Tải bản đầy đủ

TVDS so cap giang nghia

Trung Châu Phái – Tử Vi Đẩu Số Sơ Cấp Giảng Nghĩa

TRUNG CHÂU PHÁI TỬ VI ĐẨU SỐ SƠ CẤP GIẢNG NGHĨA
Mục lục
Nhất: tự luận………………………………………………………………………………………2
Nhị: nhập môn cập khởi lệ……………………………………………..…………………………4
Giáp An tinh pháp…………………………………………………………………………………5
Ất Nhuận nguyệt thôi toán pháp………………………………………………………………… 9
Bính Tinh bàn thôi đoạn pháp…………………………………………………………………...54
Tam: chư tinh diệu cập tinh hệ hiển kì đích diện mạo thân hình tính cách đặc chinh…………60
Giáp Hình tính phú chú thích……………………………………………………………………61
Ất “Trung Châu Phái” chư tinh hình tính………………………………………………………64
Tứ: chư tinh diệu cập tinh hệ tọa thập nhị cung cát hung thôi đoạn……………………………69
Giáp Chư tinh diệu cơ bổn tính chất……………………………………………………………69
Ất Chư tinh diệu nhập thập nhị cung tính chất…………………………………………………88
(phụ) Phụ Tá Sát diệu đối Huynh đệ cung đích ảnh hưởng……………………………………141
(phụ) Phụ Tá Sát diệu đối Tử nữ cung đích ảnh hưởng………………………………………..157
(phụ) Phụ Tá Sát diệu đối Tài bạch cung đích ảnh hưởng……………………………………164
(phụ) Phụ Tá Sát diệu đối Thiên di cung đích ảnh hưởng……………………………………180
(phụ) Phụ Tá Sát diệu đối Giao hữu cung đích ảnh hưởng…………………………………..191
Ngũ: niên hạn thôi đoạn pháp………………………………………………………………221

Giáp đại hạn dữ lưu niên đích thôi đoạn…………………………………………………...224
Ất Lưu nguyệt đích thôi đoạn……………………………………………………………….231
Bính Lưu nhật lưu thì đích thôi đoạn……………………………………………………….235
Hậu kí………………………………………………………………………………………240

1


Trung Châu Phái – Tử Vi Đẩu Số Sơ Cấp Giảng Nghĩa

VƯƠNG ĐÌNH CHI BIÊN TRỨ

Nhất: Tự luận.
Tử vi đẩu số bắt đầu phát triển thành một môn thuật số từ thời bắc Tống, tiền thân của nó là “Thập
bát phi tinh”. Môn thuật số khởi đầu từ bối cảnh cạnh tranh giữa Ngũ tinh và Tử bình. Khởi đầu
thuật đoán vận mệnh thành công nhất là Ngũ tinh. Dựa vào năm sinh, tháng, ngày, giờ sinh, lập
thành bát tự can chi, sau đó đưa bát tự vào công thức tính toán theo năm sao: Thủy, Hỏa, Mộc,
Kim, Thổ, dựa vào Thái Âm Thái Dương, phân bố sao vào 12 cung, gọi chung là “Thất chánh”.
Ngoài ra, dựa vào công thức bố trí 28 sao phân thêm: Tử Khí, Nguyệt Bột, La Hầu, Kế Đô (tứ dư)
vào các cung, sau đó luận đoán lộc mệnh đời người. Thuật đoán mệnh này được gọi là “Thất
chánh tứ dư”.
Do thời cổ đại công thức tính toán thiên văn học chưa chuẩn xác, sau một thời gian dẫn đến sai
lệch. Tuy nhiên về sau “Cầm Đường Phái” hưng khởi, chỉnh lại “Thiên lượng xích”, điều chỉnh
cách luận đoán các tinh diệu hội hợp, nhưng không cải tiến đáng kể, kết quả là “Phái Tử bình” vẫn
chiếm ưu thế.
Tử bình cũng dựa trên nữa đầu của thuật đoán mệnh của Ngũ tinh. Phát triển thành thuật số. Phát
triển từ đời Đường. Phương pháp luận đoán dựa vào giờ, ngày, tháng, năm sinh để khởi Can Chi
bát tự, gọi là “Tứ trụ”, sau này căn cứ vào âm dương ngũ hành, sinh khắc chế hóa, hình trùng phá
hoại, tam hợp lục hợp, Tùng thần gia sát của bát tự để luận đoán lộc mệnh. Không dựa vào “Thất
chánh tứ dư” phân bố tại 12 cung.
Môn học Tử bình, phát triển mạnh vào thời Tống, do đại văn nhân học sỹ phát triển, tới nay đạt
được nhiều thành tựu, thời triều Minh, Lưu Bá Ôn soạn “Tích Thiên Tủy”, thuật đoán mệnh phát
triển mạnh thành triết lý, triều Thanh có Trần Tố Am, soạn “Mệnh Lý Ước Ngôn”, từ đó thành lập
thư phòng phái và giang hồ phái phân thành hai đại phái.
Kỳ thật “Giang hồ phái” có một ưu điểm là trải qua kinh nghiệm thực tế hơn Thư phòng phái,
nhưng phần lý luận đơn giản hơn, nhưng có cách luận đoán chính xác hơn. Các câu khẩu quyết
được truyền như: “Nhật tọa bỉ kiên phùng bỉ kiếp, tất nhiên tam độ tác tân lang”. “Quý thủy sanh
nhân dụng mậu quan, thiếu niên định giá bạch đầu phu”, có tính chính xác. Không thể thiếu trong
khẩu quyết. Do tích lũy kinh nghiệm từ thực tế. “Thư phòng phái” tuy được các văn nhân học sỹ
tuyên dương, nhưng “Giang hồ phái” vẫn tồn tại. Do khoa học phát triển, lý luận được cập nhật rõ


ràng mỗi ngày, nhưng thực nghiệm bị thiếu cơ sở lý luận.
Bản giảng nghĩa gốc được bảo lưu để bảo vệ quyền lợi, các nhân sỹ phiên ấn sao lục phục chế
phiên dịch giảng nghĩa, hoặc được các cắt nghĩa từng phần hoặc toàn bộ nội dung, bị truy cứu
trách nhiệm tố tụng theo pháp luật.
Công ty TNHH Cẩn Khải chịu trách nhiệm xuất bản tại Tử vi văn hóa phục vụ.
2


Trung Châu Phái – Tử Vi Đẩu Số Sơ Cấp Giảng Nghĩa
Tử vi đẩu số khởi đầu từ “Thập bát phi tinh” phát triển lên, thuật đoán lộc mệnh dựa vào thực
nghiệm. Nguyên thủy ban đầu là dựa vào khuyết điểm không chính xác của cung độ trong “Ngũ
tinh”, chọn ra Bắc cực tinh làm chủ tinh, tính toán xác định tọa độ. Ưu điểm cách này là dựa vào
mối quan hệ giữa Bắc cục tinh và địa cầu. Do chuyển động rất ít, nếu từ địa cầu quan sát, Bắc cự
tinh gần như đứng yên, chỉ thay đổi theo bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông theo bốn hướng Đông Nam
Tây Bắc, giống như Bắc cực tinh xoay hết một chu kỳ, mỗi chu kỳ là một năm.
Bắc cực tinh có nhiều tên gọi như: Tử Vi, Thái Ất, theo quan điểm thiên văn học hiện đại, danh
xưng trên là không chính xác, nhưng từ thời Tống Nguyên xa xưa, những tên gọi như vậy đã được
lưu hành. Do có những thuật được lập thành từ Bắc cực tinh tạo ra. “Thái ất số” đoán địa vận, “Tử
vi đẩu số” đoán mệnh con người. Từ “Thập bát phi tinh” đơn giản ban đầu, đã chọn Tử Vi làm chủ
tinh, sau đó thêm 18 hư tinh, lập ra cách thức an sao, dùng cho việc luận đoán lộc mệnh.
18 hư tinh gồm: Thiên Hư, Thiên Quý, Thiên Ấn, Thiên Thọ, Thiên Không, Hồng Loan, Thiên
Khố, Thiên Quán, Văn Xương, Thiên Phúc, Thiên Lộc, Thiên Trượng, Thiên Dị, Mao Đầu, Thiên
Nhận, Thiên Diêu, Thiên Hình, Thiên Khốc. Từ “Ngũ tinh” ban đầu và Trạch nhật gia với “Tùng
thần” đặt tên cho 18 hư tinh.
Trừ Tử Vi ra, 18 hư phi tinh được hư cấu ra, “Thập bát phi tinh” là thuật luận đoán mệnh bị thiếu
cơ sở lý luận. Bằng thực tiễn, dựa vào thống kê tự chỉnh sửa để lập ra phương pháp luận đoán.
Giống như “Giang hồ phái” của “Tử bình”, dựa vào thực tế thống kê.
“Thập bát phi tinh” còn rất thô sơ. Tuy nhiên sau đó dựa vào thực tiễn có thêm Tam phương tứ
chính vào phép luận đoán, vì có hai hạn chế nên môn này không thể phát triển mạnh được, hai hạn
chế là:
Thứ nhất: “Thập bát phi tinh” lấy 12 cung theo “Ngũ tinh”, thứ tự: Mệnh cung, Tài bạch, Huynh
đệ, Điền trạch, Tử nữ, Nô phó, Thê thiếp, Tật ách, Thiên di, Quan lộc, Phúc đức, Tướng mạo. Kết
cấu Tam phương tứ chính rất bất hợp lý. Như Mệnh cung và Thê thiếp cung xung đối, và Tử nữ
cung cùng Thiên di cung tại tam phương hội hợp, tức quá xem trọng quan hệ gia tộc. Huynh đệ
cung đối xung với Thiên di cung, và cùng Thê thiếp cung Phúc đức cung tương hội, tất không thể
giải thích được mối quan hệ này.
Thứ hai: “Thập bát phi tinh” cách thức phân bố cung vị thiếu tính linh động, làm cho kết cấu Tinh
bàn vô lý, không khớp với thực tế. Do đó có thay đổi nguyên tắc như thế nào đi nữa cũng không
ứng dụng được vào kết cấu Tinh bàn vô lý, khó giải thích được các quan hệ xã hội.
Tử vi đẩu số được lập thành, so với “Thập bát phi tinh” là đại cách tân quan trọng. Cải biến thứ tự
12 cung, thay đổi tên gọi của các cung, như bỏ tên cung Tướng mạo, thay bằng cung mang tên Phụ
mẫu, nói lên mối quan hệ với lục thân, đồng thời mỗi cá nhân có Tam phương Tứ chánh nói lên
mối quan hệ hữu cơ cho mỗi cá nhân (quan điểm này được nói tại buổi thảo luận về tính chất của
Thập bát phi tinh), thêm vào các tinh diệu quan trọng, đặc biệt là tứ Hóa diệu tạo lập cách thức
linh hoạt, dựa vào Can Chi mỗi đại hạn, tiểu hạn, nguyệt hạn, nhật hạn, giờ hạn để biết biến hóa.
Bắt đầu từ Nam Tống, qua triều Nguyên, tới đầu đời Minh phát triển mạnh, có thể cùng “Tử bình”
đối kháng về việc luận đoán lộc mệnh. Thậm chí đoán về vận hạn, Tử vi đẩu số vượt hơn “Tử
3


Trung Châu Phái – Tử Vi Đẩu Số Sơ Cấp Giảng Nghĩa
bình”. Ví dụ như “Tử bình” đoán được tài vận tốt, Đẩu số đoán được tài vận tốt do đâu, năm nào
tốt, tiền tài có tích tụ được không.
Chi tiết của cách luận đoán dựa vào thống kê, tính chất cơ bản của tổ hợp tinh hệ tại 12 cung có
được dựa vào thống kê, thêm vào các Phụ Tá Sát hóa chư diệu hợi hợp, tính chất cơ bản được tăng
thêm hay bớt đi hoặc thay đổi, sau đó dựa vào tính chất trên để nhận định, phán đoán sự tương hội
hay các sự kiện phát sinh, xác định cát hung ra sao.
Trung Châu Phái không thừa nhận số mệnh, không nói năm này nhất định có chuyện này, chỉ nói
năm nay phát sinh sự việc có tính chất ra sao. Nói về hôn nhân, Trung Châu Phái không nói năm
nay nhất định ly hôn, chỉ nói năm nay tình cảm phu thê có biến đổi, nguyên nhân do đâu, khả năng
phát triển tới ly hôn, sau ly hôn, sẽ diển biến ra sao, nếu chịu đựng tha thứ cho nhau, tình hình diển
biến ra sao. Điều này cho thấy sự sắp xếp ra sao, mục đích có thể đạt tới mức xu cát tị hung.
Nghiên cứu Tử vi đẩu số tuyệt đối không phải là mê tín, mà dựa vào thống kê để luận đoán. Có thể
nói, thuật số dựa trên cơ sở khoa học không manh tính thần bí. Tính chất cơ bản của tinh hệ có
được từ thống kê nên phải chú ý tính thời đại. Do hoàn cảnh xã hội văn hóa bất đồng, tính chất
tinh hệ cũng biến đổi theo thời đại. Ví dụ như cổ nhân cho rằng: “Vũ Khúc chi tinh vi quả tinh”,
bất lợi cho nữ về hôn nhân, do thời xưa phụ nữ không có khả năng kiếm tiền, không thích hợp với
Vũ Khúc là Tài tinh, xã hội hiện đại luận đoán phải thay đổi. Bút giả thống kê hơn 100 trường hợp
Nữ mệnh có Vũ Khúc ở Phu thê cung, những người có nghề nghiệp, 60% có cuộc hôn nhân tốt
đẹp, những gia đình phụ thuộc vô chồng thì có 80% hôn nhân có vấn đề.
Học tập Tử vi đẩu số, cũng phải dựa vào thống kê, phát triển, thay đổi thích ứng thời đại, bút giả
cung cấp cho độc giả tính chất cơ bản của tinh hệ được sở truyền của Trung Châu Phái, cộng thêm
các biến hóa, thêm các thống kê mà bút giả có được về huyết nham, tị yết nham. Nhưng có thể nói
vẫn chưa toàn diện, thậm chí có thể nói, do xã hội phát triển thay đổi, ý kiến của bút giả cũng thay
đổi theo, như vậy mới bảo trì tính linh hoạt và độ chính xác của Tử vi đẩu số. Cho nên các vị
không nhất thiết cho rằng quan điểm của bút giả là khuôn vàng thước ngọc, chỉ làm theo chỉ dẫn
nhập môn ban đầu, căn cứ vào thực tiễn thống kê, bổ sung thậm chí tu sửa thuyết pháp của bút giả.
Do điểm này, bút giả cũng không dấu diếm, đem công khai những điều tâm đắc không giữ kiến
thức cho riêng mình. Căn bản đây không phải là điều bí mật. Nếu có được các công cụ thống kê hỗ
trợ, đồng thời được cung cấp đủ tư liệu, bút giả tin rằng, tính chính xác của Tử vi đẩu số được
nâng cao.
Bút giả công khai những kiến thức tâm đắc của bản thân, có hai mục đích, một là chống lại khoa
học giả danh, cho rằng bàn luận tử vi là tuyên dương mê tín. Thứ hai là làm cơ sở cho thế hệ sau
phát triển. Nếu tri thức không có đất phát triển, tất là cố chấp đi vào mê tín.

Phần hai: Nhập môn cùng các ví dụ (Nhị, nhập môn cập khởi lệ).
Lời nói đầu (Tiền ngôn).
Học tập Tử vi đẩu số, kỳ thật khởi đầu đối với An tinh pháp phải hiểu thật vững, sau mới tới luận
đoán Tinh bàn giỏi được, không thể phân tâm vừa luận đoán vừa tìm sao trên Tinh bàn. Như là
4


Trung Châu Phái – Tử Vi Đẩu Số Sơ Cấp Giảng Nghĩa
“Thiên Lương Kình Dương Thiên Hình” là tinh hệ trọng yếu, thường có bệnh phải giải phẩu, hoặc
bị quan tụng, nếu không thuộc thành thục “An tinh pháp”, khi luận đoán lưu niên hay lưu nguyệt
khi gặp Thiên Lương, phải tìm Thiên hình hoặc Kình Dương, cùng với lưu vận Kình Dương lưu
niên Kình Dương, thậm chí lưu nguyệt Kình Dương, làm cho tinh thần phân tán, làm ảnh hưởng
khả năng luận đoán chính xác. Khi nghiên cứu Tử vi đẩu số phải thật thuần thục “An tinh pháp”
đồng thời hiểu rõ về các tổ hợp tinh hệ, do vậy tiền nhân đặc biệt chú ý truyền thụ “An tinh pháp”.
Bắc phái đẩu số danh gia Trương Khai Quyển tiên sanh soạn “Tử vi đẩu số mệnh lý nghiện cứu”,
phân nữa là nói về an tinh. Danh gia Lục Bân Triệu tiên sanh soạn “Tử vi đấu sổ giảng nghĩa”,
quyển thượng cũng nói về An tinh pháp, quyển hạ bàn về tính chất 12 cung, từ đây có thể thấy việc
truyền thụ “An tinh pháp” là trọng yếu. Nhưng trước mắt Bảng tra tinh đang lưu hành chỉ giúp học
giả tiện việc lập Tinh bàn, nhưng phải thuần thục “An tinh pháp”, trong thực tế luận đoán sẽ gặp
khó khăn, không nắm hết tính linh hoạt của các tổ hợp tinh hệ.
Theo tác giả được biết, Trương Khai Quyển tiên sinh lập ra phép an sao nhanh theo Can năm, Chi
năm, tháng, ngày, là muốn tiện cho người học. Tuy nhiên nó có tác dụng phụ, ngoài ý liệu của
Trương tiên sinh. Theo quan điểm của Trung Châu Phái, tra biểu an tinh, không thuần thục An tinh
pháp tất có khuyết điểm là khó hiểu hết tổ hợp tinh hệ, đó là điều tệ hại, việc phân loại “Giáp cấp
tinh”, “Ất cấp tinh” cho đến “Mậu cấp tinh” để dể nhận biết và an sao, nhưng ảnh hưởng tính
chuẩn xác khi luận đoán. Tính chất của tinh hệ bị thay đổi khi hội hợp với sao thuộc Mậu cấp tinh,
thường học giả cứ nhìn theo cấp của tinh diệu, không đánh giá cao “Mậu cấp tinh”.
Lục Bân Triệu truyền thụ “An tinh pháp”, không giống như cách của Trung Châu Phái, và cũng
không giống với Trương Khai Quyển tiên sinh. Hy vọng độc giả hiểu rõ việc phân cấp tinh diệu,
chuyên tâm luyện tập “An tinh pháp”, biểu an tinh đang lưu hành là không cần thiết. Đây là khái
niệm trọng yếu cần nắm rõ.
Bút giả so sánh “An tinh pháp” với các bản có sẳn trong dân gian, và bản của Lục tiên sinh giới
thiệu “An tinh pháp” có chổ bất đồng, hy vọng học giả chú ý. Việc an Tứ hóa theo Can năm, Mậu
Canh Nhâm ba Can giữa các phái có chổ bất đồng, ngoài ra “Giải Thần” phân thành “Niên Giải”
và “Nguyệt Giải”, chính là sự truyền thụ của bản phái. Học giả nên lưu ý so sánh điểm này.
Như đã nói ở trên, thuật phái không phân Giáp cấp tinh Ất cấp tinh, khởi tinh thì cũng không theo
thứ tự niên hệ nguyệt hệ, làm bất kỳ không thứ tự, có ưu điểm là khi khởi tinh, vừa an tinh vừa
quan sát thứ tự, Tinh bàn lập thành, có ấn tượng tổng thể. Như an “Tử vi hệ” rồi tới “Thiên Phủ
hệ” 14 chính diệu, lập tức an “Phụ Bật, Xương Khúc, Không Kiếp” lục diệu, kế đến an “tứ Hóa
diệu”, cơ bản kết cấu Tinh bàn được hình thành. Sau đó tiếp tục an tinh, thuận theo tính chất cơ
bản gia cường hoặc tước nhược, như an Khôi Việt xong lập tức khởi Lộc Tồn cùng Tứ sát (tức Hỏa
Tinh, Linh Tinh, Kình Dương cùng Đà La), sau đó khởi Thiên Quan Thiên Phúc, có thể biết được
“cung Quan” và “cung Tài” ra sao. Sở dĩ, bổn phái an tinh theo thứ tự trên, giúp dể nhận biết được
Tinh bàn.
Để dể dàng cho độc giả, đầu tiên hết phải học phép an sao, kiểm tra lại biểu an tinh để tiện ứng
dụng, hy vọng độc giả thành thục cách an sao sẽ có lợi về sau. Có thể tùy lúc tùy nơi bàn luận, đối
5


Trung Châu Phái – Tử Vi Đẩu Số Sơ Cấp Giảng Nghĩa
với sao lưu theo năm theo tháng thì biết rõ nó ở đâu. Có thể nói, kiểm tra biểu khởi tinh là việc bắt
đầu học an sao là việc cơ bản, sau đó qua tới phần nhận định, mới đạt tới cảnh giới cao, nếu không
thuần thục an tinh quyết thì không thể đạt được.
GIÁP: AN TINH PHÁP.
Thứ nhất: Xác định năm sanh, tháng, ngày, giờ.
Nhận thức cơ bản về mệnh bàn.
An tinh giản biểu.
An tinh khẩu quyết/ biểu đồ cùng chưởng quyết.
Phần thứ nhất: Xác định năm sanh, tháng, ngày, giờ.
Luận đoán Tử vi đẩu số, đầu tiên phải xác định đúng được năm sinh, tháng sinh, ngày sinh, giờ
sinh, sau đó mới bài xuất chính xác Mệnh bàn. Do nguyên nhân lịch sử, Tử vi đẩu số từ thời cổ đại
đã chọn thời gian tại trung châu Lạc Dương làm chuẩn. Chính xác mà nói thời gian của trung châu
Lạc Dương là dựa vào sự chuyển động tương đối của địa cầu theo kinh tuyến quanh mặt trời, điều
không đúng là, các quốc gia tự định giờ chuẩn cho mình, bởi vậy thời gian ở Lạc Dương và thời
gian ở Thượng Hải, hiện nay tiêu chuẩn thời gian có sự phân biệt, khi luận đoán Tử vi đẩu số, có
35 phút khác biệt. Có thuyết cho là: theo lịch pháp một ngày phân thành 12 canh giờ, 1 canh giờ
tương đương 2 giờ nhỏ theo lịch pháp hiện hành, trừ một số ít ngoại lệ đặc biệt, đại bộ phận Hoa
Đông Hoa Trung đều sử dụng giờ tiêu chuẩn để tính toán. Nhưng có nhiều trường hợp sau, độc giả
tính toán bất chuẩn Mệnh bàn, do sinh vào đầu giờ hoặc cuối giờ, gia tăng thêm sự khác biệt sai
lệch so với giờ ở Lạc Dương. Trung Châu Phái có cách để nhận biết Mệnh bàn bằng phương pháp
xác định tướng mạo, từ đó xác định chính xác Mệnh bàn. Phương pháp thử này sẽ nói ở chương
sau.
Căn cứ lịch pháp hiện tại, bất cứ tại đâu ở Trung Quốc hay ở ngoài, hoặc chỉ biết ngày dương lịch,
có thể dùng phương pháp hoán đổi sau đây. Trước tiên, độc giả tự tìm tư liệu sinh đẻ âm lịch. Có
thể phân biệt như sau:
Ví dụ như người nữ sinh năm 1938 nông lịch tháng 11 ngày 6 lúc 8 giờ sáng, nơi sinh là Hương
Cảng, do vì lúc đó không là mùa hạ làm cho thời gian có một sự sai lệch, cho nên có thể đem tư
liệu viết như sau:

6


Trung Châu Phái – Tử Vi Đẩu Số Sơ Cấp Giảng Nghĩa

Chú: nữ chuyển tuổi từ dương lịch năm tuổi âm lịch có thể cộng thêm một tuổi. Thực lịch Can Chi
có thể xác định nam nữ chúc dương chúc âm, nói rõ ở chương hai.
Nếu chỉ biết bát tự Can Chi, tây lịch năm sinh, tháng, ngày, giờ, hoặc nơi sinh quá xa và chỉ biết số
tuổi và cầm tinh con gì, có thể sử dụng phương pháp tính toán chuyển đổi ở thiên sau đây.
1. Tính toán chuyển đổi năm sinh (xuất sinh niên hoán toán).
Tính toán luận đoán Đẩu số, phải biết Can Chi năm sinh, có thể tra trong lịch vạn niên Trung Hoa.
Xác định Can Chi năm sinh như: Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm người sinh năm dương, Nam
mệnh là dương nam, Nữ mệnh là dương nữ. Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý người sinh năm âm, Nam
mệnh là âm nam, Nữ mệnh là âm nữ.
2. Tính toán chuyển đổi tháng sinh, ngày sinh (xuất sinh nguyệt, nhật hoán toán pháp).
Tư liệu sinh đẻ theo Tây lịch hoặc Can Chi tháng, tra bản dân gian “Lịch vạn niên”. Dân gian
“Vạn niên lịch” có chổ không chính xác, cho nên tốt nhất là lấy theo hai cách trên để xác định năm
sinh tháng sinh. Hoặc tìm trong Trung Quốc tử kim sơn thiên văn thai biên (1901 – 2000 biểu lịch
1000 năm – khoa học xuất bản xã). Hai sách trên đều đúng.
Ví dụ: năm sinh theo tây lịch là năm 1938 tháng 12 ngày 27 vạn niên lịch cho biết là năm Mậu
Dần tháng 11 ngày 6.
3. Tính toán chuyển đổi giờ sinh (xuất sinh thì hoán toán pháp).
Ban đầu Tử vi đẩu số cho giờ sinh là quan trọng nhất, bản phái khởi giờ sinh tuyệt đối theo tiêu
chuẩn giờ Lạc Dương, mỗi giờ so với giờ Lạc Dương có sai lệch 50 độ kinh tuyến được tính là sai
lệch 1 giờ nhỏ.
Tiêu chuẩn thời gian Hương Cảng và Lạc Dương sai lệch là 7 phút ½ (7 phút rưỡi), ngoại trừ
Mệnh đặc biệt.

7


Trung Châu Phái – Tử Vi Đẩu Số Sơ Cấp Giảng Nghĩa

Ví dụ như: năm 1958 Tây lịch tháng 5 ngày 10, 8 giờ chiều (Tả hữu sinh nhân), 8 giờ là giờ Tuất,
do vì thời gian là mùa hạ, ứng với sự thay đổi của người sinh lúc 7 giờ chiều, tính toán là giờ Dậu.

8


Trung Châu Phái – Tử Vi Đẩu Số Sơ Cấp Giảng Nghĩa

Chú: xác định được giờ Tý, đã tranh luận ở trên. Lấy từ 11 giờ đêm tới lúc 1 giờ nữa đêm, xem
như 1 giờ của ngày hôm sau, xem là giờ Tý của ngày hôm sau. Tức 11 giờ là đầu giờ của ngày
mới. Theo kinh nghiệm của bút giả, đây là cách xác định giờ có vấn đề đáng ngờ. Tức là kết thúc
ngày cũ bắt đầu bước qua ngày mới là lúc 12 giờ (0 giờ) là bắt đầu ngày mới.

9


Trung Châu Phái – Tử Vi Đẩu Số Sơ Cấp Giảng Nghĩa

Giờ theo chi

Giờ đồng hồ

Giờ theo chi

Giờ đồng hồ



23 giờ hôm trước đến 01 giờ hôm Ngọ
nay

Từ 11 giờ đến 13 giờ

Sửu

Từ 01 giờ đến 03 giờ

Mùi

Từ 13 giờ đến 15 giờ

Dần

Từ 03 giờ đến 05 giờ

Thân

Từ 15 giờ đến 17 giờ

Mão

Từ 05 giờ đến 07 giờ

Dậu

Từ 17 giờ đến 19 giờ

Thìn

Từ 07 giờ đến 09 giờ

Tuất

Từ 19 giờ đến 21 giờ

Tỵ

Từ 09 giờ đến 11 giờ

Hợi

Từ 21 giờ đến 23 giờ

Phương pháp tính toán tháng nhuận qua phân biệt tiết khí.
Giáp: Qua tiết khí.
Nước chúng ta tính toán năm tháng ngày như sau: âm lịch (dựa vào mặt trăng) dương lịch (dựa
vào mặt trời) kết hợp thành nông lịch. Mặt trời và mặt trăng ở thiên thượng vận chuyển thay đổi
thời gian, có một cái cố định, mỗi năm là 10 tháng 21 giờ đồng hồ 12 giây, dựa vào điều sai lệch
này, phải tăng 1 tháng nhuận để bổ sung, cứ 3 năm 1 lần nhuận, đến 19 năm thì có 7 tháng nhuận.
Trung Quốc chia lịch làm 12 tháng, mỗi tháng phân ra có 1 tiết và 1 khí. Tháng nhuận thì có 1 khí
trong tháng. “Tử bình” tính toán bát tự, đúng là cần phải lấy việc qua hay không qua tiết để xác
định là trước 1 tháng hay sau 1 tháng, cho nên không có phát sinh vấn đề tháng nhuận, ví dụ như
nếu người sinh vào tháng 1 năm Đinh trong nông lịch, nhưng vì ngày đó chưa qua “Lập xuân”,
cho nên có thể tính toán là năm Bính tháng 12 (tháng Hợi) của nông lịch, nhưng Tử vi đẩu số dựa
vào âm lịch làm cơ sở, hơn nữa các tinh diệu được sắp xếp bài trí liệt kê có mang các nhân tố nội
tại bên trong, cho nên lấy âm lịch để tính toán trực tiếp cho thuận tiện. Sinh vào tháng 01 nông
lịch, liền lấy tháng 01 để tính toán, không để ý tới việc có hay không trải qua giao tiết. Bởi vậy
mỗi khi vào tháng nhuận, vấn đề phát sinh là phải xác định là tháng này hay tháng kia (tháng trước
hay tháng sau).
Ất: Phương pháp tính toán tháng nhuận (nhuận nguyệt thôi toán pháp).
Tính toán tháng nhuận, đúng là lấy nữa đầu tháng tính vào tháng trước, nữa sau tháng tính vào
tháng sau, ví dụ như tháng 3 nhuận, tháng 3 nhuận từ ngày 01 đến ngày thứ 15 giờ Hợi, tính toán
theo tháng 3, ngày thứ 16 tháng 3 nhuận giờ Tý, tính toán theo tháng 4, ngày sinh ra và giờ sinh ra
thì vẫn giữ nguyên không thay đổi.
Phần thứ hai: Nhận thức cơ bản về Mệnh bàn (Đối Mệnh bàn chi cơ bổn nhận thức).
Thiên này chuyên viết về một ít thuật số cơ sở của Trung Quốc dù không đầy đủ nhưng mà nó cần
thiết cho học giả mới bắt đầu học, nội dung liên quan đến Can Chi Ngũ hành, hội cục hợp cục,
10


Trung Châu Phái – Tử Vi Đẩu Số Sơ Cấp Giảng Nghĩa
không thể không tiến hành thuần thục, không thì không có phương pháp nào để “An tinh” thuần
thục, trong tương lai nghiên cứu luận đoán sẽ gặp nhiều phiền phức.
1. Thập thiên can, thập nhị địa chi cùng âm dương.
Thiên can Địa chi là những cái ký hiệu cơ bản nhất của thuật số, như mẫu tự cơ bản trong tiếng
Anh, Thiên can và Địa chi là hai đại hệ thống hỗ trợ bất tương đồng, nhưng có tương quan nhất
định với nhau. Mỗi hệ thống có âm dương khác biệt. Thiên can có 10, Địa chi có 12. Thông
thường Can Chi cố định, lại có kiến giải: 1 Thiên can liên quan với 1 Địa chi. Can có 10 và Chi có
12, bởi vậy 1 Can kết hợp với 1 Chi theo tuần hoàn Can Chi thành ra 60 cái (L. C. M. 10, 12=60).
Trong thuật số Trung Quốc có lục thập Giáp Tý được lập ra.
2. Thập thiên can.
Phân biệt thập Thiên can.
Thập thiên
can

Giáp, Ất

Bính, Đinh

Mậu, Kỷ

Canh, Tân

Nhâm, Quý

Ngũ hành

Mộc

Hỏa

Thổ

Kim

Thủy

Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là chúc dương. Người sinh vào chúc dương là chúc dương mệnh.
Nam mệnh là dương nam, Nữ mệnh là dương nữ, như năm Giáp Tý, năm Canh Thìn vân vân.
Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý là chúc âm. Người sinh vào các năm trên là chúc âm mệnh. Nam mệnh là
âm nam, Nữ mệnh là âm nữ, như năm Đinh Tỵ, năm Ất Mùi vân vân.
3. Thập nhị địa chi.
Địa chi có tổng cộng 12 cái, chia làm chúc Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ gọi là ngũ hành, chỉ có Thổ
chiếm bốn là Thìn Tuất Sửu Mùi xưng là tứ Mộ Khố, như cung Thìn xưng là Thiên La, Tuất xưng
là Địa Võng, Địa chi có 12 đại biểu, phân biệt như sau:
Địa chi

Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ

Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi

Ngũ hành cục

Thủy, Thổ, Mộc, Mộc, Thổ, Hỏa

Hỏa, Thổ, Kim, Kim, Thổ, Thủy

Âm dương

Dương, âm, dương, âm, dương, âm Dương, âm, dương, âm, dương, âm

4. Địa chi lục hợp.
Thập nhị Địa chi phân thành 6 tổ hợp, mỗi tổ có 2 cái Địa chi với sự bất đồng về ngũ hành, mà
hợp làm một hóa khí của một ngũ hành khác, chỉ có Ngọ và Mùi 2 Địa chi hòa hợp nhưng không
cùng ngũ hành, với Ngọ là Thái Dương Mùi là Thái Âm. Kết hợp lại thành các tổ hợp này, gọi là
Đại chi lục hợp (xem hình 1).
Địa chi

Tý, Sửu

Dần, Hợi

Mão, Tuất

Thìn, Dậu

Tỵ, Thân

Ngọ

Mùi

Hòa hợp

Thổ

Mộc

Hỏa

Kim

Thủy

Thái dương

Thái âm
11


Trung Châu Phái – Tử Vi Đẩu Số Sơ Cấp Giảng Nghĩa

Tỵ (thủy)

Ngọ (thái dương)

Thìn (kim)

Hình 1: lục hợp.

(thái âm) Mùi

(kim) Dậu

Mão (hỏa)
Dần (mộc)

(thủy) Thân

(hỏa) Tuất
Sửu (thổ)

(thổ) Tý

(mộc) Hợi

5. Địa chi lục trùng (lục xung).
Thập nhi Địa chi có lục hợp, cũng có lục xung, Tử vi đẩu số có lục xung không giống như “Tử
bình”. Theo Tử bình phàm là đối cung tất phải tương xung, như Tý Ngọ, Sửu Mùi chẳng hạn, lục
xung mang ý nghĩa phá nhau.
Theo Đẩu số tính toán tra xét cát hung trên Mệnh bàn, cần phải xem xét Tam phương Tứ chính,
điều gọi là Tam phương lại chính là Địa chi tam hội cục (sau sẽ rõ). Mà Tứ chính là bản cung hòa
cùng đối cung. Khi tinh diệu ở “Tam phương Tứ chính” hội hợp thì gọi là “Trùng”, không giới hạn
tại bản cung hòa cùng đối cung cũng là tương trùng tương xung mà thôi. Đẩu số không luận Cát
tinh hay Hung tinh, chỉ khi luận đoán lưu vận, bất trùng bất động (không gặp nhau thì không trùng
động), tức Cát tinh không thành thật là cát, Hung tinh cũng không thành thật là hung (xem hình 2).
Tỵ

Ngọ

Mùi

Thìn

Hình 2: lục trùng (lục xung)

Mão

Thân
Dậu
Tuất

Dần

Sửu



Hợi

6. Địa chi tam hội cục.
Thập nhị Địa chi tương quan cách 3 cung ở vị trí hội hợp, hợp thành một cục, toàn bộ Tinh bàn
cộng lại là tứ cục, trong Tử vi đẩu số mỗi cục cũng chính là cái được gọi là “Tam phương” thuộc
Tam phương Tứ chính. “Tam phương” lập thành một cục, cũng là tổ hợp Sinh Vượng Mộ, như
thủy cục Thân là Trường Sinh, Tý là Đế Vượng Thìn là Mộ Khố các loại.

Tỵ
Thìn
Mão

Ngọ

Mộ Khố

Thủy nhị cục

Mùi

Trường Sinh Thân
Dậu
Tuất

12


Trung Châu Phái – Tử Vi Đẩu Số Sơ Cấp Giảng Nghĩa
Dần

Sửu



Đế Vượng

Hợi

Sinh Vượng Mộ: Thân Tý Thìn hợp thành Thủy cục. Dần Ngọ Tuất hợp thành Hỏa cục. Hợi Mão
Mùi hợp thành Mộc cục. Tị Dậu Sửu hợp thành Kim cục.
7. Lục thập Giáp Tý.
Thập Thiên can có Giáp dẫn đầu, thập nhị Địa chi có Tý dẫn đầu, một Thiên can phối hợp với một
Địa chi, thành lục thập can chi, quay lại từ đầu, thành lục thập Giáp Tý.
Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tị, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý
Dậu. Giáp Tuất, Ất Hợi, Bính Tý, Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mão, Canh Thìn, Tân Tị, Nhâm Ngọ,
Quý Mùi. Giáp Thân, Ất Dậu, Bính Tuất, Đinh Hợi, Mậu Tý, Kỷ Sửu, Canh Dần, Tân Mão, Nhâm
Thìn, Quý Tị. Giáp Ngọ, Ất Mùi, Bính Thân, Đinh Dậu, Mậu Tuất, Kỷ Hợi, Canh Tỳ, Tân Sửu,
Nhâm Dần, Quý Mão. Giáp Thìn, Ất Tị, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân, Kỷ Dậu, Canh Tuất, Tân
Hợi, Nhâm Tý, Quý Sửu. Giáp Dần, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tị, Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Canh Thân,
Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi.
Bởi vì Giáp là đầu của Thiên can, Tý là đầu của Địa chi, có thể gọi đơn giản là lục thập Giáp Tý
hay lục thập hoa Giáp Tý. Do Can Chi hợp thành lục thập hoa giáp, mỗi tổ hợp lại có một ngũ
hành khác, tên của ngũ hành nạp âm gọi là: Lục thập hoa giáp nạp âm.
Giáp Tý Ất Sửu hải trung kim, Bính Dần Đinh Mão lô trung hỏa, Mậu Thìn Kỷ Tị đại lâm mộc.
Canh Ngọ Tân Mùi lộ bàng thổ, Nhâm Thân Quý Dậu kiếm phong kim. Giáp Tuất Ất Hợi sơn đầu
hỏa, Bính Tý Đinh Sửu giản hạ thủy. Mậu Dần Kỷ Mão thành đầu thổ. Canh Thìn Tân Tị bạch chá
kim, Nhâm Ngọ Quý Mùi dương liễu mộc. Giáp Thân Ất Dậu tuyền trung thủy, Bính Tuất Đinh
Hợi ốc thượng thổ. Mậu Tý Kỷ Sửu phích lịch hỏa. Canh Dần Tân Mão tùng bách mộc, Nhâm
Thìn Quý Tị trường lưu thủy. Giáp Ngọ Ất Mùi sa trung kim, Bính Thân Đinh Dậu sơn hạ hỏa,
Mậu Tuất Kỷ Hợi bình địa mộc. Canh Tý Tân Sửu bích thượng thổ, Nhâm Dần Quý Mão kim bạc
kim. Giáp Thìn Ất Tị phúc đăng hỏa, Bính Ngọ Đinh Mùi thiên hà thủy. Mậu Thân Kỷ Dậu đại
trạch thổ, Canh Tuất Tân Hợi sai xuyến kim, Nhâm Tý Quý Sửu tang thác mộc. Giáp Dần Ất Mão
đại khê thủy, Bính Thìn Đinh Tị sa trung thổ, Mậu Ngọ Kỷ Mùi thiên thượng hỏa, Canh Thân Tân
Dậu thạch lưu mộc, Nhâm Tuất Quý Hợi đại hải thủy.
Tính toán lục thập nạp âm, có thể sử dụng một quyết đơn giản để xác định:
Giáp Ất cẩm giang đăng (Kim Thủy Hỏa). Bính Đinh một cốc điền (Thủy Hỏa Thổ).
Mậu Kỷ doanh đê liễu (Hỏa Thổ Mộc). Canh Tân quải trượng tiễn (Thổ Mộc Kim).
Nhâm Quý lâm chung mãn (Mộc Kim Thủy). Hoa giáp nạp âm toàn.
Tý Dần Thìn Ngọ Thân Tuất. Sửu Mão Tị Mùi Thân Hợi.
Ví dụ như tính toán nạp âm của Bính Thìn, theo y như quyết “Bính Đinh một cốc điền”: một cốc
điền với thiên bàng tức là Thủy Hỏa Thổ. Lấy Tý Sửu phối thủy, Dần Mão phối Hỏa, Thìn Tỵ
phối Thổ. Có được Bính Thìn với nạp âm Thổ.
13


Trung Châu Phái – Tử Vi Đẩu Số Sơ Cấp Giảng Nghĩa
Lại như tính toán nạp âm của Nhâm Thân, theo y như quyết “Nhâm Quý lâm chung mãn”: lâm
chung mãn với thiên bàng tức là Mộc Kim Thủy, lấy Ngọ Mùi phối Mộc, Thân Dậu phối Kim,
Tuất Hợi phối Thủy. Có được Nhâm Thân với nạp âm Kim.
8. Ngũ hành trường sinh.
Kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, ngũ hành năm loại nguyên tố tại 12 cung trong đó đều có quá trình sinh
trưởng, tráng vượng, suy yếu, kết thúc, cũng như mùa xuân thảo mộc manh nha, mùa hạ khai hoa,
mùa thu kết quả, mùa đông suy tàn nhưng quả thật là tiềm tàng, mùa xuân đến lại tái phát, ngũ
hành là sự biến hóa, thuật số liệt kê 12 giai đoạn được hình dung như sau:

Ngũ hành thập nhị cung, có các bất đồng là Sinh Vượng Suy Tuyệt, hiện tượng trên phân chia như
sau:
Trường Mộc Quan Lâm Đế
Suy
Sinh
Dục Đới
Quan Vượng

Bệnh Tử

Mộ

Tuyệt Thai Dưỡng

14


Trung Châu Phái – Tử Vi Đẩu Số Sơ Cấp Giảng Nghĩa
Mộc

Hợi



Sửu

Dần

Mão

Thìn Tỵ

Ngọ

Mùi

Thân

Dậu

Kim

Tỵ

Ngọ

Mùi

Thân

Dậu

Tuất Hợi



Sửu

Dần

Mão Thìn

Thủy Thân

Dậu

Tuất

Hợi



Sửu

Dần

Mão Thìn Tỵ

Ngọ

Mùi

Thổ

Thân

Dậu

Tuất

Hợi



Sửu

Dần

Mão Thìn Tỵ

Ngọ

Mùi

Hỏa

Dần

Mão Thìn

Tỵ

Ngọ

Mùi

Thân Dậu



Sửu

Tuất Hợi

Tuất

Như trên đã nói đúng là lấy dương nam âm nữ đi theo chiều thuận làm chuẩn, âm nam dương nữ đi
theo chiều nghịch sẽ nói rỏ trong phần phụ lục tiện kiểm biểu.
Ngũ hành trong 12 cung, lại vừa có Trường Sinh, Đế Vượng (hoặc Mộc Dục) thêm Mộ Khố ba cái
này là biến hóa chủ yếu của các giai đoạn, ba cái này lập thành một cục:
Địa chi

Dần, Thân, Tỵ, Hợi

Tý, Ngọ, Mão, Dậu

Thìn, Tuất, Sửu, Mùi

Tứ Trường Sinh

Tứ Đế Vượng (tứ Mộc Dục)

Tứ Mộ Khố

9. Mệnh bàn cơ bản.
Tính toán luận đoán Tử vi đẩu số, trước tiên phải chuẩn bị Mệnh bàn, kết cấu như hình 3: Mệnh
bàn có Tý Sửu Dần Mão … vị trí 12 cung luôn bất biến. Mệnh bàn đi theo chiều kim đồng hồ gọi
là chiều “Thuận”. Như Tý Sửu Dần … tới Hợi. Mệnh bàn đi theo chiều ngược kim đồng hồ gọi là
chiều “Nghịch”. Như Tý Hợi Tuất Dậu … tới Sửu. Hình 3 là Mệnh bàn cơ bản.
Tỵ

Ngọ

Mùi

Thân

Thìn

Họ tên: …, Năm: … Tháng: … Ngày: … Giờ:

Dậu

Mão

Âm dương: …, Mệnh: …, Cục: …,

Tuất

Dần

Sửu

Hợi



10. Tam phương Tứ chính.
Khi luận đoán Mệnh bàn, ngoại trừ tìm hiểu bản cung, cần tìm hiểu xem xét thêm “Tam phương
Tứ chính”, Tam phương gồm bản cung và ba cung tam hợp, từ ở bản cung cách ba cung bên trái
cách ba cung bên phải là đúng vị trí, Tứ chính là bản cung và đối cung được nói đến. Đối cung
cùng bản cung là lục trùng cung vị. Ví dụ như cung Tý là bản cung, Tam phương là Thân Thìn hai
cung, Tứ chính là Ngọ cung, khi xem xét các sao thì lấy cung Tý là chủ, xem thêm các sao ảnh
hưởng từ Thìn Ngọ Thân ba cung, quyết định cát hung (xem hình 4).
Tỵ

Ngọ (tứ chính, đối cung)

Thìn (tam phương, tam hợp)

Hình 4: tam phương tứ chính.

Mão

Mùi

Thân (tam phương, tam hợp)
Dậu
Tuất

15


Trung Châu Phái – Tử Vi Đẩu Số Sơ Cấp Giảng Nghĩa
Dần

Sửu



Hợi

bản cung)

11. Cách thức sắp xếp trình bày Mệnh bàn (Mệnh bàn bài bàn đích cách thức).
Thiên bàn để bài xuất tinh diệu, có cách thức nhất định. Đầu tiên là phương tiện phân phối tinh
diệu, tốt nhất là viết các chính diệu ở vị trí trung tâm. Phụ Tá Sát Hóa chư diệu bên phải chính
diệu, cũng là một cách thấp, tạp diệu lưu diệu ở bên trái phía dưới chính diệu, từ trái tới phải theo
thứ tự liệt kê (nhìn hình phụ họa sẽ thấy rõ). Phân bổ Mệnh bàn như cách trên, rất tiện lợi cho việc
quan sát Mệnh bàn.

Dần

Mão

Thìn

Tỵ

Ngọ

Mùi

Thân

Dậu

Tuất

Hợi



Sửu

Giáp, Kỷ

Bính

Đinh

Mậu

Kỷ

Canh

Tân

Nhâm

Quý

Giáp

Ất

Bính

Đinh

Ất, Canh

Mậu

Kỷ

Canh

Tân

Nhâm

Quý

Giáp

Ất

Bính

Đinh Mậu

Kỷ

Bính, Tân

Canh

Tân

Nhâm

Quý

Giáp

Ất

Bính

Đinh

Mậu

Kỷ

Canh

Tân

Đinh,
Nhâm

Nhâm

Quý

Giáp

Ất

Bính

Đinh Mậu

Kỷ

Canh

Tân

Nhâm

Quý

Mậu, Quý

Giáp

Ất

Bính

Đinh Mậu

Kỷ

Tân

Nhâm

Quý

Giáp

Ất

Canh

16


Trung Châu Phái – Tử Vi Đẩu Số Sơ Cấp Giảng Nghĩa

Ví dụ: người sinh năm Ất Mùi, Mệnh cung tại Mậu Dần. Tra “bản sinh niên can” Ất Canh lan, đối
chiếu “Mệnh cung địa chi” Dần Mão lan, tức là được thổ ngũ cục.

17


Trung Châu Phái – Tử Vi Đẩu Số Sơ Cấp Giảng Nghĩa

18


Trung Châu Phái – Tử Vi Đẩu Số Sơ Cấp Giảng Nghĩa

19


Trung Châu Phái – Tử Vi Đẩu Số Sơ Cấp Giảng Nghĩa

20


Trung Châu Phái – Tử Vi Đẩu Số Sơ Cấp Giảng Nghĩa

21


Trung Châu Phái – Tử Vi Đẩu Số Sơ Cấp Giảng Nghĩa

22


Trung Châu Phái – Tử Vi Đẩu Số Sơ Cấp Giảng Nghĩa

23


Trung Châu Phái – Tử Vi Đẩu Số Sơ Cấp Giảng Nghĩa

24


Trung Châu Phái – Tử Vi Đẩu Số Sơ Cấp Giảng Nghĩa

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×