Tải bản đầy đủ

NGUYÊN lý nạp âm

NGUYÊN LÝ NẠP ÂM
Lý Trần Lê
25/8/2012
I/ PHẦN MỞ ĐẦU
Nạp Âm là khái niệm vô cùng quan trọng của Dịch Học. Trong Thuyết Tam Tài
THIÊN – ĐỊA – NHÂN thì NHÂN chính là Ngũ Hành của Nạp Âm. Trong nhiều
môn thuật của Lý Số thì Ngũ Hành của Nạp Âm là cái HỒN, là TÂM LINH của
CON NGƯỜI. Quan trọng là vậy, thế nhưng đã qua hàng nghìn năm nay hầu
như ít ai thấu hiểu được Nguyên Lý của Phép Nạp Âm .
+ Thiệu Vĩ Hoa ( Nhà Dịch Học Danh Tiếng Trung Quốc hiện nay ), trong Sách
“ Dự đoán theo Tứ Trụ ” và Sách “ Chu Dịch với Dự Đoán Học ” đã viết :
“Trong Bảng 60 Giáp Tý, căn cứ nguyên tắc gì để nạp Âm Ngũ Hành? Người
xưa tuy có bàn đến nhưng không có căn cứ rõ ràng và cũng chưa bàn được
minh bạch, do đó vẫn là huyền bí khó hiểu. Bảng 60 Giáp Tý biến hóa vô
cùng, cho đến nay đối với giới Học Thuật của Trung Quốc vẫn còn là một bí
ẩn ’’ .
+ Học Giả THIÊN SỨ, trong bài “ BÍ ẨN 60 HOA GIÁP ” đăng trên Diễn Đàn
vietlyso.com, cho rằng Thẩm Quát đã sai khi lý giải về vấn đề Nạp Âm và
cuối cùng Ông kết luận :
“ Trải qua hàng ngàn năm, mặc dù hết sức cố gắng, những nhà nghiên cứu
cổ kim vẫn không thể nào tìm ra được nguyên lý nào làm nên sự lập thành

bảng nạp âm Lục Thập Hoa Giáp. … Còn bảng Lục Thập Hoa Giáp lưu truyền
qua cổ thư Chữ Hán thì ngay cả người Hán cũng chẳng biết nguyên lý nào
tạo ra nó và rối mù “.
+ Nhà Dịch Học Nguyễn Mạnh Linh trong Bộ HIỆP KỶ BIỆN PHƯƠNG THƯ của
Doãn Lộc do Ông chú giải, thì phần Nạp Âm này, Ông cũng chỉ viết y nguyên
như trong Sách HIỆP KỶ BIỆN PHƯƠNG THƯ ( HKBPT )của Mai Cốc Thành,
không có thêm lời chú giải nào.
+ Có khá nhiều tác giả đã gắng giải thích vấn đề Nạp Âm , nhưng cũng chỉ là


trích dẫn những điều vốn rất bí ẩn trong Bài Nạp Âm của Thẩm Quát mà
chẳng lý giải thêm được ý nào, thậm chí còn trích dẫn luôn cả những chỗ sai
trong bài đó.
(Trong Bài Nạp Âm của Thẩm Quát - in trong HKBPT, Bản dịch của Vũ HoàngLân Bình , tôi phát hiện có đến 7 chỗ sai sót, không hiểu do đâu - LTL ).
+ Bất cứ ai, hễ bước chân vào lĩnh vực Lý Số đều có chung một điều day dứt :
Nạp Âm thật quá mơ hồ và huyền bí, không sao hiểu được. Khi thổ lộ tâm
trạng bức xúc đó ra thì được các bậc đàn anh, các bậc Trí Giả khuyến cáo :
“Cứ chấp nhận như vậy đi, đừng mất thì giờ vô ích về chuyện Nạp Âm. Xưa
nay nó vẫn huyền bí, không ai giải thích nỗi ! ”
Như vậy là cho đến nay chưa có ai lý giải được Nguyên Lý của Phép Nạp Âm.
Thực ra, những điều gọi là huyền bí đó , đã được THẨM QUÁT ( 1031 –1095 )
giải thích trong bài Nạp Âm rồi.
* Bài NẠP ÂM của Thẩm Quát được in trong Bộ Sách HKBPT. Sách được biên
soạn dưới thời Vua Càn Long, cách nay trên 200 Năm.
*Thẩm Quát là Nhà Khoa Học kiệt xuất thời Bắc Tống (960 – 1279), nghĩa là
Nguyên lý Nạp Âm đã được Ông giải thích cách nay đã trên 1000 năm.
Nhưng tại sao không có ai hiểu ?
Phải chăng là vì Thẩm Quát nói sai , hay vì bài viết quá súc tích , có quá
nhiều điển tịch uyên thâm ?
Để khỏi mất thời gian tìm kiếm của Quý Vị và để thuận tiện cho việc trình
bày, tôi trích dẫn ra đây bài viết đó của Thẩm Quát. Bài này được dẫn ra từ
Sách HKBPT, Bản Dịch của Vũ Hoàng-Lân Bình, Nhà Xuất Bản VHTT, 2008.
Trang 105.
NẠP ÂM
“ Thẩm Quát nói rằng: Sáu mươi Giáp Tý có nạp âm, ý đó vốn mới mẻ hiếm
thấy. Đại để 60 luật lữ cùng nhằm làm cung pháp một luật hàm 5 âm, 12 luật
nạp 60 âm. Phàm khí bắt đầu ở phương Đông mà đi về bên phải, âm khởi từ
phương Tây mà đi về bên trái, âm dương đan xen nhau mà sinh biến hóa.
Chỗ gọi là khí bắt đầu ở phương Đông nầy là bốn mùa bắt đầu ở mộc, đi về



bên phải chuyển tới hỏa, hỏa chuyển tới thổ, thổ chuyển tới ở kim, kim
chuyển tới ở thủy. Chỗ bảo rằng âm bắt đầu ở phương Tây nầy là ngũ âm bắt
đầu ở kim, chuyển xoay về bên trái tới hỏa, hỏa chuyển tới mộc, mộc chuyển
tới thủy, thủy chuyển tới thổ (nạp âm với nạp Giáp của Dịch cùng một
phương pháp, Càn nạp Giáp mà Khôn nạp Quý, bắt đầu ở Càn mà chung hết
ở Khôn. Nạp âm bắt đầu ở kim – kim là Càn vậy, chung ở thổ – thổ là Khôn
vậy). Phép của nạp âm cùng loại với lấy vợ, cách tám sinh con ,như thể phép
tương sinh của luật lữ. Ngũ hành trước trọng sau mạnh, mạnh mà sau quý.
Tam nguyên của Độn Giáp đã ghi chép như thế vậy. Giáp tí là trọng của Kim
(Thương của Hoàng chung), lấy vợ cùng vị tức là Ất sửu (Thương của Đại Lữ
cùng ngôi vị). Đó là cặp của Giáp với Ất, Bính với Đinh. Ở dưới đều phỏng
theo thế (1). Cách tám sinh ra Nhâm thân ở dưới là mạnh của Kim (Thương
của Di tắc), cách tám đó là Đại lữ (2) sinh ra Di Tắc vậy. Ở dưới đều phỏng
theo thế. Nhâm thân lấy vợ cùng một ngôi vị là Quý dậu (Thương của Nam
lữ). Cách tám, Canh thìn sinh ở trên la quý của Kim (Thương của Cô tẩy), như
thế tam nguyên của kim hết . Nếu chỉ lấy thời dương mà nói thì dựa vào Độn
Giáp chuyển thuận: trọng-mạnh-quý. Nếu kiêm nói về vợ thì nghịch chuyển :
mạnh-trọng-quý. Canh Thìn lấy vợ Tân tỵ cùng ngôi vị (Thương của trọng lữ),
cách tám ở dưới sinh Mậu tí, trọng của hỏa (Chủy Kim của Hoàng chung) (3).
Tam nguyên hết thì đi về bên trái chuyển tới phương Nam, hỏa Mậu tí - Kỷ
sửu (Chủy của Đại lữ) sinh ra Bính thân, mạnh của hỏa (Chủy của Di Tắc)
Bính Thân lấy vợ Đinh dậu (Chủy của Nam lữ) sinh Giáp thìn, quý của hỏa
(Chủy của Cô tẩy) Giáp thìn lấy vợ Ất tỵ (Chủy của Trọng lữ) sinh Nhâm tí,
trọng của mộc (Giác của Hoàng chung). Tam nguyên hỏa hết thì đi về bên
trái chuyển tới ở phương Đông nam – mộc. Như đi về bên trái đến Đinh tỵ
là Cung của Trọng lữ ngũ âm hết lần một (4). Quay lại từ Giáp ngọ, trọng của
kim, lấy vợ Ất mùi, cách tám sinh Nhâm dần. Giống như phép của Giáp tí
thì hết ở Quý Hợi(5) (gọi là Nhuy tân lấy vợ Lâm chung, trên sinh ra loại của
Thái thốc) (6). Tí đến Tỵ là dương, vì vậy từ Hoàng chung đến Trọng lữ, đều
hạ sinh. Từ Ngọ đến Hợi là âm, vì vậy từ Lâm chung(7) đến Ứng chung đều
thượng sinh ” .


( Những chỗ gạch dưới và đánh số là những chỗ cần đính chính – LTL ) .
Như Quý Vị thấy đấy, rất khó mà đọc và hiểu được bài viết đó.
Đúng là bài quá súc tích, có quá nhiều điển tịch uyên thâm. Chẳng hạn như :
Luật Lữ , cách 8 sinh con , sinh trên, sinh dưới, Hoàng Chung, Đại Lữ, Thương
của Hoàng Chung , Đại Lữ sinh Di Tắc, Tam nguyên của Kim; sao lại TrọngMạnh-Quý mà không là Mạnh-Trọng-Quý ? …
Hơn nữa, bài in quá rối mắt; thiếu những dấu phân cách, xuống dòng , có
những chỗ sai làm cho ta càng thêm khó đọc.
Trước tiên tôi đính chính lại 7 điểm đã đánh dấu trong bài trên, sau đó chép
lại bài cho thông thoáng dễ nhìn, đồng thời đánh số vào những chỗ cần giải
thích để tiện theo dõi.
Đính chính
1/ Bỏ dòng ( 1 ) này đi , vì câu lủng củng, vả lại ý chính của nó đã có ở phía
dưới.
2/ ( 2 ) Cách tám sinh đó là Đại Lữ sinh ra Di Tắc. Câu này sai. Cần sửa lại
là Hoàng Chung sinh ra Di Tắc.
3/ ( 3 ) Bài viết là “Chủy Kim của Hoàng Chung ’’. Câu này vô nghĩa, cần sửa
lại : Bỏ chữ Kim đi. Câu đúng là Hoàng Chung của Chủy .
4/ ( 4 ) : Bài viết là “ … Cung của Trọng Lữ ngũ âm hết lần một “.
Sửa lại : thêm dấu châm câu vào giữa hai chữ “ Lữ và ngũ “. Câu đúng là “ …
Cung của Trọng Lữ . Ngũ Âm hết lần một “.
5/ ( 5 ) : Bài viết là “ … thì hết ở Quý hợi “. Câu này sai. Cần sửa lại là “ … thì
hết ở Đinh Hợi “.
6/ Câu ( 6 ) đặt không đúng chỗ, cần đặt nó vào sau câu “ cách tám sinh
Nhâm Dần “ ở phía trên.
7/ ( 7 ) : Bài viết là “ từ Lâm Chung đến Ứng Chung “. Cần sửa lại là “ từ Nhuy
Tân đến Ứng Chung “.
Chép lại Bài Nạp Âm của Thẩm Quát:


Thẩm Quát nói rằng:
Sáu mươi Giáp Tý có nạp âm, ý đó vốn mới mẻ hiếm thấy.
Đại để 60 luật lữ(1) cùng nhằm làm cung pháp một luật hàm 5 âm, 12 luật,
nạp 60 âm.
Phàm Khí bắt đầu ở phương Đông mà đi về bên phải,
Âm khởi từ phương Tây mà đi về bên trái.
Âm Dương đan xen nhau mà sinh biến hóa.(2)
+ Chỗ gọi là khí bắt đầu ở phương Đông nầy là
bốn mùa bắt đầu Mộc,
đi về bênphải chuyển tới Hỏa,
Hỏa chuyển tới Thổ,
Thổ chuyển tới ở Kim,
Kim chuyển tới ở Thủy.(3)
+ Chỗ bảo rằng Âmbắt đầuởPhương Tâynầy là
Ngũ Âmbắt đầu ở kim,
chuyển xoay về bên trái tới Hỏa,
Hỏa chuyển tới Mộc,
Mộc chuyển tới Thủy.
Thủy chuyển tới thổ .(4)
( Nạp Âm với nạp Giáp của Dịch cùng một phương pháp : Càn nạp Giáp mà
Khôn nạp Quý, bắt đầu ở Càn mà chung hết ở Khôn. Nạp Âm bắt đầu ở Kim –
Kim là Càn vậy, chung ở Thổ – Thổ là Khôn vậy).(5)
Phép của Nạp Âm cùng loại với Luật Thú Thê :cách tám sinh con,như thể
phép tương sinh của Luật Lữ.(6)
Ngũ hành trước Trọng sau Mạnh, Mạnh rồi sau Quý( Tam nguyên của Độn
Giáp đã ghi chép như thế vậy ).(7)
ngôi
Bắt đầu từ Giáp Tý
1/Giáp Tý là Trọng của Kim (Hoàng Chungcủa Thương ), lấy vợ cùng vị tức là
Ất Sửu ( Ất Sửu là Đại LữcủaThương, cùng ngôi vị). (8) .


Cách 8 sinh ra Nhâm Thân ở dưới.Nhâm Thân là Mạnh của Kim ( Di Tắc
của Thương ) (9).
Cách tám đó là Hoàng Chung sinh ra Di Tắc vậy (10)
Ở dưới đều phỏng theo thế.
2/Nhâm Thânlấy vợ cùng một ngôi vị,đó là Quý Dậu (Nam lữ của
Thương) (11).Cách tám, sinh trên ra Canh Thìn là Quý của Kim (Cô Tẩy của
Thương). Như thế Tam Nguyên của Kim hết(12).
Nếu chỉ lấy thời Dương mà nói thì dựa vào Độn Giáp chuyển thuận: Trọng Mạnh - Quý (13). Nếu kiêm nói về vợ thì nghịch chuyển : Mạnh-Trọng-Quý.
3/Canh Thìn lấy vợ Tân Tỵ cùng ngôi vị - Trọng Lữ của Thương, cách tám ở
dướisinh Mậu Tý - Trọng của Hỏa (Hoàng Chung của Chủy) (14).
Tam nguyên hết thì đi về bên trái chuyển tới phương Nam, Hỏa (15).
4/Mậu Tý lấy vợ là Kỷ Sửu (Đại lữ của Chủy), sinh ra Bính Thân, Mạnh của
Hỏa (DiTắc của Chủy).
5/ Bính Thân lấy vợ là Đinh Dậu (Nam lữ của Chủy), sinh Giáp Thìn,Quý của
Hỏa (Cô tẩy củaChủy). 6/ Giáp Thìn lấy vợ Ất Tỵ (Trọng Lữ của
Chủy), sinh Nhâm Tý --Trọng của Mộc (Hoàng chung của Giốc). ( 16a ) Tam
nguyên Hỏa hết thì đi về bên trái chuyển tới ở phương Đông- Nam –
Mộc (16b) .
Tiếp tục như vậy, đi về bên trái, ta sẽ đến Đinh Tỵ là Trọng lữ của Cung .
Ngũ âm hết lần một (17).
Quay lại từ Giáp Ngọ
Giáp Ngọ,Trọng của kim, Giáp Ngọ lấy vợ Ất Mùi, cách tám sinh Nhâm Dần
( Gọi là, Nhuy Tân lấy vợ Lâm Chung, Thượng Sinh ra Thái Thốc) (18).
Tiếp tục, giống như đã làm với Giáp Tý , vòng này sẽ kết thúc tạiĐinh
Hợi(19).
TừTí đến Tỵ là Dương, vì vậy từ Hoàng Chung đến Trọng Lữ, đều hạ sinh.(20a
) Từ Ngọ đến Hợi là Âm, vì vậy từ NHUY TÂN đến Ứng Chung đềuthượng
sinh(20b).
&&&&&&&&&&&&&&&&&


Tôi đã rất kiên nhẫn đọc bài Nạp Âm đó, đã hiểu được đôi điều và thấy rằng
Thẩm Quát nói đúng.
Xin tải lên đây một số kết quả bước đầu mà tôi đã thu hoạch được để chia sẻ
với Quý Vị, Quý Bạn . Chắc chắn bài viết còn có nhiều chỗ sai sót nhầm lẫn .
Hy vọng sẽ được Quý Vị, Quý Bạn phân tích góp ý, sửa chữa , bổ sung nhằm
làm sáng tỏ, thật sáng tỏ những điều bí ẩn đã quá “ thâm căn cố đế ” này.
Xin chân thành và cảm ơn trước Quý Vị và Quý Bạn.
PHẦN II : KHƠI THÔNG NHỮNG ĐIỀU KHÓ HIỂU TRONG BÀI NẠP ÂM
A/ Trước hết xin thống nhất lại một số thuật ngữ sau.
Khi nói về Nạp Âm, ta thường gặp những câu nói như sau :
1/ Nhiều người thường nói “ Ngũ hành nạp âm” hoặc “ Nạp âm Ngũ hành”.
Nói như thế là không đúng, vì mỗi Hành tự nó đã có Âm rồi - Âm là Bản tính
của Ngũ Hành. Cũng không cần nạp thêm Âm cho Ngũ Hành vì mỗi Hành chỉ
mang một Âm thôi.
Ngũ Âm của Ngũ Hành
Ngũ hành.....Thổ.........Kim...........Mộc...............Hỏa........Thủy
Ngũ Âm........Cung......Thương.....Giốc(giác)....Chủy.......Vũ

Vậy, có lẽ ta nên nói : “Cái ” được sinh ra sau khi đã Nạp Âm cho mỗi cặp
Can Chi là Ngũ Hành của Nạp Âm.
2/ Rất nhiều người hỏi : a/ Tại sao trong Phép Nạp Âm lại có chuyện ngược
đời : Kim sinh Hỏa, Hỏa sinh Mộc , b/ Tại sao Giáp (Mộc) hợp với Tý (Thủy) lại
thành Hải Trung Kim ?
Ý kiến về hai câu hỏi đó như sau : a/ Luật của Phép Nạp Âm không tuân theo
quy luật tương sinh của Ngũ hành, do đó không thể nói “ Kim sinh Hỏa, Hỏa


sinh Mộc, … “ mà nói ” Tam nguyên của Kim hết thì chuyển xoay về bên trái
tới Hỏa , Hỏa hết thì chuyển tới Mộc, … – Cũng giống như ta vẫn thường nói “
hết Xuân thì sang Hạ” vậy. b/ Trong Phép Nạp Âm, không phải là CAN hợp Chi
thành Ngũ Hành, mà là : Can Chi được nạp Âm hóa Ngũ Hành.
Vậy, để làm bật lên bản chất của vấn đề Nạp Âm, ta cần hỏi :
+ Sao lại phải Nạp Âm ?
+ Mỗi cặp Can Chi được nạp âm gì và được “cái ” gì ?
Những câu hỏi này mở ra một ý tưởng mới : Đã có các quy tắc cho Can hợp
Can ( Ngũ hợp), Chi hợp Chi (Lục hợp, Tam hợp ), sao lại không có quy tắc
cho Can hợp Chi ?
Vấn đề đặt ra như vậy là có lý. Vì ta luôn luôn gặp những cặp Can Chi luôn
sánh vai với nhau, gắn bó khăng khít với nhau, chẳng hạn như : Giáp-Tý , ẤtSửu, … Chắc hẳn giữa chúng phải có một mối quan hệ khách quan nào đó, và
ta nghĩ ngay đến khả năng hợp hóa của chúng. Nhưng vì Can và Chi thuộc
hai Không Gian khác nhau, Can thuộc Trời (Thiên Can), Chi thuộc Đất ( Địa
Chi ), muốn đến với nhau chúng cần phải có “Tác Nhân”.
Thẩm Quát là người rất tinh tường về Âm Luật, Âm Nhạc và Dịch Học, có lẽ
trên nền tảng kiến thức uyên bác đó, Ông phát hiện ra rằng, “Tác Nhân” đó
phải là những Âm thanh xác định - Nhạc Âm. Từ đó, Ông giải thích Nguyên Lý
của Phép Nạp Âm.
Để hiểu được bài Nạp Âm của Thẩm Quát, trước hết cần khơi thông những
khái niệm khó hiểu trong bài đó.

B) LÝ GIẢI NHỮNG KHÁI NIỆM KHÓ HIỂU TRONG BÀI NẠP ÂM
Đây là phần quan trọng nhất của bài viết này. Để Quý Vị dễ theo dõi, tôi sẽ
trình bày như sau : Giải thích từng Khái Niệm rồi chỉ ra vị trí của Khái Niệm
đó trong bài Nạp Âm của Thẩm Quát. Các Khái Niệm đó ở trong bài đã được
đánh số thứ tự.
Chú giải những điều khó hiểu.


1/ Âm và Luật Lữ (1) ( (1) là chỗ đánh dấu trong bài Nạp Âm của Thẩm Quát).
a / Âm :
Âm nói ở đây không phải là Khí Âm (như có người đã nhầm tưởng) mà là Âm
Thanh, nhưng không phải là âm tùy ý mà là những Âm có cao độ xác
định – Nhạc Âm ( Những Âm được dùng trong Âm Nhạc ). Chẳng hạn như,
ngày nay ta biết : Âm Đô có độ cao chuẩn là 523,25hz/s, Âm Rê là 587,33
hz/s , … Âm mà Thẩm Quát nói đến là Ngũ Âm và những Âm được sinh ra từ
Luật Lữ.
Ngũ Âm là : Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ. Đối chiếu với Âm Nhạc Tây
Phương thì các Âm đó lần lượt tương ứng
với : Fa(F), Sol (G), La (A), Đô ©, Rê ( D ).
Bảng 2

Bảng 2.JPG [ 27.6 KiB]

b/ Luật Lữ ( còn gọi là Luật Lã )
Khi Thiên Hạ đã thái bình thịnh trị,Hoàng Đế ( Thế kỷ 26 trước CN ) lệnh cho
Nhạc Sư LINH LUÂN xây dựng Âm Luật để sáng tác được nhiều Nhạc Phẩm
,chế tạo Nhạc Khí để diễn tả cảnh Thái Hòa của Đất Nước trước Muôn Dân.
Linh Luân nhận thấy rằng, chỉ có Ngũ Âm thôi thì Âm Nhạc quá đơn điệu,
nghèo nàn và nếu độ cao của các Âm không theo một chuẩn mực xác định
thì không thể đồng ca, hòa tấu với nhau được. Do đó, việc đầu tiên là phải
tạo ra được các Âm Mẫu. Để tạo ra những Âm mẫu, ngày nay ta có Diapason
và các thiết bị điện tử đo tần số dao động của Âm, còn ở thời kỳ cổ xưa đó,


Linh Luân dùng các ống trúc có kích thước xác định ( về độ to nhỏ, dài ngắn )
để tạo ra những Âm Mẫu. Khi thổi vào những ống trúc đó, chúng sẽ phát ra
những âm cao thấp trầm bổng khác nhau ( Giống như sợi dây đàn, dây càng
lớn và dài thì âm càng trầm, dây càng ngắn và nhỏ thì âm càng cao ). Lưu
Linh chọn ra 12 Âm từ 12 ống trúc đã được xác định kích thước để làm Âm
mẫu, rồi sắp xếp chúng thành hai loại theo tiêu chí Âm Dương : 6 Âm có tính
Dương gọi là Dương Luậtvà 6 Âm có thuộc tính Âm gọi là Âm Lữ. Dương Luật
và Âm Lữ gọi chung là Luật Lữ (Luật Lã) .
12 Âm của Luật Lữ lại được cho tương ứng với 12 Địa Chi.
a / 6 Âm thuộc Dương Luật là :
1/ Hoàng Chung : Ứng Chi Tý - Tháng 11.
2/ Thái Thốc : Ứng với Chi Dần - Tháng Giêng.
3 / Cô Tẩy : Ứng với Chi Thìn - Tháng Ba.
4/ Nhuy Tân : Ứng với Chi Ngọ - Tháng Năm.
5/ Di Tắc : Ứng với Chi Thân - Tháng Bảy.
6/ Vô Dịch ( Vô Xạ ) : Ứng với Chi Tuất - Tháng Chín.
b/ 6 Âm thuộc Âm Lữ là :
1/ Lâm Chung : Ứng với chi Mùi - Tháng Sáu 6 .
2/ Nam Lữ : Ứng với Chi Dậu - Tháng Tám.
3/ Ứng Chung : Ứng với Chi Hợi - Tháng Mười.
4/ Đại Lữ : Ứng với Chi Sửu - Tháng Chạp.
5/ Giáp Chung : Ứng với Chi Mão - Tháng Hai.
6/ Trọng Lữ : Ứng với Chi Tỵ - Tháng Tư.
Như vậy, Dương Luật ứng với các Chi Dương, Âm Lữ tương ứng với các Chi
Âm.
c/ Độ cao của Âm
Độ cao của Âm được Linh Luân căn cứ theo Âm phát ra từ những ống trúc đã
được xác định về độ lớn nhỏ, dài ngắn . Ở đây chỉ giới thiệu độ dài ngắn của


ống trúc :
Hoàng Chung : Ống trúc dài 9 thốn,
Đại Lữ : Ống trúc dài 8 thốn 3 phân
Thái Thốc : -- 8 thốn
Giáp Chung : -- 7 thốn 4 phân
Cô Tẩy : -- 7 thốn 1 phân
Trọng Lữ : -- 6 thốn 5 phân
Nhuy tân : -- 6 thốn 2 phân
Lâm Chung : -- 6 thốn
Di Tắc : -- 5thốn 5 phân
Nam Lữ : -- 5 thốn 3 phân
Vô Dịch ( Vô Xạ ) : -- 4 thốn 8 phân
Ứng Chung : -- 4 thốn 6 phân.
Chú ý : Độ cao của các Âm nói trên thuộc Âm Giai Cung – Âm Cung là Âm
Chủ.
Xếp xen kẽ 12 Âm của Hệ Luật Lữ, ta được một Hệ Thống 12 Âm có CAO ĐỘ
tuần tự từ thấp đến cao như sau :
Hoàng Chung - Đại Lữ - Thái Thốc - Giáp Chung - Cô Tẩy - Trọng Lữ - Nhuy
Tân - Lâm Chung - Di Tắc - Nam Lữ - Vô Dịch ( Vô Xạ ) - Ứng Chung.
Nếu sắp xếp 12 Âm đó trên một vòng tròn thì ta dễ thấy các Âm đó được xếp
tuần hoàn theo chu kỳ 12 Âm.
Hình 1


Hình 1.JPG [ 58.08 KiB]

Độ cao của Âm tăng dần khi di chuyển theo chiều thuận (chiều quay của Kim
Đồng Hồ).Nếu bắt đầu từ Hoàng Chung thì dãy Âm tăng dần sẽ là : Hoàng
Chung, Đại lữ, …., Nhuy Tân, Lâm Chung, … , Vô Dịch, Ứng Chung. Hết một
vòng , tiếp tục vòng thứ hai, Hoàng Chung, Đại Lữ, … nhưng độ cao của
những Âm này tăng lên 1 Quãng 8 ( Octave ). Nếu theo chiều ngược thì độ
cao của Âm giảm dần. Khi hết một vòng, nếu tiếp tục theo hướng đó thì độ
cao của Âm sẽ giảm đi một quãng 8. Hệ thống Âm nói trên được xem như
một Âm Giai Chromatique trong Âm Nhạc Tây Phương ( Gamme
Chromatique ). Mỗi âm giai có thể lấy bất cứ âm nào của Ngũ Âm làm Âm
Chủ ( Âm đứng ở bậc I - Hoàng Chung ).
* Trên một dây đàn, ta có thể lựa phím để có được 12 Âm như thế và ta cũng
có thể có được những Âm như thế nhưng cao hơn hoặc thấp hơn một vài
quãng 8 ( Octave ).
Bậc của các Âm trong Âm Giai.


Để tìm cái chung nhất cho các Âm Giai, người ta đặt tên cho các Âm của Âm
Giai theo BẬC thứ tự từ thấp lên cao, bắt đầu từ Âm Chủ ( Chủ Âm ) , Âm Chủ
chính là Hoàng Chung : Bậc I .
Vậy ta có : Bậc I : Hoàng Chung , Bậc II : Đại Lữ , Bậc III : Thái Thốc , Bậc IV :
Giáp Chung , …
Âm Chủ có thể thay đổi, kéo theo các Âm của Âm Giai thay đổi độ
cao. Nhưng khoảng cách về cao độ giữa các Bậc thì không thay đổi. Ví như
khi ta hát một bài hát , ta có thể hát cao lên hoặc thấp xuống để phù hợp với
tầm cỡ giọng của mình, như vậy gọi là thay đổi Âm Giai ( Giọng, Điệu thức ),
thay đổi Chủ Âm.
Ví dụ :
Bảng 3

Bảng 3.JPG [ 54.41 KiB]

Ta cũng cần biết rằng, Âm Nhạc đã ra đời ít nhất là 10 nghìn năm trước, cho
nên việc Lưu Linh đặt ra Luật Lữ vào Thời Hoàng Đế là hoàn toàn có thể tin
được.
* Nhà Triết Học và Toán Học Cổ Đại Hy Lạp Pythagore ( khoảng 580 – 500,
trước CN ) đã có công chia Âm Giai thành các Quãng 8 và chia mỗi Quãng 8


thành 12 bậc.
Tạo ra 60 Âm :
Bảng 4

Bảng 4.JPG [ 56.13 KiB]

Số lượng Âm :
Ứng với mỗi Âm cơ bản của Ngũ Âm ( Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ ), nhờ
Luật Lữ, ta có được 12 Âm khác nhau, từ đó số lượng Âm được tạo thành là :
12 x 5 = 60 ( Âm – Note ). (1)
Cách gọi tên Âm : (8), (9)
Gọi tên Bậc trước rồi gọi tên Âm Cơ Bản. Còn Thẩm Quát thì gọi Âm Cơ Bản
trước bậc sau . Tôi cho là, cách gọi của Thẩm Quát không đúng.
Ví dụ :
+ Âm ở ô 15 : Âm này có Bậc III là Thái Thốc. Âm Cơ Bản là Giốc. Vậy, tên
của Âm này là Thái Thốc của Giốc ( Thẩm Quát gọi Âm này là Giốc của Thái
Thốc).
+Âm ở ô số 12 là Ứng Chung của Thương + Âm ở ô 25 là Hoàng Chung của
Chủy. (14) + Âm ở ô 42 là Trọng Lữ của Vũ. + Âm ở ô 58 là Nam Lữ của


Cung , …
@@@@@@@@@@@

2/ Khí và Âm (2)
Thẩm Quát nói : Phàm Khí bắt đầu ở Phương Đông mà đi về bên
phải, Âm khởi từ Phương Tây mà đi về bên trái (2) .
Chỗ gọi là khí bắt đầu ở Phương Đông này là bốn mùa bắt đầu từ Mùa Xuân.
Phương Đông là nơi Minh Thứ Phong đóng , với Thời Lệnh là Tháng 2. Thời đó,
vạn vật xuất ra hết tận. Tháng hai là Trọng Xuân, Âm Dương hội ở Giáng
Lâu,là thời Đẩu kiến Mão. Mão là sự tốt tươi, vạn vật phong phú, tốt đẹp.
Trong 10 Can, nó là Giáp, Ất. Giáp là vỏ bọc, ý nói, vạn vật đã xé được cái vỏ
bọc mà xuất ra. Ất là chen lấn, lấn át, ý nói vạn vật chen lấn nhau mà sinh
ra. Tháng 2 có Tịch Quái là Quẻ Lôi Thiên Đại Tráng . Đại Tráng là Mạnh, là
tươi thơm . Đại Tráng có Ngoại Quái là Chấn, Nội Quái là Càn. Tháng 2 là
Tháng của Tứ Dương. Tóm Tóm lại, ở Phương Đông khí Dương bắt đầu “ Đại
Tráng ” và theo Bát Quái thì Phương Đông là nơi có Quẻ Chấn đóng ( và ngay
trong Quẻ Đại Tráng cũng có Quẻ Chấn ) . Sấm động làm cho Khí Dương bốc
lên rồi đi về bên phải .
Âmbắt đầu ở Phương Tây – Cung Dậu, nơi có Quẻ Đoài. Đoài là Kim, là Kim
loại, là Nhạc Khí. Âm này là Ngũ Âm chứ không phải là khí Âm .
Có một số Tác giả đã sửa lại bài của Thẩm Quát như sau : “ Phàm Dương “
Khí ” bắt đầu ở Phương Đông mà đi về bên phải, Âm “Khí ” khởi từ phương
Tây mà đi về bên trái ….”.
Dương Khí thì đúng rồi. Còn “Âm” mà Thẩm Quát nói ở đây chắc hẳn không
phải là Âm “Khí “. Vì nếu là Âm “ Khí “, thì còn cái gì gọi là “ Âm ” ở đây nữa
để mà Nạp Âm ?


Âm bắt đầu ở KIM, vì Kim có thể thu nhận tiếng mà truyền bá khí
ra rồi chuyển xoay về bên trái tới Hỏa ,rồi từ Hỏa chuyển tới Mộc, Mộc tới
Thủy, rồi Thủy chuyển tới Thổ - Hướng di chuyển của Âm không trùng với
hướng tương sinh của Ngũ Hành. Mặt khác, Thổ ở Trung Cung có Âm là Cung
– Quân ( Vua ) . Âm Cung điều xướng Tứ Phương, làm Chủ Ngũ Âm. Còn Kim
có Âm là Thương - Thần, có trách nhiệm thực thi lệnh Vua, làm cho mọi sự trở
nên hiển dương tốt đẹp. Âm khởi từ Kim là vậy.
Vậy, Dương Khí ở Phương Đông bốc lên mà đi về bên phải, Âm ( Ngũ Âm )
khởi từ Phương Tây, xuất phát từ Kim mà đi về bên trái. Khí và Âm hòa quyện
vào nhau, đan xen nhau mà sinh biến hóa.
Hình 2

Hình 2.Khí và Âm.JPG [ 32.88 KiB]

3/Cùng Ngôi Vị : (8)
a/ Hai Âm liền nhau theo thứ tự Dương trước Âm sau , tức là Âm đầu là Luật,
Âm sau là Lữ, gọi là hai Âm cùng Ngôi Vị.
Ví dụ : Các cặp Âm : Hoàng Chung – Đại Lữ ; Thái Thốc – Giáp Chung ; Cô


Tẩy – Trọng Lữ , … là cùng Ngôi Vị.
Do đó ta chỉ cần xác định Âm cho thởi Dương, tức là tìm những Âm thuôc
Dương Luật. Còn Âm Lữ thì suy ra từ quan hệ cùng ngôi vị ( chế độ “ ăn theo
” ) . Hai Âm cùng ngôi vị là một Luật một Lữ liền Bậc với nhau, Luật trước, Lữ
sau. ( Xem Hình 1 ).(13).
b/ Lấy vợ cùng ngôi (8) , (11)
Mỗi Âm lại ứng với một cặp Can-Chi. Do đó, cứ hai cặp Can Chi Dương Âm
liền nhau là cùng Ngôi Vị. Ví dụ : Giáp Tý - Ất Sửu , Bính Dần- Đinh Mão , Mậu
Thìn – Kỷ Tỵ , …
Thẩm Quát nói : Giáp Tý lấy vợ cùng ngôi vị là Ất Sửu. Nhâm Thìn lấy vợ cùng
ngôi vị là Quý Dậu,… Về Can Chi, ta cũng chỉ cần quan tâm đến cặp Can Chi
Dương, còn cặp Can chi Âm cùng Ngôi vị thì được hiểu theo “ chế độ ăn theo
”.

4/Tam Nguyên :
Tam Nguyên gồm có : Thượng Nguyên – Trung Nguyên – Hạ Nguyên. Thuật
ngữ Tam Nguyên được dùng để chỉ những đối tượng được chia thành ba thời
kỳ có thứ tự trước sau và tuần hoàn theo chu kỳ đó.
Khái niệm Tam Nguyên được ứng dụng nhiều trong các Bộ Môn Lý số, đặc
biệt là trong Độn Giáp, Phong Thủy.
Ví dụ :
+ Về thời gian, thì Tam nguyên là :
- Nếu tính theo năm thì một Tam nguyên gồm 180 Năm, mỗi Nguyên dài 60
Năm ( Một Lục Thập Hoa Giáp ). Hiện nay chúng ta đang ở Tam Nguyên thứ
28 và Vận 8 của Hạ Nguyên (Năm 2004 – Năm 2023).
- Kỳ môn Nguyệt Gia lại lấy 60 Tháng ( 5 Năm ) tính là một Nguyên, như vậy
một Tam Nguyên gồm 15 Năm.Tam nguyên lại chia ra Thượng Nguyên , Trung
Nguyên , Hạ Nguyên.


+ Trong Độn Giáp, mỗi Tiết Khí ( 15 ngày ) được chia thành 3 giai đoạn và
được gọi là Thượng Nguyên - Trung Nguyên – Hạ Nguyên.
+ Trong Phong Thủy : -Phương vị của Phi Tinh Thái Tuế được xác định theo
Tam Nguyên.
-Mỗi Quẻ Bát Quái gồm 3 Sơn và được gọi là Tam Nguyên Đại Quái Long.
( Trong hệ thống thi cử Nho Học của ta có Học Vị Tam Nguyên. Đó là Tên Hiệu
người đỗ đầu cả ba kỳ Thi Hương, Thi Hội, Thi Đình. Ví dụ Tam Nguyên Yên
Đỗ - Nguyễn Khuyến ).
5/ Trọng - Mạnh - Quý :
a/ Mạnh – Trọng – Quý
Mạnh : là lớn, là thứ nhất.
Trọng : là thứ hai, là ở giữa.
Quý : là thứ ba, là út, chót, cuối cùng.
Ví dụ :
+ Tên các Tháng trong mỗi Mùa :
Mùa Xuân : Tháng Giêng ( Dần ) là Mạnh Xuân, Tháng Hai ( Mão) là Trọng
Xuân, Tháng Ba ( Thìn ) là Hạ Xuân.
Mùa Hạ : Mạnh Hạ là Tháng Tư ( Tỵ ), Trọng Hạ là Tháng Năm ( Ngọ ) và Quý
Hạ là Tháng 6 ( Mùi ).
Mùa Thu : Mạnh Thu : Tháng 7 ( Thân ), Trọng Thu : Tháng 8 ( Dậu ), Quý Thu
: Tháng 9 ( Tuất ).
Mùa Đông : Mạnh Đông : Tháng 10 ( Hợi ), Trọng Đông : Tháng 11 ( Tý ), Quý
Đông : Tháng 12 ( Sửu ).
+ Các Địa Chi được sắp xếp theo Mạnh-Trọng-Quý :
Tứ Mạnh : Dần , Thân , Tỵ , Hợi( Đây là Nhóm Tứ Sinh )
Tứ Trọng : Tý , Ngọ , Mão , Dậu ( Đây là Nhóm Tứ Vượng )
Tứ Quý : Thìn , Tuất , Sửu , Mùi ( Đây là Nhóm Tứ Mộ )
b/ Trọng – Mạnh – Quý.
Độn Giáp quy định, những cặp Can Chi mà Địa Chi là :


+ Tý, Ngọ, Mão, Dậu thì thuộc Thượng Nguyên .
+ Dần , Thân , Tỵ , Hợi thuộc Trung Nguyên.
+ Thìn , Tuất , Sửu , Mùi thuộc Hạ nguyên.
Trong Phép Nạp Âm, ta chỉ quan tâm đến thời Dương : Tý, Ngọ, Dần, Thân,
Thìn Tuất.
Trong Tam Nguyên đòi hỏi có sự tuần hoàn theo chu kỳ, còn trong MạnhTrọng-Quý không đòi hỏi điều đó, bộ ba Mạnh-Trọng-Quý có thể chỉ xuất hiện
một lần.
c/ Ứng dụng của Tam Nguyên và Trọng-Mạnh-Quý vào Phép Nạp Âm
@ Thượng Nguyên :
a) Cặp Can Chi Giáp Tý thuộc Thượng Nguyên vì Tý thuộc Thượng Nguyên. Ta
đã biết Giáp Tý có Ngũ Hành Nạp Âm là Kim mà Tý lại thuộc Tứ Trọng, do
đó, Kim của Giáp Tý được gọi là Trọng của Kim. Lại vì Âm của Kim
là Thương mà Âm này lại thuộc Trọng Kim (Tý) nên được gọi là Hoàng Chung
của Thương ( Xem giải thích ở phần Âm và Luật Lữ ) (8).
Tiếp theo cặp Giáp- Tý, các cặp Can Chi thuộc Thượng Nguyên lần lượt là :
Mậu-Tý, Nhâm-Tý , Bính-Tý , Canh-Tý.
b ) Cặp Can Chi Giáp-Ngọ thuộc Thượng Nguyên ( vì Chi Ngọ thuộc Thượng
Nguyên).
Giáp-Ngọ có Ngũ Hành Nạp Âm là Kim. Mà Ngọ thuộc Tứ Trọng , nên Kim này
là Trọng Kim. Âm này được sinh ra ở Ngọ, nên gọi là Nhuy Tân của
Thương( Xem Hình 1 ).
Tiếp theo cặp Giáp-Ngọ, các cặp Can Chi thuộc Thượng Nguyên lần lượt là :
Mậu-Ngọ , Nhâm- Ngọ , Bính-Ngọ , Canh-Ngọ.
Có 10 cặp Can Chi thuộc Thượng Nguyên, chia thành 2 vòng. Vòng 1 xuất
phát từ Giáp-Tý , vòng 2 bắt đầu từ Giáp-Ngọ.
@ Trung Nguyên :
a/ Nếu Thượng Nguyên là Týthì các cặp Can Chi có Chi là Thân thì thuộc Trung


Nguyên : Nhâm-Thân , Bính-Thân , Canh-Thân , Giáp Thân , Mậu Thân.
Lúc này, Hành là Mạnh và Âm là Di Tắc.
b/ Nếu Thượng Nguyên là Ngọ thì các Cặp Can Chi có Chi là Dần thì thuộc
Trung Nguyên : Nhâm-Dần , Bính-Dần , Canh-Dần , Giáp-Dần , Mậu-Dần.
Lúc này, Hành là Mạnh và Âm là Thái Thốc.
@ Hạ Nguyên :
a/ Nếu Thượng Nguyên là Týthì các cặp Can Chi có Chi là Thìn thì thuộc Hạ
Nguyên : Canh-Thìn , Giáp-Thìn , Mậu-Thìn , Nhâm-Thìn , Bính-Thìn.
Lúc này, Hành là Quý và Âm là Cô Tẩy.
b/ Nếu Thượng Nguyên là Ngọ thì các cặp Can Chi có Chi là Tuất thì thuộc Hạ
Nguyên : Canh-Tuất , Giáp-Tuất , Mậu-Tuất , Nhâm-Tuất , Bính-Tuất.
Lúc này, Hành là Quý và Âm là Vô Dịch.

c/ Trong phép Nạp Âm, mỗi Hành gồm có hai Tam Nguyên :
+ Tý – Thân – Thìn
+ Ngọ - Dần - Tuất

6/ Quá trình phát sinh và phát triển của Khí Dương, Khí Âm :
Từ Tý đến Tỵ : Khí Dương tăng, khí Âm giảm . Từ Ngọ đến Hợi : Khí Dương
giảm, khí Âm tăng. (20)
Hình 3: 12 Tịch Quái


Hình 3. 12 Tịch Quái.JPG [ 58.77 KiB]

Tháng 10 – Tháng Hợi , có Tịch Quái là Quẻ Khôn – 6 Hào đều Âm , là Mạnh
Đông, Khí toàn Âm.
a/ Sang Tháng Tý là Tháng 11 , Tịch Quái là Địa Lôi Phục : Hào 1 Dương, 5
Hào trên Âm - Khí Dương bắt đầu sinh, Khí Âm bắt đầu suy.
- Tháng Chạp ( Sửu ) : Tịch Quái là Địa Trạch Lâm : Hai Hào dưới Dương, 4
Hào trên Âm – Khí Dương tăng dần, Khí Âm giảm dần.
- Tháng Giêng ( Dần ) : Tịch Quái là Địa Thiên Thái. Ngoại Quái là Quẻ Khôn,
Nội Quái là Quẻ Càn – Khí Dương tăng lên một bậc nữa, đồng thời Khí Âm
giảm tiếp một bậc.
- Tháng Hai ( Mão ) : Tịch Quái là Lôi Thiên Đại Tráng : 4 Hào Dương ở dưới, 2
Hào Âm ở trên – Khí dương tiếp tục tăng cao và Khí Âm đã giảm mạnh.
- Tháng Ba ( Thìn ) : Tịch Quái là Trạch Thiên Quải : 5 Hào Dương ở dưới, chỉ
còn một Hào Âm ở trên.
- Tháng Tư ( Tỵ ) : Tịch Quái là Quẻ Càn vi Thiên. Lúc này Khí Dương đã phát
triển đến cực đại, Khí Âm đã bị triệt tiêu hết, Khí thuần Dương, là Tháng
Mạnh Hạ.


b/ Sang Tháng 5 ( Ngọ ) : Khí Dương bắt đầu giảm, Khí Âm bắt đầu sinh, Tịch
Quái là Quẻ Thiên Phong Cấu : Bắt đầu xuất hiện một Hào âm – Hào 1, chỉ
còn 5 Hào Dương ở trên.
Tiếp tục chuyển sang các Tháng 6,7,8,9,10, ta thấy khí Dương cứ giảm dần
và Khí Âm liên tiếp mạnh dần :
-Tháng 6 ( Mùi ) : Tịch Quái là Quẻ Thiên Sơn Độn.
-Tháng 7 ( Thân ) - Thiên Địa Bĩ.
-Tháng 8 ( Dậu ) - Phong Địa Quán.
-Tháng 9 ( Tuất ) - Sơn Địa Bác.
- Tháng 10 (Hợi ) – đã nói trên.

7 / Thời Dương (13)
12 Địa Chi được chia thành 2 nhóm Âm, Dương.
+ Nhóm các Địa Chi Dương gồm : Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất.
Nhóm này thuộc Thời Dương.
+ Nhóm các Địa Chi Âm gồm : Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi.
Nhóm này thuộc Thời Âm.
Trong phép Nạp Âm , ta chỉ cần quan tâm đến Thời Dương là đủ.
8/ Nạp Giáp(5)
Nhâm, Giáp phùng Càn ( Kim ) ; Quý, Ất Khôn ( Thổ ).
Bính Cấn ; Đinh Đoài ; Kỷ Ly môn.
Tốn Tân ; Khảm Mậu ; Chấn Canh dồn.
Nạp Giáp cũng như Nạp Âm, đều bắt đầu từ Kim và kết thúc ở Thổ .

Bài 2 Nạp Âm
9/ Cách 8 sinh con : ( 6 )
a / Cách Tám :


Cách tám, không phải là cách một Quãng 8 ( một Octave ) mà là cách 8 cặp
Can-Chi theo thứ tự của Can và Chi.
@/ Cách 8 tính theo Can :
Bắt đầu từ Can Giáp : Các Can cách 8 lần lượt là:
Giáp – Nhâm - Canh - Mậu – Bính - Giáp - Nhâm – Canh - Mậu - - Bính – Giáp Nhâm - Canh - Mậu - Bính.
Nếu tiếp tục lấy cách 8, ta lại trở về ban đầu : Giáp-Nhâm-Canh.
@/ Cách 8 tính theo Chi :
Tý, Ngọ, Mão, Dậu là Tứ trọng của Hành cũng là Thượng Nguyên của mỗi
Hành. Ta chỉ quan tâm đên hai Chi Dương : Tý, Ngọ.
+ Bắt đầu từ Chi Tý. Các Chi cách 8 nối tiếp nhau lần lượt là :
Tý- Thân –Thìn .
Chỉ có một bộ 3 Chi như thế
+ Bắt đầu từ Chi Ngọ. Các Chi cách 8 lần lượt là :
Ngọ - Dần – Tuất
Chỉ có một bộ 3 Chi như vậy.
@/ Cách 8 tính theo Can Chi :
Lần lượt ghép một Can với một Chi theo thứ tự trên, ta được 30 cặp Can Chi
Dương theo theo thứ tự cách 8 :
+ Ghép theo các Chi : Tý , Thân , Thìn
1/ Giáp-Tý , Nhâm-Thân , Canh-Thìn
2/ Mậu- Tý , Bính- Thân , Giáp-Thìn
3/ Nhâm-Tý , Canh-Thân , Mậu-Thìn
4/ Bính-Tý , Giáp-Thân , Nhâm-Thìn
5/ Canh-Tý , Mậu-Thân , Bính-Thìn
Nếu tiếp tục như thế, ta lại trở về ban đầu : Giáp-Tý , Nhâm-Thìn,…
Những cặp Can Chi này được sắp xếp trên Bảng 60 Giáp Tý thành 3 cột :
Tý, Thân , Thìn (Xem Bảng 7 )
( Nếu ta tiếp tục tính cách 8 theo Can Chi như trên thì ta lại trở về cặp Giáp
Tý – nghĩa là trở lại từ đầu chứ không phát triển thêm được. Tại sao vậy ? Các


số 8 ( Cách 8 ), số 10 ( 10 Can ), số 12 ( 12 Chi ) có Bội số chung nhỏ nhất là
120
BCNN ( 8 , 10 , 12 ) = 8 x 5 x 3 = 120 = 60 x 2
Sau khi thực hiện 15 bước cách 8 thì ta đã nhảy qua 2 lần Bảng Lục Thập
Hoa Giáp. Tiếp tục lấy cách 8, ta trở lại từ đầu Bảng , nghĩa là lại bắt đầu từ
Giáp Tý ).
Đến đây thì việc xếp cách 8 mới chỉ thực hiện được cho 15 Cặp Can Chi
Dương và được thêm 15 cặp Can Chi Âm theo quy chế cùng Ngôi Vị. Như vậy
ta mới chỉ sắp xếp được 30 cặp Can Chi. Cần phải sắp xếp cách 8 cho 30 cặp
Can Chi còn lại.
+ Ghép theo các Chi :Ngọ, Dần, Tuất
1/ Giáp-Ngọ , Nhâm-Dần , Canh-Tuất
2/ Mậu-Ngọ , Bính-Dần , Giáp-Tuất
3/ Nhâm-Ngọ , Canh-Dần , Mậu-Tuất
4/ Bính-Ngọ , Giáp-Dần , Nhâm-Tuất
5/ Canh-Ngọ , Mậu-Dần , Bính-Tuất.
Trên Bảng 60 Giáp Tý, những cặp Can Chi này được xếp vào 3 cột:
Ngọ , Dần , Tuất. ( Xem Bảng 8 )
Có được 15 cặp Can Chi Dương, ta lại có thêm 15 cặp Can Chi Âm theo quy
chế cùng Ngôi Vị.
Như vậy, việc xếp các cặp Can Chi theo thứ tự cách 8 ta phải thực hiện qua
hai vòng :
VÒNG 1 : Bắt đầu từ GiápTý , kết thúc tại Đinh Tỵ
Ngũ Âm hết lần 1. ( 17 )
VÒNG 2 : Bắt đầu từ Giáp Ngọ(18), kết thúc tại Đinh Hợi(19) .
@ /Tìm các cặp Can Chi theo thứ tự cách 8 trên Bảng 60 Giáp Tý.
Trước tiên ta đánh số thứ tự các ô của Bảng Lục Thập Hoa Giáp :
Giáp Tý : 1 , Ất Sửu : 2 , Bính Dần : 3 , Đinh Mão : 4 , ………. , Nhâm Tuất 59 ,
Quý Hợi : 60 .
Trên Bảng 60 Giáp Tý :


a/ Bắt đầu từ số 1( ÔGiáp Tý ), lần lượt cộng thêm 8 ( nếu tổng lớn hơn 60 thì
lấy modulo của 60 ), ta được dãy số sau :
1 – 9 – 17 – 25 – 33 – 41 – 49 – 57 – 5 – 13 – 21 – 29 – 37 – 45 - 53 . Nếu tiếp
tục cộng 8, ta lại quay trở lại từ đầu : 1 – 9 – 17 …
( 53 + 8 = 61 => 1 , 1+8 = 9 , 9+8 =17 , … )
Dãy số đó đều là số lẻ, chúng đại diện cho những cặp Can Chi Dương : ô số 1
là Giáp Tý, ô số 9 là Nhâm Thân, ô 17 là Canh Thìn, … , ô 45 là Mậu Thân , ô
53 là Bính Thìn.
Trên Bảng 60 Giáp Tý, những ô này được xếp lần lượt trên các cột :
Tý, Thân, Thìn.
Những ô số chẵn tiếp theo những ô số lẻ trên : 2 , 10 , 18 , … , 46 , 54 là
những ô của các cặp Can Chi Âm cùng ngôi vị. Những ô này được xếp lần lượt
trên các cột Sửu , Dậu , Tỵ .
Vòng này kết thúc tại ô 54 : Đinh Tỵ. Hết vòng 1 ( 17 )
Sang vòng 2 :
b/ Bắt đầu từ số 31 : Ô Giáp Ngọ( 18 ), lần lượt cộng thêm 8 ( và lấy mudulo
60 ), ta được dãy số sau :
31 – 39 – 47 - 55 – 3 – 11 - 19 – 27 - 35 - 43 – 51 – 59 - 7 – 15 – 23.
Tiếp tục đếm cách 8 ta lại trở về ban đầu : 31 – 39 – 47 …
( 23 + 8 = 31 , 31+ 8 = 39 , 39 +8 = 47 … ).
Trong đó : ô 31 : Giáp Ngọ , 39 : Nhâm Dần , 47 : Canh Tuất , … , 15 : Mậu
Dần , 23 : Bính Tuất.
Trên Bảng 60 Giáp Tý , những ô này được xếp lần lượt trên các cột :
Ngọ , Dần , Tuất.
Những ô số chẵn tiếp ngay sau mỗi ô số lẻ trên là của các cặp Can Chi Âm
cùng Ngôi Vị. Chúng được xếp lần lượt vào các cột Mùi, Mão, Hợi.
Vòng này kết thúc tại ô 24 : Đinh Hợi (19)
b / Cách 8 sinh con :
LTL: Không phải là hễ cách 8 thì sinh con , có những trường hợp cách 8 để
chuyển giao “ nhiệm vụ ” sang Hành khác , chứ không sinh con.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×