Tải bản đầy đủ

hoat dong tin dung cua ngan hang thuong mai

Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại

Hoạt động tín dụng của Ngân
hàng thương mại
Bởi:
Trịnh Doãn

Ngân hàng thương mại và hoạt động của ngân hàng thương mại
Lịch sử hình thành và phát triển.
Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát triển của nền
sản xuất hàng hoá. Quá trình phát triển kinh tế kinh tế là điều kiện và đòi hỏi sự phát
triển của ngân hàng; đến lượt mình, sự phát triển của hệ thống ngân hàng trở thành động
lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Nghề ngân hàng bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của các thợ vàng. Việc lưu
hành những đồng tiền riêng của mỗi quốc gia hoặc vùng lãnh thổ kết hợp với thương
mại và giao lưu quốc tế tạo ra yêu cầu đúc và đổi tiền tại các cửa khẩu hoặc trung tâm
thương mại. Người làm nghề đúc tiền, đổi tiền, thực hiện kinh doanh tiền tệ bằng cách
đổi ngoại tệ lấy bản tệ và ngược lại. Lợi nhuận thu được là chênh lệch giá mua-bán.
Người làm nghề đổi tiền thường là người giàu, trước đó có thể đã làm nghề cho vay
nặng lãi. Họ thường có két tốt để cất giữ đảm bảo an toàn. Do yêu cầu cất trữ tiền của
các lãnh chúa, các nhà buôn... nhiều người làm nghề đổi tiền thực hiện luôn cả nghiệp

vụ cất trữ hộ. Thực hiện cất trữ hộ làm tăng thu nhập, tăng khả năng đa dạng hoá loại
tiền, tăng qui mô tài sản của người kinh doanh tiền tệ. Việc cất trữ hộ nhiều người khác
là đièu kiện để thực hiên thanh toán hộ và thanh toán không dùng tiền mặt. Với những
ưu điểm của mình thanh toán không dùng tiền mặt đă thu hút các thương gia gửi tiền
nhiều hơn.
Trong đIều kiện lưu thông tiền kim loại (bạc hoặc vàng) các chủ cửa hàngvàng bạc vừa
đổi tiền, thanh toán hộ, vừa đúc tiền. Những ngân hàng loại này gọi là ngân hàng của
những thợ vàng.
Nghề ngân hàng cũng được bắt đầu từ người cho vay nặng lãi. Một số người cho vay
nặng lãi đã thực hiện cả nghiệp vụ đổi tiền, giữ hộ tiền và thanh toán hộ.

1/11


Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại

Các ngân hàng đầu tiên dùng vốn tự có để tài trợ cho hoạt động của họ, nhưng điều đó
không kéo dài. Từ hoạt động thực tiễn, các chủ ngân hàng nhận thấy thường xuyên có
người gửi tiền vào và có người lấy tiền ra, xong tất cả người gửi đều không cùng rút tiền
một lúc nên đã tạo ra số dư thường xuyên ở ngân hàng. Do tính chất vô danh của tiền,
chủ ngân hàng có thể sử dụng tạm thời một phần tiền gửi của khách để cho vay. Hoạt
động cho vay tạo lên lợi nhuận lớn cho ngân hàng, do vậy các ngân hàng đều tìm cách
mở rộng thu hút tiền gửi để cho vay bằng cách trả lãi cho người gửi tiền. Bằng cách
cung cấp các tiện ích khác nhau mà ngân hàng huy động được ngày càng nhiều tiền gửi,
là điều kiện để mở rộng cho vay và hạ lãi suất cho vay.
Tóm lại, ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế. Các ngân
hàng có thể được định nghĩa qua các chức năng, các dịchv ụ hoặc vai trò mà chúng thực
hiện trong nền kinh tế. Vấn đề là ở chỗ các yếu tố trên đang không ngừng thay đổi. Thực
tế, rất nhiều tổ chức tài chính-bao gồm cả các công ty chứng khoán, công ty môi giới
chúng khoán, quỹ tương hỗ và công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp
các dịch vụ của ngân hàng. Ngược lại ngân hàng đang đối phó với các đối thủ cạnh tranh
(các tổ chức tài chính phi ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ về
bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia các hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quỹ
tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ môi giới khác.
Cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét các tổ chức này trên phương diện những
loại hình mà chúng cung cấp. Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp danh mục
các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, thanh toán và thực hiện nhiều
chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Một số
định nghĩa dựa trện các hoạt động chủ yếu. Ví dụ, Luật các tổ chức tín dụng của nước
Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi “ Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh


doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử
dụng số tiền vay này để cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ thanh toán.
Hình thức ngân hàng đầu tiên- ngân hàng của các thợ vàng, hoặc ngân hàng của những
kẻ cho vay nặng lãi- thực hiện cho vay với các cá nhân, chủ yếu của các người giàu như:
quan lại, địa chủ... nhằm mục đích phục vụ tiêu dùng. Nhiều chủ ngân hàng lớn còn mở
rộng cho vay đối với vua chúa, nhằm tài trợ một phần cho chi tiêu trong chiến tranh.
Hình thức cho vay chủ yếu là thấu chi- tức là cho khách hàng chi nhiều hơn số tiền gửi
tại ngân hàng, một hình thức cho vay có nhiều rủi ro. Do lợi nhuận từ cho vay rất cao,
nhiều chủ ngân hàng đã lạm dụng ưu thế của chứng chỉ tiền gửi (lưu thông thay vàng
bạc), phát hành tiền gửi khống để cho vay. Thực trạng này đã đẩy nhiều ngân hàng đến
chỗ mất khả năng thanh toán và phá sản.
Sự sụp đổ của các ngân hàng gây khó khăn cho hoạt động thanh toán, ảnh hưởng xấu
đến hoạt động mua bán. Hơn nữa lãi suất cao nên những nhà buôn không thể sử dụng
nguồn vay này. Trước tình hình đó những nhà buôn tự thành lập ngân hàng gọi là ngân
hàng thương mại. Như vậy ngân hàng thương mại được hình thành xuất phát từ tư bản

2/11


Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại

thương nghiệp, và gắn liền với qúa trình luân chuyển của tư bản thương nghiệp. Ngân
hàng thương mại cũng thực hiện các nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng như huy
động tiể gửi, thanh toán, cất trữ hộ và cho vay. Tuy nhiên, đIểm khác biệt giữa ngân
hàng thương mại và các nhà buôn vay dưới hình thức chiết khấu thương phiếu. Đây là
các khoản cho vay ngắn hạn, dựa trên quá trình luân chuyển của hàng hoá với lãi suất
phải thấp hơn lợi nhuận tạo ra do sử dụng tiền vay. Để đảm bảo an toàn, ngân hàng
thương mại ban đầu không cho vay đối với nguời tiêu dùng, không cho vay trung và dài
hạn, không cho vay đối với nhà nước.
Sự phá sản của nhiều ngân hàng thương mại đã gây tổn thất lớn cho người gửi tiền là
nguyên nhân dẫn đến hình thành ngân hàng tiền gửi . Ngân hàng này không cho vay, chỉ
thực hiện giữ hộ, thanh toán hộ để lấy chi phí. Đồng thời tại mỗi nước, trong những điều
kiện lịch sử cụ thể đã hình thành nên nhiều loại ngân hàng khác nhau như ngân hàng tiết
kiệm, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng trung ương (ngân hàng Nhà
Nước)... tạo nên hệ thống các ngân hàng. Trong đó trừ ngân hàng trung ương có chức
năng xây dựng và quản lý chính sách tiền tệ quốc gia, các ngân hàng còn lại dù có mốt
số nghiệp vụ khác nhau song đều có đắc điểm là kinh doanh tiền tệ và tín dụng.
Cùng với sự phát triển kinh tế và công nghệ, hoạt động ngân hàng đã có những bước
tiến rất nhanh. Trước hết đó là sự đa dạng các loại hình ngân hàng và các hoạt động
ngân hàng, Từ các ngân hàng tư nhân, quá trình tích tụ và tập trung vốn trong ngân hàng
đã dẫn đến hình thành ngân hàng cổ phần. Quá trình gia tăng vai trò quản lí nhà nước
đối với hoạt động ngân hàng đã tạo ra các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước; ngân hàng
liên doanh, các tập đoàn ngân hàng phát triển mạnh trong những năm cuối thế kỷ 20.
Nhiều nghiệp vụ truyền thống vẫn được giữ bên cạnh những nghiệp vụ mới ngày càng
phát triển. Ngân hàng thương mại từ chỗ chỉ cho vay ngắn hạn là chủ yếu đã mở rộng
cho vay trung và dài hạn, cho vay để đầu tư vào bất động sản. Nhiều ngân hàng mở rộng
cho vay tiêu dùng, kinh doanh chứng khoán, cho thuê... Các hình thức huy động cũng
ngày càng phong phú. Các loại hình tiền gửi khác nhau đựơc đưa ra nhằm đáp ứng tối
đa nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh các hình thức huy động tiền gửi, các ngân hàng
đẫ mở rộng các hình thức vay như vay ngân hàng trung ương, vay các ngân hàng khác.
Công nghệ ngân hàng đang góp phần làm thay đổi các hoạt động cơ bản của ngân hàng.
Thanh toán điện tử thay thế dần thanh toán thủ công, đẩy nhanh tốc độ, tính thuận tiện
an toàn trong thanh toán. Các loại thẻ đang thay thế dần tiền giấy và dịch vụ ngân hàng
24 giờ, dịch vụ ngân hàng đang tạo ra các tiện ích ngày càng lớn cho dân chúng.
Quá trình phát triển của các ngân hàng không những làm gia tăng số lượng các ngân
hàng mà còn làm tăng qui mô của mỗi ngân hàng. Tích tụ và tập trung vốn đã tạo ra các
công ty ngân hàng cực lớn với số vốn tự có hàng tỷ đô la Mỹ, tổng tài sản hàng trăm tỷ
đô la Mỹ, đủ sức tài trợ cho các ngành công nghiệp và dịch vụ mũi nhọn toàn cầu.
Quá trình phát triển của ngân hàng đã tạo ra mối liên hệ ràng buộc ngày càng chặt chẽ,
sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn giữa các ngân hàng. Các hoạt động ngân hàng

3/11


Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại

xuyên quốc gia và đa quốc gia đã và đang được thúc đẩy hình thành các hiệp hội, các tổ
chức liên kết các ngân hàng nhằm tạo ra những chính sách nhằm thống nhất trong điều
hành và vận hành hệ thống ngân hàng trong mỗi quốc gia, khu vực và quốc tế.
Lịch sử phát triển của các ngân hàng cũng đã chứng kiến nhiều khủng hoảng và hoảng
loạn ngân hàng trong mỗi quốc gia, khu vực và thế giới, gây tổn thất rất lớn cho nền
kinh tế và mất ổn định chính trị. Có thể nói các vụ sụp đổ ngân hàng cũng là một khâu
tất yếu trong tiến trình phát triển ngân hàng. Các nhà quản lý đã và đang không ngừng
cải tiến chính sách quản lý để quản lý sự sụp đổ và mở đường cho sự phát triển của khu
vực ngân hàng.
Các hoạt động của ngân hàng
Ngân hàng là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho công chúng và doanh nghiệp.
Thành công của ngân hàng phụ thuộc vào năng lực xác định các dịch vụ tài chính mà xã
hội có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách có hiệu quả.
Mua, bán ngoại tệ.
Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi (mua, bán) ngoại
tệ: Mua, bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ.
Nhận tiền gửi.
Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm mọi cách để huy
động được tiền. Một trong những nguồn quan trọng là các khoản tiền gửi thanh toán và
tiết kiệm của khách hàng. Ngân hàng mở dịch vụ nhận tiền gửi để bảo quản hộ người
có tiền với cam kết hoàn trả đúng hạn. Trong cuộc cạnh tranh để tìm và dành được các
khoản tiền gửi, các ngân hàng đã trả lãi cho tiền gửi như là phần thưởng cho khách hàng
về việc sẵn sàng hy sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt và cho phép ngân hàng sử dụng
tạm thời để kinh doanh. Trong lịch sử đã có những kỷ lục về lãi suất, chẳng các ngân
hàng Hy Lạp đã trả lãi suất 16% một năm để thu hút các khoản tiền tiết kiệm nhằm mục
đích cho vay đối với các chủ tầu ở Địa Trung Hải với lãi suất gấp đôi hay gấp ba lãi suất
tiết kiệm. Như vây, khi cung cấp dịch vụ nhận tiền gửi ngân hàng thu “phí” gián tiếp
thông qua thu nhập của hoạt động sử dụng tiền gửi đó.
Cho vay.
* Cho vay thương mại.
Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vayđối
với người bán (người bán chuyển các khoản phải thu cho ngân hàng để lấy tiền trước).
Sau đó ngân hàng cho vay trực tiếp đối với khách hàng (là người mua), giúp họ có vốn
để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh.
4/11


Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại

* Cho vay tiêu dùng
Tronggiai đoạn đầu hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với cá nhân và hộ
gia đình bơỉ vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng rủi ro vỡ nợ tương đối cao. Sự
gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã hướng các ngân
hàng tới người tiêu dùng như là một khách hàng tiềm năng. Sau chiến tranh thế giới thứ
2, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những loại hình tín dụng tăng trưởng nhanh
nhất ở các nước có nền kinh tế phát triển
*Tài trợ cho dự án.
Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn, các ngân hàng ngày càng trở nên
năng động trong việc tài trợ trung, dài hạn: Tài trợ xây dựng nhà máy, phát triển ngành
công nghệ cao. Một số ngân hàng còn cho vay để đầu tư vào đất.
Bảo quản tài sản hộ
Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng, các giấy tờ có giá và tài sản khác cho khách
hàng trong két ( vì vậy còn gọi là dịch vụ cho thuê két). Ngân hàng thường giữ hộ những
tài sản tài chính, giấy tờ cầm cố, hoặc những giấy tờ quan trọng khác của khách hàng
với nguyên tắc an toàn, bí mật, thuận tiện. Dịch vụ này phát triển cùng vời nhiều dịch
vụ khác như mua bán hộ các giấy tờ có giá cho khách, thanh toán lãi hoặc cổ tức hộ...
Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.
Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản mà còn thục hiện
các lệnh chi trả cho khách hàng. Thanh toán qua ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán
không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền
mà chỉ cần viết phiếu chi trả cho khách, khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận
được tiền. Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt (an toàn, nhanh chóng, chính
xác, tiếtkiệm chi phí) đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập
cho khách hàng. Khi ngân hàng mở chi nhánh, phạm vi thanh toán qua ngân hàng được
mở rộng, càng tạo nhiều lợi ích hơn. Điều này đã khuyến khích khách hàng gửi tiền vào
ngân hàng để nhờ ngân hàng thanh toán hộ. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông
tin, bên cạnh các thể thức thanh toán như séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, L/C, đã phát triển
các hình thức thanh toán mới bằng điện, thẻ...
Quản lý ngân quỹ.
Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp và cá nhân. Nhờ
đó, ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều khách hàng. Do có kinh nghiệm
trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân, nhiều ngân hàng đã ccung cấp
cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu
chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào
5/11


Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại

các chứng khoán sinh lời và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để
thanh toán.
Tài trợ các hoạt động của chính phủ
Khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở thành trọng tâm
chú ý của các chính phủ. Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường là cấp bách trong khi thu
không đủ, chínhphủ các nước đều muốn tiếp cận với các khoản cho vay của ngân hàng.
Ngày nay, chính phủ dành quyền cấp phép hoạt động và kiểm soát các ngân hàng. Các
ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ phải cam kết thực hiện với
mức độ nào đó các chính sách của chính phủ và tài trợ cho Chính phủ. Các ngân hàng
thường mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà
ngân hàng huy động được.
Bảo lãnh
Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng rất lớn và do ngân hàng nắm
giữ tiền gửi của khách hàng, nên ngân hàng có uy tín trong bảo lãnh cho khách hàng.
Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng đa dạng và phát triển mạnh.
Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hoá và trang thiết
bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác ...
Cho thuê thiết bị trung và dài hạn (Leasing)
Nhằm để bán được các thiết bị, đặc biệt là các thiết bị có giá trị lớn. Nhiều hãng sản
xuất và thương mại đã cho thuê. Cuối hợp đồng thuê khách hàng có thể mua( do vậy
còn gọi là hợp đồng thuê mua). Rất nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàng quyền lựa
chọn thuê các thiết bị máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó ngân
hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê với điều kiện khách hàng phải trả tới hơn 70%
hoặc100% giá trị của tài sản cho thuê. Do vậy cho thuê của ngân hàng cũng có nhiều
điểm giống như cho vay và được xếp vào tín dụng trung và dài hạn.
Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn.
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, các ngân hàng có rất nhiều chuyên gia về quản
lí tài chính. Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân hàng quản lý tài sản và
quản lý hoạt động tài chính hộ. Dịch vụ uỷ thác phát triển sang cả uỷ thác vay hộ , uỷ
thác cho vay hộ, uỷ thác phát hành, uỷ thác đầu tư... Thậm chí, các ngân hàng đóng vai
trò là người được uỷ thác trong di chúc, quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng
cách công bố tài sản, bảo quản các tài sản có giá. Nhiều khách hàng còn coi ngân hàng
như một chuyên gia tư vấn về tài chính. Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, về quản
lý tài chính, về thành lập, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp.

6/11


Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại

Cung cấp dịch vụ môi giới và đầu tư chứng khoán
Nhiều ngân hàng đang phấn đấu cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép khách hàng
thoả mãn mọi nhu cầu. Đây là một trong những lý do chính khiến các ngân hàng bắt đầu
bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu,
trái phiếu và các chứng khoán khác. Trong một vài trường hợp các ngân hàng tổ chức ra
công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán để cung cấp dịch vụ môi giới.
Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm.
Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách hàng, điều đó đảm bảo
việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng bị chết, bị tàn phế hay gặp rủi ro trong hoạt
động, mất khả năng thanh toán. Ngân hàng liên doanh với công ty bảo hiểm con, ngân
hàng cung cấp dịch vụ tiết kiệm gắn với bảo hiểm như tiết kiệm an sinh, tiết kiệm hưu
trí...
Cung cấp các dịch vụ đại lý
Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi nhánh hoặc văn phòng
ở khắp mọi nơi. Nhiều ngân hàng (thường ngân hàng lớn) cung cấp dịch vụ ngân hàng
đại lý cho các ngân hàng khác như thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi,
làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ.

Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
Tín dụng – Sự cần thiết của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế.
- Tín dụng được coi là mối quan hệ vay mượn lẫn nhau giữa người cho vay và người đi
vay trong điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định. Hay nói một
cách khác: Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế mà trong đó
mỗi cá nhân hay một tổ chức nhường quyền sử dụng một khối lượng giá trị hoặc hiện
vật cho một cá nhân hay một tổ chức khác với những ràng buộc nhất định về thời gian
hoàn trả, lãi suất, cách thức vay mượn và thu hồi.
Trong quan hệ mua bán chịu, thông thường giá bán chịu hàng hoá cao hơn giá bán trao
tiền ngay, phần chênh lệch này chính là lãi của hàng hoá đem bán chịu. Quan hệ mua
bán chịu chỉ diễn ra giữa các đơn vị liên quan trực tiếp với nhau. Vì vậy nó không đáp
ứng được nhu cầu vay mượn ngày càng tăng của nền sản xuất hàng hoá. Mặt khác, do
đặc điểm tuần hoàn vốn trong quá trình tái sản xuất, xã hội thường xuyên xuất hiện hiện
tượng thừa vốn tạm thời ở các tổ chức cá nhân này và nhu cầu thiếu vốn ở các tổ chức
cá nhân khác. Hiện tượng thừa thiếu vốn phát sinh do có sự chênh lệch về thời gian sử
dụng vốn của tổ chức hay cá nhân đó. Trong khi đó số lượng các khoản thu nhập và chi
tiêu ở các tổ chức cá nhân trong quá trình tái sản xuất đòi hỏi phải được tiến hành liên

7/11


Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại

tục. Vậy để khắc phục tình trạng này thì chỉ có ngân hàng – một tổ chức chuyên kinh
doanh tiền tệ mới có khả năng giải quyết được những mâu thuẫn đó.
Vậy tín dụng ngân hàng là gì?
“ Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ mà một bên là ngân hàng – một tổ
chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là tất cả các tổ chức, cá nhân
trong xã hội, trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay”.
Với tư cách là người đi vay : ngân hàng huy động mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi
trong xã hội bằng hình thức nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân
hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn trong xã hội
Với tư cách là người cho vay: Ngân hàng đáp ứng nhu cầu cho các doanh nghiệp, tổ
chức, cá nhân khi có nhu cầu thiếu vốn cần được bổ sung trong hoạt động sản xuất kinh
doanh và tiêu dùng. Với vai trò này, ngân hàng đã thực hiện chức năng phân phối lại
vốn, tiền tệ để đáp ứng nhu cầu tái sản xuất xã hội.
Đây là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế thị trường, nó luôn đáp ứng nhu cầu
về vốn cho nền kinh tế một cách linh hoạt đầy đủ và kịp thời.
Có thể thấy rõ hơn khái niệm về tín dụng ngân hàng qua ví dụ sau :
Với lợi thế về du lịch Việt Nam đang ngày càng thu hút nhiều du khách nước ngoài “trở
thành điểm đến của thiên niên kỷ mới”, do vậy số lượng khách du lịch đến Việt Nam
sẽ tăng lên. Nếu biết tận dụng cơ hội này thì việc xây dựng nên khách sạn không những
đem lại lợi nhuận cho chính bản thân mà còn đem lại sự phát triển cho nền kinh tế.
Nhưng để xây dựng được khách sạn đủ khả năng cạnh tranh thì cần có lượng vốn rất lớn
mà nguồn vốn của chính bản thân thì khó có thể đáp ứng. Trong khi đó có một số người
khác có món tiết kiệm do tích luỹ được trong nhiều năm, tạm gọi là lượng tiền nhàn rỗi.
Nếu hai bên gặp được nhau và bên đối tác sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vốn thì kế hoạch sẽ
trở thành hiện thực. Tuy nhiên, khả năng gặp mặt giữa hai bên có xảy ra không? Trong
nền kinh tế thị trường, hàng ngày hàng giờ không biết xảy ra bao nhiêu mối quan hệ như
vậy. Nó đã hình thành nên: một bên là những người có tiền tích luỹ, có khả năng cung
cấp và phía bên kia là những người có nhu cầu vay cho đầu tư phát triển. Như vậy nảy
sinh vấn đề là làm như thế nào để họ có thể tìm gặp được nhau và làm thế nào để cùng
một lúc thoả mãn được nhu cầu vốn đa dạng và to lớn trong khi các nguồn tiết kiệm còn
đang nằm phân tán trong xã hội. Không phải bất kì ai cũng có khả năng hoặc đầu tư vay
vốn trên thị trường tài chính, ngoài ra khi giao dịch trên thị trường tài chính đòi hỏi chi
phí về tiền bạc và thời gian rất lớn. Do đó các ngân hàng thương mại với chức năng cơ
bản là trung gian tài chính, hoạt động như một chiếc cầu nối liền giữa khả năng cung
ứng và nhu cầu về vốn tiền tệ trong xã hội đã cơ bản giải quyết được những vấn đề nẩy
sinh trên. Đồng thời với tư cách là một trung gian, tín dụng ngân hàng đóng vai trò là

8/11


Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại

người môi giới giữa một bên là người có tiền cho vay và một bên là người có nhu cầu
vay vốn. Thông qua cơ chế thị trường bằng những biện pháp kinh tế năng động và áp
dụng các phương pháp kĩ thuật theo hướng hiện đại tiên tiến, ngân hàng có khả năng thu
hút hầu hết những nguồn vốn tiền tệ tiết kiệm dự trữ trong xã hội để chuyển giao đúng
nơi, đúng lúc phù hợp với nhu cầu vốn trong sản xuất kinh doanh. Chính nhờ có tín dụng
ngân hàng mà những đồng tiền tạm thời nhàn rỗi đã trở thành tiền hoạt động, biến những
đồng tiền phân tán thành nguồn vốn tập trung phục vụ cho nhu cầu kinh doanh. Qua đó
thúc đầy hoạt động sản xuất kinh doanh giúp cho nền kinh tế ngày càng phát triển.
Các loại hình thức tín dụng
Tín dụng cho vay tồn tại dưới rất nhiều hình thức, nhiều tên gọi. Tuy nhiên, căn cứ vào
một số các tiêu thức khác nhau để phân chia tín dụng ngân hàng. Dưới đây là một số
cách phân chia mà Ngân hàng thường sử dụng khi phân tích và đánh giá.
Phân loại theo thời hạn tín dụng.
Theo cách này tín dụng ngân hàng được phân làm 3 loại:
• Tín dụng ngắn hạn: là khoản tín dụng dưới 1 năm và được sử dụng để bổ sung
sự thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của doanh nghiệp, nó có thể được vay cho
những sinh hoạt cá nhân.
• Tín dụng trung hạn: là khoản tín dụng có thời hạn từ 1-3 năm. loại tín dụng này
thường dùng để cung cấp, mua sắm tài sản cố định, cải tiến và biến đổi kỹ
thuật, mở rộng và xây dựng công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
• Tín dụng dài hạn: là khoản tín dung có thời gian từ 3 năm trở lên. Loại tín dụng
này dùng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản như: Đầu tư xây dựng các xí
nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất có
quy mô lớn
Tín dụng trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định và một phần bổ sung
cho vốn lưu động.
Phân loại theo mục đích:
Theo tiêu thức này thì tín dụng ngân hàng được phân chia rất đa dạng và phong phú:
- Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất
động sản, nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp thương mại và dịch
vụ.
- Cho vay công nghiệp và thương mại: là cho vay ngắn hạn để bổ xung vốn lưu động
cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực này.

9/11


Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại

- Cho vay Nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như phân bón,
thuốc trừ sâu, giống cây trồng, con giống, lao động, ...
- Cho vay cá nhân: là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua sắm các
vật dụng đắt tiền. Ngày nay Ngân hàng còn cho vay để trang trải các khoản chi phí thông
thường của đời sống thông dụng dưới tên gọi là tín dụng tiêu dùng và phát hành thẻ tín
dụng là một ví dụ.
- Thuê mua và các loại tín dụng khác.
Phân loại theo căn cứ đảm bảo.
- Cho vay không bảo đảm: là loại cho vay không cần tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự
bảo lãnh của người thứ ba. Việc cho vay chỉ dựa trên uy tín. Đối vói những khách hàng
tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, quản trị có hiệu quả thì
Ngân hàng có thể cấp tín dụng mà không đòi hỏi nguồn thu nợ bổ xung.
- Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay được Ngân hàng cung cấp với điều kiện phải có
tài sản thế chấp hoặc cần có bảo lãnh của bên thứ ba. Đối với khách hàng không có uy
tín cao đối với Ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có bảo đảm. Sự bảo đảm này căn cứ
pháp lý để Ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ xung cho nguồn thu nợ thứ nhất
thiếu chắc chắn nhằm bù lại khoản tiền vay trong trường hợp người vay không có khả
năng trả nợ.
Phân loại theo đối tượng tín dụng
Theo tiêu thức này thì tín dụng được chia làm 2 loại
• Tín dụng lưu động: loại nào được cấp phát để hình thành vốn lưu động của các
tổ chức kinh tế như cho vay để dự trữ hàng hoá đối với xí nghiệp, thương
nghiệp, bù đắp vốn lưu động thiếu hụt tạm thời.
* Loại này được chia làm 2 loại:
+ Cho vay dự trữ hàng hoá, cho vay chi phí sản xuất.
+ Cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình thức chiết khấu kỳ phiếu, với thời hạn
cho vay là ngắn hạn.
• Tín dụng vốn cố định: là loại tín dụng được cấp phát để hình thành tài sản cố
định. Loại này thường được đầu tư để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi
mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các công trình mới. Thời hạn cho
vay đối với loại này là trung và dài hạn.

10/11


Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại

Phân loại theo phương thức hoàn trả tiền vay.
Theo cách này thì khoản cho vay có thể được hoàn trả theo hai cách. Cách thứ nhất là
trả một lần cả vốn gốc và lãi khi đến hạn. Hai là khoản tiền vay sẽ được trả làm nhiều
lần theo nhiều kỳ.
Phân loại theo xuất xứ vốn vay.
Có loại do ngân hàng trực tiếp cho vay, có loại cho vay gián tiếp tức là ngân hàng mua
lại nợ từ chủ nợ khác.
Phân loại theo hình thức giá tự có .
Một là cho vay bằng tiền, đây là loại cho vay chủ yếu của các ngân hàng được thực hiện
bằng các kỹ thuật khác nhau.
Hai là cho vay bằng tài sản - loại này được áp dụng phổ biến dưới hình thức tài trợ thuê
mua.
Phân loại theo thành phần kinh tế.
- Tín dụng đối với thành phần kinh tế quốc doanh.
- Tín dụng đối với thành phần kinh tê ngoài quốc doanh.

11/11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×