ hanh-thông trong đại-vận đó mà thôi và còn tùy thuộc vào Hành
của Mã phù hay hại Mệnh nữa.
Mã-Khốc-Khách = Mã phải nằm trong tam-hợp Lộc-Tồn dành cho các tuổi
Giáp/Thìn-Tý-Thân và Canh/Tuất-Ngọ-Dần. Phần ngoại-lệ này ban phát cho
người được nhiều nghị-lực bền bỉ, tùy theo sự sinh-khắc của bản mệnh đối với
Mã (xử-dụng và làm lợi).
Những cách xấu của Thiên Mã
Mã kỵ gặp Không Kiếp, Kình-Đà, Thiên-hình và Triệt là ngựa què, ngựa chết
dễ bị trở ngại hay tai họa.
Mã ngộ Tuyệt = Người mệnh kim-hỏa và thổ / dương nam hay âm nữ, mệnh
có Thiên Mã gặp Tuyệt (sao cuối cùng của vòng Tràng Sinh) tại cung Hợi là
cách "Mã cùng đồ" ngựa cùng đường, hết lối chạy chỉ sự bế tắc và thất bại.
Luận về bộ sao Tứ Hóa
Hóa-khoa (thủy) - văn-tinh chủ về phúc-quý, là Đệ Nhất Giải Thần hoán cải
được tư-cách SPLT và ngộ chế được Thiên-không, Lục-sát-tinh.
Hóa-quyền (mộc) - trung-lập chủ về uy-quyền và may-mắn, hay vụng tính
sinh kiêu vì tự ái nên gặp Sát-tinh dễ bị kết-quả xấu
Hóa-lộc (mộc/thổ) - tài lộc do công khó làm ra, tăng ảnh-hưởng cho Tài-cáttinh và tốt cho cung Điền-Tài.


Hóa-kỵ (thủy) - ám tinh hay đố kỵ, là sao Kế-đô của nữ mệnh. Giảm sự tốt
đẹp của Cát-tinh, tăng ảnh-hưởng xấu của Sát-tinh.
Tam Hóa được áp đặt vào những chính-diệu theo hàng Can tuổi để đem lại sự
hảnh-diện và phú quý cho người được hưởng. Giá-trị thật sự của Tam-hóa chỉ
là gấm thêu hoa cho những bộ Chính-tinh dắc cách mà thôi chứ không phải
là tư-cách, khả-năng và nghị-lực dùng để nâng cao phẩm-giá thực-sự cho
người chính phái.
Nhận xét bảng tóm luận trên, các tuổi Ất-Bính-Kỷ-Nhâm-Quý được những sao
đầy-đủ tư-cách hiền-lương nhân-hậu hẳn con thuyền khi ra khơi ít gặp phong
ba bão lớn. Còn thuận buồm suôi gió hay không tùy thuộc ở hàng Chi (vòng
Thái tuế) và giòng nước theo chiều cuộc diện (vòng Tràng-sinh).
Cách Tam hóa liên châu - ba sao đóng liên tiếp ba cung từ cung Dần đến
Mùi / đắc vị nhất tại cung Thìn được dành cho 6 tuổi Ất/Tỵ-Dậu-Sửu (Khoa
giáp Quyền-Lộc tại vị-trí Thiếu-âm) và Canh/Thân-Tý-Thìn (Quyền giáp KhoaLộc tại vị-trí Thái-tuế), còn các tuổi Ất-Canh khác chỉ là vay mượn mà thôi
Thiên Tài & Thiên Thọ (thổ)
Thiên Tài có ý nghĩa là tài năng, đo lường cắt giảm, vì thế nên Tài có đặc tính
như Tuần Không là giảm ảnh hưởng xấu của các sao mờ ám và giảm bớt ảnh
hưởng tốt của các sao sáng sủa.
Thiên Thọ là Phúc Thọ tinh chủ nhân hậu, từ thiện và gia tăng ảnh hưởng cho
các phúc thọ tinh.
Ngoài những tính chất kể trên, Tài Thọ còn tượng trưng cho đạo lý Nhân Quả
của đời người. Tài được khởi từ cung Mệnh (định mệnh thừa trừ mà cắt giảm)
và Thọ được khởi từ cung an Thân (bản thân tự gây tạo) đến một cung nào
đó để mách bảo cho biết là giữa Mệnh Thân và cung mà Tài hay Thọ đến
đóng đã có sự hoán cải do luật thừa trừ mình đã gây nên.
Thân (Thiên Thọ / Nhân) = cá nhân tự gây tạo, tùy theo vị trí "Thân" để quyết
định hành động theo cung mà Thiên Thọ đóng.
Mệnh (Thiên Tài / Quả) = định mệnh thừa hành mà cắt giảm, chịu ảnh hưởng
cân quả do Thọ đã làm ra, tại cung có Thiên Tài đóng.
Nếu như Thân (tam hợp Thái Tuế) có làm ra "Thọ" hay cư xử sao cho "Thọ"
được toàn vẹn thì Mệnh mới có đủ "Tài" năng lực hoán cải tạo ra những sự tốt
đẹp để đền đáp. Còn như Thân xuất phát chử "Thọ" bị Không-Kiếp hãm thì
Mệnh "Tài" kia cũng sẵn sàng đem lại những kết quả là hình thức như tranh
vẽ mà thôi.
Người đời nhập thế ở khoảng thời gian nào thì sẽ thấy căn quả của mình phải
mang nặng ở ngay phần việc nào như:
Năm Tý (Tài ở Mệnh) căn quả do chính bản thân mình


Năm Sửu (Tài ở Phụ) phải làm sao với Đấng sinh thành
Năm Dần (Tài ở Phúc) căn quả chịu ảnh hưởng nơi dòng họ
Năm Mão (Tài ở Điền) căn quả chịu ảnh hưởng về nhà cửa điền sản
Năm Thìn (Tài ở Quan) căn quả chịu ảnh hưởng với công việc làm
Năm Tỵ (Tài ở Nô) căn quả chịu ảnh hưởng nơi bạn bè, kẻ dưới tay
Năm Ngọ (Tài ở Di) căn quả chịu ảnh hưởng nơi ngoại nhân
Năm Mùi(Tài ở Ách) căn quả chịu ảnh hưởng những hoạn nạn
Năm Thân (Tài ở Tài) căn quả chịu ảnh hưởng do tiền của thâu hoạch
Năm Dậu (Tài ở Tử) căn quả chịu ảnh hưởng nơi con cháu
Năm Tuất (Tài ở Phối) căn quả chịu ảnh hưởng ở vợ chồng
Năm Hợi (Tài ở Bào) căn quả chịu ảnh hưởng nơi anh em
Các cách tốt xấu của Thiên Tài
Thiên Tài + Nhật hay Nguyệt = Thiên Tài khi đồng cung với Nhật hay Nguyệt
hãm sẽ gia tăng sức sáng cho Nhật Nguyệt và sẽ làm giảm sự quang huy của
Nhật Nguyệt một khi bộ sao này sáng sủa tốt đẹp. Trường hợp Nhật Nguyệt
đồng cung thì Thiên Tài sẽ làm cho Nhật Nguyệt thêm rực rỡ tốt đẹp.
Thiên Tài + Nhật hãm = Người không cẩn trọng lời nói, thiếu lòng tín ngưỡng
về thần quyền
Thiên Khôi (dương hỏa đới kim)
Thiên Việt (dương hỏa đới mộc)
Nhận xét kỷ sẽ thấy Khôi Việt hoàn toàn gần như đứng nghịch lý âm dương
với cung đóng, tức là không bao giờ đứng chung trong tam hợp Thái Tuế hoặc
Tuế Phá mà chỉ đứng trong tam hợp Thiếu Dương (Thiên Không) và Thiếu Âm.
Theo nhận xét trên, nếu xét theo ngũ hành thì Thiên Khôi luôn luôn bị khắc
nhập, phải sinh xuất hay khắc xuất mà sa lầy bởi cung đóng và bị Triệt làm
cho thất thế. Trong khi Khôi đóng vào những hoàn cảnh không được thuận lợi
như vậy thì Việt lại được ưu thế vững vàng hơn, nhất là hai tuổi Đinh-Quí / TỵSửu được đứng chung tam hợp Thái Tuế như có ý là Việt ở ngôi vị thứ "Ất"
thay mặt cho Khôi là trưởng "Giáp" mà lo toan mọi việc.
Vậy Khôi Việt chính là Thiên Ất Quý Nhân luôn đóng trong những tam hợp bất
đắc ý vì nghịch lý âm dương và bị Sát tinh lủng đoạn hoành hành để giúp đỡ
cứu tai giải họa và báo động cho người có số biết suy gẫm và điều chỉnh lại
cung cách sống sao cho có ích thiện hơn như hai chữ Tài Thọ đã hướng dẫn.


Ngoài sứ mạng là Phúc tinh chủ về phúc thọ, cứu khổn giải nguy ra, Khôi Việt
còn là Văn tinh hổ trợ cho các sao văn chương, nghệ thuật như Xương Khúc
và là Quý tinh chủ về khoa giáp và quyền tước khi đứng chung với KhoaQuyền-Lộc, Lộc Tồn, Thai Tọa...
Các cách tốt của Khôi-Việt
Khôi-Việt + Quý tinh = Gia tăng ảnh hưởng cho bộ Tử-Phủ-Vũ-Tướng và
Xương-Khúc, Thai-Cáo, Khoa-Quyền-Lộc ... Người được cách này thường
thông minh, có tài thao lược, óc tổ chức và nắm giữ các chức vị cao trong
công quyền.
Người được Khôi Việt thủ mệnh thường là con trưởng hoặc đoạt trưởng.
Các cách xấu của Khôi-Việt
Khôi Việt + Triệt hay Ky-Hình = Khôi Việt bị Triệt án ngữ hoặc Sát tinh, nhất là
các sao Không là người thường bất đắc chí, công danh trắc trở không lâu bền.
Dễ bị những tai họa đao thương hay súng đạn và yểu mệnh.
Thiên Quan Quí Nhân (dương hỏa)
Thiên Phúc Quí Nhân (âm thổ)
Nhận xét kỷ bảng an sao sẽ thấy Quan Phúc được phân công chia đều cho cả
hai phía âm dương và có những vị trí hoàn toàn nghịch lý âm dương như
Thiên Quan với các tuổi Giáp-Ất-Bính-Đinh-Mậu-Canh-Quý và Thiên Phúc với
những tuổi Giáp-Ất-Mậu-Kỷ.
Riêng 5 tuổiGiáp-Ất-Mậu-Tân-Nhâm được Quan Phúc và cả Thiên Ất Quí Nhân
(Khôi-Việt) đồng tụ lại đứng chung để ra công giúp đỡ, đem phân tích từng
tuổi sẽ thấy:
Tuổi Giáp tại cung Mão của tam hợp Hợi-Mão-Mùi thường xuyên có Thiên
Không và Kình Dương lủng đoạn.
Tuổi Ất tại cung Thìn của người âm nam trong tam hợp Thân-Tý-Thìn có Đà La
là lưới trời.
Tuổi Mậu tại cung Ngọ có Kình Dương là kiếm treo đầu ngựa bất lợi cho ba
tuổi Dần-Ngọ-Tuất và Thiên Không tung hoành tại cung Mão.
Tuổi Tân tại cung Dậu trong tam hợp Tỵ-Dậu-Sửu có Phá Toái phá hoại và
cung Tỵ có Triệt chặn đứng, với tuổi Tân Tỵ còn bị thêm Tuần tại Dậu.
Tuổi Nhâm bị mắc lưới tại cung Tuất với Đà La.
Tóm tại, chúng ta nên chú ý tại những cung mà có nhiều Phúc Thiện tinh như
Quan Phúc, Khôi Việt, Tứ Đức... tụ chung lại đều là những cung có sự hiểm
nghèo vì nghịch lý âm dương và bị Sát tinh lủng đoạn hoành hành để giúp đỡ


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×