Tải bản đầy đủ

Đề tài: Thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong hỗ trợ việc làm đối với người nghiện ma túy sau cai nghiện ở tỉnh Thanh Hóa

Đề tài: Thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
trong hỗ trợ việc làm đối với người nghiện ma túy sau cai nghiện
ở tỉnh Thanh Hóa

Mở Đầu
Đã từ lâu, tệ nạn ma túy là một hiểm họa lớn của toàn nhân loại.
Trong đó,nhiều quốc gia đang phải gánh chịu những hậu quả nghiêm
trọng do buôn lậu matúy và nghiện ma túy gây ra cho đời sống kinh tế
- xã hội. Ma túy làm suy thoái nhân cách, phẩm giá con người, tàn phá
cuộc sống gia đình, gây xói mòn đạo lý, làm gia tăng tội phạm, bạo
lực, tham nhũng, vắt cạn kiệt nguồn nhân lực tài chính, lẽ ra phải
được huy động cho việc phát triển kinh tế - xã hội, đem lại ấm no
hạnh phúc cho mọi người.Tệ nạn ma túy là một hiểm hoạ lớn của toàn
nhân loại. Không một quốc gia, một dân tộc nào không phải gánh chịu
những hậu quả nghiêm trọng do buôn lậu ma tuý và nghiện ma tuý
gây ra cho đời sống kinh tế - xã hội. Tình hình tệ nạn ma tuý diễn biến
rất phức tạp, tiềm ẩn, khó lường, có xu hướng gia tăng về số người
nghiện và các tội phạm về ma tuý, tính chất hoạt động ngày càng tinh
vi, xảo quyệt, manh động hơn.
Ma túy là mối đe dọa đến hạnh phúc của mọi người, mọi gia đình.
Với những tác hại vô cùng to lớn mà ma túy đem lại , Nhà nước ta

cũng đồng thời quan tâm đến việc tổ chức cai nghiện, giúp cho những
người sa vào con đường nghiện ngập có thể cắt cơn, phục hồi sức
khoẻ, hành vi và nhân cách để có thể tái hoà nhập cộng đồng. Công
tác cai nghiện phục hồi tuy đạt được một số kết quả bước đầu, nhưng
về cơ bản tính hiệu quả và bền vững chưa cao, tỷ lệ tái nghiện còn
cao, có những nơi lên tới 80-90%. Trình độ văn hoá thấp, không có
nghề nghiệp, không có việc làm là một trong những nguyên nhân chủ
yếu dẫn đến tình trạng nghiện ma tuý trong thanh thiếu niên.
Tỉnh Nghệ An, một trọng điểm kinh tế - xã hội ở phía Nam không
chỉ có những thành tựu vượt bậc ve mặt kinh tế mà còn phải đối
mặt giải quyết với nhiều tệ nạn xã hội, trong đó có nghiện ma túy.
Vì vậy,vấn đề dạy nghề, tổ chức lao động sản xuất, tạo việc làm, có
thu nhập ổn định không những là một nội dung quan trọng của quy


trình cai nghiện mà còn là yêu cầu thiết yếu, tạo điều kiện cho đối
tượng tái hoà nhập cộng đồng, phòng chống tái nghiện có hiệu quả.
Điều đó đã đặt ra một yêu cầu cấp thiết ở nước ta hiện nay là cần có
sự nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống vấn đề tạo việc làm
cho những người sau cai nghiện ma tuý để giúp họ thực sự tái hoà
nhập cộng đồng và có cuộc sống yên ổn, trở thành người có ích cho
xã hội.
Trước thực trạng trên em xin đề cập tới đề tài “ Thực trạng và
một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong hỗ trợ việc làm
đối với người nghiện ma túy sau cai nghiện ở Thanh Hóa ”, làm
đề tài tiểu luận môn Ma túy và xã hội.
Mặc dù có nhiều cố gắng,nhưng bài tiểu luận của em không tránh
khỏi những thiếu sót,rất mong sự góp ý của thầy cô để bài tiểu luận
của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn cô!
Phần I:Một số vấn đề Lý luận chung về ma tuý,
việc làm và hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai
nghiện ma tuý
1.Một số khái niệm liên quan đến ma tuý
1.1 Khái niệm Ma tuý
Thuật ngữ “ma túy” xuất hiện ở Việt Nam ban đầu có ý nghĩa là chỉ
thuốc phiện, về sau còn được hiểu là các cây cần sa, cô ca và các loại
thuốc tân dược gây nghiện khác. Có ý kiến giải thích thuật ngữ “ma
tuý” đó là vì các chất này có tác dụng như ma thuật, ma quái. Nó chữa
được một số bệnh có hiệu quả cao và làm tăng hưng phấn hoặc ức chế


thần kinh, đồng thời làm cho con người mê mẩn, ngây ngất và tuý luý.
Và như vậy, thuật ngữ “ma tuý” được ghép từ các từ ma thuật, ma
quái và tuý luý.
Chương trình kiểm soát ma tuý quốc tế của Liên Hợp quốc
(UNDCP) năm 1991 đã xác định: “Ma tuý là những chất độc có tính
gây nghiện, có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo khi xâm nhập và cơ
thể con người thì có tác dụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ,
làm cho con người bị lệ thuộc vào chúng gây nên những tổn thương


cho từng cá nhân và cộng đồng”; theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO),
“Ma tuý là bất kỳ chất gì mà khi đưa vào cơ thể sống có thể làm thay
đổi một hay nhiều chức năng sinh lý của cơ thể”. Hay hiểu ngắn gọn
theo cách định nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt: “Ma túy là tên gọi
chung các chất có tác dụng gây trạng thái ngây ngất, đờ đẫn và dùng
quen thành nghiện”.
Từ các quan niệm nêu trên, có thể nêu khái niệm như sau: ma túy là
những chất có nguồn gốc từ tự nhiên hay nhân tạo và khi dùng không
được chỉ dẫn có thể gây nghiện, làm ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ
của con người cũng như sự ổn định và phát triển của cộng đồng.
1.2 Khái niệm Nghiện ma tuý
Khi dùng ma túy lần đầu, người ta thấy có cảm giác lâng lâng, dễ
chịu và thèm muốn dùng lại. Ma túy vào cơ thể vài lần sẽ tác động
đến cơ quan cảm thụ, gây trạng thái quen thuốc, nếu không dùng tiếp
sẽ rất khó chịu, đau đớn, vật vã..., thèm muốn được dùng lại và trở
nên nghiện ma tuý.
Do đó, nghiện ma tuý, nếu hiểu theo nghĩa rộng thì đó là tình trạng
một bộ phận trong xã hội gồm những người có thói quen dùng các
chất ma tuý.
Còn theo nghĩa hẹp thì nghiện ma túy là sự lệ thuộc của con người cụ
thể đối với các chất ma tuý, làm cho con người ta không thể quên và
từ bỏ được ma tuý.
Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về “nghiện ma tuý”,
nhưng chưa có một khái niệm đầy đủ và thống nhất.
Tuy nhiên, theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) “Nghiện ma tuý là
trạng thái nhiễm độc chu kỳ hay mãn tính có hại cho cá nhân và xã hội
do dùng lặp lại một chất ma túy tự nhiên hay tổng hợp” .
Theo định nghĩa mới đây của tổ chức DAYTOP quốc tế: “nghiện ma
tuý là tình trạng rối loạn cơ thể con người về các mặt sinh lý, tâm lý,
nhận thức và hành vi do người đó sử dụng lặp đi lặp lại một hoặc
nhiều loại ma tuý từ tự nhiên hay tổng hợp”
1.3 Người nghiện ma tuý
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa: người nghiện ma túy là
người sử dụng chất ma tuý, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần dưới
các hình thức khác nhau như hút, hít, tiêm chích và bị lệ thuộc vào các


chất này. Từ khái niệm nghiện ma túy có thể rút ra cách hiểu về người
nghiện ma tuý như sau: người nghiện ma túy là người bị lệ thuộc đối
với các chất ma túy và không thể quên hay từ bỏ được ma tuý. Nếu
ngừng sử dụng thì người nghiện sẽ xuất hiện hội chứng cai.
Như vậy, có thể hiểu người nghiện ma túy theo các cách định nghĩa
khác nhau, nhưng nó có mấy điểm cơ bản là người nghiện ma tuý là
người sử dụng lặp lại nhiều lần một chất ma túy tự nhiên hay tổng hợp
và bị lệ thuộc vào nó, không thể quên hay từ bỏ được nó.
1.4
Khái niệm dạy nghề, việc làm và tạo việc làm
1.4.1
Khái niệm dạy nghề
Khái niệm dạy nghề: Theo luật Dạy nghề, dạy nghề được hiểu là
“hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức kỹ năng, thái độ nghề
nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc
tự tạo việc làm sau khi học xong”.
Theo giáo trình Kinh tế Lao động của trường Đại học Kinh tế Quốc
dân thì khái niệm đào tạo nghề được tác giả trình bày là: “Đào tạo
nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến thực nhất định về chuyên
môn nghiệp vụ cho người lao động, để họ có thể đảm nhận được một
số công việc nhất định” .
Theo tài liệu của bộ Lao động Thương binh và Xã hội xuất bản năm
2002 thì khái niệm đào tạo nghề được hiểu: “Đào tạo nghề là hoạt
động nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức ,kĩ năng và
thái độ lao động cần thiết để người lao động sau khi hoàn thành khoá
học hành được một nghề trong xã hội”.
Như vậy có rất nhiều khái niệm khác nhau về dạy nghề/đào tạo nghề
nhưng trong luận văn của tôi, tôi áp dụng khái niệm dạy nghề theo luật
Dạy nghề.
1.4.2 Khái niệm việc làm và tạo việc làm
Khái niệm việc làm: Ở Việt Nam, khái niệm việc làm chính thức
được ghi nhận trong văn bản pháp luật trong Bộ luật lao động vào năm


1994. Cụ thể điều 13 Bộ luật Lao động việc làm được hiểu là “Mọi
hoạt động lao động tạo ra thu nhập và không bị pháp luật cấm”. Hoạt
động lao động nói chung được hiểu là sự tác động của sức lao động
vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm và dịch vụ.
Theo quan điểm của Mác: “Việc làm là để chỉ trạng thái phù hợp
giữa sức lao động và điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công
nghệ…) để sử dụng sức lao động đó”.
Khái niệm tạo việc làm: Tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng và
chất lượng tư liệu sản xuất; số lượng và chất lượng sức lao động và
các điều kiện kinh tế xã hội cần thiết khác để kết hợp tư liệu sản xuất
và sức lao động.


1.5 Khái niệm hỗ trợ việc làm đối với người nghiện ma túy sau
cai nghiện
Hỗ trợ việc làm không chỉ là hoạt động để kiếm sống mà còn là hoạt
động sáng tạo nhằm phục vụ xã hội, thông qua lao động hoàn thiện
nhân cách con người cả về vật chất lẫn tinh thần. Hỗ trợ việc làm đối
với NNMT SCN là việc làm chính đáng, nếu tách con người ra khỏi
lao động chẳng khác gì thủ tiêu sự tồn tại của con người, phá vỡ động
lực bên trong của xã hội.
Hỗ trợ, giải quyết việc làm và thực hiện tốt chính sách việc làm, khắc
phục tình trạng thất nghiệp, sử dụng có hiệu quả nguồn lao động xã
hội có tác dụng tích cực đến quá trình ổn định và phát triển kinh tế. Hỗ
trợ việc làm đối với NNMTSCN không chỉ là nhiệm vụ chức năng của
nhà nước mà còn là trách nhiệm của xã hội, của các cơ quan doanh
nghiệp, các đoàn thể, chính quyền địa phương và ngay bản thân
NNMT SCN. Hiện nay, các chính sách của Nhà nước luôn quan tâm
chú trọng đến hỗ trợ việc làm đối với NNMT SCN, hỗ trợ việc làm có
nghĩa là tạo thêm
được việc làm mới cho NNMT SCN, mang tính chất là NNMT SCN
đang không có việc làm nay có việc làm, hoặc có việc làm không ổn
định nay có việc làm ổn định, lâu dài. Như vậy hỗ trợ việc làm là tạo
thêm việc làm mới từ các cơ chế chính sách của Nhà nước.
Như vậy hỗ trợ việc làm đối với NNMT SCN là chỉ tất cả những công
việc, hoạt động, suy nghĩ nhằm giúp đỡ một người hoặc nhóm người
vượt qua vấn đề mà họ gặp phải bằng cách thức khác nhau, bao gồm
cả về thể chất, tinh thần, tiền bạc để nhằm khơi dậy tiềm lực của người
đó để họ có đủ khả năng đương đầu với hoàn cảnh khó khăn.

2.Thực trạng hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma tuý
ở Việt Nam
Hiện trên địa bàn cả nước có 142 Trung tâm cai nghiện và quản lý
sau cai, trong đó có 123 Trung tâm do Nhà nước quản lý và 19 Trung
tâm do các tổ chức và cá nhân thành lập. Trong số Trung tâm do Nhà
nước quản lý có 49 Trung tâm chỉ thực hiện cai nghiện; 58 Trung tâm
vừa có chức năng cai nghiện vừa quản lý sau cai; 16 Trung tâm chỉ


thực hiện quản lý sau cai nghiện ma túy. Tính đến ngày 15/11, số
người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý là 222.582 người, tăng 11.831
người so với năm 2016, 58 địa phương có người nghiện tăng. Đến nay,
tổng số người đang cai nghiện tại các cơ sở là 32.610 học viên.
Thực hiện Nghị định số 94/2010/NĐ-CP về tổ chức cai nghiện ma
túy tại gia đình, cai nghiện tại cộng đồng, đến nay, cả nước có 9/63
tỉnh, thành phố triển khai thực hiện và đã tổ chức cai nghiện cho 4.757
người, trong đó 2.710 người cai tại gia đình và 1.720 người cai nghiện
tại cộng đồng.
Trong 4 năm, các địa phương đã quản lý sau cai nghiện 58.873 lượt
người, trong đó, tại Trung tâm là 15.615 lượt người (26,5%), tại nơi cư
trú 43.528 (73,5%). Đồng thời đã tổ chức dạy văn hóa cho 22.989
người có nhu cầu, dạy nghề cho 42.570 người (32,8%) và hỗ trợ vốn,
tạo việc làm cho 15.292 người (11,5%). Hiện nay, các địa phương
đang quản lý sau cai đối với 23.569 người, trong đó tại cộng đồng là
19.327 và tại các Trung tâm là 4.242.
Trên thực tế, theo các số liệu thống kê những năm gần đây, tình hình
việc làm của các đối tượng sau cai là không thuận lợi, chỉ có 20% đối
tượng có việc làm ổn định, 32,5% có việc làm nhưng không ổn định.
Các đối tượng ở thành phố, thị xã tỷ lệ có việc làm ổn định cao hơn
các đối tượng ở nông thôn. Tuy nhiên, ở cả hai nhóm đối tượng, số có
việc làm ổn định luôn có tỷ lệ thấp nhất (24% với đối tượng ở thành
thị và 13,3% với đối tượng ở nông thôn), tiếp đến là số có việc làm
không ổn định, số đối tượng không có việc làm chiếm tỷ lệ cao nhất
(44% và 53,3% tương ứng cho 2 nhóm đối tượng). Đa số người
nghiện ma túy sau khi được chữa trị, phục hồi không có việc làm nên
có nhiều khả năng tái nghiện.
Nguyên nhân dẫn tới người nghiện sau cai không tìm được việc làm,
trước hết là do họ bị hạn chế về mặt thể chất và cả tâm lý. Mặc dù
được điều trị tại các trung tâm, song sự suy yếu về sức khỏe, biến đổi
về hình thức, phong thái vẫn còn biểu hiện rõ nét khiến cho người
nghiện sau cai bất lợi khi đi xin việc. Mặt khác, ngành nghề đào tạo tại
các trung tâm hiện nay tính khả thi không cao, dạy nghề mang tính
đồng loạt, đa số người nghiện không thể ứng dụng những nghề được


đào tạo sau khi trở về cộng đồng (như nghề đan lát thủ công không áp
dụng được ở những thành phố lớn như Hà Nội). Bên cạnh đó, người
nghiện ma túy bị kỳ thị rất lớn bởi người tuyển dụng và bị cạnh tranh
gay gắt từ phía những người được đào tạo tại các trung tâm, cơ sở dạy
nghề bên ngoài.

Phần II: THỰC TRẠNG HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI
NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY SAU CAI NGHIỆN TỪ THỰC TIỂN
TỈNH THANH HÓA
1.Một số tình hình đặc điểm tỉnh Thanh Hóa
1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên, KT- XH tỉnh Thanh Hóa
Thanh Hoá nằm ở cực Bắc Miền Trung, cách Thủ đô Hà Nội 150 km
về phía Nam, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.560km. Phía Bắc giáp
với ba tỉnh Sơn La, Hoà Bình và Ninh Bình, phía Nam giáp tỉnh Nghệ
An, phía Đông là Vịnh Bắc Bộ phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn (nước
Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào), với đường biên giới dài 192 km.
Đặc biệt Thanh Hoá có đường biên giới tiếp giáp với các huyện Viêng
Xay, Sầm Tớ, Sốp Bâu của tỉnh Hủa Phăn. Cửa khẩu quốc tế Na Mèo
là nơi lưu thông qua lại, trao đoi giữa Thanh Hoá với các tỉnh trong cả
nước và nước bạn Lào. Thanh Hoá nằm trong vùng ảnh hưởng của
những tác động từ vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, các tỉnh Bắc Lào
và vùng trọng điểm kinh tế Trung bộ, ở vị trí cửa ngõ nối liền Bắc Bộ
với Trung Bộ, có hệ thống giao thông thuận lợi như: đường sắt xuyên
Việt, đường Hồ Chí Minh, các quốc lộ 1A, 10, 45, 47, 217; cảng biển
nước sâu Nghi Sơn và hệ thống sông ngòi thuận tiện cho lưu thông
Bắc Nam, với các vùng trong tỉnh và đi quốc tế.
Về đặc điểm dân cư: toàn tỉnh có 27 huyện, thị và thành phố với hơn
3,7 triệu nhân khau sinh sống trên 636 xã, phường, thị trấn; có 7 dân
tộc; dân cư phân bố theo mật độ là 317 người/km2 . Nhìn chung Thanh
Hoá là một địa bàn có số lượng dân tương đối đông so với các địa
phương khác; dân số tập trung nhiều ở thành phố Thanh Hoá, thị xã
Sầm Sơn, Bỉm Sơn và một số huyện như: Hoằng Hoá, Đông Sơn, Hậu
Lộc... Trên các huyện thuộc miền núi, dân số tập trung ít, mật độ dân


số thưa với nhiều dân tộc anh em khác nhau chung sống. Điều kiện
kinh tế, văn hoá, xã hội ở các vùng không đồng đều, còn nhiều hạn
chế trên nhiều lĩnh vực, trong đó việc nhận thức về chính sách pháp
luật của Đảng, Nhà nước đang là vấn đề cần phải được quan tâm và
phổ biến rộng rãi cho quần chúng nhân dân. Đặc biệt là các vùng dân
tộc, vùng rừng núi xa xôi hẻo lánh, trong đó có các khu vực miền núi
giáp với nước CHDCND Lào.
1 .2 Tình hình về nghiện ma túy tại tỉnh Thanh Hóa
Theo báo cáo thống kê của UBND tỉnh Thanh Hóa ,Tính đến hết năm
2016, trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá có gần 7 nghìn người nghiện có hồ
sơ quản lý. Người nghiện ma tuý có ở 27/27 huyện, thị, thành phố và
454/635 xã, phường, thị trấn của tỉnh. Trong khi đó công tác cai
nghiện còn gặp nhiều khó khăn, cơ sở cai nghiện chưa đáp ứng đủ yêu
cầu thực tế. Người nghiện ma tuý phạm tội, chiếm tỷ lệ trên 60%
trong tổng số tội phạm trên địa bàn.
Tình hình người nghiện sử dụng MTTH, nhất là MTTH dạng “đá” vẫn
có xu hướng gia tăng trong giới trẻ, các đối tượng lợi dụng việc tổ
chức sinh nhật, liên hoan, đám cưới thuê nhà nghỉ, khách sạn, quán
karaoke để tổ chức sử dụng gây khó khăn cho công tác phát hiện,
phòng ngừa và đấu tranh.
Do đó, UBND tỉnh đã chỉ đạo Công an tỉnh tiến hành rà soát đối
tượng sử dụng ma tuý có biểu hiện “ngáo đá” để lập hồ sơ và có biện
pháp quản lý tốt đối tượng nhằm ngăn chặn số đối tượng này có
những hành vi nguy hiểm làm ảnh hưởng đến trật tự xã hội trên địa
bàn.
Thực hiện Đề án Đổi mới công tác cai nghiện, hiện nay, trên địa bàn
tỉnh Thanh Hoá có 2 Trung tâm Chữa bệnh-Giáo dục-Lao động xã hội
đã được chuyển đổi mô hình hoạt động vừa cai nghiện bắt buộc, vừa
cai nghiện tự nguyện, vừa điều trị thay thế bằng Methadone và tiếp
nhận người nghiện ma tuý không có nới cư trú ổn định trong thời gian
lập hồ sơ đưa đi cai nghiện bắt buộc theo quyết định của Toà án, kết
nối các dịch vụ điều trị nghiện tại cộng đồng.


Hiện tại, các Trung tâm đang cai nghiện cho 230 người nghiện trong
đó cai nghiện bắt buộc là 140 người và 90 người cai nghiện tự nguyện.
Công tác cai nghiện tại gia đình và cộng đồng đã được triển khai thực
hiện ở tất cả các địa phương trên địa bàn toàn tỉnh, trong năm 2016 đã
tổ chức cai nghiện cho 750 người.
Bước đầu đã hình thành các dịch vụ điều trị và chăm sóc sức khoẻ cho
người nghiện ma tuý ở cộng đồng với các mô hình thí điểm như: Dịch
vụ tư vấn và tổ chức sinh hoạt Câu lạc bộ hỗ trợ sau cai nghiện,
phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS; mô hình Quân dân Y cai nghiện
và giải quyết các vấn đề xã hội tại các xã biên giới huyện Mường Lát;
mô hình Câu lạc bộ hỗ trợ, giúp đỡ người nghiện ma tuý hoà nhập
cộng đồng ở huyện Nông Cống, Thọ Xuân, Vĩnh Lộc, Bá Thước và
huyện Quan Hoá; Điểm tư vấn hỗ trợ điều trị nghiện ma tuý tại cộng
đồng ở phường Lam Sơn, thành phố Thanh Hoá.
Nhiều huyện, thị xã, thành phố đã hỗ trợ vốn vay, tạo việc làm cho
người sau cai nghiện hoà nhập cộng đồng như: phường Trường Thi,
thành phố Thanh Hoá đã hỗ trợ vốn, hỗ trợ học nghề cho người sau cai
nghiện. Bên cạnh đó, nhiều khu dân cư đã vận động nhân dân quyên
góp, hỗ trợ các gia đình có người nghiện có hoàn cảnh khó khăn để cai
nghiện cho con em như: phường Trường Thi, Đông Vệ, Điện Biên, Ba
Đình, Lam Sơn (thành phố Thanh Hoá). Đồng thời, các xã, phường,
thị trấn đã quan tâm đến việc xây dựng quỹ phòng chống ma tuý, tiêu
biểu là các phường Trường Thi, Ngọc Trạo, xã Đông Hương (thành
phố Thanh Hoá), mỗi năm có quỹ từ 20-50 triệu đồng. Thông qua các
hoạt động này đã góp phần cảm hoá người sau cai nghiện, giúp học có
điều kiện phát triển kinh tế, thay đổi nhận thức, hành vi cũ để hoà
nhập cộng đồng dân cư.
Bên cạnh đó, chương trình điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện
bằng thuốc thay thế Methadone cho người nghiện ma tuý trên địa bàn
Thanh Hoá ngày càng được mở rộng, số người tham gia điều trị và số
cơ sở điều trị tăng nhanh. Tính đến ngày 31/1/2017, Thanh Hoá đã có
20 cơ sở điều trị, 6 điểm cấp phát thuốc Methadone cho 2.752 người


nghiện ma tuý.
Để đảm bảo chỉ tiêu 3.500 người nghiện ma tuý được tham gia điều trị
Methadone theo Quyết định 1008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ,
năm 2017, tỉnh Thanh Hoá dự kiến mở thêm 21 Cơ sở Methadone (6
cơ sở điều trị Methadone và 15 cơ sở cấp phát thuốc).
2.Thực trạng giải quyết việc làm cho người nghiện ma túy ở
Thanh Hóa
2.1 Đào tạo dạy nghề kiếm sống cho học viên
Công tác đào tạo nghề, truyền nghề được trung tâm coi là một trong
những nhiệm vụ trọng tâm để giúp người cai nghiện trở về hội nhập
cộng đồng. Trong những năm qua, trung tâm đã tổ chức 07 lớp dạy cắt
may cho 125 học viên; dạy đan cót, đan dành cho 149 học viên; dạy
làm biển quảng cáo cho 25 học viên; dạy trồng hoa cây cảnh cho 52
học viên; dạy làm đậu phụ cho 16 học viên; dạy trồng trọt, chăn nuôi
cho 250 học viên; dạy nấu ăn cho 150 học viên; dạy in lưới cho 26 học
viên; dạy khâu bóng gia công cho 57 học viên; dạy làm mộc dân dụng
cho 135 học viên; dạy cơ khí, sửa chữa, rèn cho 24 học viên; dạy chế
biến đá xây dựng cho 650 học viên; dạy làm mộc nhĩ cho 245 học
viên; dạy xén kẻ giấy đóng vở học sinh cho 45 học viên.
Gần đây, được sự hỗ trợ kinh phí từ nguồn đào tạo nghề cho lao động
nông thôn thuộc chương trình mục tiêu quốc gia Trung tâm đã mở 21
lớp nghề dân dụng phổ thông (mỗi lớp 30 học viên) gồm: 5 lớp dạy
nghề mộc, 3 lớp dạy nghề cơ khí, 6 lớp dạy nghề nề, 2 lớp dạy nghề
cắt may và 5 lớp dạy ghề sản xuất vật liệu xây dựng trong đó có 11
lớp đào tạo nghề trình độ sơ cấp nghề cho 330 học viên. Năm 2014,
Trung tâm đã phối hợp với Trường Trung cấp Thủy sản Bắc Ninh mở
2 lớp Trung cấp Nghề nuôi trồng thủy sản cho 70 học viên...
Trung tâm phối hợp với các nhà đầu tư, cơ sở sản xuất trang bị thiết bị
máy móc, công cụ, vật tư triển khai dạy nghề và tổ chức lao động trị
liệu cho học viên nghề may túi, đồng thời tìm kiếm việc làm duy trị
hoạt động các xưởng mộc, xưởng cơ khí hoạt động có hiệu quả để tu
sửa và chống xuống cấp cơ sở vật chất, nghề nề hoàn thiện đã xây
dựng hệ thống nhà chăn nuôi, nhà chứa khu sản xuất và triển khai các


công trình phụ trợ cải tạo khuôn viên, kè ao hồ, xây tường rào, xây
cổng. Ngoài ra thông qua quá trình lao động đã dạy cho học viên biết
trồng lúa, ngô, đậu, trồng rau màu tăng gia, chăn nuôi, nấu ăn.
Hoạt động dạy nghề, truyền nghề và tổ chức lao động trị liệu cho học
viên trong thời gian cai nghiện, chữa bệnh tại Trung tâm đã tạo điều
kiện cho học viên sau khi rời khỏi Trung tâm có thể tìm kiếm việc
làm, ổn định đời sống tại cộng đồng.
2.2 Đổi mới công tác cai nghiện
Để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác cai nghiện thời gian tới trung
tâm tạo điều kiện cho cán bộ tham gia các lớp đào tạo bồi dưỡng nâng
cao trình độ nghiệp vụ; học tập kinh nghiệm từ các mô hình cai
nghiện, hệ thống dịch vụ hỗ trợ công tác cai nghiện; xây dựng hệ
thống kết nối tư vấn, tham vấn; quản lý học viên giữa trung tâm và
cộng đồng.
Thực hiện Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy, Trung tâm tiếp
tục đầu tư để xây dựng, cải tạo, sửa chữa, quy hoạch cơ bản hệ thống
cơ sở vật chất phục vụ: người cai nghiện bắt buộc, người cai nghiện tự
nguyện; khu học tập văn hóa, sinh hoạt cộng đồng, khu học nghề và
lao động sản xuất, khu quản lý học viên phức tạp, học viên mắc bệnh
truyền nhiễm, người cai nghiện vị thành niên, người cai nghiện là nữ,
khu cung cấp các dịch vụ cai nghiện theo yêu cầu và khu lưu giữ,
phân loại học viên, hỗ trợ điều trị cai nghiện ma túy (cơ sở xã hội).
Hy vọng, với phương hướng đổi mới công tác cai nghiện, chuyển từ
mô hình trung tâm cai nghiện bắt buộc khép kín sang mô hình trung
tâm mở cung cấp dịch vụ đa dạng cho người điều trị nghiện ma túy,
Trung tâm Giáo dục Lao động xã hội Thanh Hóa sẽ ngày càng tiếp
nhận được nhiều người đến điều trị, cai nghiện tự nguyện để làm lại
cuộc đời, trở thành địa chỉ tin cậy, thành ngôi nhà ấm áp tình người
của những người trót sa vào vòng xoáy của ma túy, giúp họ xây dựng
niềm tin và nghị lực vượt qua cám dỗ của ma túy để trở về tái hòa
nhập với cộng đồng.
2.1
Công tác dạy văn hóa
Do đối tượng chủ yếu là ở nhóm tuổi thanh niên (18 - 35 tuổi chiếm
87%) nên việc đào tạo cả ve văn hóa và chuyên môn là cần thiết. Mặc


dù công tác dạy văn hóa không phải là nhiệm vụ trọng tâm của giai
đoạn đầu thực hiện thí điểm Nghị quyết 16 nhưng trong quy chế của
tỉnh đã ban hành “Người sau cai nghiện chưa đủ 18 tuổi được tập
trung học văn hóa . đến khi đủ 18 tuổi, và người sau cai nghiện chưa
tốt nghiệp phổ thông trung học được tạo đieu kiện bổ túc văn hóa”.
Các trung tâm thuê giáo viên từ các trung tâm giáo dục thường xuyên
của tỉnh Nghệ An thông qua hợp đồng giữa hai đơn vị. Phòng học
được trang bị đầy đủ bàn ghế phấn sách vở được tỉnh Nghệ An cung
cấp. Trung tâm giáo dục thường xuyên chịu trách nhiệm ve chương
trình, giáo trình, giáo viên và các phương tiện giảng dạy. Số liệu của
báo cáo cho thấy, trình độ học viên và người sau cai nghiện đã nâng
lên rõ rệt trong thời gian ở trung tâm. Các đối tượng mù chữ sau khi
kết thúc giai đoạn cai nghiện bắt buộc chuyển sang giai đoạn quản lý
sau cai nghiện cơ bản đã được xóa mù chữ. Tính đến năm 2015, có tới
99 người sau cai nghiện được tham gia chương trình đại học từ xa.
Việc tổ chức dạy văn hóa tại các trung tâm còn gặp những khó khăn
vì các đối tượng sau cai nghiện có trình đô rất khác nhau nên phải tổ
chức thành nhiều lớp học phù hợp với trình đô của đối tượng. Việc
dạy văn hóa cho học viên có trình đô ở các cấp học cao hơn đã không
được tính toán từ đầu, cho nên gặp phải môt số vướng mắc khó giải
quyết như
- Thiếu cán bô chuyên môn có trình đô tương ứng đứng lớp, thiếu
nghiệp vụ sư phạm, thiếu tài liệu, trang thiết bị cần thiết, sách giáo
khoa.
Thiếu kinh phí ( ban đầu chỉ cấp cho việc xóa mù chữ và phổ cập tiều
học ). Cuối năm 2017 mới có quyết định kinh phí cho bậc trung học
cơ sở.
Nhiều trung tâm đóng ở vùng sâu, vùng xa, rất trở ngại cho việc hợp
tác với Phòng Giáo dục và các trường tại địa phương.
Tình trạng thiếu học viên do những nguyên nhân như: học viên cai
nghiện là những người lười biếng, sức khỏe kém vì vậy đông viên họ


đến lớp là rất khó trong khi họ cũng không có tiền đóng học phí, thêm
vào đó các học viên ban ngày phải lao đông vất vả nên không còn ý
chí,sức khỏe để đến lớp. Nhiều đối tượng là người có tien sử dùng ma
túy, trí nhớ giảm nên việc học không được tập trung và kém hiệu quả.
2.4.Kết quả đạt được và một số tồn tại hạn chế
2.4.1 Kết quả đạt được
Trong năm 2016, toàn tỉnh đã phối hợp lập hồ sơ và tổ chức cai nghiện
cho hơn 7000 người nghiện ma tuý; trong đó có 823 người cai
nghiện tại gia đình, cộng đồng, 261 người cai nghiện tự nguyện và
820 người cai nghiện bắt buộc tại các Trung tâm.
Thanh Hóa đã tổ chức dạy nghề cho 2.136 lượt người tại các Trung
tâm giáo dục Lao động - Xã hội, dạy nghề cho 2.277 lượt người sau
cai nghiện tại cộng đồng. Những nghề được đào tạo sát với yêu cầu
thực tế giúp cho đối tượng sau khi trở về địa phương có cơ hội tìm
việc làm, tái hòa nhập cộng đồng nhanh. Qua đó đã có nhiều trường
hợp người sau cai nghiện chưa tái nghiện làm ăn kinh tế hiệu quả,
được chính quyền các cấp tuyên dương.
Qua thực tế của công tác cai nghiện tại các trung tâm, tại cộng
đồng trong thời gian qua cho thấy, hình thức tạo việc làm cho người
nghiện đã tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa các trung tâm, gia đình và
bản thân người sau cai nghiện để thực hiện tốt công tác cai nghiện
đồng thời giúp cho gia đình người sau cai nghiện chủ động phát huy
khả năng và sở trường vốn có của họ và con em họ, bên cạnh đó đã
huy động được thêm nguồn lực từ các thành phần kinh tế trong xã hội,
tham gia giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện.
Tại Trung tâm Giáo dục Lao động xã hội I đã có gia đình học viên
liên doanh đầu tư kinh phí xây dựng cơ sở sản xuất tạo việc làm cho
con em mình và các học viên, nhiều học viên có tay nghề thủ công,
mỹ nghệ, đã nhiệt tình truyền nghề cho những học viên khác để tham
gia lao động sản xuất, tạo ra sản phẩm trong giai đoạn cai nghiện.
2.4.2 Tồn tại han chế.
Vẫn còn người nghiện chưa được phát hiện lập hồ sơ quản lý, người
nghiện mới vẫn gia tăng; Việc thống kê, phân loại người nghiện chưa
chính xác để có biện pháp cai nghiện và quản lý sau cai phù hợp; Số


người nghiện được cai và quản lý sau cai còn thấp so với tổng số
người nghiện được phát hiện. Công tác cai nghiện tại gia đình và xã,
phường, thị trấn hiệu quả đạt thấp. Các cơ sở cai nghiện tập trung quy
mô còn nhỏ bé so với yêu cầu hiện nay.
Người nghiện và gia đình chưa thực sự tự giác, tự nguyện, quyết tâm,
ý thức trách nhiệm và sự phối hợp với chính quyền cơ sở chưa cao nên
việc cai nghiện hiệu quả thấp, tái nghiện còn cao.
Cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, tổ công tác cai nghiện ở cơ sở chưa
chú trọng chỉ đạo, tổ chức công tác cai nghiện và quản lý sau cai.
Không ít cơ sở không tổ chức cai; hoặc có tổ chức nhưng tiến hành
thiếu đồng bộ, thiếu kiên trì, thường xuyên. Số người sau cai được đào
tạo nghề và vay vốn để tạo việc làm còn quá ít, hơn nữa các cấp, các
ngành, địa phương và gia đình chưa thực sự quan tâm tạo điều kiện
dạy nghề, giải quyết việc làm và quản lý sau cai nên phần lớn sau cai
cắt cơn một thời gian đều tái nghiện.
Việc làm cho người nghiện sau cai trên lý thuyết là có, nhưng thực tế
thì ở tỉnh còn rất nhiều người tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng nghề, đại
học thất nghiệp, nhóm yếu thế này không thể cạnh tranh được. Nếu
không có việc làm, con đường phục thiện của 1.490 lượt người được
cai nghiện mới năm 2016 này e rằng là rất khó khăn...
Nhà nước đã bỏ ra rất nhiều kinh phí để giáo dục, chăm lo cho đối
tượng người nghiện ma túy - bệnh nhân đặc thù này.Song công sức,
tiền của sẽ “đổ sông, đổ biển” nếu các đối tượng này tái nghiện, có
hành vi nguy hiểm cho xã hội.
2.4.3 Nguyên nhân:
Nguyên nhân dẫn đến khó khăn trong giải quyết việc làm cho người
nghiện: Thứ nhất, do định kiến nên ít doanh nghiệp tiếp nhận người
nghiện sau cai vào làm việc;
Thứ hai, đại đa số những người nghiện sau cai hạn chế về bản lĩnh,
năng lực tự lao động sản xuất kém dẫu Nhà nước, tỉnh đã có chính
sách ưu tiên vay vốn hỗ trợ sản xuất nhưng rất ít người tự đứng ra vay.
Việc làm cho người nghiện sau cai trên lý thuyết là có, nhưng thực tế
thì ở tỉnh còn rất nhiều người tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng nghề, đại


học thất nghiệp, nhóm yếu thế này không thể cạnh tranh được. Nếu
không có việc làm, con đường phục thiện của 1.490 lượt người được
cai nghiện mới năm 2016 này e rằng là rất khó khăn...
Nhà nước đã bỏ ra rất nhiều kinh phí để giáo dục, chăm lo cho đối
tượng người nghiện ma túy - bệnh nhân đặc thù này.Song công sức,
tiền của sẽ “đổ sông, đổ biển” nếu các đối tượng này tái nghiện, có
hành vi nguy hiểm cho xã hội.
- Tình hình buôn bán, vận chuyển, tàng trữ và sử dụng trái phép chất
ma túy đang phức tạp và càng tinh vi khó kiểm soát, tình trạng buôn
bán lẻ và tổ chức sử dụng chưa được phát hiện triệt phá triệt để.
- Cai nghiện và quản lý sau cai là công việc không giản đơn, đòi hỏi
phải thực hiện đồng bộ các giải pháp vê hành chính, pháp luật và khoa
học tâm lý, y tế, lao động sản xuất, tạo việc làm cũng như việc quản lý
sau cai lâu dài để chống tái nghiện, nhưng chưa có các mô hình hiệu
quả cao. Đa số người nghiện không có việc làm hoặc việc làm không
ổn định.
- Nhận thức của các cấp, các ngành và không ít cán bộ, nhân dân về
cai nghiện và quản lý sau cai còn phiến diện, thiếu sâu sắc, đồng bộ;
chỉ chú trọng cai cắt cơn mà không kiên trì quản lý sau cai và tiếp tục
theo dõi giáo dục, hướng nghiệp dạy nghề tạo việc làm đề ngăn ngừa
tái nghiện. Do vậy tình trạng tái nghiện còn cao và nảy sinh tư tưởng
hoài nghi, buông lỏng của một số địa phương trong công tác cai
nghiện.
- Trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền các ngành, các cơ
quan, đoàn thể, nhất là ở cơ sở chưa tập trung cao cho việc cai nghiện
và quản lý sau cai. Tổ chức thực hiện chưa đồng bộ, đồng tâm, đồng
loạt, kiên trì và liên tục. Chưa xây dựng và nhân rộng các mô hình cai
nghiện và quản lý sau cai có hiệu quả.
- Đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất, cán bộ (nhất là ở cơ sở...) chế độ
chính sách cho công tác cai nghiện và quản lý sau cai còn quá hạn hẹp
chưa đảm bảo yêu cầu thực tê của công việc này.
3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong hỗ trợ việc
làm đối với người nghiện ma túy sau cai nghiện ở Thanh Hóa
3.1. Đào tạo nghề, chuyển nghề đối với người nghiện ma túy sau


cai nghiện
Thứ nhất, cần phải nâng cao trình độ học vấn đối với NNMT SCN;
Muốn vậy cần tổ chức học văn hóa cho người nghiện ma túy đang cai
nghiện tại các cơ sở của Nhà nước và cộng đồng để họ có tri thức, học
vấn để tiếp nhận những kỹ năng nghề nghiệp và việc làm chuyên sâu
hơn trong những lĩnh vực mà xã hội yêu cầu, giúp họ sẽ có nhiều cơ
hội để tìm việc làm phù hợp.
Trong số những người được khảo sát thì trình độ học vấn chủ yếu là
trung học cơ sở (45,1%) và trung học phổ thông (35,4%), những
người có trình độ từ trung cấp trở lên chiếm một tỷ lệ rất nhỏ chỉ
3,3%. Do đó, việc tổ chức đào tạo nâng cao trình độ học vấn đối với
NNMT SCN là rất cần thiết.
Thứ hai, đào tạo nghề, hỗ trợ việc làm thích hợp đối với NNMT
SCN
cũng là mục tiêu quan trọng cần hướng tới trong quá trình THNCĐ,
chống tái nghiện thành công đối với NNMT SCN. Để hỗ trợ được việc
làm, trước hết cần phải đào tạo nghề. Với NNMT SCN, số được đào
tạo nghề trước khi nghiện không nhiều. Do vậy, đào tạo nghề trong
quá trình cai nghiện tập trung có vai trò quan trọng. Tuy nhiên, đào tạo
nghề nào? Đào tạo thế nào? với những chuẩn mực nào?
trong thời gian bao lâu? đang là vấn đề không đơn giản. Trước hết, cần
đào tạo những nghề mà xã hội đang cần như may mặc, làm hàng thủ
công, hàn, nguội, mộc,điện dân dụng, xây dựng, lái xe, sửa xe gắn
máy, in, phô tô…Cần đặc biệt chú ý đào tạo nghề cho NNMT SCN
hướng vào những tiêu chí như: đơn giản, ngắn hạn, thu nhập vừa phải,
phù hợp với sức khỏe, học vấn, dễ tìm được việc làm khi NNMTSCN
tái hòa nhập cộng đồng.
Thứ ba, để đào tạo nghề, chuyển nghề đối với NNMT SCN khi
THNCĐ
cần phải huy động sức mạnh tổng hợp của tất cả các chủ thể, trong đó
có Nhà nước,các tổ chức chính trị, đoàn thể xã hội, các doanh nghiệp,
các nhà đầu tư, các nhà hoạt động xã hội. Vốn đầu tư cần tập trung
cho Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục – Lao động xã hội, cho các cơ sở
dạy nghề của Nhà nước và cộng đồng nhằm đào tạo nghề, chuyển
nghề, tạo việc làm cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, năng lực và


nguyện vọng của từng NNMT SCN khi THNCĐ.
Thứ tư, cần chuyển đổi nghề đối với NNMT SCN theo các nhu cầu

điều kiện hiện có. Nếu NNMT đã có nghề, song lâu không làm, mai
một kỹ năng,thì cần đào tạo lại để họ nắm vững kỹ năng nghề. Đối với
nhóm không có nghề,cần phải tham vấn nhu cầu về nghề nghiệp cho
họ, từ đó đào tạo những nghề thích hợp; Ngoài ra, với nhóm không
được đào tạo nghề này, cần hướng họ đến thị trường lao động việc làm
tự do để họ tự lựa chọn việc làm và phát triển những nghề mà họ
mong muốn.
3.2. Nâng cao vai trò của cộng đồng hỗ trợ việc làm đối với người
nghiện ma túy sau cai nghiện.
Thứ nhất, tạo môi trường xã hội thuận lợi cho quá trình THNCĐ để
hỗ trợ việc làm đối với NNMT SCN.
Như mọi người đều biết, NNMT SCN dù ít hay nhiều, vẫn phải tách ra
khỏi gia đình và cộng đồng trong một thời gian. Do vậy, giao tiếp xã
hội của họ với gia đình, cộng đồng và hệ thống chính trị, ít nhiều bị
suy giảm. Chính vì lý do đó, để THNCĐ được tốt, cần phải tạo môi
trường xã hội thuận lợi cho họ. Trước hết cần kết hợp với gia đình
động viên hỗ trợ họ trong quá trình cai nghiện và sau khi cai nghiện
ma túy. Trong đó, gia đình cần đảm bảo sự đồng thuận trong việc đưa
người nghiện đi cai dưới các hình thức thích hợp. Ở đây, ý kiến của
cha mẹ, vợ, con, anh, chị, em ruột đóng vai trò quan trọng trong việc
xác định hình thức cai,địa điểm cai, thời gian cai và truyền nghị lực,
niềm tin cho người nghiện đi cai.
Sau nữa, trong quá trình cai nghiện, phải căn cứ vào điều kiện, hoàn
cảnh và yêu cầu cụ thể của người nghiện ở Trung tâm cai nghiện mà
tiến hành thăm hỏi, động viên người cai nghiện một cách thích hợp.
Đây là yếu tố quan trọng khiến cho quan hệ giữa người nghiện và
những thân nhân gia đình họ gắn kết trong thời gian cai nghiện. Một
điều không thể thiếu, là để NNMT SCN giữ được mạng lưới xã hội
ngay cả khi cai nghiện tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động
xã hội và có thể THNCĐ hỗ trợ được việc làm thích hợp sau khi cai.
Vai trò của nhân viên CTXH trong việc kết nối nguồn lực là hết sức


cần thiết để trợ giúp NNMT SCN.
Thứ hai, chống tâm lý kỳ thị đối với NNMT SCN của cộng đồng.
NNMT, nhất là người nghiện đã đi cai thường có tâm lý tự ti, mặc
cảm, xa lánh cộng đồng. Do vậy, tìm các biện pháp khắc phục tâm lý
này cũng là điều kiện để giúp đỡ họ tự tin. Ở đây, để giúp đỡ, động
viên, thăm hỏi, họ hàng, bạn bè thân, cộng đồng, hàng xóm, kể cả bạn
nghiện thân đã cải tạo tốt, cần tăng cường các cuộc tiếp xúc, giúp đỡ
trong những ngày đầu mới về để động viên, giúp đỡ tìm hiểu thêm
tâm tư, nguyện vọng, tạo điều kiện hỗ trợ việc làm cho họ. Có thể
thành lập những nhóm đồng đẳng để họ thường xuyên trao đổi, giúp
đỡ và động viên nhau cùng vươn lên.
Thứ ba, tổ chức giới thiệu việc làm, giúp họ tìm việc làm cũ và sắp
xếp việc làm mới phù hợp với nghề nghiệp được đào tạo. Đây là công
việc cần sự giúp đỡ, phối hợp của cả hệ thống chính trị, các đoàn thể
xã hội, hệ thống bạn bè, gia đình và người thân của NNMT SCN. Ở
đây, cần xem quá trình xã hội hoá lại được thực hiện đối với NNMT
SCN thế nào, giúp họ hòa nhập và hỗ trợ được việc làm phù hợp nhất
với khả năng hiện có của họ.
Thứ tư, khá nhiều NNMT SCN cần có vốn để học nghề và đầu tư
cho sản xuất, kinh doanh. Song sự kỳ thị, xa lánh và sự thiếu tin tưởng
vào lời nói và hành động của người nghiện khiến cho việc đầu tư tiền
của vốn gặp khó khăn. Do vậy, muốn giúp NNMT SCN có vốn để sản
xuất, kinh doanh, cần phải có chính sách tín dụng riêng cho những
người này. Tuy nhiên, cần tạo được cơ chế kiểm tra, giám sát thích
hợp để hướng dẫn NNMT SCN sử dụng vốn đầu tư đúng hướng hiệu
quả. Liên kết với người thân, gia đình, bạn bè để tổ chức sản xuất là
một hướng cần chú ý đẩy mạnh.
Thứ năm, để hỗ trợ được việc làm đối với NNMT SCN sau khi
THNCĐ, cần nâng cao hơn nữa vai trò định hướng của các cơ quan
Đảng, chính quyền và vai trò của các nhà doanh nghiệp. Ở đây, việc
phổ biến chủ trương,đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước về
hỗ trợ việc làm cho người dân, kể cả người nghiện ma túy là công việc
phải chú ý đầu tiên. Việc làm này thời gian qua làm chưa tốt. Sau nữa,
phải có chính sách khuyến khích các nhà doanh nghiệp thu nạp lao
động có hoàn cảnh đặc biệt thông qua chính sách thuế, vốn vay lãi


suất thấp và thuê đất với giá ưu đãi.
Phần III: Đề xuất và khuyến nghị
1. Đối với chính quyền địa phương và các doanh nghiệp
Xác định công tác quản lý, hỗ trợ việc làm đối với NNMT SCN là
nhiệm vụ quan trọng,có ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc. Trước hết
phải quan tâm giúp đỡ, thực hiện các biện pháp cứu trợ xã hội khi
NNMT SCN gặp khó khăn. Xây dựng và hoàn thiện kế hoạch quản lý
sau cai nghiện, THNCĐ cho người nghiện; tổ chức, thực hiện nghiêm
túc kế hoạch này.
Tăng cường các cuộc tiếp xúc, động viên, nhằm hiểu rõ hoàn cảnh gia
đình bản thân người nghiện để kịp thời vận dụng và thực hiện những
chính sách, chế độ cụ thể, giúp NNMT SCN vay vốn, đào tạo nghề,
giải quyết việc làm, tạo điều kiện để họ vượt qua những khó khăn gặp
phải trong cuộc sống và sinh hoạt.
Đưa nhiệm vụ tổ chức dạy nghề, hỗ trợ việc làm đối với NNMTSCN
thành một nội dung cụ thể trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội thường kỳ. Trong đó, cần quy định rõ nhiệm vụ của từng ngành,
từng tổ chức bố trí hỗ trợ việc làm đối với NNMT SCN, giúp họ vay
vốn từ ngân hàng, từ quỹ xóa đói giảm nghèo để phát triển sản xuất,
ổn định đời sống.
Khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tổ chức, cá nhân
thực
hiện hoạt động dạy nghề cho NNMT SCN như: ưu tiên cấp quyền sử
dụng đất để xây dựng cơ sở dạy nghề, giảm giá cho thuê đất, thuê nhà,
xưởng để mở cơ sở dạy nghề. Ưu tiên mức thuế phù hợp với hoạt
động sản xuất và thực hành nghề của các cơ sở dạy nghề này. Hỗ trợ
kinh phí cho việc tổ chức, đào tạo một số nghề đặc biệt có kỹ thuật
cao.
2. Đối với các Đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội
Đối với các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội như: Mặt trận tổ quốc,
Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, cộng tác viên CTXH… cần chủ động
tham gia thực hiện các cuộc vận động “Xây dựng các mô hình giúp tái
hòa nhập cộng đồng đối với NNMT SCN”. Trước hết, cần xây dựng
các “Câu lạc bộ sau cai nghiện ma túy” nhằm tập hợp, tổ chức, giáo


dục hướng dẫn người nghiện, NNMT SCN rèn luyện sức khoẻ, từ bỏ
ma túy, chọn nghề để học và tìm việc làm.
3. Đối với Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội
Cần nâng cao chất lượng dạy nghề, học nghề, tổ chức lao động sản
xuất ở Trung tâm và tại cộng đồng; tổ chức cơ sở sản xuất kinh doanh,
cơ sở dạy nghề dành riêng đối với NNMT SCN sau khi chữa trị phục
hồi. Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục - Lao động xã hội cần chủ động
trong việc liên kết, nhận làm đỡ đầu hoặc kết nối với các cơ sở dạy
nghề, các cơ sở tiểu thủ công nghiệp (sản xuất hoa giấy, tranh thêu, đồ
gỗ …) nhằm giới thiệu ngay việc làm cho NNMT SCN khi họ
THNCĐ.
4. Đối với gia đình, người thân và bạn bè
Trước hết, gia đình, người thân và bạn bè cần gần gũi để nắm được
tâm tư, nguyện vọng của NNMT SCN, xóa bỏ mặc cảm, xây dựng
niềm tin, giúp người nghiện dũng cảm vươn lên. Để góp phần đào tạo
nghề, hỗ trợ việc làm cho NNMT SCN, cần hỗ trợ cả về tinh thần và
vật chất cho họ. Đây là cách thức mà gia đình, người thân, họ hàng thể
hiện tình thương, lòng nhân ái của những người cùng huyết thống
trong việc trợ giúp NNMT SCN tái hòa nhập tốt vào cộng đồng.
5. Đối với người nghiện ma túy sau cai nghiện
Để có thể tái hòa nhập với cộng đồng, chống tái nghiện, nhận được sự
hỗ trợ của xã hội, NNMT SCN cần phải quyết tâm từ bỏ ma túy, kiên
trì cai nghiện và chấp hành nghiêm những quy định của Trung tâm
Chữa bệnh – Giáo dục - Lao động xã hội đã đề ra. Tiếp tục học nghề,
chuyển đổi nghề, tìm những việc làm thích hợp, từng bước THNCĐ
thành công. Tham gia vào các phong trào chung của cộng đồng, các
hoạt động xã hội khác như văn hóa - thể thao giúp NNMT SCN nâng
cao sức khỏe thể chất lẫn sức khoẻ tinh thần, khắc phục tâm trạng bi
quan, tâm lý mặc cảm.Xây dựng được lòng tin vào cộng đồng xã hội
và tin vào bản thân cũng là điều cần phải thực hiện. Tuy nhiên, để làm
được điều này, NNMT SCN cũng cần phải có hành vi đúng đắn, tuân
thủ những giá trị và chuẩn mực mà xã hội đang tuân theo, tạo niềm tin
vững chắc trong cộng đồng. Ngoài ra, NNMT SCN phải tăng cường
quan hệ hai chiều và nhiều chiều với nhau để hiểu mọi người và mọi


người mới có cơ hội hiểu, thông cảm cho quá khứ lỗi lầm của họ từ đó
sẵn sàng giúp đỡ, hỗ trợ trong những điều kiện và khả năng có thể.
6. Đối với nhân viên công tác xã hội
Nhân viên CTXH là người đại diện bênh vực quyền lợi chính đáng
cho thân chủ là NNMT SCN nên vai trò của nhân viên CTXH đóng vị
trí quan trọng trong việc hỗ trợ việc làm đối với NNMT SCN khi tái
hòa nhập cộng đồng.
Nhân viên CTXH, ngoài việc tham gia giải quyết các vấn đề xã hội
còn thực hiện các hoạt động như giáo dục phòng ngừa, tập huấn, cung
cấp kiến thức cho gia đình, người thân cách hỗ trợ để giúp NNMT
SCN trở nên chủ động, như vậy họ sẽ tự tin hơn trong cuộc sống và sẽ
tránh được những vấn đề khác có thể phát sinh (như là tái nghiện).
Đồng thời nhân viên CTXH còn tư vấn để chính quyền có những
chính sách phù hợp nhằm ngăn ngừa sự phát sinh các vấn đề xã hội.
Thông qua việc cung cấp các dịch vụ xã hội như: chăm sóc sức khoẻ,
cải thiện tình hình kinh tế gia đình, việc làm, hạ tầng cơ sở, nước sạch
vệ sinh môi trường, hỗ trợ tâm lý tình cảm… nhân viên CTXH sẽ giúp
NNMT SCN có được cơ hội tiếp cận dịch vụ để giải quyết vấn đề của
bản thân, phát huy được những khả năng của mình, vượt qua khó khăn
đó, vươn lên tự lập trong cuộc sống. Bằng hoạt động giáo dục, cung
cấp kiến thức, kỹ năng giải quyết vấn đề cho cá nhân,gia đình và cộng
đồng NNMT SCN, đội ngũ này sẽ cung cấp cơ hội cho NNMTSCN
được hoà nhập cộng đồng – là một biện pháp giúp họ phát triển nhân
cách,tăng cường giao lưu và học hỏi xã hội.
Để nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề, hỗ trợ việc làm đối với
NNMT SCN, cần phát huy sức mạnh của cả cộng đồng, nâng cao hiệu
quả hoạt động phòng, chống ma túy của các cơ quan nhà nước, các tổ
chức chính trị - xã hội và cộng đồng, bằng các biện pháp đồng bộ,
thống nhất như: hoàn thiện các văn bản pháp lý giúp đỡ họ ổn định
cuộc sống. Ngoài ra, Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang cần có các
chính sách, biện pháp cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho NNMT SCN
không tái nghiện, hòa nhập cộng đồng; đổi mới công tác quản lý, giáo
dục, hỗ trợ NNMT SCN cũng là việc cần làm một cách đồng bộ, thống
nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và của cả hệ thống chính


trị. Đây là một trong những bài học kinh nghiệm quan trọng để tổ
chức cai nghiện và THNCĐ thành công.
Kết Luận
Thực trạng về công tác đường lối đổi mới, hội nhập quốc tế của
Đảng, trong những năm cuối thế kỷ 21, tỉnh Thanh Hóa đã phát triển
nhanh chóng và đạt được những thành tựu noi bật ve kinh tế, văn hóa,
xã hội; mức sống người dân không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên
cùng với những mặt tích cực của sự phát triển, những tiêu cực của xã
hội cũng phát sinh, trong đó tệ nạn ma túy diễn ra hết sức nghiêm
trọng đã gây nhieu bất an trong đời sống xã hội, gây ảnh hưởng xấu
đến sự phát triển bền vững của tỉnh.
Đấu tranh phòng, chống các tệ nạn xã hội, đặc biệt là tệ nạn ma túy là
một vấn đề phức tạp và khó khăn; đòi hỏi phải được tiến hành thường
xuyên, kiên trì và quyết liệt với các giải pháp đồng bộ từ tuyên truyền,
giáo dục. phòng ngừa đến đấu tranh kiểm soát, triệt phá đường dây
buôn bán vận chuyển, ổ nhóm sử dụng trái phép chất ma túy; trong đó
việc cai nghiện - dạy nghề và tạo việc làm sau cai là một giải pháp
nhằm giảm cầu, ngăn chặn việc tái nghiện và lây lan người nghiện
mới, địa bàn mới, giúp người nghiện ma túy được cai thành công hòa
nhập được với cộng đồng.
Đào tạo nghề và tạo việc làm cho những người sau cai nghiện ma tuý
là một nội dung quan trọng trong kế hoạch tổng thể cai nghiện - phục
hồi giai đoạn 2012 - 2016 và là nhiệm vụ trọng tâm của Chương trình
mục tiêu quốc gia về phòng chống ma túy từ nay đến năm 2016 và
tầm nhìn 2020, đây là một nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài và còn
nhiều khó khăn, nhất là trong tình hình hiện nay đất nước đang tiến
hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa
trong bối cảnh quốc tế và trong nước vô cùng phức tạp, có cả thuận lợi
và khó khăn, có thời cơ vận hội và thách thức đan xen.

Tài liệu tham khảo
1.


Truờng Đại học Kinh tế quốc dân - Giáo trình kinh tế lao đông - Tác
giả Bô môn kinh tế lao đông - NXB Giáo dục.
2.
TS Trần Thu, TS Hồ Bá Thâm - Quản lý dạy nghề và giáo dục phục
hồi nhân cách cho người sau cai nghiện. Vấn đề và kinh nghiệm ở
Thành phố Hồ Chí
3.
Minh - NXB Lao đông xã hôi -2008 4.
Tài liệu tập huấn của ILO về phòng, chống lạm dụng ma túy
trong doanh nghiệp.
5.
Cục phòng, chống tệ nạn xã hôi . Bô Lao đông thương binh xã
hôi - Luật phòng chống ma túy và môt số văn bản hướng dẫn thi
hành về cai nghiện phục hồi.-NXB Lao đông xã hôi - 2007 - Hà
Nôi.
6.
Báo cáo từ năm 2016 đến 2017 về tình hình tôi phạm ma túy và
công tác cai nghiện tại tỉnh Thanh Hóa và cả nước.
7.
Cục phòng, chống tệ nạn xã hôi. Bô Lao đông thương binh xã
hôi - Môt số mô hình điển hình phòng, chống mại dâm và cai
nghiện ma túy - NXB Lao đông xã hôi - 2005- Hà Nôi.
8.
Cục Phòng, chống tệ nạn xã hôi - Tài liệu tập huấn công tác
chữa trị phục hồi cho người nghiện - NXB Lao đông xã hôi - Hà
Nôi.
5.QUYẾT ĐỊNH Số: 80/2004/QĐ-UB CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH Thanh Hóa-Về việc phê duyệt Đề án Cai nghiện - Tạo việc làm
sau cai nghiện ma túy giai đoạn 2005 - 2010
6. Quyết định số 2596/QĐ-TTg ngày 27/12/2013 của Thủ tướng
Chính phủ và Nghị quyết số 98/NQ-CP ngày 26/12/2014 của Chính
phủ, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐ,TB&XH) tỉnh Thanh
Hóa


7.Trang web:
http://www.baonghean.vn/xa-hoi/201612/thach-thuc-vong-quay-caitai-nghien-2764503/
http://tiengchuong.vn/O-dau-the-nao/Thanh-Hoa-Doi-moi-cainghien-tai-cac-trung-tam-theo-huong-da-chuc-nang/22323.vgp
http://baodansinh.vn/thanh-hoa-6704-nguoi-nghien-ma-tuy-6885nguoi-nhiem-hiv-d10454.html
http://suckhoedoisong.vn/tao-viec-lam-cho-nguoi-sau-cai-nghienn79195.html


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×