Tải bản đầy đủ

Vận dụng và xu hướng điều chỉnh các công cụ chủ yếu của chính sách thương mại quốc tế trên thế giới và ở việt nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
VẬN DỤNG VÀ XU HƯỚNG ĐIỀU CHỈNH CÁC CÔNG CỤ CHỦ YẾU CỦA
CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ THỜI GIAN QUA,
NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM KHI THAM GIA VÀO
WTO (AEC, AJCEP, VJEPA, TPP, EVFTA…)? CHO VÍ DỤ MINH HỌA?
I. Lý thuyết về chính sách thương mại quốc tế:
Chính sách thương mại quốc tế là các quan điểm, nguyên tắc, biện pháp thích hợp của
một nước dùng để điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế của nước đó trong một thời
gian nhất định, nhằm đạt được mục tiêu kinh tế - chính trị - xã hội của nước đó.
1.1. Vai trò
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước thâm nhập và mở rộng thị
trường ra nước ngoài, khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế trong nước.
- Bảo vệ thị trường nội địa : tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước đứng vững và
vươn lên trong hoạt động kinh doanh.
- Chính sách thương mại quốc tế là một bộ phận trong chính sách đối ngoại của một
quốc gia.
1.2. Các công cụ chủ yếu của chính sách thương mại quốc tế
1.2.1 Thuế quan
Thuế xuất nhập khẩu hay thuế xuất-nhập khẩu hoặc thuế quan là tên gọi chung để gọi
hai loại thuế trong lĩnh vực thương mại quốc tế. Đó là thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu.

Thuế nhập khẩu là thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu, còn thuế xuất khẩu là thuế đánh
vào hàng hóa xuất khẩu.
1.2.2. Hạn ngạch thương mại
Hạn ngạch hay hạn chế số lượng là quy định của một nước về số lượng cao nhất của
một mặt hàng hay một nhóm hàng được phép xuất hoặc nhập từ một thị trường trong một
thời gian nhất định thông qua hình thức cấp giấy phép.
1.2.3. Giấy phép
- Giấy phép chung: Chỉ quy định tên hàng, thị trường. Không hạn chế định lượng,
không ghi rõ địa chỉ doanh nghiệp cấp.
- Giấy phép riêng: Cấp cho từng doanh nghiệp. Ghi rõ số lượng, giá trị, thị trường, thể
loại mặt hàng cụ thể.


- Ngoài ra còn một số loại giấy phép như : giấy phép có điều kiện, giấy phép đổi
hàng, giấy phép ưu tiên...
1.2.4. Hạn chế xuất khẩu tự nguyện
Áp dụng cho các quốc gia có khối lượng xuất khẩu quá lớn ở một mặt hàng nào đó.
1.2.5. Các hàng rào kỹ thuật
- Những quy định này có tác dụng bảo hộ đối với thị trường trong nước, hạn chế dòng
vận động của dòng hàng hóa trên thị trường thế giới.
- Những nước phát triển sẽ có lợi hơn so với các nước chậm phát triển trong việc áp
dụng những quy định này.
1.2.6. Trợ cấp xuất khẩu
Chính phủ có thể áp dụng các biện pháp trợ cấp trực tiếp hoặc cho vay với lãi suất
thấp với các nhà xuất khẩu trong nước.
- Ảnh hưởng của trợ cấp:
+ Lượng cung thị trường nội địa bị giảm do mở rộng quy mô xuất khẩu, giá cả thị
trường nội địa tăng lên, người tiêu dùng trong nước sẽ bị thiệt một khoản tiền nhất định.
+ Chi phí ròng xã hội phải bỏ ra để bảo hộ việc khuyến khích xuất khẩu gây thiệt hại
cho xã hội.
1.2.7. Tín dụng xuất khẩu
-

Tín dụng xuất khẩu thường được áp dụng cho các nước phát triển.

-

Áp dụng chủ yếu cho các nhóm hàng thiết bị, máy móc, dây truyền, ...

1.2.8. Bán phá giá


Theo hiệp định về chống bán phá giá của WTO: Một sản phẩm bị coi là bán phá giá
nếu giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường được bán trên thị trường nội địa của nước
xuất khẩu.
Phương thức tính giá trị thông thường của sản phẩm:
+ Dựa trên giá bán của sản phẩm đó trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu.
+ Căn cứ vào giá bán của nước xuất khẩu tại một nước khác.
+ Tính theo tổng hợp giá thành sản phẩm, các chi phí có liên quan cùng với lợi nhuận
tối thiểu của nhà sản xuất và xuất khẩu.
1.2.9. Phá giá tiền tệ
Phá giá tiền tệ (hay phá giá ngoại tệ) là hình thức biến tướng của phá giá.


- Thông qua tác động vào tỷ giá hối đoái làm cho đồng nội tệ mất giá so với đồng ngoại
tệ khác, để hàng xuất khẩu rẻ hơn làm tăng khả năng cạnh tranh ở thị trường nước ngoài.
- Tác động đến tất cả các mặt hàng và tất cả các thị trường liên quan.
- Được sử dụng khi nhà nước muốn cân đối lại tỷ giá hối đoái trong mối quan hệ giữa cán
cân thương mại và cán cân thanh toán.
***Một số biện pháp khác
-

Hệ thống thuế nội địa.

-

Cơ quan quản lý ngoại tệ và tỷ giá hối đoái.

-

Độc quyền mua bán.

-

Quy định về chứng thư khi làm thủ tục xuất - nhập khẩu.

-

Thưởng xuất khẩu.

-

Đặt cọc nhập khẩu.

Phần 1: Tổng quan về thị trường Liên minh châu Âu
1. Giới thiệu Liên minh châu Âu
Liên Minh Châu Âu là một tổ chức liên kết khu vực nhằm thúc đẩy sự phát triển
kinh tế, chính trị và xã hội, bắt đầu với việc tự do hoá mậu dịch giữa các nước thành viên
và các chính sách kinh tế có liên quan.
Liên minh châu Âu (EU) là hình thức hội nhập khu vực ở trình độ cao với nhiều
triển vọng tốt đẹp cho các nước thành viên và cho toàn châu Âu, đang phát triển sâu rộng
trên tất cả các lĩnh vực phấn đấu trở thành khu vực phát triển nhất hành tinh, đủ sức đối
phó với các thách thức trong thế kỷ 21 cũng như là đối trọng đáng kể của Trung Quốc,
Nga, Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc và góp phần cho hoà bình và ổn định trên thế giới. Hiện
nay, thị trường EU 27 gồm hầu hết các nước châu Âu với gần 4 triệu km2 và 456 triệu
dân có thu nhập cao. GDP gần 11.000 tỷ USD chiếm 27% GDP thế giới. Tổng ngạch
ngoại thương gần 1.400 tỷ USD chiếm gần 20% thương mại toàn cầu. Nếu tính cả mậu
dịch nội khối thì tổng ngạch mậu dịch là 3.092 tỷ chiếm 41.4% thị phần thế giới. EU
đứng đầu thế giới về xuất khẩu dịch vụ chiếm 43,8% thị phần thế giới gấp 2,5 lần Mỹ và
chiếm 42,7 nhập khẩu dịch vụ thế giới. Đầu tư ra nước ngoài chiếm 47% FDI toàn cầu và
nhận 20% đầu tư từ bên ngoài.
Vị thế chính trị, tiềm lực kinh tế, thương mại, tài chính, khả năng phòng thủ của
EU không ngừng tăng sau mỗi lần mở rộng


Kim ngạch xuất nhập khẩu của EU tăng lên hàng năm (1994: 1.303,41 tỷ USD; 1995:
1.463,13 tỷ USD; 1996: 1.532,37 tỷ USD; 1997: 1.572,51 tỷ USD), chiếm 20,42% kim
ngạch thương mại toàn cầu giai đoạn 1994-1997, trong khi đó của Mỹ và Nhật Bản là
19,37% và 9,8%.
Kim ngạch xuất khẩu của EU ngày càng tăng lên, chiếm khoảng 21,13% kim
ngạch xuất khẩu toàn cầu (1994-1997), con số này của Mỹ và Nhật Bản là 16,67% và
10,7%. Bên cạnh đó, kim ngạch nhập khẩu của EU cũng không ngừng gia tăng, chiếm
19,72% kim ngạch nhập khẩu toàn cầu, còn của Mỹ và Nhật Bản là 20,09% và 8,88%
(1994-1997).
Chiếm tỷ trọng lớn trong thương mại toàn cầu và với vai trò nổi bật trong Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO), EU là một nhân tố quan trọng trong việc phát
triển thương mại thế giới.
EU không những là một trong những trung tâm thương mại hàng đầu thế giới mà
còn là nơi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn nhất thế giới. Nguồn vốn FDI của EU chiếm
45,7% tổng vốn FDI toàn cầu, trong khi đó của Mỹ và Nhật Bản là 27,1% và 6,7%.
Ngày nay, các nước thành viên EU đều là các nước công nghiệp có nền kinh tế
phát triển mạnh đang tập trung phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ
cao, như điện tử tin học, viễn thông, công nghệ sinh học,v.v... Do vậy, FDI của EU tập
trung chủ yếu ở các nước phát triển, cụ thể: Mỹ chiếm 39,7%, Nhật Bản chiếm 32,1%,
ASEAN chiếm 12,6% FDI của EU và 15,6% FDI còn lại của EU đầu tư vào các nước
Trung

Cận

Đông



Châu

Phi.

Phần 2: Chính sách thương mại quốc tế của Liên minh châu Âu
1. Nội dung và một số đặc điểm của chính sách thương mại quốc tế của Liên minh
châu Âu
Tất cả các nước thành viên EU cùng áp dụng một chính sách ngoại thương chung
đối với các nước ngoài khối. Uỷ ban Châu Âu (EC) là người đại diện duy nhất cho Liên Minh
trong việc đàm phán, ký kết các Hiệp định thương mại và dàn xếp tranh chấp trong lĩnh vực
này. Liên minh châu Âu đang cải cách sâu rộng và toàn diện thể chế và luật pháp cho phù
hợp với tình hình mới. Nét đặc trưng trong chính sách thương mại của EU là bảo hộ
nông nghiệp, bảo vệ môi trường và bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng. EU trợ cấp sản xuất
nông nghiệp trong khối đồng thời đánh thuế cao và áp dụng hạn ngạch đối với một số


nông sản nhập khẩu như gạo, đường, chuối, sắn lát...Các yêu cầu về xuất xứ, tiêu chuẩn
vệ sinh an toàn thực phẩm v.v... luôn được thực hiện nghiêm ngặt
Chính sách ngoại thương của EU gồm: chính sách thương mại tự trị và chính
sách thương mại dựa trên cơ sở Hiệp định, được xây dựng dựa trên các nguyên tắc
sau: không phân biệt đối xử, minh bạch, có đi có lại và cạnh tranh công bằng. Các
biện pháp được áp dụng phổ biến trong chính sách này là thuế quan, hạn chế về số
lượng, hàng rào kỹ thuật, chống bán phá giá và trợ cấp xuất khẩu.
EU đang thực hiện chương trình mở rộng hàng hóa dưới hình thức đẩy mạnh tự do
hóa thương mại (giảm dần thuế quan đánh vào hàng hoá XNK và tiến tới xoá bỏ hạn
ngạch, GSP). Hiện nay, 27 nước thành viên EU áp dụng một biểu thuế quan chung đối
với hàng hoá XNK. Đối với hàng nhập khẩu, mức thuế trung bình đánh vào hàng nông
sản là 18%, hàng công nghiệp là 2%.
Các chính sách phát triển ngoại thương của EU từ 1951 đến nay là những nhóm
chính sách chủ yếu sau: Chính sách khuyến khích xuất khẩu, chính sách thay thế nhập
khẩu, chính sách tự do hoá thương mại và chính sách hạn chế xuất khẩu tự nguyện. Việc
ban hành và thực hiện các chính sách này có liên quan chặt chẽ đến tình hình phát triển
kinh tế, tiến trình nhất thể hóa Châu Âu và khả năng cạnh tranh trong từng thời kỳ của
các sản phẩm của Liên Minh trên thị trường thế giới. Ngoài các chính sách, EU có Quy
chế nhập khẩu chung .
Bên cạnh cam kết với các nước thành viên WTO, EU ký nhiều hiệp định thương
mại và các hiệp định ưu đãi khu vực và song phương và dành chế độ MFN toàn phần
dành cho sản phẩm nhập khẩu từ Úc, Canada, Đài Loan, Hồng-kong, Trung-quốc, Nhậtbản, Hàn-quốc, Tân-tây-lan, Singapo và Hoa-kỳ và các hiệp định ngành hàng song phương khác.
Bên cạnh các cam kết mở cửa thị trường trong khuôn khổ WTO về nông nghiệp,
EU duy trì hạn ngạch áp dụng thuế quan đối với một số sản phẩm, giảm dần trị giá và số
lượng các sản phẩm được trợ cấp xuất khẩu. Trong một số lĩnh vực dịch vụ, EU đã có
cam kết cụ thể thực hiện theo lịch trình chung của GATS, kể cả lĩnh vực viễn thông cơ
bản, tài chính và dịch vụ nghe nhìn.
Hệ thống thuế: Các nước thuộc Liên minh châu Âu áp dụng Hệ thống thuế quan
chung của EU. Thuế nhập khẩu được tính bằng cách lấy giá trị hàng hóa nhập khẩu tính
theo giá CIF nhân với thuế suất của loại hàng hóa đó. Trong đó, giá trị hàng hóa nhập


khẩu tính theo giá CIF bao gồm: tiền hàng, các phí (đóng gói, làm thủ tục xuất khẩu,
nộp thuế xuất khẩu (nếu có), lập bộ chứng từ xuất khẩu, cước vận tải, phí bảo hiểm...);
Thuế suất phụ thuộc vào loại hàng và xuất xứ của hàng nhập khẩu, được xây dựng trên
nguyên tắc: Những mặt hàng trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất không đủ,
hoặc cần thiết để phát triển những ngành sản xuất trong nước thì sẽ được miễn thuế hoặc
hưởng thuế suất thấp. Ngược lại, những mặt hàng trong nước đã sản xuất đủ hay để
khuyến khích trong nước tự sản xuất thì sẽ phải chịu thuế suất cao. Theo nguyên tắc này,
hầu hết nguyên liệu nhập khẩu vào EU được miễn thuế nhập khẩu hoặc chịu thuế suất
thấp, còn các mặt hàng nông sản thực phẩm phải chịu mức thuế cao hoặc thuế đặc biệt.
Cụ thể, các mặt hàng thịt, các sản phẩm sữa, ngũ cốc, rau hoa quả chế biến và không chế
biến chịu mức thuế cao nhất từ 0 – 470,8%. Đối với các mặt hàng khác có mức thuế từ 0
– 36,6%. Để tăng sức cạnh tranh của hàng hóa và đẩy mạnh xuất khẩu, bên cạnh việc
miễn thuế hoặc đánh thuế thấp, đối với các nguyên, phụ liệu, bán thành phẩm nhập khẩu
để sản xuất hàng xuất khẩu , EU còn cho phép được “treo” thuế (tức là khi nhập khẩu
nguyên liệu chỉ tính thuế chứ chưa phải đóng thuế, khi xuất hàng, sẽ tính toán bù trừ và
doanh nghiệp chỉ phải đóng thuế phần nguyên liệu không dùng để làm hàng xuất khẩu.
Ngoài ra, EU còn có chính sách thuế ưu đãi để phát triển một số ngành, trong đó ngành
Công nghệ thông tin và ngành Dược là những ngành được quan tâm.
Về xuất xứ hàng hóa:
EU áp dụng Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) dành cho 143 quốc gia và 36
vùng lãnh thổ, trong đó các nước chậm phát triển nhất được ưu đãi nhiều hơn theo sáng
kiến "Mọi sản phẩm trừ vũ khí".
Biểu thuế quan của EU được gọi là thuế quan đặc biệt, được thực hiện đối với hàng nhập
khẩu từ một số nước đang phát triển và được hưởng đơn thuần ưu đãi GSP của EU. GSP
là chế độ tối huệ quốc đặc biệt của các nước công nghiệp phát triển dành cho các nước
đang và chậm phát triển. Bản chất của chế độ GSP là các nước công nghiệp phát triển sẽ
áp dụng chế độ miễn thuế hoặc thuế rất thấp cho hàng hóa của các nước đang và kém
phát triển, nhằm giúp hàng hóa của các nước này có điều kiện thâm nhập được vào thị
trường các nước phát triển. Để được hưởng GSP thì phải đạt các điều kiện: phải là nước
chậm và đang phát triển; hàng hóa phải đạt 3 điều kiện cơ bản: Xuất xứ từ nước được
hưởng, điều kiện vận tải, giấy chứng nhận xuất xứ. Về điều kiện xuất xứ từ nước được
hưởng, EU quy định có 2 loại: Đối với sản phẩm hoàn toàn được sản xuất tại lãnh thổ


nước được hưởng ưu đãi như: Khoáng sản, động thực vật, thủy sản đánh bắt trong lãnh
hải và hàng hóa sản xuất từ sản phẩm đó được xem là có xuất xứ và được hưởng ưu dãi
GSP; Đối với các sản phẩm có thành phần nhập khẩu, EU quy định hàm lượng trị giá sản
phẩm sáng tạo tại nước hưởng GSP (tính theo giá xuất xưởng) phải đạt 60% tổng trị giá
hàng liên quan. Tuy nhiên, đối với một số nhóm hàng thì hàm lượng này thấp hơn, EU
quy định cụ thể tỷ lệ trị giá và công đoạn gia công đối với một số nhóm hàng mà yêu cầu
phần trị giá sáng tạo thấp hơn 60% (máy điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh không dưới 40%, đồ
trang trí làm từ kim loại không dưới 30%, giầy dép chỉ được hưởng GSP nếu các bộ phận
như: mũi giầy, đế dầy... ở dạng rời và có xuất xứ từ nước thứ 3 cũng được hưởng GSP
hoặc nhập khẩu...); Về điều kiện vận tải (hay điều kiện gửi hàng), EU yêu cầu hàng hóa
phải được gửi thẳng từ nước được hưởng đến nước cho hưởng. Quy định này nhằm đảm
bảo hàng hóa không bị gia công tái chế thêm trong quá trình vận chuyển.
- Đối với các sản phẩm hoàn toàn được sản xuất tại lãnh thổ nước hưởng GSP,
như: khoáng sản, động thực vật, thủy sản đánh bắt trong lãnh hải và các hàng hóa sản
xuất từ các sản phẩm đó được xem là có xuất xứ và được hưởng GSP.
- Đối với các sản phẩm có thành phần nhập khẩu: EU quy định hàm lượng trị
giá sản phẩm sáng tạo tại nước hưởng GSP (tính theo giá xuất xưởng) phải đạt 60%
tổng trị giá hàng liên quan. Tuy nhiên, đối với một số nhóm hàng thì hàm lượng này
thấp hơn. EU quy định cụ thể tỷ lệ trị giá và công đoạn gia công đối với một số nhóm
hàng mà yêu cầu phần trị giá sáng tạo thấp hơn 60% (điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh không
dưới 40; tượng, đồ trang trí làm từ kim loại không dưới 30%; giày dép chỉ được
hưởng GSP nếu các bộ phận như: mũi, đế,v.v... ở dạng rời sản xuất ở trong nước
hưởng GSP hoặc nhập khẩu; v.v...).
EU cũng quy định xuất xứ cộng gộp, theo đó hàng của một nước có thành phần
xuất xứ từ một nước khác trong cùng một tổ chức khu vực cũng được hưởng GSP thì các
thành phần đó cũng được xem là có xuất xứ từ nước liên quan. Thí dụ, Việt Nam xuất
khẩu sang EU một mặt hàng trong đó thành phần xuất xứ của Việt Nam chiếm 20% trị
giá, còn lại 15% nhập khẩu của Indonesia, 10% của Thái Lan, 15% của Singapore. Xuất
xứ cộng gộp của hàng Việt nam sẽ là: 20% + 15% + 10% + 15% = 60%. Mặt hàng này lẽ
ra không được hưởng GSP (vì hàm lượng trị giá Việt Nam chưa được 50%), nhưng nhờ
cộng gộp (60%) đã đủ điều kiện hưởng GSP.


Hàng xuất khẩu của việt Nam vào thị trường EU được hưởng ưu đãi thuế quan phổ
cập (GSP) từ 1/7/1996 cho đến nay.
Trong việc quản lý nhập khẩu, EU phân biệt 2 nhóm nước: nhóm áp dụng cơ chế
kinh tế thị trường (nhóm I) và nhóm có nền thương nghiệp quốc doanh (nhóm II) - State
trading. Hàng hóa nhập khẩu vào EU từ các nước thuộc nhóm II (trong đó có Việt Nam)
chịu sự quản lý chặt thường phải xin phép trước khi nhập khẩu. Sau khi Việt Nam và EU
ký Hiệp định Hợp tác (1995) với điều khoản đối xử tối huệ quốc và mở rộng thị trường
cho hàng hóa của nhau thì quy định xin phép trước đối với nhập khẩu hàng Việt Nam
được hủy bỏ (trên thực tế). Tuy nhiên, cho đến trước ngày 14/5/2000 (ngày EU đưa ra
quyết định “Công nhận Việt Nam áp dụng cơ chế kinh tế thị trường”), EU vẫn xem Việt
Nam là nước có nền thương nghiệp quốc doanh và phân biệt đối xử hàng của Việt Nam
với hàng của các nước kinh tế thị trường khi tiến hành điều tra và thi hành các biện pháp
chống bán phá giá.
Các biện pháp khuyến khích trong GSP của EU: So với ưu đãi mà các nước và khu
vực khác dành cho các nước đang phát triển, mức ưu đãi của EU vào loại thấp nhất.
Trong hệ thống GSP của EU qui định khuyến khích tăng thêm mức ưu đãi 10%, 20%,
35% đối với hàng nông sản và 15%, 25% và 35% đối với hàng công nghệ phẩm. Theo
GSP của EU bắt đầu có hiệu lực từ 1/7/1999 thì những trường hợp sau được hưởng ưu
đãi thêm:
- Bảo vệ quyền của người lao động.
- Bảo vệ môi trường.
Hàng của các nước đang và chậm phát triển khi nhập khẩu vào thị trường EU
muốn được hưởng GSP thì phải tuân thủ các quy định của EU về xuất xứ hàng hóa và
phải xuất trình giấy chứng nhận xuất xứ mẫu A (C/O form A) do cơ quan có thẩm quyền
của các nước được hưởng GSP cấp.
Các biện pháp quản lý xuất nhập khẩu
EU áp dụng nhiều biện pháp, quy định khác để quản lý hoạt động xuất nhập khẩu:
Cấm nhập khẩu: EU áp dụng biện pháp cấm hoàn toàn hoặc chỉ cho phép nhập khẩu khi
đáp ứng những điều kiện nhất định đối với những mặt hàng nguy hiểm như: Các sản
phẩm hóa chất độc hại, các chất phế thải. Một số mặt hàng bị cấm nhập khẩu vào EU do
ảnh hưởng đến an toàn an ninh và sức khỏe của cộng đồng như một số tân dược, thuốc
trừ sâu, thực phẩm, sản phẩm điện, giống cây trồng, vật nuôi ngoại lai, các nông sản, thủy


sản có dư lượng kháng sinh, lượng chất độc cho phép... Một só nước thành viên EU như
áo, Đan Mạch, Hy Lạp, Thụy Điển còn cấm nhập khẩu các mặt hàng: Đồ chơi và các vật
dụng dành cho trẻ em dưới 3 tuổi được làm từ nhựa Polyvinylchloride.
Cấp giấy phép nhập khẩu: Đối với một số loại hàng hóa, EU áp dụng biện pháp cấp giấy
phép nhập khẩu đối với các mặt hàng như: Sản phẩm văn hóa (bao gồm khảo cổ học, sản
phẩm điêu khắc...), các mặt hàng nông sản (rượu, sữa, lúa mỳ, thịt, gạo), kim loại đều
phải trình giấy phép nhập khẩu và các tài liệu liên quan.
Hạn chế nhập khẩu bằng hạn ngạch (quota): Mặc dù được coi là khu vực tương đối tự
do và tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho thương mại quốc tế phát triển, EU vẫn áp dụng
một số hạn ngạch nhất định cho một số mặt hàng, đặc biệt là hàng dệt may. Hạn ngạch
hàng dệt may của EU được quy định trên cơ sở Hiệp định Dệt may. Việt Nam là một
trong những nước được cấp hạn ngạch hàng dệt may vào EU, mỗi năm từ 500-600 triệu
USD, năm 2004 lên đến 800-900 triệu USD. Nay, EU xoá bỏ hoàn toàn hạn ngạch cho
các nước thành viên WTO, Việt Nam sẽ gặp khó khăn. Để vượt qua khó khăn, một mặt
Việt Nam phải nỗ lực nâng cao sức cạnh tranh của hàng dệt may, mặt khác phải tích cực
thương lượng để trở thành thành viên của WTO trong năm 2005.
Luật chống bán phá giá: EU áp dụng Luật này đối với hàng nhập khẩu từ nước thứ 3,
được áp dụng đối với các sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp. Luật này sẽ được áp
dụng cho tất cả các nước thứ 3, kể cả các đối tác thương mại được hưởng ưu đãi, trừ các
thành viên của Khu vực kinh tế châu Âu trong một số lĩnh vực chịu sự chi phối trong
trong khuôn khổ chính sách cạnh tranh của EU. Quy định này có một số điều khoản đặc
biệt, áp dụng cho các nền kinh tế chuyển đổi để trao quy chế đối xử như với nền kinh tế
thị trường cho các nhà xuất khẩu từ Anbani, Mông Cổ, Ucraina, Kadăcxtan, Trung Quốc,
Nga, Việt Nam theo quy chế tạm thời để áp dụng trong việc điều tra chống bán phá giá.
2. Các hàng rào kỹ thuật trong thương mại của Liên minh châu Âu
Tiến trình tự do hoá thương mại đang được tăng tốc bởi các hàng rào phi quan
thuế như quota sẽ được bãi bỏ và những hàng rào thuế quan cũng sẽ bị cắt giảm. Tuy
nhiên điều này không có nghĩa là các nhà xuất khẩu có thể dễ dàng tiếp cận vào thị
trường EU. Việc tiếp cận thị trường EU trở nên khó khăn hơn nhiều do việc tăng những
quy định và các yêu cầu thị trường trong các khía cạnh về an toàn, sức khỏe, chất lượng,
các vấn đề môi trường và xã hội. Trước đây, các hàng rào thuế quan và phi thuế quan
nhìn chung nhằm bảo vệ các nhà sản xuất của Châu Âu. Nhưng ngày nay, việc bảo vệ


môi trường và bảo vệ cho người tiêu dùng ngày càng tăng đã dần thay thế cho việc bảo
vệ nhà sản xuất và lao động.
Việc sử dụng các hàng rào kỹ thuật được điều chỉnh thông qua các hàng rào kỹ
thuật trong hiệp định thương mại của WTO. Những quy định, luật lệ này không chỉ do
các chính phủ áp dụng nhằm xác định các tiêu chuẩn trong an toàn, sức khỏe và môi
trường, mà còn bởi chính người tiêu dùng đang ngày càng có những yêu cầu khắt khe
hơn về chất lượng sản phẩm. Điều này dẫn tới các quy định khó khăn hơn xuất phát từ
phía thị trường.
Hiện tại EU đang tạo ra các tiêu chuẩn thống nhất cho toàn EU đối với các lĩnh
vực sản phẩm chính nhằm thay thế hàng ngàn các tiêu chuẩn quốc gia khác nhau. Nhìn
chung, các mức độ yêu cầu đang được đặt ra hoặc sẽ được đặt ra trong những năm tới
đây. Các quốc gia thành viên được phép đưa ra thêm các yêu cầu cho ngành công nghiệp
của mình. Tuy nhiên, nếu sản phẩm nào đáp ứng được những yêu cầu tối thiểu sẽ được
cho phép lưu hành tự do tại EU.
2.1.Tiêu chuẩn sức khỏe và an toàn:
2.1.1. Nhãn CE
Tháng 5/1985, Hội đồng châu Âu đã thông qua quy định “cách tiếp cận mới về
việc hoà hợp và bình thường hóa về kỹ thuật. Cách tiếp cận mới được áp dụng cho việc
chuẩn hóa và quản lý chất lượng nhằm đảm bảo chỉ những sản phẩm an toàn và đáp ứng
được yêu cầu bảo vệ người tiêu dùng, môi trường sức khỏe mới được lưu thông trong
Khu vực Kinh tế chấu Âu. Theo cách tiếp cận mới này, thì hàng loạt các sản phẩm công
nghiệp chế tạo buộc phải mang nhãn hiệu CE. Mục đích của nhãn CE là đặt ra yêu cầu
chung đối với các nhà sản xuất nhằm đảm bảo đưa ra những sản phẩm an toàn tại thị
trường EU. Nhãn CE được coi là 1 giấy thông hành của nhà sản xuất lưu thông nhiều sản
phẩm công nghiệp như máy móc thiết bị, các thiết bị điện có hiệu điện thế thấp, đồ chơi,
các thiết bị an toàn cá nhân, các thiết bị y tế… trên thị trường EU. Tuy nhiên nhãn CE
không áp dụng cho tất cả các hàng hoá công nghiệp, nó không áp dụng cho các sản phẩm
trang trí nội thất, quần áo và các sản phẩm da. Nhãn CE chỉ ra rằng sản phẩm tuân thủ
các yêu cầu về luật định và có thể được áp dụng về an toàn, sức khỏe, môi trường và bảo
vệ người tiêu dùng, nhưng nhãn CE không bảo đảm về chất lượng sản phẩm.
Chỉ thị về sản phẩm chung 92/59/EC (thường được gọi là Chỉ thị an toàn sản
phẩm) được thông qua Hội đồng châu Âu ngày 29/6/1992. Tháng 6/1994, Chỉ thị bắt đầu


có hiệu lực và áp dụng cho an toàn của sản phẩm kể từ lần đầu tiên sản phẩm đó xuất
hiện trên thị trường EU và kéo dài đến khi sản phẩm đó hết tác dụng. Với Chỉ thị này, các
nhà sản xuất và phân phối chỉ được phép kinh doanh các sản phẩm an toàn. Vì vậy, khi
sản xuất hàng xuất khẩu đi EU phải chú ý ngay từ khâu thiết kế, nguyên liệu đầu vào...,
phải chứng minh được hàng hóa đảm bảo an toàn và sức khỏe cho người sử dụng.
2.1.2. HACCP: Hệ thống phân tích nguy cơ và kiểm soát các điểm tới hạn
Tiêu chuẩn HACCP được áp dụng cho ngành công nghiệp thực phẩm và chế biến với
các nguyên tắc cơ bản:
* Xác định tất cả các nguy cơ có thể xẩy ra cho sản phẩm trong chu kỳ sống của sản
phẩm;
* Xác định các Điểm kiểm soát tới hạn (Critical Control Points), các giai đoạn có thể
kiểm soát được trong chu kỳ sống của sản phẩm;
* Xác định những biên độ tiêu chuẩn cao nhất có thể cho phép cho mỗi điểm kiểm soát
tới hạn;
* Thiết kế và thực hiện một hệ thống kiểm soát kiểm nghiệm hoặc quan sát cho mỗi
Điểm kiểm soát tới hạn, bao gồm 01 lịch trình theo thời gian;
* Thiết kế và thực hiện các kế hoạch hành động chính xác cho mỗi Điểm kiểm soát tới
hạn;
* Đưa ra một tiến trình xác nhận, bào gồm các kiểm nghiệm và tiến trình khác nhằm
kiểm tra tính hiện quả và hiệu quả của hệ thống HACCP;
* Chứng từ hoá tất cả các tiến trình và kết quả kiểm nghiệm.
2.1.3. Phụ gia thực phẩm và gia vị
Phụ gia thực phẩm chịu sự điều chỉnh của luật pháp EU ban hành đối với chất làm
ngọt, chất mầu và các phụ gia thực phẩm khác được sử dụng trong đồ ăn. Chỉ những phụ
gia nào được phép sử dụng một cách rõ ràng theo Quy định này mới có thể được dùng
trong EU. Các chất phụ gia thực phẩm được phép sử dụng sẽ có số xác minh. Số này sẽ
có một chữ E đứng trước (E number). Các phụ gia thực phẩm phải được ghi rõ trong
danh mục thành phần in trên bao bì tên của chất có trong phụ gia hay số E của nó.
Hầu hết các chất phụ gia thực phẩm chỉ có thể sử dụng với các khối lượng hạn chế
trong một số thực phẩm nhất định. Đối với các chất phụ gia thực phẩm, EU sẽ sớm công
bố một danh mục các chất phụ gia được phép sử dụng. Sau đó, chỉ các chất phụ gia nêu
trong danh mục này được phép đưa vào thực phẩm.


2.2.Tiêu chuẩn môi trường:
Chương trình hành động về môi trường của EU nhấn mạnh: Phải xử lý tận gốc
những vấn đề gây tác động xấu đến môi trường chứ không phải chỉ đối phó với những
rắc rối khi chúng đã xẩy ra. EU đưa ra danh mục các sản phẩm có ảnh hưởng đến môi
trường như: thực phẩm tươi sống, thực phẩm chế biến, dược phẩm, hoá chất, đồ da, đồ
gỗ, dệt may, đồ điện, cơ khí, khoáng sản... , cùng các vấn đề nhạy cảm có liên quan như
lượng thuốc trừ sâu không phân hủy, phụ gia thực phẩm, kim loại nặng, hoá chất độc hại
gây nhiễm nguồn nước và không khí... Với chính sách bảo vệ môi trường của EU như đã
nêu trên, thì các doanh nghiệp xuất khẩu hàng sang EU đều phải có chứng chỉ ISO 14000
và phải chứng minh được nguồn gốc hàng hóa và chính sách bảo vệ môi trường.
Phần 3. Các công cụ của chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam hiện nay:
Thuế Quan:
Hệ thống thuế quan là một trong những thực thể bị chi phối nhiều nhất khi Việt Nam
gia nhập WTO. Biểu thuế của Việt Nam có một số thay đổi để thực hiện những cam kết
về hàng hóa với WTO.


Thuế suất đánh trên hầu hết hàng hóa, kể cả nông sản, sẽ không quá giới hạn 35%.

Thuế suất cao hơn 35% đánh trên một số sản phẩm (thí dụ như rượu, thuốc lá, cà phê
uống liền (instant coffee), xe hơi cũ và mới, phụ tùng xe hơi, và ngói) sẽ được giãm dần,
kể từ nay cho đến 2014.


Một số sản phẩm về kỹ thuật thông tin(information technology) nhập cảng từ các

quốc gia thành viên đã ký kết Thỏa ước Kỹ thuật Thông tin (Information Technology
Agreement) sẽ được miễn thuế. Một số sản phẩm có hiệu lực ngay lập tức, một số khác sẽ
được miễn dần từ nay cho đến 2010 hoặc 2014.
 Thuế suất trên một vài sản phẩm (như trứng, thuốc lá, đường, và muối) sẽ được đánh
theo thuế suất hạn ngạch (thuế suất thấp cho số lượng ít hơn hạn ngạch, thuế suất cao hơn
cho số lượng vượt hạn ngạch). Tuy nhiên, Việt Nam sẽ nới rộng và bãi bỏ hạn ngạch theo
thời biểu được thỏa thuận.
 Việt Nam có quyền ấn định thuế quan dựa trên trọng lượng ($/tấn) thay vì trên giá cả
(phần trăm) của hàng hóa, miễn là thuế suất thực sự không vượt quá giới hạn đã được
thỏa thuận.
 Việt Nam cam kết không trợ giá cho nông sản xuất cảng. Là một quốc gia đang phát
triển, Việt Nam được quyền hỗ trợ cho nông dân trong nước nhưng không quá 246 triệu


$US cộng với 10% tổng sản lượng nông nghiệp nội địa. Cũng như các thành viên WTO
khác, Việt Nam có quyền hỗ trợ không hạn chế cho các hoạt động không có ảnh hưởng
đến mậu dịch.

 Có tất cả 18 loại hàng hóa bị cấm lưu hành ở Việt Nam. Trong số này có “Sản phẩm
văn hóa phản động và khiêu dâm; sản phẩm phục vụ mê tín hoặc sản phẩm có hại cho
việc phát triển con người
Hạn ngạch
Là thành viên của WTO, Việt Nam đã cam kết loại bỏ tất cả các biện pháp hạn chế
định lượng với hàng nhập khẩu ngay khi gia nhập trong đó có hạn ngạch thuế quan. Điều
này gây ra nhiều bất lợi trong cạnh tranh trên thị trường quốc tế cho Việt Nam. Bởi lẽ, bỏ
quota, cạnh tranh sẽ gay gắt hơn, các nước nhập khẩu sẽ được tự do lựa chọn nơi nào có
lợi thế cạnh tranh hơn để nhập khẩu hàng hoá. Khi đó, tình hình chắc chắn sẽ có lợi hơn
cho các nước có đầy đủ năng lực cạnh tranh chiếm thêm thị phần mà trước đó đã là của
nước khác. Các nước có tiềm năng sản xuất, xuất khẩu với công nghệ tiên tiến, chủ động
được nguyên phụ liệu, có các ngành công nghiệp hỗ trợ phát triển, được chính phủ quan
tâm đầy đủ thì sẽ tận dụng được cơ hội này để phát triển. Còn đối với Việt Nam – 1 nước
đang phát triển với nguồn lực còn nhiều hạn chế thì đây là một khó khăn rất lớn.
Ví dụ về việc dỡ bỏ hạn ngạch đối với hàng nông sản của Việt Nam.
Để gia nhập WTO, Việt Nam đã cam kết mở cửa thị trường nông nghiệp bằng việc cắt
giảm thuế nông sản là 20% so với mức hiện hành. Đồng thời, cam kết loại bỏ hết các
hàng rào phi thuế, trừ các biện pháp hạn ngạch thuế quan đối với 4 mặt hàng là đường,
trứng gia cầm, lá thuốc lá, muối.
Đối với 4 mặt hàng này, mức thuế trong hạn ngạch là tương đương mức thuế Tối huệ
quốc (MFN) hiện hành (trứng 40%, đường thô 25%, đường tinh 50-60%, thuốc lá: 30%,
muối ăn 30%), thấp hơn nhiều so với mức thuế ngoài hạn ngạch.
Mức cắt giảm thuế không đều giữa các lĩnh vực: thuế thấp đối với vật tư nông nghiệp
(giống nguyên liệu chế biến, thức ăn) là 0-10%; thuế trung bình 15-30% với các sản
phẩm nông sản tươi (rau quả, sữa, thịt); và thuế cao (40-50%) đến rất cao (60-100%) đối
với sản phẩm chế biến (thịt, cà phê tan, rượu-bia, thuốc lá, nước giải khát. Với mức cắt
giảm như vậy, đối tượng được bảo vệ là ngành công nghiệp chế biến hơn là nông dân.
Việc xoá bỏ hạn ngạch thuế quan cho một số lượng các mặt hàng nông sản mà Việt
Nam vốn có khả năng cạnh tranh thấp sẽ gây ra những tác động tiêu cực đối với những


người nông dân sản xuất trực tiếp, nhất là trong bối cảnh nền sản xuất nông nghiệp của
Việt Nam vẫn là nền sản xuất nhỏ, phân tán, năng suất và chất lượng thấp, trong khi bình
quân đất nông nghiệp theo đầu người quá ít, giá trị sản xuất nông nghiệp trên 1 ha canh
tác trung bình ở mức 30 triệu đồng/ha.
Đặc biệt, trong ngành đường và muối của Việt Nam, chất lượng sản phẩm thấp trong
khi giá thành sản xuất lại cao đã kéo theo lượng hàng nhập lậu lớn từ các nước láng giềng
với chi phí thành phẩm thấp hơn một cách đáng kể. Trong năm 2006, Việt Nam phải nhập
khẩu khoảng 185.000 tấn đường và 118.515 tấn muối, trong khi lượng hạn ngạch mà Việt
Nam cam kết khi gia nhậpWTO là 55.000 tấn đường và 150.000 tấn muối.
Điều này cho thấy việc áp dụng hạn ngạch thuế quan đối với những mặt hàng này rõ
ràng có tác động đáng kể đối với khả năng tiếp cận thị trường củ các nhà nhập khẩu cũng
như đời sống người nông dân.
Một số ngành như dệt may, da giầy…cũng đang gặp khó khăn trong cạnh tranh trên
thị trường thế giới do việc cắt bỏ hạn ngạch để thực hiện cam kết khi gia nhập WTO.
Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật:
Ðể bảo đảm cho việc tuân thủ Thỏa ước TBT của tổ chức thương mại thế giới WTO,
vào tháng 6 năm 2006, Việt Nam đã ban hành Luật về Tiêu chuẩn và Quy định Kỹ thuật
bao gồm tất cả các tiêu chuẩn ghi trong các văn bản pháp luật hiện hành như Quy định về
Ðo lường, Phẩm chất Thực phẩm, Vệ sinh và An toàn Thực phẩm, Bảo vệ Thực vật, Thú
y, và Bảo vệ Giới Tiêu thụ. Việt Nam cũng thực thi nhiều chương trình để dung hòa
(harmonize) tiêu chuẩn quốc gia với tiêu chuẩn quốc tế. Tính đến cuối năm 2004, Việt
Nam có trên 5.800 tiêu chuẩn, khoảng 1.450 tiêu chuẩn dịch thẳng và khoảng 4.350 nháy
theo tiêu chuẩn quốc tế hoặc của các quốc gia trong vùng. Ngoại trừ 231 tiêu chuẩn bắt
buộc, việc áp dụng tiêu chuẩn có tính cách tự nguyện (voluntary). Các tiêu chuẩn bắt
buộc và những quy định kỹ thuật được áp dụng tại Việt Nam có thể đặt mua ở Trung tâm
Thông tin Tiêu chuẩn Ðo lường Chất lượng trực thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn Ðo lường
Chất lượng (STAMEQ).
Hạn chế xuất khẩu:
Việt Nam vẫn duy trì việc kiểm soát xuất khẩu trên một số mặt hàng như gạo,một số
sản phẩm gỗ và khoáng chất ( nhằm ngăn chặn việc khai thác bất hợp pháp) nhưng phải
phù hợp với các hiệp định của WTO.
Trợ cấp xuất khẩu


Việt Nam đang từng bước thực hiện những cam kết về trợ cấp xuất khẩu khi gia nhập
WTO:
- Bãi bỏ trợ cấp thay thế nhập khẩu (như thuế ưu đãi theo tỷ lệ nội địa hóa) và các loại trợ
cấp xuất khẩu dưới hình thức cấp phát trực tiếp từ ngân sách nhà nước (như bù lỗ cho
hoạt động xuất khẩu, thưởng theo kim ngạch xuất khẩu, hỗ trợ lãi suất cho hợp đồng xuất
khẩu…) kể từ khi gia nhập WTO.
- Với trợ cấp xuất khẩu “gián tiếp” (chủ yếu dưới dạng ưu đãi đầu tư dành cho sản xuất
hàng xuất khẩu), sẽ không cấp thêm kể từ khi gia nhập WTO. Tuy nhiên, với các dự án
đầu tư trong và ngoài nước đã được hưởng ưu đãi loại này từ trước ngày gia nhập WTO,
ta được một thời gian quá độ là năm năm để bãi bỏ hoàn toàn.
- Riêng với ngành dệt - may, tất cả các loại trợ cấp bị cấm theo Hiệp định SCM, dù là
trực tiếp hay gián tiếp, đều được bãi bỏ ngay từ khi Việt Nam gia nhập WTO.
Tóm lại, Việt Nam đã cam kết xóa bỏ hoàn toàn trợ cấp bị Hiệp định SCM cấm kể từ
khi gia nhập, chỉ bảo lưu năm năm cho các ưu đãi đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu (ưu đãi
thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thuê đất, tiền sử dụng đất...) đã cấp cho các dự án từ
trước ngày gia nhập WTO (nhưng không bao gồm các dự án dệt-may). Các hình thức hỗ
trợ khác cho sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, nếu không gắn với xuất khẩu hoặc
khuyến khích thay thế hàng nhập khẩu, vẫn tiếp tục được duy trì.
Các quy định về chống bán phá giá của Việt Nam
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (Điều 2 và
Điều 9) được Quốc hội thông qua ngày 20/5/1998 cho phép áp dụng mức thuế bổ sung
đối với hàng nhập khẩu có giá thấp hơn “giá thông thường do được bán phá giá, gây khó
khăn cho các nhà sản xuất hàng hoá tương tự trong nước” hoặc thấp hơn “giá thông
thường phát sinh do có sự trợ cấp của nước xuất khẩu, gây ra khó khăn cho các nhà sản
xuất hàng hoá tương tự trong nước”.
Hiện Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh về các biện pháp tự vệ
ngày 25/5/2002, Pháp lệnh số 20/2004/PL-UBTVQH11 về “chống bán phá giá hàng hoá
nhập khẩu vào Việt Nam” ngày 29/4/2004 và Pháp lệnh số 22/2004/PL-UBTVQH11 “về
các biện pháp chống trợ cấp hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam” ngày 20/8/2004.
Trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, đại diện của Việt Nam công nhận rằng Việt
Nam cần phải xây dựng khuôn khổ pháp luật, thể chế phù hợp để thực thi các quy định về
các biện pháp chống bán phá giá và các biện pháp đối kháng. Các quy định mới của Việt


Nam sẽ tuân thủ hoàn toàn Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng và Hiệp định
Chống bán phá giá của WTO.
Trên đây là các nguyên tắc, hình thức và các công cụ của chính sách thương mại quốc
tế mà Việt Nam đang áp dụng để thực hiện các cam kết khi gia nhập WTO – 1 bước
ngoặt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
Phần 4. Các giải pháp nhằm nâng cao khả năng thâm nhập vào trường Liên minh
châu Âu
EU là một thị trường đầy tiềm năng đối với hàng xuất khẩu của ta. Nhiều doanh nghiệp
xuất khẩu của Việt Nam đã có một số thành công nhất định trong việc thâm nhập vào thị
trường này trong thời gian qua. Thị trường EU ngày càng mở ra cơ hội to lớn đối với
doanh nghiệp Việt Nam tham gia xuất khẩu hàng hoá vào thị trường này. Tuy nhiên bên
cạnh đó cũng còn có rất nhiều khó khăn trở ngại khiến cho việc thâm nhập thị trường này
chưa thực sự đạt được như mong muốn. Hoạt động xuất khẩu hàng hoá Việt Nam - EU
phát triển tương xứng với tiềm lực kinh tế của Việt Nam và đáp ứng nhu cầu nhập khẩu
của EU, phía Việt Nam cần thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau.
1. Giải pháp về phía Nhà nước
1.1. Hoàn thiện hành lang pháp lý tạo thuận lợi tối đa cho xuất khẩu
Rà soát lại hệ thống luật để điều chỉnh các quy định không còn phù hợp hoặc chưa
được rõ, trước hết là luật thương mại, luật đầu tư nước ngoài và luật khuyến khích đầu tư
trong nước. Xây dựng luật trong xu thế tự do hoá thương mại , đầu tư cần mở rộng phạm
vi điều chỉnh cho phù hợp với các quy định của WTO; quy định chặt chẽ và cụ thể hơn về
mọi hoạt động thương mại và liên quan đến thương mại cho phù hợp với xu hướng mở
cửa thị trường và xu hướng hội nhập để khuyến khích sản xuất và xuất khẩu. Về lĩnh vực
đầu tư, cần mở rộng ngành cho người nước ngoài đàu tư, vào một số ngành hiện nay vẫn
độc quyền như điện lực, bưu chính viễn thông,…và có chiến lược lâu dài hơn thì mới thu
hút được đầu tư; Để khuyến khích đầu tư trong nước, cần quy định lại rõ hơn về ngành
nghề khuyến kích đầu tư để khắc phục tình trạng không rõ ràng giữa “thay thế nhập
khẩu” và “định hướng xuất khẩu”. Có lộ trình thống nhất hai luật đầu tư này thành một
bộ luật chung về khuyến khích đầu tư.
Thay đổi về căn bản phương thức quản lý nhập khẩu. Tăng cường sử dụng
các công cụ phi thuế “hợp lệ” như hàng rào kỹ thuật, hạn ngạch, thuế quan, thuế


chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp. Giảm dần tỷ trọng của thuế nhập khẩu trong
cơ cấu nguồn thu ngân sách. Khắc phục triệt để những bất hợp lý trong chính sách
bảo hộ, cân đối lại đối tượng bảo hộ theo hướng chú trọng bảo hộ nông sản. Sửa
đổi biểu thuế và cải cách công tác thu thuế để giảm dần, tiến tới xoá bỏ chế độ tính
thuế theo giá tối thiểu. Với phương thức quản lý nhập khẩu hợp lý, chúng ta có thể
đẩy mạnh nhập khẩu công nghệ nguồn từ EU, đặc biệt là công nghệ chế biến.
Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực thương mại theo hướng
xoá bỏ các thủ tục phiền hà, và phấn đấu ổn định môi trường pháp lý để tạo tâm lý tin
tưởng cho các doanh nghiệp, khuyến khích họ chấp nhận bỏ vốn đầu tư lâu dài. Phấn
đấu làm cho chính sách thuế, dặc biệt là cho chính sách thuế xuất nhập khẩu có định
hướng nhất quán để không gây khó khăn cho doanh nghiệp trong tính toán hiệu quả
kinh doanh. Giảm dần, tiến tới ngừng áp dụng các lệnh cấm, lệnh ngừng nhập khẩu
tạm thời. Tăng cường tính đồng bộ của cơ chế chính sách. Tiếp theo Hiệp định hợp tác
Việt Nam-EU cần phải có sự thúc đẩy nhằm tiến tới một bước nữa cao hơn là Hiệp
định thương mại Việt Nam-EU, trong đó quy định chi tiết hơn về thương mại hàng
hoá, dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ.
1.2. Phát triển các ngành hàng xuất khẩu chủ lực sang thị trường EU
Nhà nước cần có chính sách cụ thể để phát triển các ngành hàng xuất khẩu chủ
lực sang thị trường EU. Thông qua sự hỗ trợ về vốn, ưu đãi về thuế và tạo điều kiện
thuận lợi trong sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp, Việt Nam có thể phát triển
được nền sản xuất nội địa (phát triển kinh tế ngành và kinh tế vùng), đồng thời nâng
cao được khả năng cạnh tranh của hàng hoá và doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường
EU.
Đối với hai mặt hàng xuất khẩu chủ lực là giày dép và dệt may, do có đặc thù riêng
trong sản xuất và xuất khẩu: ta chủ yếu làm gia công cho nước ngoài nên hiệu quả thực tế
thu được từ xuất khẩu rất thấp (25% -30% doanh thu). Hơn nữa, do gia công theo đơn đặt
hàng và sản xuất theo kỹ thuật nước ngoài nên các doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn bị
động về mẫu mã, sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm. Đây là điểm yếu trong xuất khẩu
hai mặt hàng này của ta. Nếu cứ tiếp tục kéo dài tình trạng này sẽ rất bất lợi cho Việt
Nam. Bởi vậy, Nhà nước cần có một chính sách cụ thể khuyến khích các doanh nghiệp
sản xuất (chứ không phải các doanh nghiệp gia công) làm ăn có hiệu quả hoặc các doanh


nghiệp sản xuất đã xuất khẩu trực tiếp sản phẩm sang EU thuộc hai ngành công nghiệp
này tiếp tục đầu tư vốn và đổi mới công nghệ trong quá trình sản xuất để cải tiến sản
phẩm phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng EU, nâng cao chất lượng; tăng cường
xuất khẩu theo phương thức mua đứt bán đoạn (mua nguyên liệu và bán thành phẩm),
giảm dần phương thức gia công xuất khẩu; đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu trực tiếp sản
phẩm có tỷ lệ nội địa hoá cao, và tiến tới xuất khẩu sản phẩm 100% nguyên liệu trong
nước nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu hai mặt hàng này.
Đối với các mặt hàng đang được ưa chuộng trên thị trường EU như hàng thủ công
mỹ nghệ, đồ gỗ gia dụng, đồ dùng phục vụ du lịch, đồ chơi trẻ em, hàng điện tử và hàng
thủy hải sản là những mặt hàng được người tiêu dùng EU ưa chuộng, Nhà nước cần có
một chính sách cụ thể khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vốn và công nghệ hiện đại
để mở rộng qui mô sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá và
nâng cao trình độ tiếp thị sản phẩm nhằm mục đích tăng khối lượng và nâng cao hiêụ quả
xuất khẩu những mặt hàng này sang EU. Đối tượng áp dụng của chính sách là những
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả, những doanh nghiệp có mặt hàng xuất
khẩu mới và có triển vọng phát triển.
Đối với một số mặt hàng nông sản có khả năng xuất khẩu sang thị trường EU như
cà phê, chè, hạt tiêu, hạt điều, cao su, rau, quả,v.v..., Nhà nước cần xây dựng quy hoạch,
chọn lựa và có chính sách cụ thể khuyến khích đầu tư vốn tạo ra các vùng sản xuất
chuyên canh ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến, công nghệ sau thu hoạch để đảm bảo sản
phẩm làm ra có năng suất cao, chất lượng tốt, đồng đều, giá thành hạ và khối lượng lớn.
Việc tạo ra vùng sản xuất chuyên canh cho xuất khẩu sẽ giúp cho công tác quản lý chất
lượng được thực hiện tốt từ khâu tuyển chọn giống, kỹ thuật thâm canh, chăm sóc đến lựa
chọn, đảm bảo chất lượng tốt, phù hợp khi đưa ra xuất khẩu khắc phục được tình trạng
chất lượng thấp, không ổn định và nguồn cung cấp nhỏ. Với chính sách này hàng nông
sản của ta có thể xâm nhập và chiếm lĩnh được thị trường EU.
1.3. Gắn nhập khẩu công nghệ nguồn với xuất khẩu
Bấy lâu nay chúng ta nhập khẩu máy móc thiết bị chủ yếu của Châu Á, giá rẻ
nhưng không lâu bền. Máy móc thiết bị tốt sẽ sản xuất ra hàng hoá chất lượng cao,
cạnh tranh được trên thị trường. Trong buôn bán với EU, chúng ta xuất siêu khá lớn,
chiếm 25,7% kim ngạch hai chiều, trị giá xuất siêu năm 1999 tăng hơn 5 lần so với


năm 1997. Nếu chúng ta tăng cường nhập khẩu công nghệ nguồn từ EU sẽ làm cân
bằng cán cân thanh toán, phía EU sẽ không tìm cách cản trở hàng xuất khẩu của ta;
đồng thời nhập khẩu được công nghệ hiện đại phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu
giúp thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả xuất
khẩu nói chung, sang thị trường EU nói riêng, do đó mở rộng được thị trường xuất
khẩu. Đây sẽ là một phương pháp hữu hiệu hỗ trợ và đẩy mạnh xuất khẩu sang EU.
Nhập khẩu công nghệ nguồn từ EU có thể được thực hiện bằng hai biện pháp sau
đây: (1)Đầu tư của chính phủ: là biện pháp ưu việt để nhập khẩu được công nghệ hiện đại
một cách nhanh nhất và đúng theo yêu cầu đặt ra. Nhưng đây không phải là biện pháp tối
ưu đối với chúng ta hiện nay vì Việt Nam là nước nghèo nên kinh phí dành cho đầu tư
của chính phủ còn rất hạn hẹp và chỉ ưu tiên cho những ngành trọng điểm của đất nước.
Đó chính là mặt hạn chế của biện pháp này. (2)Thu hút các nhà đầu tư EU tham gia vào
quá trình sản xuất hàng xuất khẩu tại Việt Nam: là biện pháp tối ưu để Việt Nam nhập
khẩu được công nghệ nguồn từ EU và sử dụng công nghệ này đạt hiệu quả cao trong điều
kiện chúng ta rất thiếu vốn và trình độ hiểu biết còn hạn chế. Nếu đi vay tiền để nhập
khẩu công nghệ thì chưa chắc là ta có thể vận hành đạt kết quả như mong muốn, hơn nữa
vay tiền thì phải có nguồn để trả. Còn ở đây vốn của phía EU góp (dây chuyền công
nghệ, máy móc thiết bị lẻ,v.v...) sẽ trả bằng sản phẩm thu được từ quá trình sản xuất.
Chúng ta cần có những ưu đãi nhất định cho các nhà đầu tư, những ưu đãi này có
thể là những ưu đãi về thuế nhập khẩu công nghệ nguồn từ EU, thuế lợi tức, thuế chuyển
lợi nhuận hay do góp vốn bằng thiết bị công nghệ hiện đại, do đầu tư vào các lĩnh vực
Việt Nam đang khuyến khích như công nghiệp chế biến, sản xuất thiết bị điện, điện tử,
viễn thông…Những ưu đãi này phải được quy định chi tiết trong văn bản luật cụ thể.
Thực hiện biện pháp này, Việt Nam vừa thu hút được công nghệ nguồn từ EU lại
vừa nâng cao và tiêu chuẩn hoá chất lượng hàng xuất khẩu nói chung và chất lượng hàng
xuất khẩu sang thị trường EU nói riêng. Với sự góp mặt của các nhà đầu tư EU trong quá
trình sản xuất hàng xuất khẩu, chắc chắn hàng thủy sản Việt Nam sẽ đạt tiêu chuẩn
HACCP và các mặt hàng khác đạt tiêu chuẩn ISO 9000 và ISO 14000. Hàng Việt Nam sẽ
có thể đáp ứng tốt nhất các yêu cầu khắt khe của thị trường EU về chất lượng, vệ sinh,
bảo vệ môi trường, kiểu dáng đẹp và chủng loại phong phú. Đồng thời hàng Việt Nam
cũng sẽ được nâng cao tính cạnh tranh quốc tế. Nếu thực hiện tốt giải pháp này, Việt Nam
sẽ nhanh chóng cải thiện được chất lượng hàng hoá và thay đổi nhanh cơ cấu hàng xuất


khẩu, không những thế còn tạo được nhiều công ăn việc làm và nâng cao tay nghề cho
người lao động Việt Nam. Nếu thực hiện chính sách này một cách hiệu quả nó sẽ góp
phần không nhỏ cho tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
1.4. Hỗ trợ tín dụng cho các doanh nghiệp xuất khẩu
Phần lớn các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh hàng xuất khẩu của Việt
Nam sang EU đều có qui mô vừa và nhỏ, nên khả năng cạnh tranh và hiệu quả xuất
khẩu không cao; vì thế để đẩy mạnh, mở rộng qui mô và nâng cao hiệu quả xuất
khẩu sang thị trường này, Nhà nước cần có sự hỗ trợ các doanh nghiệp về vốn
thông qua hệ thống ngân hàng. Các biện pháp chủ yếu Chính phủ cần thực hiện là:
- Sử dụng có hiệu quả quỹ hỗ trợ xuất khẩu để các doanh nghiệp được vay vốn với
lãi suất thấp, giải quyết được khó khăn về vốn lưu động và vốn đầu tư đổi mới trang thiết
bị. Bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thâm nhập được thị
trường EU - một thị trường có yêu cầu rất khắt khe về hàng hoá và kênh phân phối phức
tạp trên thế giới.
- Đảm bảo sự bình đẳng thực sự trong quan hệ tín dụng ngân hàng trên cơ sở pháp
luật giữa các thành phần kinh tế (hiện nay các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc khu vực tư
nhân không được lấy giá trị quyền sử dụng đất đai để thế chấp khi vay vốn). Mở rộng khả
năng tiếp cận nguồn tín dụng từ các ngân hàng cũng như các định chế tài chính. Đơn giản
hoá thủ tục vay vốn và yêu cầu thế chấp tài sản của ngân hàng và các tổ chức tín dụng.
- Mở rộng khả năng tiếp cận các nguồn vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhà
nước cần thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng, các ngân hàng chuyên doanh của khu vực
doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho phép các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất, kinh doanh
xuất khẩu có hiệu quả được vay vốn theo phương thức tự vay, tự trả.
- Thực hiện lãi suất ưu đãi cho doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất, kinh doanh xuất
khẩu sang EU có hiệu quả, sản xuất sản phẩm mới hoặc nghiên cứu ứng dụng khoa học
công nghệ mới.
- Mở rộng thu hút hỗ trợ tài chính từ các nước thành viên EU.
Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường EU tăng nhanh hàng năm, nhưng trị giá xuất
khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện theo con đường xuất khẩu trực tiếp chỉ
chiếm khoảng 50% tổng kim ngạch. Ngoài nguyên nhân là các doanh nghiệp Việt Nam


thiếu thông tin về thị trường và kênh phân phối phức tạp, nguyên nhân chính dẫn tới tình
trạng này là do các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh hàng xuất khẩu rất thiếu vốn để
đầu tư, cải tiến và mở rộng sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và tạo ra
nguồn hàng có khối lượng lớn, ổn định thoả mãn nhu cầu của thị trường này. Do vậy,
thực hiện “chính sách tín dụng” sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam có vốn đầu tư cho
sản xuất để nâng cao chất lượng, đa dạng hoá sản phẩm và cải tiến mẫu mã hàng nhằm
đạt được mục đích là tăng nhanh khối lượng hàng xuất khẩu sang thị trường EU.
2. Giải pháp về phía doanh nghiệp
Bên cạnh sự quan tâm hỗ trợ từ phía nhà nước đối với các doanh nghiệp sản xuất
và kinh doanh xuất khẩu, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp này đẩy mạnh
xuất khẩu, thì mỗi doanh nghiệp cần phải phát huy tính độc lập và chủ động, sáng tạo
trong việc nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh của sản phẩm, tam ra những cách thức
phù hợp để thâm nhập thị trường nước ngoài, tạo dựng uy tín của hàng hoá cũng như tên
tuổi của doanh nghiệp trên trường quốc tế thì mới thực sự đem lại lợi ích to lớn, lâu dài.
2.1. Lựa chọn phương thức thích hợp để chủ động thâm nhập vào các kênh phân
phối trên thị trường EU
* Các phương thức thâm nhập thị trường EU:
Có nhiều phương thức để các doanh nghiệp Việt Nam có thể thâm nhập vào thị
trường EU, như: xuất khẩu qua trung gian, xuất khẩu trực tiếp, liên doanh, đầu tư trực
tiếp. Mỗi phương thức thâm nhập thị trường trên đây có những ưu thế và hạn chế riêng.
Xuất khẩu qua trung gian là con đường mà phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam
đã áp dụng để thâm nhập thị trường EU, nó chỉ thích hợp ở thời kỳ ban đầu, mới khai phá
thị trường này (những năm 80 và đầu thập niên 90). Khi đó thị trường EU còn mới mẻ
đối với các doanh nghiệp, hơn nữa lại thiếu kinh nghiệm về thương trường nên không
thiết lập được quan hệ bạn hàng trực tiếp với các đối tác EU. Do vậy, các doanh nghiệp
đã phải xuất khẩu sang EU qua các bạn hàn trung gian mà chủ yếu là ở Châu Á.
Xuất khẩu trực tiếp là con đường chính thâm nhập thị trường EU hiện nay của các
doanh nghiệp Việt Nam. Hình thức này thích hợp với thời kỳ sau khai phá (từ giữa thập
niên 90 đến nay) khi quy mô xuất khẩu còn nhỏ bé và các mặt hàng xuất khẩu còn phân
tán, nhưng dễ tạo ra thế bị động đối với các nhà xuất khẩu do khó nắm bắt kịp thời những


thông tin về thị trường (những thay đổi về chính sách ngoại thương, qui chế xuất
khẩu,v.v... của EU có ảnh hưởng tới xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam).
Liên doanh có thể dưới hình thức sử dụng giấy phép, nhãn hiệu hàng hoá. Tại thời
điểm này, hàng hoá Việt Nam chưa có danh tiếng, nên rất khó thâm nhập vào thị trường
EU. Hơn nữa, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam còn yếu. Do vậy, liên
doanh dưới hình thức sử dụng giấy phép, nhãn hiệu hàng hoá, tên thương phẩm với các
hãng, công ty nước ngoài nổi tiếng có thể sẽ là biện pháp tối ưu để các nhà xuất khẩu
Việt Nam thâm nhập được vào thị trường EU vì thị trường này rất đề cao chất lượng và
thích sử dụng những sản phẩm của các hãng nổi tiếng. Chúng ta cũng cần tính đến một
xu hướng đang nổi lên là sự gia tăng buôn bán trong nội bộ công ty và tái xuất của các
doanh nghiệp EU để triển khai các hình thức liên doanh, cũng như tham gia trực tiếp vào
mạng lưới phân công lao động quốc tế của các công ty xuyên quốc gia EU. Nếu không
liên doanh theo kiểu này thì các doanh nghiệp Việt Nam sẽ khó thâm nhập thị trường EU.
Hình thức này không chỉ giúp cho sự gia tăng xuất khẩu của Việt Nam sang EU mà còn
sang các thị trường khác hiện các công ty của EU đang có mặt ở đó.
Đầu tư trực tiếp chưa phải là hướng chính để thâm nhập thị trường EU hiện tại và
trong tương lai gần của các doanh nghiệp Việt Nam vì tiềm năng kinh tế còn hạn hẹp.
Tuy nhiên, ta cũng cần xem xét và nghiên cứu hình thức thâm nhập này vào thị trường
EU để chuẩn bị trước cho giai đoạn phát triển cao hơn của nền kinh tế Việt Nam trong thế
kỷ XXI.
Trong thời gian tới, một mặt các doanh nghiệp Việt Nam vừa duy trì xuất
khẩu trực tiếp để thâm nhập thị trường EU, mặt khác cần có sự nghiên cứu để lựa
chọn phương thức thâm nhập bằng hình thức liên doanh và đầu tư trực tiếp. Dù
lựa chọn phương thức thâm nhập thị trường nào trong số những phương thức nêu trên
thì chúng ta cũng phải nghiên cứu kỹ các yếu tố sau: dung lượng thị trường, thị hiếu
tiêu dùng, kênh phân phối, đối thủ cạnh tranh, giá cả,v.v...và 4 nguyên tắc khi thâm
nhập thị trường EU (Nắm bắt được thị hếu của người tiêu dùng; Hạ giá thành sản
phẩm; Đảm bảo thời gian giao hàng; Duy trì chất lượng sản phẩm). Cần tìm hiểu thuế
quan, chính sách ngoại thương và qui chế nhập khẩu của EU để tìm các cánh cửa mới cho
hàng xuất khẩu Việt Nam.


Chúng ta cần nhanh chóng thành lập hệ thống thu thập và xử lý thông tin thương
mại. Hệ thống thông tin thương mại quốc gia nối với các cơ quan quản lý, các doanh
nghiệp và mạng Internet sẽ đảm bảo cung cấp kịp thời và chính xác các thông tin về thị
trường EU cho các doanh nghiệp để họ có căn cứ đẩy mạnh hoạt động buôn bán với EU,
nâng cao khả năng dự báo và định hướng thị trường của các cơ quan chức năng của Nhà
nước. Việt Nam cần có chính sách khuyến khích cá nhân cũng như các tổ chức phi Chính
phủ tham gia tích cực vào việc tìm hiểu và tạo cơ hội thâm nhập thị trường EU.
* Lựa chọn phương thức thích hợp và chủ động thâm nhập vào các kênh phân
phối trên thị trường EU
Thứ nhất, đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam do tiềm lực kinh
tế hạn chế nên có thể liên kết với cộng đồng người Việt Nam ở Châu Âu để đầu tư
sản xuất và xuất khẩu vào EU những mặt hàng mà thị trường này đang có nhu cầu
lớn, như: hàng dệt may, giày dép, đồ gỗ gia dụng, thủ công mỹ nghệ,v.v... Hợp tác
kinh doanh có thể dưới hình thức liên doanh. Hai bên cùng góp vốn để thành lập
liên doanh, nhưng liên doanh có thể sử dụng lao động, nguyên liệu, nhà xưởng
của phía Việt Nam; và sử dụng pháp nhân, sự hiểu biết về thị trường, kênh phân
phối và sự nhậy bén trong kinh doanh của phía nước ngoài. Phía Việt Nam sẽ chịu
trách nhiệm sản xuất hàng hoá theo đúng thiết kế, còn phía nước ngoài sẽ chịu
trách nhiệm tiêu thụ hàng hoá. Bằng cách này hàng hoá được sản xuất ra sẽ đáp
ứng tốt thị hiếu luôn thay đổi của thị trường EU và thâm nhập vào được kênh
phân phối trên thị trường này.
Thứ hai, đối với các doanh nghiệp lớn (thường là doanh nghiệp nhà nước)
có tiềm lực kinh tế mạnh hơn có thể liên doanh để trở thành công ty con của các
công ty xuyên quốc gia EU. Bằng cách này các doanh nghiệp có thể thâm nhẩp
trực tiếp vào các kênh phân phối chủ đạo trên thị trường EU vì các công ty xuyên
quốc gia EU đóng vai trò chủ chốt trong các kênh phân phối này. Các nhà nhập
khẩu (các công ty thương mại) thuộc các công ty xuyên quốc gia EU thường nhập
hàng từ các xí nghiệp, nhà máy thuộc tập đoàn của mình và từ các nhà thầu nước
ngoài có quan hệ bạn hàng lâu dài, ít khi nhập khẩu hàng từ các nhà xuất khẩu
không quen biết, sau đó đưa hàng vào mạng lưới tiêu thụ (hệ thống các siêu thị,
cửa hàng, công ty bán lẻ độc lập, v.v...). Nếu trở thành một công ty con của tập


đoàn này thì đương nhiên hàng sản xuất ra sẽ được đưa vào kênh tiêu thụ của tập
đoàn.
Hiện nay, EU có số lượng lớn các công ty xuyên quốc gia hàng đầu thế
giới. Các công ty xuyên quốc gia EU thực hiện chiến lược đầu tư và cắm nhánh ra
nước ngoài. Để thực hiện sự cắm nhánh ở nước ngoài, các công ty xuyên quốc gia
EU thực hiện trước hết việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Các hình thức đầu tư
phổ biến: (1) 100% vốn của các công ty xuyên quốc gia; (2) Liên doanh, các xí
nghiệp liên doanh có thể được hình thành bằng nhiều con đường khác nhau: mua
cổ phiếu ở các công ty đang hoạt động, thực hiện sự hợp tác gia công. Lượng đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài thông qua các hình thức xây dựng xí nghiệp mới, hặc
mua lại (một phần hay toàn bộ) xí nghiệp của nước ngoài ngày càng lớn. Cho đến
nay, các công ty xuyên quốc gia EU đã thực hiện đầu tư cắm nhánh ở hầu khắp
các châu lục trên thế giới. Vào những năm 60 trọng điểm đầu tư của các công ty
xuyên quốc gia EU là ở Mỹ-Latinh và Châu Phi, những năm 80 lại tập trung đầu
tư lẫn nhau và đầu tư vào các nước phát triển, gần đây lại tăng cường đầu tư vào
Đông Âu và các nước Châu Á. Sự chuyển hướng đầu tư của các công ty xuyên
quốc gia EU sang Châu Á là một thuận lợi lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam
muốn liên doanh với họ.
Những năm đầu thập niên 90, các doanh ngiệp sản xuất hàng dệt may và da
giày Đài Loan, Singapore, Malaysia, Indonesia,v.v... đã thâm nhập vào các kênh
phân phối chủ đạo trên thị trường EU rất thành công theo phương pháp “liên
doanh để trở thành công ty con của các công ty xuyên quốc gia EU”. Kim ngạch
xuất khẩu hai mặt hàng này sang EU tăng nhanh và đến năm 1997-1998 những
doanh nghiệp này đã chuyển phần lớn những cơ sở sản xuất của mình sang Việt
Nam và các nước khác mà có lợi thế hơn trong sản xuất (lương công nhân thấp và
được hưởng GSP). Trong nước họ tập trung sản xuất những sản phẩm cao cấp và
có điều kiện phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, như:
chế biến thực phẩm, điện tử-tin học, sản xuất ô tô, công nghệ viễn thông, v.v...
Hàng dệt may và da giày của họ đã rất có uy tín trên thị trường EU. Chính vì vậy
mà hiện nay các doanh nghiệp Đài Loan, Malaysia, Indonesia đã mua rất nhiều
hai mặt hàng này của Việt Nam mang về nước, bỏ nhãn mác Việt Nam và dán
nhãn mác của họ, sau đó tái xuất sang thị trường EU, giá bán của họ cho đối tác


EU cao hơn nhiều lần so với giá mua của Việt Nam. Sự thành công của những
doanh nghiệp này trong việc thâm nhập vào các kênh phân phối chủ đạo trên thị
trường EU đã thực sự mang lại cho họ nhiều lợi ích kinh tế, thể hiện ở chỗ không
chỉ đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá do mình làm ra mà còn thu được rất nhiều lợi
nhuận từ hoạt động tái xuất. Nhãn hiệu hàng hoá của họ đã rất có uy tín đối với
người tiêu dùng EU. Chúng ta là người sản xuất ra hàng hoá, xuất khẩu rất khó
khăn mà lợi nhuận thu được còn rất hạn chế và thấp hơn nhiều so với lợi nhuận
thu được từ hoạt động tái xuất của họ. Tại thời điểm này, hoạt động tái xuất của
các nước ở khu vực Châu Á đang phát triển rất mạnh, cho nên rất nhiều mặt hàng
của Việt Nam được bầy bán trên thị trường EU dưới nhãn mác của các nước khác.
Để khắc phục tình trạng bán qua trung gia thì không còn cách nào khác là các
doanh nghiệp Việt Nam phải chủ động thâm nhập vào các kênh phân phối trên thị
trường EU.
Thứ ba, từ năm 2010 có thể nền kinh tế Việt Nam sẽ phát triển mạnh, lúc
đó các doanh nghiệp cũng sẽ lớn mạnh và có đủ tiềm lực kinh tế để có thể thâm
nhập vào kênh phân phối EU theo phương pháp của các doanh nghiệp Nhật Bản
những năm 60 và 70. Nhưng hiện nay, các doanh nghiệp của ta cũng có thể sử
dụng hình thức liên doanh với các đối tác nước ngoài trong việc sử dụng giấy
phép, nhãn hiệu hàng hoá (có thể liên doanh với các nhà sản xuất EU có uy tín,
hoặc các nhà sản xuất Châu Á mà sản phẩm chủ yếu xuất sang thị trường EU)
Việt Nam đang thực hiện tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vì vậy
trong tương lai hàng xuất khẩu chủ lực của ta sẽ là hàng điện tử-tin học, thực
phẩm chế biến và các mặt hàng chế tạo khác có hàm lượng công nghệ cao. Những
mặt hàng này rất khó thâm nhập vào thị trường của các nước phát triển. Do vậy,
ngay từ bây giờ các doanh nghiệp phải lựa chọn phương thức thích hợp, chủ động
và tích cực thâm nhập vào các kênh phân phối, đảm bảo vị thế của mình trong
tương lai trên thị trường EU.
2.2. Tăng cường đầu tư và hoàn thiện quản lý để tạo nguồn hàng thích hợp với thị
trường EU
EU là thị trường tiêu dùng khắt khe trên thế giới và có rào cản kỹ thuật mà hàng
xuất khẩu của các nước đang phát triển rất khó vượt qua. Qua đặc điểm của thị trường


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×