Tải bản đầy đủ

Nhu cầu quan hệ của nct cô đơn, không nơi nương tựa tại trung tâm

Đề tài:Thực trạng Nhu cầu quan hệ của NCT cô đơn, không nơi nương tựa tại
Trung tâm bảo trợ xã hội IV, Ba Vì- Hà Nội.
Mở đầu
Tình cảm là nhu cầu không thể thiếu đối với mỗi con người, đó càng là một nhu
cầu cần thiết đối với người già cô đơn, không nơi nương tựa đang được nuôi dưỡng
tại các Trung tâm bảo trợ xã hội. Người già cô đơn tại Trung tâm bảo trợ xã hội IV,
Ba Vì - Hà Nội, là nhóm đối tượng được thu nhận và nuôi dưỡng trong Trung tâm,
sống cách biệt về địa lý với gia đình, người thân và thế giới bên ngoài. Do đó, người
già ở đây thường hạn chế về các mối quan hệ xã hội bên ngoài kèm theo đó là thiếu
thốn về nhu cầu quan hệ tình cảm khi sống trong môi trường nuôi dưỡng của Trung
tâm. Bên cạnh đó, mỗi con người sống trong môi trường nhất định thì luôn có những
mối quan hệ tác động qua lại với môi trường xung quanh, có mối quan hệ với con
người xung quanh, nhờ đó mà loài người đã tạo ra xã hội của mình. Người già cô
đơn, không nơi nương tựa sống trong Trung tâm cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Họ cần có mối quan hệ tình cảm với con người và môi trường xung quanh mình.
Được nuôi dưỡng tập trung, người già cô đơn trong Trung tâm luôn có những mối
quan hệ tình cảm gắn bó với Trung tâm, với cán bộ nhân viên cơ sở và những người
cùng môi trường chưng sống. Đặc biệt, ở người già xuất hiện những mối quan hệ tình
cảm khác giới đặc biệt. Tuy nhiên, những mối quan hệ tình cảm này không phải lúc
nào cũng mang tính bền vững mà thường rất phức tạp và có thể để lại nhiều hệ quả
khó lường. Do vậy, bên cạnh việc đáp ứng những nhu cầu về quan hệ tình cảm cho

người già cần quan tâm ngăn chặn và giải quyết những hệ quả từ các mối quan hệ
tình cảm khác giới này.
Đối với vấn đề đáp ứng nhu cầu quan hệ tình cảm cho người già cô đơn tại các
Trung tâm bảo trợ xã hội cần có sự phối kết hợp, giúp đỡ từ nhiều phía như gia


đình, người thân, chính quyền địa phương, Trung tâm nuôi dưỡng giáo dục và đặc biệt cần đến
sự hỗ trợ của đội ngũ nhân viên công tác xã hội. Thực tế, hiện tại Trung tâm chưa có một nhân
viên công tác xã hội chuyên nghiệp nào làm việc và hỗ trợ trong lĩnh vực này. Đặc biệt, Trung
tâm bảo trợ xã hội là nơi đảm nhiệm rất nhiều nhiệm vụ như: tiếp nhận, quản lý, nuôi dưỡng,
giáo dục, hoàn trả các đối tượng xã hội về gia đình và địa phương,... đối với tất cả các loại đối
tượng xã hội gồm người già, trẻ em, người tàn tật. Do đó, Trung tâm chưa thể tập trung quan
tâm đến một lĩnh vực cụ thể của các đối tượng xã hội, nhất là việc đáp ứng nhu cầu quan hệ tình
cảm của người già cô đơn, không nơi nương tựa. Hiện nay, chính sách nhà nước mới chỉ dừng
lại ở việc đáp ứng nhu cầu về cơ sở vật chất, nuôi dưỡng về mặt vật chất mà chưa quan tâm đến
việc đáp ứng các nhu cầu xã hội khác đối với những đối tượng xã hội được nuôi dưỡng tại các
Trung tâm bảo trợ xã hội. Điều này cho thấy, vấn đề đáp ứng nhu cầu tinh thần và quan hệ tình
cảm cho người già cô đơn, không nơi nương tựa cần có sự quan tâm của Nhà nước, Trung tâm
nuôi dưỡng, các tổ chức xã hội, cá nhân và đặc biệt cần đến sự hỗ trợ của đội ngũ nhân viên
công tác xã hội.
Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Thực trạng Nhu cầu quan hệ của NCT cô đơn, không
nơi nương tựa tại Trung tâm bảo trợ xã hội IV, Ba Vì- Hà Nội.
” với mong muốn đi sâu tìm hiểu về nhu cầu quan hệ của người già cô đơn, đặc biệt là nhu cầu
quan hệ về mặt tình cảm; tìm ra những ừở ngại và khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu quan hệ
của người già.
Mặc dù có nhiều cố gắng,xong bài tiểu luận của em không tránh khỏi những thiếu sót,rất mong
sự góp ý của cô và các bạn để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn cô!
Phần I:Cơ sở lý luận
1.1.

Khái niệm người cao tuổi

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi.
-Theo quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn liền với
việc suy giảm các chức năng của cơ thể.


-Về mặt pháp luật: Luật Người cao tuổi Việt Nam năm 2010 quy định: Người cao
tuổi là “Tất cả các công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên”.


-Theo WHO: Người cao tuổi phải từ 70 tuổi trở lên.
-Một số nước phát triển như Đức, Hoa Kỳ... lại quy định người cao tuổi là những
người từ 65 tuổi trở lên. Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do sự khác nhau về
lứa tuổi có các biểu hiện về già của người dân ở các nước đó khác nhau. Những
nước có hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân
cũng được nâng cao. Do đó, các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn hơn. Vì
vậy, quy định về tuổi của các nước đó cũng khác nhau.
-Theo quan điểm của Công tác xã hội: Với đặc thù là một nghề trợ giúp xã hội, công
tác xã hội nhìn nhận về người cao tuổi như sau: Người cao tuổi với những thay đổi
về tâm sinh lý, lao động - thu nhập, quan hệ xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn, vấn đề
trong cuộc sống. Do đó, người cao tuổi là một đối tượng yếu thế, đối tượng cần sự
trợ giúp của công tác xã hội.
1.2.Một số khái niệm lien quan
Khái niệm “Người cao tuổi cô đơn, không nơi nương tựa” được xác định là những người
không có gia đình, hoặc đã mất liên lạc với gia đình, người thân không còn chỗ để nương nhờ
chăm sóc, hỗ ừợ mà phải tự kiếm sống để nuôi bản thân. Nhóm người này có thể sống bên
ngoài xã hội, có hoặc không có chỗ ăn ở cố định; hay được tập trung nuôi dưỡng ừong các
Trung tâm bảo ừợ xã hội.


Khái niệm “Nhu cầu” được định nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt là “Điều đòi hỏi của đời
sống, tự nhiên và xã hội (ví dụ: nhu cầu về ăn, mặc, ở; nhu cầu giải trí, nhu cầu vật chất và văn
hoá,...)”. Khái niệm Nhu cầu được sử dụng trong nghiên cứu cũng mang hàm nghĩa này, nhưng
đặc biệt quan tâm đến những đòi hỏi của con người cần được đáp ứng trong cuộc sống.
Khái niệm “ Quan hệ” là sự gắn bó chặt chẽ, có tác động qua lại lẫn nhau. (Từ điển Tiếng
Việt). Trong nghiên cứu, khái niệm này chỉ những mối liên hệ xã hội giữa người với người.
Khái niệm “Quan hệ tình cảm khác giới” là sự gắn bó về mặt tình cảm giữa hai người
thuộc hai giới (nam và nữ) khác nhau. Mối quan hệ tình cảm này bao hàm cả yếu tố tình dục.

2.Tổng quan chung về vấn đề người cao tuổi
2.1 Người cao tuổi Việt Nam
Cùng với xu hướng chung của thế giới, quá trình già hoá dân số ở Việt Nam cũng
đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh, qui mô ngày càng lớn. Quá trình già hóa
dân số ở Việt Nam là sẽ “già ở nhóm già nhất”, nghĩa là tốc độ tăng và số lượng
người cao tuổi ở độ tuổi cao nhất (từ 80 tuổi trở lên) sẽ ngày càng lớn. Số liệu từ
bốn cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở giai đoạn 1979 - 2009 cho thấy ,tỷ lệ NCT ở
nhóm tuổi thấp nhất (từ 60-69) tăng chậm, trong khi tỷ lệ NCT ở nhóm cao tuổi
trung bình (70-79) và già nhất (80+) có xu hướng tăng nhanh hơn. Dự báo của GSO
(2010) cho giai đoạn 2009 - 2049, khi Việt Nam bước vào giai đoạn dân số “già”
cũng là lúc nhóm dân số cao tuổi nhất tăng với tốc độ cao nhất So với các quốc gia
khác trên thế giới, thậm chí với nhiều nước phát triển hoặc có mức thu nhập bình
quân đầu người cao hơn, tốc độ già hóa dân số Việt Nam khá cao.
Cụ thể, số năm để tỷ lệ dân số từ 65 tuổi trở lên của Việt Nam tăng từ 7% lên 14%
tổng dân số (hay thời gian để dân số quá độ từ giai đoạn “già hóa” sang “già”) là
ngắn hơn nhiều nước: Pháp mất 115 năm, Thụy Điển mất 85 năm, Mỹ mất 69 năm,
Nhật Bản và Trung Quốc mất 26 năm, trong khi Việt Nam chỉ mất 20 năm. Với điều
kiện kinh tế, xã hội phát triển như hiện nay thì đây thực sự là thách thức lớn cho


Việt Nam trong việc thích ứng với một dân số “già hóa” nhanh [20], [68]. Cơ cấu
người cao tuổi hiện nay cho thấy, ở Việt Nam đa phần NCT sống ở nông thôn, là
nông dân và làm nông nghiệp dù rằng quá trình đô thị hóa đang diễn ra nhanh
chóng ở Việt Nam. Tổng điều tra Dân số năm 2009 cho thấy có 72,9% NCT sống ở
nông thôn.
Trong số NCT, chỉ có khoảng 16 - 17% được hưởng lương hưu hoặc mất sức, hơn
10% hưởng trợ cấp người có công với nước. Như vậy, còn trên 70% NCT hiện nay
sống bằng lao động của mình, bằng nguồn hỗ trợ của con cháu và gia đình. Trong
khi đó, ở nông thôn ruộng đất ít, năng suất, thu nhập thấp, ít có tiết kiệm ph ng khi
bất trắc tuổi già. Thực tế này đ i hỏi chính sách đối với NCT cần hướng đến nông
thôn, cần xây dựng và triển khai chính sách bảo hiểm xã hội cho nông dân, đẩy
mạnh nghiên cứu các hình thức hoạt động phù hợp cho NCT ở nông thôn, đặc biệt
NCT cô đơn, không nơi nương tựa, người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn… Xét
theo vùng kinh tế - xã hội, người cao tuổi nước ta phân bố không đồng đều, tập
trung ở 3 vùng có đông dân cư nhất trong cả nước là đồng bằng sông Hồng, đồng
bằng sông Cửu Long và Bắc Trung bộ. Đồng bằng sông Hồng có số lượng người cao
tuổi cao nhất trong cả nước (chiếm 25,41% số NCT), tiếp đến là đồng bằng sông
Cửu Long (chiếm 20,95%) và Bắc Trung bộ 15,2%
1.2.4 Chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong công tác chăm sóc
người cao tuổi.
Theo thống kê của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa Gia đình, cuối năm 2011 Việt
Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số, nhóm dân số cao tuổi tăng
nhanh chạm ngưỡng 09 triệu người, chiếm 1/10 dân số cả nước. Tuổi thọ của
người cao tuổi (NCT) tăng nhanh phản ánh những thành tựu to lớn của công tác
chăm sóc, phụng dưỡng NCT và công tác dân số được Đảng, Nhà nước Việt Nam ta
chỉ đạo thực hiện từ các giai đoạn trước. Tuy nhiên, già hóa dân số cũng đưa đến
những khó khăn, thách thức cho công tác chăm sóc, phụng dưỡng và phát huy vai


trò NCT (Tổ chức Hỗ trợ Người cao tuổi Quốc tế, 2013); bởi hiện nay đời sống NCT
nói chung, cùng điều kiện thu nhập - mức sống, điều kiện sống của đa phần NCT
nói riêng, cùng nhiều vấn đề liên quan như: sức khỏe yếu, bệnh tật nhiều, điều
kiện chăm sóc chưa đảm bảo... tác động rất lớn đến đời sống NCT ở Việt Nam.
Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa Gia đình cho biết, ở nước ta hiện nay 70% NCT
đang sống ở nông thôn và hiện tại vẫn đang tham gia lao động, điều này cho thấy
sau tuổi 60 NCT vẫn có nhu cầu tham gia làm việc nhằm tạo thu nhập, nâng cao
mức sống.
Việc chăm sóc - trợ giúp NCT cũng là truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt
Nam, để nâng cao chất lượng chăm sóc và hoạt động trợ giúp NCT, đồng thời phát
huy được vai trò của NCT trong cộng đồng như mục tiêu của Chương trình Hành
động Quốc gia về Người cao tuổi Việt Nam giai đoạn 2012-2020 đề ra, Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội đã đề xuất Đề án Chăm sóc và phát huy vai trò người
cao tuổi giai đoạn 2012-2020 trong đó chú trọng vào việc xây dựng và nhân rộng
“Mô hình liên thế hệ tự giúp nhau” (Nguyễn Văn Đồng, 2014), đây là một hướng đi
đúng đắn, mang tính đột phá, phù hợp với điều kiện và tình hình già hóa dân số ở
Việt Nam.
Phát huy truyền thống "kính lão, trọng thọ" từ trước đến nay Đảng và Nhà nước ta
cũng đã quan tâm sâu sắc đến người cao tuổi, thông qua các chủ trương, chính
sách, làm việc cụ thể.
Bên cạnh đó, vấn đề chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi còn được đề cập trong
luật bảo vệ sức khoẻ: "Người cao tuổi được ưu tiên khám chữa bệnh".
Nhằm biểu dương, động viên lớp người cao tuổi đánh giá công lao và sự nỗ lực của
người cao tuổi trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc, nêu gương sáng về đạo
đức, tác phong, lối sống và chủ nghĩa anh hùng của lớp người cao tuổi. Đảng và
Nhà nước ta luôn bổ xung, hoàn thiện hệ thống chính sách chăm sóc người cao tuổi
với chủ trương "việc chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần cho người cao tuổi là
trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội". (Theo Chỉ thị của Ban chấp hành
Trung ương Đảng số 59T/TW ngày 27-9-1995).Từ nhận thức đúng đắn trong công
tác chăm sóc người cao tuổi, Đảng và Nhà nước ta đã có những giải pháp, đúng


đắn góp phần nâng cao đời sống của người cao tuổi.
Phần II :Thực trạng Nhu cầu quan hệ của NCT cô đơn, không nơi nương tựa tại Trung
tâm bảo trợ xã hội IV, Ba Vì- Hà Nội
1.Đặc điểm tình hình TRung tâm BTXH IV,Ba Vì-Hà Nội
1.1 Lịch sử thành lập của Trung tâm bảo trợ xã hội IV, Ba Vì- Hà Nội:
Trung tâm bảo trợ xã hội IV - thuộc Sở Lao động Thương Binh và Xã hội được thành lập
tháng 10 năm 1984, đáp ứng yêu cầu công tác xã hội của Thành phố nhằm từng bước giải quyết
tình trạng người lang thang xin ăn, kiếm sống, trẻ lang thang đường phố và các đối tượng xã hội
khác để đảm bảo trật tự mỹ quan văn minh đô thị. Trung tâm là một cơ sở bảo trợ xã hội của
Thành phố Hà Nội, đặt trụ sở chính trên địa phận huyện Ba Vì, vùng đồi gò, bán sơn địa, với
diện tích 2,4 ha, cách Trung tâm thị trấn Tây Đằng 2km và cách thủ đô 60km về phía tây, có
đường giao thông thuận lợi cho việc đi lại, gần các cơ quan đảng, chính quyền, công an, quân
đội và bệnh viện Ba Vì, bệnh viện Sơn Tây,.. .Có hệ thống cây xanh, môi trường sinh thái trong
sạch. Ngoài ra, cơ sở 2 của Trung tâm đặt tại xã Xuân Sơn - thị xã Sơn Tây với diện tích 5 ha,
cách thị xã Sơn Tây 12km, có đường giao thông thuận tiện đi lại, có nhiều cây xanh thoáng mát.
Đơn vị có đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức trẻ, khoẻ, trách nhiệm, nhiệt tình, có năng
lực trình độ, chuyên môn nghiệp vụ, có truyền thống tốt đẹp trong suốt 25 năm qua và được sự
quan tâm chỉ đạo của Sở Lao động Thương Binh và Xã hội Hà Nội, các cơ quan của Thành phố,
các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân, các nhà hảo tâm thường xuyên quan tâm giúp đỡ.
về cơ sở vật chất: Trung tâm có cơ sở hạ tầng tốt, hệ thống nhà nuôi dưỡng các đối tượng
được xây dựng kết cấu tốt, đảm bảo mát mẻ về mùa hè, ấm áp ừong mùa đông, có hệ thống
cưng cấp nước sạch, nhà ăn, nhà bếp sạch sẽ, khu vệ sinh khép kín, có các tủ chuyên dừng bảo
quản thức ăn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Các phòng ở được trang bị giường, tủ, quạt
điện, các dãy nhà có


phòng đọc sách báo, xem tivi. Ngoài ra, Trung tâm còn có vườn cây ăn quả sinh thái, khu chăn
nuôi, ao cá,... Có khu học nghề và các trang thiết bị giảng dạy cho trẻ em.
Với hai cơ sở có diện tích vừa phải thuận lợi cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, tổ chức lao
động, chăn nuôi trồng trọt, hướng nghiệp dạy nghề cho các nhóm đối tượng xã hội.
1.2 Những vẩn đề liên quan đến người già cô đơn, không nơi nương tựa được nuôi dưỡng
lâu dài tại Trung tâm:
Đối với người già cô đơn, không nơi nương tựa được nuôi dưỡng lâu dài Trung tâm có
những chính sách quản lý và chăm sóc như sau:
+ Trợ cấp xã hội: Từ nguồn trợ cấp xã hội của Nhà nước với mức 300.000 đồng/tháng cho
nuôi dưỡng vật chất đối với mỗi đối tượng xã hội, 50.000 đồng/tháng chi tiêu đồ dùng sinh hoạt
cá nhân.
+ Quản lý: quản lý tập trung với những đối tượng xã hội khác, sắp xếp chỗ ở hỗn hợp với
những đối tượng người già lang thang xin ăn, người khuyết tật,...
+ Nuôi dưỡng: Chế độ ăn 3 bữa/ngày, mức 10.000 đồng/ngày với mỗi đối tượng xã hội.
Thức ăn chính chủ yếu là cơm, canh, rau, đậu và thịt, cá,...
+ Chăm sóc sức khoẻ: Trung tâm có phòng y tế phục vụ công tác chăm sóc sức khoẻ cho tất
cả các đối tượng xã hội trong Trung tâm, tuy nhiên phòng y tế chỉ cung cấp thuốc và cứu chữa
những bệnh thông thường như: sốt, cảm cúm, sơ cứu các vết thương do tai nạn lao động,...
Phòng y tế chưa có dịch vụ khám chữa bệnh thường kỳ cho người già cô đơn được nuôi dưỡng
lâu dài, chưa có dịch vụ khám chữa và xét nghiệm HIV, cũng như các bệnh hiểm nghèo khác.
Phòng y tế cũng chưa làm nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho các đối tượng xã hội tại
Trung tâm.
+ Hoạt động khác: về lao động, Trung tâm khuyến khích những đối tượng người già còn
khả năng lao động tham gia lao động, tăng gia sản xuất như: trồng rau, chăn nuôi lợn và cá,
quét dọn vệ sinh, tu sửa trang trại,... về mặt giải trí, mỗi dãy phòng được bố trí một phòng xem
tivi và đọc báo tập trung, mở theo giờ để phục vụ người già.


Đối với vấn đề quan hệ của người già cô đơn, mặc dù nhân viên cơ sở chưa có những hoạt
động cụ thể tác động đến lĩnh vực này, nhưng nhìn chung đội ngũ cán bộ cơ sở luôn quan tâm
theo dõi, hỏi thăm các đối tượng người già và kịp thời giải quyết những mâu thuẫn, bất hoà nảy
sinh trong các mối quan hệ của nhóm đối tượng này.

2.Thực trạng nhu cầu về quan hệ và các mối quan hệ của nct cô đơn, không noi nương
tựa tại Trung tâm bảo trợ xã hội IV, Ba Vĩ- Hà Nội
2.1 Nhu cầu về quan hệ, đặc biệt là quan hệ tình cảm của ngưòi già cô đơn không noi
nương tựa tại Trung tâm
2.1.1 Nhu cầu quan hệ xã hội chung
Hiện tại Trung tâm bảo ừợ xã hội IV, Ba Vì - Hà Nội đang tiếp nhận và nuôi dưỡng tất cả
211 đối tượng bao gồm cả ừẻ em, người già và người tàn tật còn khả năng hoặc đã mất khả năng
lao động. Trong đó, người già chiếm 87 người (tính đến tháng 9 năm 2009). Những đối tượng
người già được tiếp nhận chủ yếu từ Trung tâm bảo trợ xã hội II- Hà Nội lên, bao gồm nhiều
thành phần khác nhau như người già lang thang xin ăn, lang thang buôn bán rong đường phố,
người già lang thang không rõ nguồn gốc, người già neo đơn tàn tật,...số người già được gia
đình gửi vào Trung tâm chiếm tỉ lệ rất nhỏ. Trong đó, số người già cô đơn, không nơi nương tựa
được Trung tâm nhận nuôi dưỡng lâu dài là một trong những đối tượng đặc biệt tại Trung tâm.
Nhóm đối tượng này được Trung tâm nhận nuôi dưỡng lâu dài với hai lý do: đối tượng đó có
nguyện vọng sống lâu dài tại Trung tâm, đối tượng mất liên lạc với gia đình và Trung tâm
không có địa chỉ để gửi trả đối tượng sau hạn 3 tháng (với những trường hợp này, thường chỉ
khi gia đình hoặc người thân tìm đến xin đối tượng ra khỏi Trung tâm thì Trung tâm mới trả đối
tượng). Hầu hết các đối tượng này là những người cô đơn, không có hoặc đã mất vợ/chồng, một
số còn giữ liên lạc với gia đình hay họ hàng còn số khác đều không còn giữ mối liên hệ nào.
Với những đối tượng còn giữ mối quan hệ với gia đình, người thân; hầu hết các mối quan hệ
này rất lỏng lẻo bởi đối tượng ít được về thăm gia đình và người thân cũng như gia đình ít có
thời gian lên chăm sóc các đối tượng.
Khu chăm sóc người già tại Trung tâm được phân thành 4 phân khu nhỏ, mỗi phân khu là
một dãy nhà có cán bộ quản lý riêng. Mỗi phòng ở được bố trí từ 6 đến 8 giường, và người già


được sắp xếp ở chung với thanh niên tàn tật còn khả năng lao động. Đối tượng là người già cô
đơn, không nơi nương tựa cũng được sắp xếp chỗ ở hỗn hợp với các đối tượng xã hội khác theo
giới tính. Do đó, người già cô đơn được sống trong môi trường có nhiều thành phần, được tiếp
xúc với nhiều đối tượng khác nhau nhờ đó có thể hình thành các mối quan hệ xã hội khác nhau.
Hàng ngày được tiếp xúc và đón nhận sự chăm sóc từ người nuôi dưỡng, chịu sự quản lý và
điều phối của nhân viên cơ sở; là yếu tố thuận lợi để người già cô đơn hình thành những mối
quan hệ xã hội đối với người nuôi dưỡng và nhân viên trong Trung tâm.
Người già cô đơn, không nơi nương tựa được quản lý và nuôi dưỡng ừong Trung tâm bảo ừợ
xã hội hầu như chỉ được quan tâm về mặt vật chất. Các đối tượng khi vào Trung tâm, đều được
phát đồ dừng tư trang như chăn màn, thau chậu, đồ dùng vệ sinh cá nhân hàng tháng và được
nuôi ăn từ khoảng trợ cấp xã hội dành cho các đối tượng xã hội của Nhà nước. Được khám và
chữa bệnh khi ốm đau ngay tại Trung tâm. Ngoài ra, các đối tượng còn khả năng lao động được
huy động và phân công lao động vệ sinh trong phạm vi Trung tâm. Trong sinh hoạt tập thể và
hoạt động giải trí, các đối tượng xã hội cũng được xem tivi, đọc báo, nghe đài,...và sinh hoạt tập
thể (1 lần/tuần). Theo Lý thuyết nhu cầu của Mavslow, ngoài những nhu cầu đã được đáp ứng
như trên (nhu cầu cơ bản, nhu cầu được an toàn) thì các nhu cầu còn lại như: nhu cầu được yêu
thương, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu thể hiện mình của người già cô đơn chưa được
Trung tâm và xã hội quan tâm đáp ứng. Đặc biệt, nhu cầu xã hội của người già cô đơn là nhu
cầu quan hệ và nhu cầu tình cảm ít được chú ý tới. Theo Tâm lý học phát triển, tuổi già là giai
đoạn cần được quan tâm chăm sóc nhiều về mặt tình cảm, được xã hội yêu thương và tôn trọng.
Người già cô đơn, không nơi nương tựa là nhóm đối tượng đã chịu nhiều thiệt thòi về đời sống,
là nhóm yếu thế, do đó họ càng cần được xã hội quan tâm chăm sóc về mặt tình cảm hay ít ra là
được đáp ứng những nhu cầu ưu tiên. Họ được nuôi dưỡng trong Trung tâm bảo trợ xã hội, bị
giới hạn về không gian sống và thu hẹp rất nhiều mối quan hệ; do đó, họ rất cần được giao tiếp
với người khác, được chia sẻ tâm sự với mọi người xưng quanh.
Thực tế, tại Trung tâm vẫn chưa có những hoạt động nhằm hỗ ừợ người già cô đơn tăng
cường các mối quan hệ của bản thân. Đồng thời, Trung tâm cũng chưa có những chính sách cụ
thể để giúp người già cô đơn tự đáp ứng các nhu cầu xã hội hay giải quyết tốt những hệ quả từ
các mối quan hệ tình cảm giữa người già. Bên cạnh đó, chính sách xã hội của Nhà nước và
những người làm công tác liên quan đến lĩnh vực này cũng chưa quan tâm tới vấn đề đáp ứng


nhu cầu quan hệ tình cảm cho người già nói chưng cũng như người già cô đơn, không nơi
nương tựa tại các Trung tâm bảo trợ xã hội mà chủ yếu vẫn nặng về đáp ứng nhu cầu vật chất.
Như vậy, có thể thấy nhu cầu quan hệ của người già cô đơn không nơi nương tựa được nuôi
dưỡng lâu dài tại các Trung tâm bảo trợ xã hội là một vấn đề cấp thiết, là nhu cầu ưu tiên đối
với nhóm đối tượng này. Nhưng trên thực tế, nhu cầu quan hệ của người già cô đơn không nơi
nương tựa vẫn chưa được Trung tâm nuôi dưỡng cũng như xã hội quan tâm đáp ứng.
2.1.2Nhu cầu quan hệ tình cảm khác giới
Người cao tuổi cô đơn, không nơi nương tựa bị tổn thương và thiếu thốn về mặt tình cảm. Trong
vấn đề chưa được đáp ứng nhu cầu quan hệ thì nhu cầu quan hệ tình cảm khác giới là một vấn
đề đáng quan tâm đối với nhóm đối tượng này. Nhu cầu quan hệ tình cảm khác giới là một vấn
đề của người già mới được xã hội đề cập và tranh luận trong thời gian gần đây. Đối với người
già cô đơn, không nơi nương tựa đây thực sự là một nhu cầu cần thiết. Trên thực tế, người già
cô đơn là nhóm đối tượng thiếu thốn nhiều về mặt tình cảm, không nhận được sự quan tâm
chăm sóc và yêu thương từ con cháu, không còn người thân để chia sẻ tâm sự. Bên ngoài, họ có
thể không biểu lộ hoặc tỏ thái độ phó mặc cuộc đời, nhưng ừong sâu thẳm chắc chắn họ luôn
tồn tại những mơ ước được người khác quan tâm, chia sẻ. Tuổi già có những nỗi buồn vui riêng
tư, rất muốn được chia sẻ với người bạn đời. Được quản lý và nuôi dưỡng ừong các Trung tâm
bảo trợ xã hội, tiếp xúc với nhiều đối tượng xã hội khác nhau, họ có thể tìm đến người bạn đời
để chia sẻ tâm sự và chăm sóc nhau lúc về già.
Đối với những đối tượng người già cô đơn là nam giới, họ vẫn có nhu cầu quan hệ, đặc biệt
là nhu cầu quan hệ tình dục. Đó là bản năng của con người, là nhu cầu sinh học. Do đó, bên
cạnh việc chia sẻ tâm sự người già cô đơn nam giới cần được quan hệ và đáp ứng nhu cầu bản
năng đó. Xã hội phải thừa nhận và thay đổi quan niệm đối với vấn đề quan hệ tình cảm khác
giới của người già cô đơn.
Như vậy, người già tại Trung tâm bảo trợ xã hội IV đang gặp nhiều khó khăn trong việc đáp
ứng nhu cầu quan hệ, đặc biệt là quan hệ tình cảm. Đây là vấn đề nhạy cảm và cần được xã hội
quan tâm giúp đỡ, nhằm nâng cao đời sống tình cảm cho người già cô đơn trong điều kiện sống
thiếu thốn.


2.2.Thực trạng các mổỉ quan hệ của ngưòi già cô đơn, không noi nương tựa tại Trung tâm
bảo trợ xã hội IV, Ba Vĩ- Hà Nội.
2.2.1 Các mối quan hệ tình cảm của người già cô đơn, không nơi nương tựa tại Trung tâm
2.2.1.1 Mối liên hệ tình cảm gia đình, người thân, bạn bè và các tổ chức xã hội
Người già cô đơn sinh sống tại Trung tâm thường bị bó hẹp trong môi trường độc lập, ít các
mối quan hệ bên ngoài với gia đình, bạn bè và các tổ chức xã hội.
+ Mối quan hệ với gia đinh, người thân: Người già cô đơn tại Trung tâm bảo trợ xã hội IV,
hầu hết đều là những đối tượng không còn gia đình hoặc người thân, mất liên hệ với gia đình và
người thân vì một lý do nào đó, rất ít trường hợp vẫn còn giữ mối liên hệ với con cháu hoặc họ
hàng, nhưng không có người chăm sóc nuôi dưỡng,...họ buộc phải sống nhờ vào sự nuôi dưỡng
của Trung tâm bảo ừợ xã hội; do đó, trừ những đối tượng còn giữ mối liên hệ ở mức độ nhất
định thì hầu hết người già cô đơn, không nơi nương tựa tại Trung tâm bảo trợ xã hội đều không
còn các mối liên hệ với gia đình, người thân và xã hội bên ngoài. Những đối tượng này được
nuôi dưỡng lâu dài tại Trung tâm và họ coi Trung tâm bảo trợ xã hội là mái nhà cũng như nơi
dừng chân, an nghỉ cuối đời của họ. Những người này thường rất ít nghĩ về gia đình, người thân
mà họ thường quan tâm đến đời sống của mình ở Trung tâm, sống vui vẻ, bằng lòng với cuộc
sống hiện tại.


Đối với các đối tượng có nguyện vọng sống lâu dài tại Trung tâm còn mối liên hệ với gia
đình hoặc người thân, vẫn nhận được sự quan tâm của gia đình mặc dù đó là sự liên hệ rất lỏng
lẻo. Đối tượng vẫn được về thăm gia đình hay người thân khi có nguyện vọng trên cơ sở được
sự đồng ý của cán bộ quản lý trong Trung tâm. Người thân của các đối tượng thường chỉ lên
thăm và gửi quà (bánh kẹo, mì tôm, quần áo cho các cụ), ít quan tâm chăm sóc tới đời sống tinh
thần của các cụ.
Đối với cả hai đối tượng người già cô đơn, dù còn hay đã mất liên hệ với gia đình người
thân, thì họ đều có chung một đặc điểm là không nhận được sự chăm sóc, nuôi dưỡng từ những
người thân yêu nữa. Họ đang sống nhờ vào sự nuôi dưỡng của xã hội mà đại diện là những cán
bộ, nhân viên quản lý trong Trung tâm bảo trợ xã hội. Mối quan hệ gia đình, người thân với họ
bị chia cắt và mờ nhạt, không sâu sắc như những mối quan hệ gắn bó giữa họ với Trung tâm bảo
trợ xã hội. Do đó, có thể thấy rằng người già cô đơn không nơi nương tựa được nuôi dưỡng lâu
dài tại Trung tâm bảo trợ xã hội rất ít mối quan hệ với gia đình và người thân. Ngay cả khi còn
giữ mối liên hệ thì đó cũng không phải là những mối quan hệ mật thiết, bền chặt.
+ Với bạn bè: Có thể trước đây họ đã có những người bạn thân, những bạn đồng hương,
nhưng thời điểm hiện tại đã mất liên lạc. Bạn bè hiện tại đối với họ là bạn cùng phòng, bạn cùng
sinh sống ừong Trung tâm. Người già cô đơn, không nơi nương tựa được sắp xếp chỗ ở hỗn hợp
với những đối tượng xã hội khác như: người già lang thang xin ăn đang ừong thời gian qui định
(ở Trung tâm3 tháng), người già mắc bệnh tâm thần, thanh niên khuyết tật,.. .Do đó, người già
cô đơn có cơ hội được tiếp xúc với rất nhiều thành phần khác nhau, mở rộng các mối quan hệ
của bản thân. Tuy nhiên, theo quan sát thực tế cho thấy, những mối quan hệ tình cảm bạn bè của
người già cô đơn ừong Trung tâm không được tốt.
Người già tại đây thường ít có bạn thân để chia sẻ tâm sự, ít chơi với người cùng phòng.
Nguyên nhân có thể do họ không tìm thấy sự tương đồng ở nhau, hoặc bản tính của họ không
muốn giao lưu với người khác, không thể hoà hợp được với những người khác. Điều này cũng
không có gì là lạ, khi người già thường là người có nhiều biến đổi và rối loạn về tâm sinh lý,
sống không hợp nhau là lẽ tất yếu. Những bạn trẻ sống cùng người già thường khó chịu khi
người già lúc nào cũng nhận xét và đánh giá về mình, trong khi người già luôn cho rằng mình
nói đúng sự thật. Do đó, người già thường không được thoải mái về tinh thần và luôn cảm thấy
khó chịu. Minh chứng cho vấn đề này là người già cô đơn thường hay xảy ra va chạm, xích
mích với bạn cùng phòng, nhất là đối với những đối tượng có vấn đề về sức khoẻ tâm thần;
người già bản tính đã khó chịu nên họ không thể chịu đựng hay nhường nhịn những đối tượng


khác trong cùng một môi trường sống. Họ thường xuyên cãi vã, nói xấu nhau, quát mắng nhau
mỗi khi được dịp tiếp xúc. Như vậy, trong môi trường sống hỗn hợp nhiều thành phần đó, người
già cô đơn rất khó tìm thấy sự chia sẻ và khó có được những mối quan hệ tốt với những người
xung quanh.
+ Với các tổ chức xã hội: Mặc dù sống trong Trung tâm, người già không có mối quan hệ
trực tiếp với các tổ chức xã hội bên ngoài, nhưng họ vẫn có khả năng nhận biết và thể hiện tình
cảm của mình đối với những tổ chức xã hội đã từng gắn bó. Đặc biệt, người già đã từng tham
gia hoạt động thanh niên xưng phong, làm nhiệm vụ chiến trường ngày xưa vẫn hát say sưa
những bài ca trường sơn, kể chuyện say sưa về những ngày tháng oanh liệt, ừong họ luôn ẩn
chứa tấm lòng yêu nước sâu sắc. Điều này chứng tỏ, mặc dù thực tế họ đã không còn giữ các
mối quan hệ với tổ chức xã hội bên ngoài nhưng trong thâm tâm người già vẫn hồi ức và thường
sống lại với những kỷ niệm xưa, vẫn thể hiện mối quan tâm của mình với đất nước và xã hội


2.2.1.2Mổỉ quan hệ vổỉ Cán bộ, Nhân viên cơ sở, ngưòi nuôi dưỡng và môi trường sổng
trong Trung tâm
Sống trong Trung tâm bảo trợ xã hội IV- Ba Vì- Hà Nội, người già cô đơn thường xuyên
được tiếp xúc với nhân viên quản lý, nhân viên y tế và chịu ảnh hưởng bởi môi trường sinh hoạt
của Trung tâm. Điều này cũng có phần ảnh hưởng trực tiếp đến những mối quan hệ tình cảm
của người già.
+ Quan hệ với Cán bộ, nhân viên, người nuôi dưỡng:
Hằng ngày được tiếp xúc và chịu sự quản lý của nhân viên trong cơ sở, đã hình thành nên
những mối quan hệ gắn bó đối với người già. Có thể là thái độ quý mến, quý trọng nhưng cũng
có khi là sự thù ghét, chống đối đối với đội ngũ nhân viên cơ sở. Thực tế, khi được phỏng vấn
thì nhiều người già đã bày tỏ lòng biết ơn đối với nhân viên trong Trung tâm. Với câu hỏi “Ông
(bà) cảm thấy nhân viên quản ỉỷ trong Trung tâm mình đối xử với ông (bà) như thế nào?”,
đã nhận được nhiều câu trả lời dạng như “ Nhân viên rất tốt với tôĩ\ “ Họ đối xử rẩt Đây chính
là những bằng chứng thể hiện người già trong Trung tâm có mối quan hệ gắn bó tình cảm khá
thân thiết đối với nhân viên cơ sở. Điều này cũng cho thấy, đội ngũ nhân viên cơ sở đã phần nào
quan tâm (thể hiện thái độ chăm sóc tốt) đối với người già cô đơn.
Tuy nhiên, cũng có những trường hợp người già khi được hỏi thì ừả lời ngược lại, thậm chí
còn có thái độ phản kháng và ừách móc cán bộ, nhân viên cơ sở. Điển hình như câu ừả lời “Ẩn
cơm xong là nó khoả cửa lại luôn, không được ra ngoài ”, cộng thêm vẻ mặt tức giận. Thái độ
cộng với cách xưng hô của đối tượng này đã chứng tỏ thái độ không thoải mái của họ đối với
nhân viên cơ sở.
về phía nhân viên cơ sở, mặc dù bận rộn nhiều công việc nhưng luôn làm ừòn công tác chăm
sóc và nuôi dưỡng đối với người già tại Trung tâm. Những
khi rảnh rỗi, họ thường ngồi nói chuyện và tâm sự với người già cô đơn, khuyến khích các
cụ hát hò, kể chuyện,...
+ Với môi trường sống trong Trung tâm:
Người già cô đơn hầu hết đều cảm thấy thoải mái khi sống trong môi trường nuôi dưỡng của
Trung tâm. Họ hài lòng với điều kiện sống hiện tại, vui vẻ chấp nhận và sống rất bình thản. Đặc
biệt, những người có nguyện vọng sống lâu dài tại Trung tâm luôn có thái độ sống tốt, gắn bó


với mọi người và coi đây thực sự là nơi dừng chân của cuộc đời. Với thái độ đó, họ không còn
tư tưởng ra bên ngoài xã hội sống, họ chăm chỉ lao động và hưởng thụ cuộc sống như hưởng thụ
sự an nhàn của tuổi già. Thậm chí, họ rất yêu mến và cảm thấy thích thú với môi trường sống
này. Có cụ được hỏi thì trả lời “ Tôi cảm thấy môi trường sống ở đây rất dễ chịu nên muốn ở
lâu dài luôn”.
Tuy nhiên, cũng có những đối tượng cảm thấy không thoải mái vì phải sống chung với rất
nhiều thành phần đối tượng xã hội khác nhau. Họ không có một không gian riêng để tự mình
hưởng thụ cuộc sống. Bên cạnh đó, điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng của Trung tâm rất eo hẹp,
người già vốn đã khó ăn lại càng nhàm chán và không thiết ăn uống, không đảm bảo dinh
dưỡng khiến người già gầy yếu, bệnh tật,.. .người già cô đơn phải chấp nhận tất cả những điều
kiện này khiến họ mệt mỏi và buồn chán. Đôi khi họ không còn muốn tiếp tục sống trong Trung
tâm mà vẫn phải gắng sống, vì chẳng còn biết đi đâu.
2.2.1.3 Quan hệ tình cảm khác giới:
Tất cả chúng ta đều phải thừa nhận rằng nhu cầu về tình cảm là một nhu cầu thuộc về bản
năng của con người, đó là nhu cầu thiết yếu không thể thiếu đối với con người. Bởi con người
không sống độc lập riêng lẻ mà luôn có mối quan hệ với xã hội xung quanh. Tình cảm khác giới
và nhu cầu tình dục cũng thuộc về bản năng của con người. Khi giữa hai con người đã nảy sinh
mối quan hệ tình cảm khác giới, thì nhu cầu quan hệ tình dục giữa họ là điều tất yếu. Điều này
đã lý giải cho những mối quan hệ tình cảm khác giới nảy sinh giữa người già tại Trung tâm,
giữa họ nảy sinh mối quan hệ tình cảm và dẫn họ tới thực hiện các hành vi tình dục. Đôi khi,
không phải chỉ xuất phát từ tình cảm mà họ thực hiện hành vi đó. Đối với các cụ già là nam
giới, thì quan hệ tình cảm khác giới với họ không chỉ nhằm mục đích chia sẻ tâm sự mà còn
hướng tới thoả mãn nhu cầu tình dục. Nhiều trường hợp thực hiện hành vi tình dục chỉ nhằm
mục đích thoả mãn nhu cầu hoặc mục đích trao đổi vật chất (giá trị vật chất thực tế như: thuốc
lá, gói mì tôm,...). Các đôi thường tranh thủ những lúc vắng người (giờ ăn tập trung, giờ ngủ,
giờ lao động,...) để “gặp gơ”. Những nơi thường được lựa chọn làm “điểm hẹn” có thể là góc
nhà, vườn rau hay thậm chí là phòng ở chung. Đã có những trường hợp người trong phòng bắt
quả tang chị em dẫn khách vào phòng để thực hiện những hành vi tình dục. Đối với các cụ bà,
quan hệ tình cảm khác giới là nhu cầu cần thiết và nhằm tới sự chia sẻ tâm sự, giúp đỡ chăm sóc
nhau khi bệnh tật,.. .nhu cầu tình dục không còn trở nên cần thiết đối với họ. Nhưng khi đã nảy
sinh mối quan hệ tình cảm khác giới với một cụ ông thì buộc họ phải chấp nhận đáp ứng nhu
cầu tình dục của đối phương.


Những câu chuyện tình đẹp ừong Trung tâm luôn là những mẩu chuyện hài để mọi người
bàn tán. Điều đáng chú ý, là các đối tượng hầu như chưa được kiểm ừa sức khoẻ định kỳ, không
được khám xét nghiệm HIV, do đó tình trạng này có thể ừở thành nguy cơ lây nhiễm các loại
bệnh dịch. Mặc dù, nhận biết được thực ừạng này nhưng cán bộ và nhân viên quản lý cơ sở rất
khó khăn trong việc đưa ra giải pháp khắc phục và cải thiện tình hình, vấn đề nan giải ở đây
chính là làm thế nào để vừa đáp ứng được nhu cầu quan hệ tình cảm khác giới cho người già cô
đơn mà vẫn kiểm soát và phòng tránh được những hệ quả từ các mối quan hệ tình cảm khác giới
đó.


2.2.2 Rào cản và hệ quả từ những mối quan hệ tình cảm của người già
2.2.2.1 Rào cản trong việc đáp ứng nhu cầu quan hệ tình cảm cho người già:
Có thể nhận thấy những rào cản trong việc đáp ứng nhu cầu tình cảm người già xuất phát từ
những yếu tố sau:
+ Bản thân ngưòỉ già: Rào cản lớn xuất phát từ bản thân người già. Bởi họ bước vào Trung
tâm với một tâm trạng và thái độ bị động, coi đó là nơi cuối cùng của cuộc đời,...Người già cô
đơn luôn có tâm lý mặc cảm, tự ti về bản thân, cảm thấy mình là người vô giá trị, là người thừa
của xã hội. Vô hình chung họ đã tạo cho mình một rào cản tâm lý với môi trường sống trước
mắt. Ngoài ra, nhận thức hạn chế đã đưa họ đến suy nghĩ sai lầm, luôn nhìn nhận xung quanh
như suy nghĩ của bản thân, từ đó mà tự gây áp lực cho chính bản thân mình. Đối với nhu cầu
tình cảm nam nữ và quan hệ tình dục, bản thân người già chỉ biết đó như một nhu cầu bản năng
mà ít có sự kiểm soát về mặt lý trí, nên thường không đem lại cảm giác thoải mái về mặt tâm lý,
lúc nào cũng cảm thấy bị cộng đồng lên án. Họ không biết rằng đó là nhu cầu bản năng của mỗi
con người, và xã hội phải thừa nhận cũng như trân trọng những mối quan hệ tình cảm khác giới
đó. Do vậy, người già cô đơn đã tự tạo nên một rào cản cho chính bản thân để hạn chế những
mối quan hệ xã hội của họ với môi trường và con người xưng quanh.
+ Yếu tố xã hội: Điều kiện vật chất và chế độ chăm sóc ở Trung tâm không thể đáp ứng
được những mong muốn của người già. Bởi đây chỉ là môi trường quản lý và nuôi dưỡng các
đối tượng xã hội, hoạt động chủ yếu dựa vào trợ cấp xã hội của Nhà nước dành cho các đối
tượng, Trung tâm không thể đủ kinh phí để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng. Từ chỗ chưa đáp
ứng đầy đủ về nhu cầu vật chất dẫn đến người già không thoải mái về nhiều mặt khác. Đặc biệt,
ảnh hưởng lớn đến tinh thần, chỉ lo nghĩ về cuộc sống bên ngoài không nhìn nhận và quan tâm
đến cuộc sống thực tại.
Sống chung với nhiều đối tượng xã hội khác nhau, dễ dẫn tới những bất hoà và căng thẳng
đối với người già cô đơn tại Trung tâm. Họ phải chấp nhận và chịu đựng những mối quan hệ
xung đột, mâu thuẫn với người cùng phòng.
Thái độ phục vụ và chăm sóc của nhân viên trong cơ sở, thái độ ứng xử của họ đối với người
già chưa nhiệt tình, đặc biệt là thái độ kỳ thị đối với người già rất dễ gây nên tâm lý mặc cảm
cho người già.
Ngoài ra, gia đình các đối tượng là một yếu tố cản trở lớn đến việc đáp ứng nhu cầu tình cảm
của người già. Gia đình chính là mối liên hệ tình cảm vững chắc nhất đối với mỗi cá nhân,
nhưng người già thường bị tách rời gia đình, thậm chí bị cắt đứt mối quan hệ với gia đình.
Chính những vấn đề về gia đình khiến người già suy nghĩ nhiều và lo lắng quá mức.
Do nhiều vấn đề khác nhau đã cản trở và ảnh hưởng sâu sắc tới việc đap ứng nhu cầu tình
cảm cho người già tại Trung tâm.


2.2.2.2 Những hệ quả từ các mối quan hệ của người già cô đơn:
Trong các mối quan hệ của người già cô đơn có thể dễ dàng gây ra những hệ quả bất lợi.
+ Người già cô đơn ít có mối quan hệ mật thiết với gia đình, khiến họ dễ trở nên cáu gắt,
ừầm cảm,...dần dần mất cảm giác về mối quan hệ tình cảm yêu thương gắn bó với gia đình và
người thân.
+ Những mâu thuẫn, xưng đột ừong các mối quan hệ giữa người già cô đơn với bạn cùng
phòng, nhân viên và người nuôi dưỡng,...có thể gây nên những căng thẳng về mặt tâm lý cho
người già, khiến người già nảy sinh thái độ căm ghét hoặc thực hiện những hành vi gây hại như
đánh nhau, phá phách,...
+ Những mối quan hệ tình cảm khác giới và tình trạng quan hệ tình dục bừa bãi của người
già nam giới làm tăng nguy cơ lây truyền các loại bệnh dịch qua đường tình dục cho những đối
tương khác (như: lậu, giang mai, HIV,...). Trong
khi đó, Trung tâm chưa đủ điều kiện để xét nghiệm và khám chữa những dịch bệnh này.
+ Đối với các cụ bà, khi nảy sinh mối quan hệ tình cảm khác giới có thể làm tăng nguy cơ bị
bạo hành tình dục, gây tổn thương đến thể chất và tinh thần.
3.Đánh giá một số kết quả đã đạt được tại trung tâm
Trung tâm bảo trợ xã hội IV đã làm rất nhiều nhiệm vụ trong cùng lúc đối với tất cả các đối
tượng xã hội như: tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục,... Bên cạnh đó, những
nhân viên quản lý ở đây còn gánh vác thêm nhiều nhiệm vụ khác và phải giải quyết tất cả những
vấn đề nảy sinh của các đối tượng ( giảng hoà mâu thuẫn, xử lý trộm cắp, dự phòng tránh
thai,...)
- Đặc biệt, còn quan tâm đến những sinh hoạt thường ngày của các đối tượng xã hội, luôn
đảm bảo cho các đối tượng xã hội được an toàn, vấn đề về nhu cầu quan hệ tình cảm của người
già trên thực tế ít được nhân viên cơ sở quan tâm đến, song trong quá trình giải quyết các vấn đề
nảy sinh đã bao gồm những vấn đề quan hệ tình cảm của người già. Thông qua quá trình làm
việc với Kiểm huấn viên và tiếp xúc trao đổi với nhân viên làm việc trực tiếp với các đối tượng
người già, có thể tiếp thu được những kinh nghiệm ừong quá trình làm việc của đội ngũ nhân
viên cơ sở.
+ Cho phép người già còn gia đình có nguyện vọng về thăm gia đình được thực hiện mong
muốn của họ. Người già khi có nhu cầu về thăm gia đình, viết đơn xin phép ban quản lý và
được về thăm gia đình theo thời hạn (những dịp lễ, tết,...).
+ Phân công những đối tượng xã hội còn ừẻ khoẻ hỗ ừợ giặt giũ, giúp đỡ người già yếu
+ Tổ chức sinh hoạt tập thể mỗi dãy nhà hoặc cả khu (1 lần/tuần)


+ Tổ chức các hoạt động xem phim, đọc báo tập trung để giải trí + Trong giải quyết những
hệ quả từ các mối quan hệ tình cảm: thường xuyên phải giải quyết những xung đột nảy sinh
giữa các đối tượng
+ Thường xuyên hỏi thăm và trò chuyện với người già cô đơn, không nơi nương tựa để lắng
nghe những chia sẻ của họ.
Tuy nhiên, đây mới chỉ là những mối quan tâm chung mà thực tế chưa có một biện pháp nào
trực tiếp tác động để đáp ứng đầy đủ nhu cầu quan hệ tình cảm cho người già tại Trung tâm. Do
đó, vấn đề đáp ứng nhu cầu quan hệ cho người già cô đơn, không nơi nương tựa tại Trung tâm
cần có sự quan tâm giải quyết từ nhiều phía, trong đó có vai trò của nhân viên công tác xã hội.
Phần III: Đề xuất và khuyến nghị
1.Đề xuất cần có sự tham gia Vai trò của Nhân viên công tác xã hội
Công tác xã hội là một ngành khoa học xã hội mang tính thực hành thực tiễn cao. Mục đích
hướng đến của công tác xã hội là giải quyết những vấn đề xã hội và nâng cao năng lực cho các
nhóm yếu thế, giúp họ có khả năng vượt qua khó khăn của chính bản thân.
Người già là nhóm đối tượng yếu thế, một trong những đối tượng quan trọng mà công tác xã
hội hướng đến. Đặc biệt, người già được nuôi dưỡng tại các Trung tâm bảo ừợ là những đối
tượng đặc thù cho sự tác động trợ giúp của công tác xã hội. Họ là nhóm đối tượng dễ bị tổn
thương về tâm lý, mặc cảm về bản thân rất cần nhận được sự quan tâm của xã hội.
Đối với vấn đề đáp ứng nhu cầu quan hệ cho người già tại các Trung tâm bảo ừợ xã hội, với
vai ừò là người can thiệp trực tiếp các đối tượng, nhân viên công tác xã hội giải quyết vấn đề ở
những mặt sau:
- Hỗ trợ về mặt tâm lý: Thông qua hoạt động tham vấn, nhân viên công tác xã hội giúp
người già cô đơn được an ủi và ổn định về mặt tâm lý. Trong quá trình làm việc, nhân viên công
tác xã hội giúp các đối tượng hiểu rõ tình trạng nhu cầu và những mối quan hệ tình cảm thực tại,
giúp người già cô đơn kiểm định các mối quan hệ xã hội của họ, giúp họ nhận ra giá trị của bản
thân. Để từ đó, người già cô đơn không còn mặc cảm, tự ti mà có thể làm quen và mở rộng mối
quan hệ của mình với những người xung quanh.
- Giải quyết vấn đề ưu tiên: Cùng người già thảo luận để tìm ra vấn đề ưu tiên giải quyết
của họ, những khó khăn chủ yếu gây nên vấn đề đó và xây dựng kế hoạch hành động. Ví dụ:
Người già thường buồn chán và không muốn giao tiếp với người khác; trong trường hợp này
cần tìm hiểu nguyên nhân gây nên sự buồn chán và điều gì khiến họ không muốn giao tiếp với
người khác để tìm giải pháp xoá bỏ nguyên nhân gây nên tình trạng đó.
- Thay đổi nhận thức của người già: Cung cấp những kiến thức xã hội để thay đổi nhận
thức của người già về một vấn đề mà họ đang nhìn nhận sai lầm. Từ đó giúp họ có suy nghĩ tích
cực hơn trong cuộc sống.


-Vai trò trung gian: Làm việc với gia đình để gia đình có những tác động tích cực đối với
người già.
Làm việc với Trung tâm, đội ngũ nhân viên để tìm ra giải pháp hỗ trợ người già. Thay đổi
nhận thức của nhân viên cơ sở về nhu cầu của người già, giúp họ có thái độ làm việc và thái độ
ứng xử với người cao tuổi tốt hơn, tránh thái độ kỳ thị đối với người già.
2.Khuyến nghị
+ Xã hội cần quan tâm đến việc đáp ứng nhu cầu tình cảm của người già nói chung và người
già được nuôi dưỡng tại các Trung tâm bảo trợ xã hội.
+ Các Trung tâm bảo trợ xã hội cần thiết phải có đội ngũ nhân viên xã hội chuyên nghiệp để
phát huy hiệu quả hoạt động của Trung tâm.
+ Các cơ quan ban hành luật pháp và xây dựng chính sách xã hội cần tính đến nhu cầu của
người già lang thang trong khi xây dựng chính sách xã hội liên quan đến lĩnh vực này, đồng thời
phải tính đến giảm bớt các đối tượng người già lang thang khi xây dựng một chính sách phát
triển kinh tế xã hội hay chính sách về gia đình.
+ Cộng đồng cần có cái nhìn cảm thông, tránh kỳ thị đối với người già lang thang xin ăn


Kết luận
Hiện nay, người cao tuổi trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang có xu
hướng tăng nhanh. Đây là mối quan tâm chung của nhiều quốc gia. NCT là một kho tàng kiến
thức, kinh nghiệm sống. NCT góp phần quan trọng trong việc khuyên dạy con cháu, dòng họ,
giúp nhiều người áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm vào sản xuất, kinh doanh,
giáo dục, nâng cao chất lượng cuộc sống...cho đất nước. Do vậy, họ cần phải được tôn trọng và
ứng xử thích hợp, thể hiện truyền thống nhân ái và thủy chung mà nền văn hóa Việt Nam luôn
luôn đề cao. Tôn trọng và chăm sóc người cao tuổi cũng có nghĩa là tạo điều kiện cho họ có thể
tiếp tục phát huy những kinh nghiệm sống mà họ tích lũy được góp phần xây dựng xã hội mới
trong những hoàn cảnh thích hợp.
NCT được nuôi dưỡng tại Trung tâm bảo trợ xã hội IV, Ba Vì- Hà Nội là những đối tượng
bị thiếu hụt về nhiều nhu cầu, trong đó nhu cầu về đời sống tình cảm là một vấn đề ít được quan
tâm đáp ứng.
Thực trạng về đáp ứng nhu cầu tình cảm của người già tại Trung tâm còn gặp rất nhiều khó
khăn và trở ngại xuất phát từ yếu tố chủ quan và khách quan. Do đó, muốn nâng cao đời sống
tình cảm cho người già cần có sự phối kết hợp của nhiều tổ chức và cá nhân ừong xã hội. Đặc
biệt, sự can thiệp ừợ giúp của công tác xã hội là một hoạt động quan trọng và rất cần thiết,
nhằm mục tiêu hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp giúp nâng cao đời sống tình cảm cho người nct.

DANH MUC TÀI LIÊU THAM KHẢO
• •

1. Báo cáo tổng kết công tác thi đua khen thưởng năm 2015, phương hướng nhiệm vụ công
tác năm 2016- Trung tâm bảo trợ xã hội IV.
2. Báo cáo thành tích đề nghị khen thưởng bằng khen của UBND Thành phố Hà Nội năm
2015 - Trung tâm bảo trợ xã hội IV
3. Bài giảng CTXH cá nhân - Giảng viên, TS. Mai Kim Thanh
4. Bài giảng CTXH với người cao tuổi - Gv. Nguyễn Thế Huệ
Trang web: Laodong.com




Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×