Tải bản đầy đủ

Các mô hình giá trong chứng khoán ( chi tiết và đầy đủ)

Nh ững đi ều c ơb ản v ềbi ểu đồ d ạng thanh (Bi ểu đồ OHLC)

Bi ểu đồ d ạng thanh hay bi ểu đồ OHLC – Open, High, Low, Close (giá m ởc ử
a, giá cao nh ất, giá th ấp
nh ất, giá đó ng c ử
a) được dùng để t ổng h ợ
p các bi ến độn g giá trong m ột khung th ờ
i gian xác địn h. Giá
m ởc ửa (open) được bi ểu th ị b ởi m ột d ấu g ạch ngang bên phía trái c ủa thanh th ẳng đứn g. Giá đó ng c ử
a
là d ấu g ạch ngang bên phía ph ải c ủa thanh th ẳng đứn g. Giá cao nh ất (high) là đỉnh c ủa thanh và giá th ấp
nh ất là đá y c ủa c ột (thanh). V ị trí c ủa giá m ởc ử
a và đó ng c ử
a s ẽthay đổi d ự
a trên m ối quan h ệc ủa hai
giá này v ới nh ữ
ng thanh giá còn l ại trong bi ểu đồ. Trong bài vi ết này, thanh giá h ằng ngày - daily (th ườ
ng
là 9h30 sáng đến 4h30 chi ều gi ờchu ẩn Đô ng (GMT - 5)) s ẽđược s ửd ụng trong t ất c ảcác ph ần phân
tích m ặc dù các thanh giá có th ểbi ểu th ị b ất kì m ột khung th ờ
i gian nào t ừ1 phút, 1 gi ờ

, h ằng ngày, h ằng
tu ần và h ằng tháng.

Ngày giá tăng/thanh tăng (up day/bullish bar)

Khi giá đóng cửa cao hơn giá mở cửa của thanh thì thanh giá đó được g ọi là ngày giá t ăng hay thanh
tăng.

1


Ngày giá giảm/thanh giảm (down day/bearish bar)

Nếu giá đóng cửa thấp hơn giá mở cửa của thanh thì ngày đó ngày được t ổng k ết là ngày giá gi ảm hay
thanh giảm.

Giá mở cửa (the open)

Giá mở cửa là giá ở mức mà một số giao dịch giữa người mua và ng ười bán xuất hi ện. Giá m ở c ửa r ất
quan trọng, chủ yếu đối với mối quan hệ giữa nó với giá đóng của thanh tr ước và giá đóng c ủa thanh

2


hiện tại. Nếu giá mở cao hơn giá đóng của ngày hôm tr ước thì chúng ta bi ết được đã có m ột kho ảng
nhảy giá lên. Việc giá tăng sau khi qua đêm có thể lí giải b ởi m ột số tin t ức l ạc quan th ường th ấy trên th ị
trường hoặc có thể người mua không vào được thị trường vào lúc đóng c ửa của ngày hôm tr ước và h ọ
muốn đảm bảo họ sẽ mua được ở giá mở cửa của ngày tiếp theo.
Mối quan hệ của giá mở cửa và đóng cửa trên cùng một thanh sẽ được th ảo luận trong phần “giá đóng
cửa”.

Giá thấp nhất (the low)

Giá thấp nhất là mức giá giao dịch thấp nhất trong ngày gi ữa ng ười mua và ng ười bán; nó được xem là
đáy của biểu đồ dạng thanh OHLC. Mối quan hệ giữa đáy thanh này và nh ững đáy thanh tr ước có th ể
cho người giao dịch những thông tin quý giá. Ví dụ, nếu giá th ấp nhất c ủa ngày hôm tr ước là 5 đô và giá
thấp nhất nhất của hôm nay là 4 đô thì người bán đã tạo ra m ột mức giá thấp m ới, hay còn g ọi là giá
giảm. Mặt khác, nếu giá thấp nhất của ngày hôm trước là 5 đô và ngày hôm nay giá th ấp nh ất c ũng là 5
đô thì trên biểu đồ mức giá này lại biểu hiện nh ư m ột vùng h ỗ tr ợ được t ạo ra để ng ười mua c ảm th ấy t ự
tin khi thực hiện giao dịch. Vùng h ỗ tr ợ này s ẽ càng tr ở nên quan tr ọng n ếu nh ư đã có r ất nhi ều giá th ấp


nhất chạm mức 5 đô này và bật lên lại phía trên. Cu ối cùng, n ếu giá thấp nh ất c ủa ngày hôm tr ước là 5
đô nhưng giá thấp nhất của ngày hôm nay là 6 đô thì có ngh ĩa là giá đã tạo ra m ột đáy cao h ơn. Đi ều này
có thể dự báo một xu hướng tăng bởi vì những người bán đã không thể đẩy giá đi xuống đến m ức của
ngày hôm qua và/hoặc những người mua đã khao khát mua ở nh ững m ức giá cao h ơn; tuy nhiên, c ả hai
lí do này đều tích cực cho người mua và tiêu c ực cho người bán.
Mối quan hệ giữa giá thấp nhất và giá đóng cửa sẽ được thảo luận trong phần “Giá đóng c ửa”. M ối quan
hệ giữa giá thấp nhất và giá cao nhất sẽ được phân tích trong ph ần “Biên độ giá”. Ngoài ra, m ối quan h ệ
giữa giá thấp nhất và xu hướng tăng, giảm và đảo chiều cũng sẽ được thảo luận sau.

Giá đóng cửa (the close)

Đến hiện tại, giá đóng cửa là mức giá quan trọng nhất trong 4 mức giá c ủa OHLC. Giá đóng c ửa có th ể
được xem là một bản tổng kết giao dịch của một ngày. Vị trí của giá đóng c ửa trên bi ểu đồ có th ể cho
biết liệu người mua hay người bán đang kiểm soát ngày hôm đó. Khi giá đóng c ửa gần đỉnh, ta có th ể
hiểu người mua đã thắng ngày hôm đó; khi giá đóng c ửa g ần đáy, ta có th ể suy ra ng ười bán đã th ắng;
và khi giá đóng cửa ở giữa thanh giá thì c ả hai bên không ai th ắng.

3


Giá đóng cửa sẽ rất hữu ích khi phân tích mối quan hệ của nó v ới giá cao nh ất và th ấp nh ất, v ới giá m ở
cửa của ngày, và với giá đóng cửa của ngày hôm tr ước. Như đã nói, n ếu giá đóng c ửa cao h ơn giá m ở
cửa thì thanh giá đó được gọi là “ngày giá tăng”. Nếu giá đóng thấp h ơn giá m ở thì ngày hôm đó s ẽ là
“ngày giá giảm”. Tuy nhiên, một biện pháp hữu hiệu h ơn để nh ận dạng đặc tính c ủa thanh giá (ngày giá
tăng hay ngày giá giảm) chính là mối quan hệ giữa giá đóng cửa của ngày đó và ngày tr ước nó. Nh ư
vậy, nếu giá đóng hôm nay cao hơn giá đóng hôm qua thì ngày đó s ẽ là “ngày giá t ăng”; và n ếu giá đóng
hôm nay thấp hơn giá đóng hôm qua thì đó sẽ là “ngày giá gi ảm”. Một ví d ụ được đặt ra nh ư sau để gi ải
thích tại sao giá đóng hôm nay và hôm trước lại được xem trọng h ơn giá đóng và giá m ở c ủa m ột ngày:
giá đóng hôm trước là 10 đô, giá mở cửa hôm nay là 15 đô và giá đóng c ửa hôm nay là 12 đô. Ta s ử
dụng một phép tính trừ giữa giá đóng và mở hôm nay sẽ ra được kết quả là thanh giá đã gi ảm 3 đô (12
đô – 15 đô). Tuy nhiên, giá đóng của hôm nay là 12 đô và giá này c ủa hôm qua là 10 đô, đi ều này ngh ĩa
là hành động giá hôm nay đã tăng thêm 2 đô (12-10). Việc có thêm 2 đô này s ẽ là m ột bi ểu th ị rõ ràng
hơn cho những điều sắp xảy ra đối với một ng ười ch ơi ch ứng khoán, ví d ụ nh ư hôm qua ng ười này s ở
hữu một số lượng cổ phiếu với giá 10 đô/cổ phiếu và hôm nay h ọ sở h ữu số c ổ phi ếu đó v ới giá tr ị 12
đô/cổ phiếu – người nắm giữ cổ phiếu đã kiếm được tiền.

Giá cao nhất - giá đóng cửa = áp lực bán; giá đóng cửa - giá thấp nhất = áp l ực mua

4


Sự chênh lệch giữa giá cao nhất và giá đóng cửa có thể xem là áp lực bán b ởi vì khi giá ch ạm m ức cao
nhất, những người đã mua không thể duy trì một áp l ực mua đủ để luôn gi ữ m ức giá cao đó đến lúc đóng
cửa. Vì vậy, những người bán sẽ có thể nhảy vào thị trường và đẩy giá đi xuống t ừ m ức cao nhất đến
mức giá đóng cửa. Mức độ của sự chênh lệch này cũng rất quan tr ọng. Liệu giá đã bị đẩy xuống kh ỏi
mức cao nhất một vài cents hay một vài đô? Tương t ự, sự chênh lệch gi ữa giá thấp nh ất và giá đóng c ủa
có thể xem là áp lực mua vì khi giá chạm mức thấp nhất, nh ững ng ười bán không th ể duy trì m ột áp l ực
bán đủ để luôn giữ mức giá thấp đó đến lúc đóng cửa. Như vậy, những ng ười mua lại có th ể ti ến vào và
đẩy giá lên cao hơn cho đến lúc giá đóng. Và một lần nữa, m ức độ chênh lệch giữa giá th ấp nh ất và giá
đóng cửa cho tín hiểu về độ mạnh của áp lực mua ở mức giá thấp nh ất, cũng gi ống nh ư câu h ỏi “M ức
chênh lệch này là vài cents hay vài đô?”

Khoảng giá = giá cao nhất - giá thấp nhất (range)

5


Khi lấy giá cao nhất trừ đi giá thấp nhất ta được biên độ giá. Biên độ giá có th ể chỉ ra m ức độ quan tr ọng
của thanh giá. Ví dụ, nếu biên độ giá trung bình ngày của một thị tr ường là 1 đô, thì m ột thanh giá v ới
khoảng giá 25 cents sẽ được xem là không quan trọng. Tuy nhiên, n ếu m ột thanh giá là 5 đô thì nó là
thanh giá cực kì quan trọng và ta nên chú ý đến nó nhiều h ơn.

Sự biến động = tính chất của thị trường (Volatility)

6


Mức độ của biên độ giá là một dấu hiệu của sự biến động. Sự biến động tương đương với s ự không
chắc chắn. Biên độ biến động có thể miêu tả tính ch ất riêng c ủa m ột th ị tr ường (m ỗi lo ại c ổ phi ếu): Li ệu
các thanh giá có nhỏ (biên độ nhỏ) và các xu hướng lên xuống có trật t ự hay không, ho ặc các thanh giá
có biên độ lớn và biến động giá thì bất ổn định? Liệu biên độ biến động giá của lo ại c ổ phi ếu đó có đủ l ớn
để có thể kiếm được lợi nhuận từ biến động giá kể cả sau khi đã bị trượt giá và tr ừ đi ti ền hoa h ồng? Li ệu
các biên độ biến động có đủ lớn và khó d ự đoán đến nỗi ch ạm m ức ch ặn l ỗ c ủa ng ười giao d ịch tr ước
khi di chuyển theo đúng hướng đã được kỳ vọng?

Xu hướng tăng (uptrends)

Thông thường, định nghĩa của một xu hướng được đặt ra dựa trên mối quan h ệ giữa nh ững đỉnh và đáy
(của các thanh giá); vì vậy, nếu qua một khoảng thời gian, các thanh giá có nh ững đỉnh và đáy cao d ần
thì những thanh giá đó đang chuyển động theo một xu h ướng tăng. (Xem thêm ph ần “ đường xu h ướng”
– “trendlines” để có biết thêm thông tin về cách vẽ đường xu h ướng t ăng và các tín hi ệu mua, bán đi kèm
với các đường trendlines đó)

Xu hướng giảm (downtrends)

7


Nếu các thanh giá có các đỉnh và đáy thấp dần thì các thanh giá đó đang chuy ển động theo xu h ướng
giảm. (Xem thêm phần “đường xu hướng” – trendlines để có thêm thông tin v ề cách v ẽ đường xu h ướng
giảm và các tín hiệu mua bán đi kèm)

Sự kết thúc của xu h ướng tăng (Kết thúc t ăng = b ắt đầu gi ảm)

Sau khi hàng loạt các đỉnh và đáy cao d ần t ạo thành xu h ướng t ăng, th ời đi ểm nh ững thanh giá b ắt đầu
tạo một đỉnh và đáy thấp hơn có thể là một tín hiệu tiềm năng cho m ột sư đảo chiều c ủa bi ến động giá.

8


Thông thường, những thanh đảo chiều gồm các đỉnh và đáy thấp hơn nên tạo ra m ột s ự phá v ỡ m ạnh
mẽ từ xu hướng tăng vững chắc tr ước đó. (Xem thêm bi ểu đồ ví d ụ th ực t ế ở cu ối trang)

Sự kết thúc của xu h ướng giảm (K ết thúc gi ảm = bắt đầu t ăng)

Sau khi hàng loạt các đỉnh và đáy th ấp d ần t ạo thành xu h ướng gi ảm, th ời đi ểm nh ững thanh giá b ắt đầu
tạo một đỉnh và đáy cao hơn có thể là một tín hiệu khả quan cho m ột s ư đảo chiều c ủa bi ến động giá.
Thông thường, những thanh đảo chiều gồm các đỉnh và đáy cao hơn nên tạo ra một s ự phá v ỡ m ạnh m ẽ
từ xu hướng giảm vững chắc trước đó. (Xem thêm bi ểu đồ ví d ụ th ực t ế ở cu ối trang)

Biểu đồ minh họa cho xu hướng tăng và giảm

9


Biểu đồ của Dow Jones về chỉ số công nghiệp trung bình ETF (DIA) ở trên miêu tả rất nhi ều góc độ c ủa
biểu đồ giá dạng thanh. Thứ nhất, vì đây là biểu đồ trung bình c ủa 30 loại c ổ phi ếu, các thanh giá có biên
độ thường vừa phải và ổn định và các biến động giá thường theo m ột tr ật t ự nh ất định. Th ứ hai, bi ểu đồ
này cho thấy xu hướng tăng được tạo bởi những thanh giá có đỉnh và đáy thấp cao dần n ối ti ếp nhau và
xu hướng giảm thì được hình thành bởi những thanh giá có các đỉnh và đáy th ấp dần n ối ti ếp nhau. H ơn
nữa, sự chuyển tiếp từ xu hướng giảm sang tăng thường xuất hiện khi m ột thanh giá v ới đỉnh và đáy cao
hơn xuất hiện sau một xu hướng giảm; sự chuyển tiếp t ừ xu h ướng tăng sang gi ảm thì th ường xu ất hi ện
khi một thanh giá có đỉnh và đáy thấp hơn xuất hiện sau xu hướng tăng. Thông th ường, m ột s ự chuy ển
tiếp hoàn chỉnh từ xu hướng giảm sang tăng xảy ra khi các thanh giá v ới đỉnh và đáy cao h ơn phá v ỡ
đường kháng cự xu hướng dốc xuống (đường màu cam thứ nhất và thứ ba t ừ trái sang). Ng ược lại, m ột
sự chuyển tiếp hoàn chỉnh từ xu hướng tăng sang giảm xảy ra khi thanh giá v ới đỉnh và đáy th ấp h ơn
phá vỡ đườ ng hỗ trợ xu hướng dốc lên (đường màu cam th ứ hai và th ứ t ư t ừ trái sang).
Mô hình Triangle (Mô hình tam giác)
Mô hình Triangle có ba loại: Symmetrical (cân), Ascending (t ăng dần) và Descending (gi ảm d ần). C ả ba
loại đều có chung một điểm là biên độ giá của các thanh giá bên trái l ớn hơn ( được g ọi là vùng kh ởi
điểm) và thanh giá nhỏ dần theo thời gian. Phần bên phải của mô hình g ọi là đỉnh tam giác và là vùng có
biên độ giá nhỏ nhất.

Mô hình Symmertrical Triangle - Tam giác cân

10


Mô hình Symmertrical Triangle xuất hiện khi đường kháng c ự xu hướng giảm và đườ ng hỗ trợ xu
hướng tăng chạm nhau ở phía bên phải của mô hình. Về mặt k ĩ thuật, để mô hình tam giác có hi ệu l ực
thì đườ ng kháng cự xu hướng giảm và đường h ỗ tr ợ xu h ướng t ăng ph ải có 2 l ần ch ạm c ủa giá.

Hướng phá vỡ và cách đoán định thời điểm phá vỡ của mô hình Symmertrical Triangle

Kirkpatrick & Dahlquist nói rằng sự phá vỡ c ủa mô hình Symmertrical Triangle phá v ỡ phía trên kho ảng
54% và những đợt phá vỡ này xảy ra khi tam giác được hình thành trung bình kho ảng 73-75% (ph ần b ắt
đầu hình thành tam giác là 0% và phần đỉnh tam giác là 100%) và khối l ượng giao d ịch ngày càng t ăng
của đợt phá vỡ sẽ kết hợp rất tốt với mô hình Symmertrical Triangle.

Hiệu suất khi giá phá vỡ mô hình Symmertrical Triangle

11


Hiệu suất của mô hình Symmertrical Triangle được đưa ra như sau:



Giá phá vỡ lên: giá không thể tăng thêm ít nhất 5% chỉ chiếm khoảng 9% t ổng th ời gian; trung
bình mức tăng tối đa trước khi giá giảm 20% là 31%.
Giá phá vỡ xuống: giá không th ể tăng thêm ít nhất 5% chỉ chiếm khoảng 13% t ổng th ời gian;
trung bình mức giá chạy tối đa sau khi bán và trước khi giá h ồi lại 20% là 17%.
Mục tiêu giá cho giá phá vỡ của mô hình Symmertrical Triangle
Thường thì các nhà phân tích kĩ thuật lấy chiều cao của mô hình thêm vào ho ặc tr ừ ra giá phá v ỡ
(Rockefeller, 2011, p. 165). Tuy nhiên, Bulkowski có một công th ức khác cho mô hình này:




o

Giá phá vỡ lên của mô hình Symmertrical Triangle:
Giá phá vỡ + ((Giá cao nhất của tam giác – Giá thấp nhất của tam giác)x 66%)

Giá phá vỡ xuống của mô hình Symmertrical Triangle:
Giá phá vỡ - ((Giá cao nhất của tam giác – Giá thấp nhất của tam giác)x 48%)

Biểu đồ minh họa cho mô hình Symmertrical Triangle

12


Biểu đồ trên của Oracle (ORCL) cho ta một mô hình Symmertrical Triangle trong xu h ướng t ăng. Đây là
một mô hình thông thường, đợt phá vỡ xuất hiện trong kho ảng 3/4 đo ạn đường bên trong mô hình. Đồng
thời, có một thanh giá hồi l ại l ớn sau đợt phá v ỡ. Kirkpatrick & Dahlquist nói r ằng s ự h ồi l ại sau đợt phá
vỡ lên xảy ra khoảng 37% (với phá vỡ xuống thì s ự hồi lại đến 59%). Nh ư trong tr ường h ợp này, giá t ạo
một khoảng nhảy giá tăng trước đó và thường khi giá tăng nhanh, giá có xu h ướng ngh ỉ ng ơi 1 chút. Mô
hình Symmertrical Triangle là một mô hình thường được thấy ở vùng giá. nghỉ ng ơi này, v ốn là vùng mà
giá ít biến động hơn và khó có đợt bật mạnh về 1 hướng cho đến khi mô hình hình thành được kho ảng
3/4 bên trong.

Mô hình Ascending Triangle - Tam giác tăng

Mô hình Ascending Triangle xuất hi ện khi đường kháng c ự ngang ch ạm v ới đường h ỗ tr ợ ch ếch lên ở
phần bên phải của biểu đồ. Để mô hình tam giác có hiệu l ực thì cả hai đường ph ải có 2 l ần chạm c ủa
giá.

13


Hướng phá vỡ và cách đoán định thời điểm phá vỡ của mô hình Ascending Triangle.

Kirkpatrick & Dahlquist nói rằng mô hình Ascending Triangle phá v ỡ phía trên có t ỉ l ệ xu ất hi ện kho ảng
77% và trung bình của những đợt phá vỡ này xảy ra vào th ời điểm khi mô hình hình thành kho ảng 61%
phía trong tam giác (điểm khởi đầu, hay gọi là phần bên trái của tam giác là 0% và ph ần đỉnh tam giác là
100%) (2010, p. 317).

Hiệu suất của giá phá vỡ mô hình Ascending Triangle

Hiệu suất của mô hình Ascending Triangle được đưa ra như sau:

14





Giá phá vỡ lên: giá không thể tăng thêm ít nhất 5% chỉ chiếm khoảng 13% t ổng th ời gian; trung
bình mức tăng tối đa trước khi giá giảm 20% là 35%.
Giá phá vỡ xuống: giá không th ể tăng thêm ít nhất 5% chỉ chiếm khoảng 11% t ổng th ời gian;
trung bình mức giá chạy tối đa sau khi bán và trước khi giá h ồi lại 20% là 19%.
Mục tiêu giá của mô hình Ascending Triangle



Giá phá vỡ lên của mô hình Ascending Triangle:
Giá cao nhất của tam giác + ((Giá cao nhất của tam giác – Giá thấp nh ất c ủa tam giác)x 75%)



Giá phá vỡ xuống của mô hình Ascending Triangle:
Giá phá vỡ - ((Giá cao nhất của tam giác – Giá thấp nhất của tam giác)x 68%)

Biểu đồ minh họa cho mô hình Ascending Triangle

Biểu đồ phía trên của Cisco system (CSCO) cho thấy một mô hình Ascending Triangle. Như ta mong đợi
thì giá phá vỡ lên phía trên và đợt phá vỡ xảy ra ở 2/3 tam giác.

Mô hình Descending Triangle - Tam giác giảm

15


Mô hình Descending Triangle đượ c hình thành khi đường kháng c ự xu h ướng gi ảm ch ạm v ới đường h ỗ
trợ ngang. Để mô hình này có hiệu lực thì cả hai đường phải được giá ch ạm vào hai l ần.

Hướng phá vỡ của mô hình Descending Triangle và cách canh thời gian phá v ỡ

Kirkpatrick & Dahlquist nói rằng mô hình Descending Triangle phá v ỡ xu ống d ưới v ới t ỉ l ệ 64% (2010, p.
315).

Hiệu suất của giá phá vỡ mô hình Descending Triangle

16


Hiệu suất của giá phá vỡ mô hình Descending Triangle được đưa ra nh ư sau:



Giá phá vỡ lên: giá không thể tăng thêm ít nhất 5% chỉ chiếm khoảng 7% t ổng th ời gian; trung
bình mức tăng tối đa trước khi giá giảm 20% là 47%.
· Giá phá vỡ xuống: giá không thể tăng thêm ít nhất 5% chỉ chi ếm kho ảng 16% t ổng th ời gian;
trung bình mức giá chạy tối đa sau khi bán và trước khi giá h ồi lại 20% là 16%.
Mục tiêu giá của mô hình Descending Triangle



Giá phá vỡ lên của mô hình Descending Triangle:
Giá phá vỡ + ((Giá cao nhất của tam giác – Giá thấp nhất c ủa tam giác)x 84%)



Giá phá vỡ xuống của mô hình Descending Triangle:
Giá thấp nhất của tam giác – ((Giá cao nhất c ủa tam giác – Giá thấp nhất c ủa tam giác)x 54%)

Biểu đồ minh họa cho mô hình Descending Triangle phá vỡ xuống dưới

17


Biểu đồ của Chevron (CVX) cho ta m ột mô hình Descending Triangle phá v ỡ xu ống d ưới. Chú ý r ằng v ới
một Descending Triangle, đường kháng cự giảm dần cho thấy các thanh giá có các đáy th ấp h ơn. Khi giá
phá vỡ đườ ng hỗ trợ 11 ngày thì giá ti ếp t ục gi ảm m ạnh xu ống.

Biểu đồ minh họa cho mô hình Descending Triangle phá vỡ lên trên

Biểu đồ của AT&T (T) cho thấy một mô hình Descending Triangle phá v ỡ lên phía trên. Theo nghiên c ứu
của Bulkowski (2005), mô hình Descending Triangle với đợt phá v ỡ lên phía trên đạt được m ức t ăng
trung bình tối đa là 47% (đây là mức tăng đạt được trước khi có m ột m ức gi ảm 20%)

Mô hình Right-Angled Broadening & Ascending (RBA)

18


Mô hình RBA khá giống mô hình đỉnh và đáy m ở r ộng, ngo ại tr ừ vi ệc có m ột đường kháng c ự ho ặc h ỗ
trợ nằm ngang. Mô hình nay có m ột đường h ỗ tr ợ n ằm ngang và đường kháng c ự t ăng d ần.

Mô hình Right-Angled Broadening & Descending (RBD)

Ngược lại, mô hình RBD thì có một đường kháng c ự n ằm ngang ở trên và m ột đường h ỗ tr ợ gi ảm d ần.

RBA - Hướng phá vỡ góc

19


Theo nghiên cứu của Bulkowski (2005), xu hướng giá trước khi tạo mô hình RBA thì thường là xu
hướng tăng (67% trong tổng thời gian) thay vì xu hướng giảm (chỉ 33%) và giá phá v ỡ xu ống bên d ưới
chiếm đến 66% tổng thời gian so với tình trạng giá phá vỡ đi lên chỉ chi ếm 34% t ổng th ời gian.

RBD - Hướng phá vỡ góc

Mô hình RBD phá vỡ đi lên trên 51% tổng thời gian so với phá v ỡ xuống d ưới chi ếm 49% t ổng th ời gian.
(theo Bulkowski, 2005)

Những đặc điểm quan trọng của mô hình Broading Right Angle
Bulkowski (2005) đưa ra một số đặc điểm quan trọng giúp tăng độ hi ệu quả của cả hai mô hình này nh ư

20


sau:
Mô hình tăng dần sẽ đạt hiệu quả cao nhất trong xu h ướng kéo dài t ừ ba tháng tr ở xu ống; còn mô hình
giảm dần thì xu hướng nên lâu hơn ba tháng.
Các mô hình tăng dần cao thì hiệu quả hơn các mô hình tăng dần th ấp.

Mục tiêu giá

Đối với mục tiêu giá, độ cao của mô hình RBA hay RBD được cộng vào giá phá v ỡ phía trên đường
kháng cự hoặc xuống dưới đườ ng hỗ tr ợ để tìm ra một m ức giá m ục tiêu. Tuy nhiên, Bulkowski (2008)
đưa ra một công thức tính chính xác hơn dựa vào các nghiên cứu biểu đồ c ủa ông nh ư sau:


Mô hình RBA – phá vỡ lên trên:
Mức giá phá vỡ lên trên kháng cự + ((Giá ở đỉnh cao nhất của mô hình – giá ở đáy th ấp nh ất c ủa mô
hình)x 68%)



Mô hình RBA – phá vỡ xuống dưới:
Mức phá vỡ xuống dưới hỗ trợ - ((giá ở đỉnh cao nh ất c ủa mô hình – giá ở đáy th ấp nh ất c ủa mô hình)x
32%)



Mô hình RBD – phá vỡ lên trên:
Mức giá phá vỡ lên trên kháng cự + ((Giá ở đỉnh cao nhất của mô hình – giá ở đáy th ấp nh ất c ủa mô
hình)x 63%)



Mô hình RBD – phá vỡ xuống dưới:
Mức phá vỡ xuống dưới hỗ trợ - ((giá ở đỉnh cao nh ất c ủa mô hình – giá ở đáy th ấp nh ất c ủa mô hình)x
44%)

Biểu đồ minh họa mô hình RBA

21


Biểu đồ trên của Microsoft (MSFT) minh họa cho mô hình RBA, n ơi mà giá đi vào t ừ phía trên (xu ất hi ện
chỉ 1/3 tổng thời gian) và thoát khỏi ở phía dưới (2/3 tổng thời gian). N ếu ta l ấy độ cao thông th ường c ủa
mô hình trừ đi giá phá vỡ thì sẽ ra một lệnh giao dịch th ất b ại; tuy nhiên, nêu ta d ụng công th ức c ủa
Bulkowski là lấy độ cao mô hình x 32% thì sẽ ra một l ệnh đạt lợi nhuận.

Biểu đồ minh họa mô hình RBD

Biểu đồ trên của AT&T (T) minh hoạ một mô hình RBD khá thành công v ới m ột cú phá ng ưỡng lên trên.
“Thành công” ở đây được nhấn mạnh vì theo nghiên cứu của Bulkowski (2005), mô hình này v ới m ột s ự
phá vỡ lên trên thì được xem là ít hiệu quả nhất trong t ất c ả các mô hình. Th ế nh ưng, khi dùng công th ức
tính mục tiêu giá, lấy độ cao của mô hình cộng giá phá vỡ ta lại thấy có l ợi nhu ận ở bi ểu đồ này.

22


Mô hình Narrow Range trên biểu đồ ngày

“NR” là viết tắt của “narrow range” có nghĩa là biên độ, s ố “4” có ngh ĩa là thanh giá cu ối cùng trong 4
thanh giá gần nhất và có biên độ nhỏ hơn 3 thanh trước. Biên độ là khoảng cách gi ữa giá ở đỉnh và giá ở
đáy. Tương tự như vậy thì số “7” có nghĩa là thanh giá cuối cùng trong 7 thanh giá g ần nh ất và có biên
độ nhỏ hơn 6 thanh trước.

Mô hình NR4 phá vỡ lên trên

23


Tín hiệu mua của mô hình NR4 là khi giá của ngày th ứ 5 v ượt qua giá đỉnh c ủa thanh giá ngày th ứ 4;
điểm dừng lỗ được đặt ở đáy của thanh giá ngày th ứ 4 và th ường thì l ệnh s ẽ được ch ốt t ại th ời đi ểm
đóng cửa của ngày mà lệnh mua vào được khớp (tức là khớp lệnh mua đầu ngày thì cu ối ngày chốt l ệnh
luôn)

Mô hình NR4 phá vỡ xuống dưới

24


Tín hiệu bán cho mô hình NR4 là khi giá của ngày th ứ 5 giảm xuống phía d ưới đáy c ủa thanh giá ngày
thứ 4; điểm dừng lỗ được đặt ở đỉnh của thanh giá ngày th ứ 4 và thông th ường thì và th ường thì l ệnh s ẽ
được chốt tại thời điểm đóng cửa của ngày mà lệnh bán vào được khớp (tức là khớp l ệnh bán đầu ngày
thì cuối ngày chốt lệnh luôn)

Mô hình NR7

Mô hình NR7 cũng có phương pháp giống như mô hình NR4 nh ưng l ệnh mua và bán được đặt ra trong
ngày thứ 8 và dựa vào đáy và đỉnh của thanh giá ngày th ứ 7.

Ví dụ cho mô hình NR4

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×