Tải bản đầy đủ

KHÔNG CÓ ĐỘC LẬP DÂN TỘC THÌ KHÔNG CÓ NỀN KINH TẾ TỰ CHỦ

Không có độc lập dân tộc thì không có nền kinh tế tự chủ
KHÔNG CÓ ĐỘC LẬP DÂN TỘC THÌ KHÔNG CÓ NỀN KINH TẾ TỰ CHỦ
“ Không có gì quý hơn độc lập tự do’’ được chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định là một chân lý tuyệt đối.
Người đã nói lên khát vọng vĩnh hằng mà toàn thể nhân loại đã đấu tranh từ đời này sang đời khác không
biết mệt moỉ, nhưng đến nay vẫn chưa “ hoàn toàn ’’ ( chữ của Hồ Chí Minh ). Nói về sự ham muốn tột bậc
của mình, hai lần người nhắc đến chữ hoàn toàn ‘’’:..” nước ta hòn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự
do ….’’,tức là triệt để hay là thực sự độc lập và tự do, chứ không phải là độc lập tự do theo kiểu hình thức,
nửa vời – điều mà các cuộc cách mạng tư sản đã mắc phải.
Ngay từ khi mới mười ba tuổi, những chữ pháp :”tự do’’, bình đẳng và bác ái đã in sâu vào tâm thức và
day dứt tâm hồn cậu thiếu niên Nguyễn Sinh Cung. Chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đã quyết tâm
xuất dương tìm cho được nền độc lập của Việt Nam. Trên đường bôn ba khắp thế giới và dừng chân ở các
nước tư bản lớn, Nguyễn Aí Quốc đã phát hiện ra rằng :thợ thuyền ở chính quốc cũng bị bóc lột thậm tệ
chẳng khác gì người lao động ở thuộc địa. người nhận xét :” để che đậy sự xấu xa của chế độ bóc lột đầy
tội ác chủ nghĩa tư bản thực dân luôn luôn trang điểm cho cái huy chương mục nát của nó bằng những
châm ngôn lý tưởng : Bác ái, Bình đẳng ,..’’.Và người gắn chủ nghĩa đế quốc thực dân cái biểu tượng sinh
động nhất, bản chất nhất - đó là “ con đỉa hai vòi ’’, một loài sinh vật chuyên hút máu người để tồn tại.
Lịch sử tiến hóa của nhân loại đã khẳng định : sự ra đời của chủ nghĩa tư bản là một tiến bộ so với chính
các chế độ xã hội có giai cấp trước đó. Nhờ các cuộc đại phát kiến địa lý mà loài người đã thay đổi cơ bản
về nhận thức thế giới, xóa tan cái bóng tối của “đêm trường trung cổ’’ do các tư tưởng triết học phản động
trùm lên khắp châu âu suốt mười lăm thế kỉ dằng dặc. nhờ các phát minh khoa học, đặc biệt là máy hơi
nước, sức lao động của con người được giải phóng kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của lực lựơng sản

xuất, năng suất lao động tăng lên, việc khai thác các nguồn lợi từ thiên nhiên được tăng cường,của cải xã
hội ngày một thêm nhiều.Sự phục hưng của châu âu,mà khởi đầu bằng phong trào phục hưng hội họa từ
Italia, đã đem lại cho đời đời sống văn hóa tinh thần của nhân loại khí thế mới, mở rộng nhãn quan về cái
đẹp, về sự chân thực và hướng thay đổi tính thiện.Đáng lý ra,trong điều kiện tiếp thu và kế thừa những
thành tựu rực rỡ đó thì xã hội và con người trong xã hội ấy phải được giải phóng ; trái lại, chủ nghĩa tư bản
ra đời một lần nữa nhấn chìm quần chúng nhân dân lao động xuống vũng bùn của sự nghèo khổ và cơ
cực. Quá trình tích lũy cơ bản ngày càng đẩy họ vào con đường bần cùng hóa, tha hóa họ. Nền sản xuất
bằng máy móc đã vô sản hóa những người gốc gác là nông dân nay mất hết ruộng đất và mất hết các tư
liệu sản xuất khác. Đa số người lao động trở thành trắng tay cũng là lúc của cải xã hội tập trung vào các
nhà tư bản. Hàng hóa làm sức lao động ngày thêm rẻ mạt, thì các nhà tư bản ngày càng thu nhiều lợi
nhuận từ sự bóc lột thảm khốc giá trị thặng dư của người lao động. Điều này không chỉ diễn ra dưới sự
phân tích sắc sảo và khoa học của Các Mác và Ăngghen. Ngày nay sau ba trăm năm tồn tại và phát
triển,mặc dù đã ” tự điều chỉnh ’’và có nhiều thay đổi, song dường như cái bản chất cố hữu của chủ nghĩa
tư bản vẫn thế, chỉ khác chăng là hình thức hiện đại hơn, phương pháp vận hành linh hoạt hơn, kĩ năng
bóc lột tinh vi hơn. Do thế mà sự lũng đoạn của chủ nghĩa đế quốc hiện đại vẫn có xu hướng tác động sâu
sắc và rộng lớn đến đời sống chính trị, xã hội và kinh tế trên quy mô quốc tế.Nhiều quốc gia độc lập chỉ
trên danh nghĩa, còn thực tế lại chịu sự điều khiển từ bên ngoài,ngay cả nội các chính phủ cũng mất khả
năng tự chủ, tự quyết. Chủ nghĩa đế quốc hiện đại ngày nay thực hiện sự can thiệp đối với toàn thế giới,
cũng như với từng quốc gia cụ thể bằng nhiều cách, để thực hiện mưu đồ bá chủ toàn cầu. Gây xung đột
vũ trang, đảo chính chính trị , phong tỏa kinh tế, cấm vận toàn diện và cấm vận cục bộ, tiến hành chiến
tranh lạnh, thực hiện toàn cầu hóa, thậm chi cả “biện pháp” nhân quyền…tức là không từ một thủ đoạn nào
miễn sao tất cả thế giới phải phụ thuộc vào sự điều khiển của các nhà tài phiệt. Chủ nghĩa đế quốc Mỹ là
một điển hình sinh động nhất, Vùng Trung Cận Đông giàu có bởi dầu lửa, luôn luôn là điểm nóng của các
cuộc xung đột vũ trang. Lục địa Phi tiềm tàng về tài nguyên khoáng sản mà chưa bao giờ thoát khỏi nghèo
nàn và lạc hậu.Một Liên Xô hùng cường với hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu “bỗng dưng ’’tan
rã và sụp đỗ. Ngay cả Tây Âu, bao gồm các nước tư bản già cỗi, cũng phải liên minh với nhau để mong
thoát khỏi sự lệ thuộc vào Mỹ. Với hai phương diện : đồng đô la và cũ khí,các nhà tư bản tài phiệt quốc tế
đã dựng nên một thứ quyền lực, từ đó gây sự bất ổn triền miên cho cả thế giới trong suốt thế kỷ XX và kéo
dài qua thế kỷ XXI này.
Và, trong cuộc đấu tranh chống lại sự khủng hoàng toàn diện do chủ nghĩa đế quốc gây ra, khắp thế giới
đều nhắc đến chân lý “ không có gì quý hơn độc lập, tự do ’’ mà Hồ Chí Minh đã từng phát biểu và đã từng
hiến trọn cả cuộc đời đấu tranh vì lý tưởng cao đẹp ấy. Chân lý ” không có gì quý hơn độc lập, tự do ’’ đã
trở thành động lực,là lực lượng vật chất của cuộc đấu tranh trên tất cả các phương diện của đời sống
nhân loại. Nhà báo Cu Ba MacTa Rôgrat viết :” đã từ lâu người ta chỉ đơn giản gọi Người là “Bác Hồ
’’.”Không có gì quý hơn độc lập, tự do ’’ đó là khẩu hiệu của Người. Khẩu hiệu đó là sức mạnh lôi kéo dân
tộc của Người cho đến hơi thở cuối cùng, cho đến thắng lợi cuối cùng ’’.
Ngay giữa lòng châu Âu – quê hương của chủ nghĩa tư bản, Nguyễn Ái Quốc đã dõng dạc lên án chũ
nghĩa thực dân. Khi viết tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp ’’ , Hồ Chí Minh đã thực là một chiến sĩ
của phong trào cộng sản quốc tế. Người ủng hộ quốc tế ba và tham gia đảng Cộng Sản Pháp. Người đã
đọc “đề cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa ’’ của Lê Nin và từ đó không ngừng vận dụng sáng tạo chủ


nghĩa Lê Nin. Người đã nhận thức sâu sắc giá trị to lớn của cuộc cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại,
Người đã từng thâm nhập vào đời sống thợ thuyền của nhiều nước thuộc địa và các nước nước tư bản
phát triển. Tất cả những vốn sống thực tiễn, hết sức phong phú và đa dạng, và những kiến thức sâu rộng
cùng với hoài bão lớn lao và ý chí sắt đá, Nguyễn ÁI Quốc đã đem đến cho quần chúng lao động bị áp bức
một luồng ánh sáng mới, thỏa mãn cả lý trí và tình cảm của họ. đồng thời thu hút mạnh mẽ sự chú ý của
nhiều lớp người tiến bộ nhưng còn đang mơ hồ, lúng túng, để chọn lựa con đường giải phóng đúng đắn.
Người đã tiên phong thức tỉnh các dân tộc bị áp bức :”Nếu những công nhân bản xứ khốn khổ kia, thường
là rất ngoan ngoãn, dễ sai dễ bảo, không được giáo dục và tổ chức, đã đi đến chỗ phải tập hợp nhau lại –
do bản năng tự vệ, nếu có thể nói như thế - và đấu tranh chống những đòi hỏi tàn bạo của chủ, thì đó là vì
tình cảnh của họ quá ư khốn khổ, khốn khổ đến mức mà ở châu Âu người ta không thể tưởng tượng
được. Đây là lần đầu tiên, một phong trào như thế nhóm lên ở thuộc địa. Chúng ta hãy ghi lấy dấu hiệu đó
của thời đại và chúng ta đừng quên rằng bổn phận của chúng ta – những người lao động ở chính quốc –
không phải chỉ tỏ tình đoàn kết với những anh em cùng giai cấp ở đấy bằng lời nói, mà còn phải giác ngộ
họ, giáo dục họ về ý thức tổ chức và về phương pháp tổ chức”
Nguồn sáng mới mà Hồ Chí Minh đem đến cho các dân tộc bị áp bức ở nửa đầu thế kỷ XX, không chỉ là
sự tố cáo đanh thép tội ác của chủ nghĩa thực dân đối với nhân dân lao động ở thuộc địa và chính quốc,
mà còn ở chỗ Người đã chỉ ra bản chất của sự bóc lột và “nghệ thuật ’’ bóc lột của chủ nghĩa tư bản đế
quốc, để từ đó,quan trọng hơn, là người đã vạch ra con đường đấu tranh xóa bỏ sự bóc lột, gianh lại
những quyền mà mỗi dân tộc và nhân dân lao động phải được hưởng. Đó là cuộc cách mạng giải phóng
dân tộc, để đi đến độc lập và tự do hoàn toàn.Người viết : chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi
bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa. Nếu muốn
giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi.Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi,thì cái vòi còn lại kia
vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra ’’
.Người chỉ ra rằng,cách mạng tháng Mười Nga hiểu rõ điều đó và đã thành công rực rỡ, nêu một tấm
gương cho giai cấp vô sản thế giới vế những điều họ có thể làm và phải làm.
Ngay sau đó, năm 1927, lần đầu tiên tại Quảng Châu Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc cho xuất bản tác phẩm
”Đường cách mệnh ’’ . Đây là tác phẩm thể hiện rất rõ những luận điểm cách mạng của Hồ Chí Minh và sự
vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể Việt Nam của người. Sự sáng tạo ấy không
chỉ là sự vận dụng các nguyên lý, quan điềm, phương pháp, biện pháp tổ chức cách mạng của chủ nghĩa
Mac-lênin, mà Hồ Chí Minh còn thể hiện sức sáng tạo to lớn trong cách hiểu và truyền đạt những vấn đề lý
luận phức tạp, đa dạng của học thuyết Mác-Lênin thành đơn giản dễ hiểu.Người chủ trương, viết “sách
này chỉ ước ao sao đồng bào xem rồi thì nghĩ lại, nghĩ rồi thì tỉnh dậy, tỉnh rồi thì đứng lên đoàn kết nhau
mà làm kách mệnh ’’ .Chính sự giản dị ấy lại có sức mạnh tuyên truyền, giáo dục để nhân dândi đến giác
ngộ, thúc giục họ hành động.Đối với một dân tộc có tới chín mươi tám phần trăm người mù chữ như Việt
Nam thời đó,thì câu trả lời của Hồ Chí Minh “ kách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái
tốt ’’ thực sự có hiệu quả và có sức lan tỏa nhanh chóng ; bởi cách giải thích ấy vừa nói lên bản chất, mục
tiêu của cách mạng, đồng thời thỏa mãn khát vọng, quyền lợi của quần chúng nhân dân, khuyến khích họ
đứng vào đội ngũ cách mạng một cách tự giác với niềm hứng khởi,lạc quan và tin tưởng vào thắng lợi cuối
cùng. Tư tưởng Hồ Chí Minh dễ đi vào lòng người Việt Nam và ăn sâu vào tâm thức của họ chính là do
Người có một phong cách lý luận riêng,độc đáo. Cũng trong tác phẩm “ Đường cách mệnh ’’, lý luận cách
mạng của người rất khúc chiết và có tầm khái quát cô đọng,kiệm lời đến mức không thể hơn được nữa,
nhưng rất đầy đủ, bao gồm toàn diện các quan điểm cơ bản, chính yếu của phép duy vật lịch sử, phép duy
vật biện chứng và chủ nghĩa xã hội khoa học. Không chỉ am hiểu sâu sắc học thuyết Mác- lênin và chỉ ra
bản chất cách mạng chân thực nhất trong tư tưởng của hai người thầy vĩ đại của cách mạng vô sản thế
giới, Hồ Chí Minh còn am hiểu tường tận về triết học, lịch sử, xã hội học, các tri thức về khoa học tự nhiên
và khoa học xã hội, đặc biệt là sự hiểu biết kỹ lưỡng các nền văn hóa, các nền văn minh của nhân loại,
cộng với vốn sống thực tiễn đa dạng, nên những tác phẩm của Người có sức lôi cuốn, lay động, thuyết
phục mọi người đồng cảm với tư duy lý luận của mình.Nhưng, cái gốc gác sâu xa của sự thuyết phục đó
lại xuất phát từ cái tâm trong sáng, từ lý tưởng sống, tình cảm chân thành, bầu nhiệt huyết, một lòng thiết
tha về sự độc lập, tự do hoàn toàn cho đất nước và nhân dân của Người. Mọi suy nghĩ và hành động của
người đều hướng về mục tiêu duy nhất đó. Khi bóng tối của chủ nghĩa đế quốc thực dân còn đang trùm lên
tất cả các dân tộc thuộc địa,trong đó có đất nước thân yêu của mình, Hồ Chí Minh vẫn hằng khát khao và
tin tưởng vào tương lai xán lạn của dân tộc và nhân dân mình.Con đường đi đến độc lập dân tộc đã được
người vạch ra chi tiết, cụ thể cả về lý luận cũng như thực tiễn.Người viết :”trước hết phải có đảng cách
mệnh,để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai
cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy.
Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm nòng cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu,ai cũng phải theo chủ
nghĩa ấy.Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây
giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, kách mệnh nhất là chủ nghĩa
Lênin ’’.
Điều quan trọng nổi bật nhất trong lý luận cách mạng của Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc phải gắn liền với
tự do cho nhân dân. Theo người, nước được độc lập mà dân không được hưởng quyền tự do,vẫn nghèo
nàn lạc hậu thì sự độc lập ấy không có giá trị đích thực. Tính biện chứng ấy có nghĩa rằng, nhiệm vụ đầu
tiên và cũng là mục tiêu cuối cùng của cách mạng dân tộc là phải mang hạnh phúc cho nhân dân. Muốn
thực hiện được điều đó thì chính đảng của cách mạng phải hoạch định đường lối chiến lược phát triển
kinh tế-xã hội và tổ chức nhân dân lao động thực hiện một cách có kế hoạch, tức là xác định một phương
thức sản xuất kiểu mới hoàn toàn khác với phương thức sản xuất mà cách mạng vừa xóa bỏ. Điều này đã
được Nguyễn Ái Quốc trình bày kỹ ở chương “Hợp tác xã ’’ trong tác phẩm “Đường kách mệnh ’’ . Người
dẫn hai câu tục ngữ Việt Nam :” Nhóm lại thành giàu, chia nhau thành khó ’’ và “Một cây làm chẳng nên
non nhiều cây nhóm lại thành hòn núi cao ”, rồi Người kết luận : “lý luận hợp tác xã đều ở trong những điều
ấy” . cuối chương, Người hướng dẫn cách tổ chức hợp tác xã trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt
Nam. Chọn phương pháp tổ chức sản xuất là hợp tác xã, Hồ Chí Minh xuất phát từ đặc điểm Việt Nam là
một nước nông nghiệp,trình độ sản xuất còn thấp. Điều này liên quan tới tình hình chính trị xã hội và đặc
điểm giai cấp ở các nước thuộc địa, “vì dân tộc kách mệnh thì chưa phân giai cấp,nghĩa là sĩ, nông, công,
thương đều nhất trí chông lại cường quyền” .
Quan điểm này của Hồ Chí Minh trở thành nền tảng của đường lối liên minh công nông và Mặt trận dân tộc
thống nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam sau này. Trong các văn kiện ;” Chánh cương vắn tắt của đảng’’ , “
Sách lược vắn tắt của đảng” , “ Chương trình vắn tắt ’’ và “ Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam”
(III,1-7) trình bày tại hội nghị hợp nhất ba đảng Cộng sản trong nước thành một đảng duy nhất ( tháng 2
1930 ), Hồ Chí Minh giữ vững lập trường về quan điểm này ; và, thực tế cách mạng Việt Nam đã chứng
minh tính đúng đắn quan điểm của người.
Ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, ký tên Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi ( III,8-
10 ) quần chúng nhân dân đi theo Đảng, ủng hộ Đảng để thực hiện mười nhiệm vụ về chính trị, kinh tế và
xã hội :
“1. Đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến An Nam và giai cấp tư sản phản cách mạng.
“2. Làm cho nước An Nam được độc lập.
“3. Thành lập chính phủ công nông binh.
“4. Tịch thu tất cả các nhà băng và cơ sở sản xuất của đế quốc trao cho chính phủ công nông binh.
“5. Quốc hữu hóa toàn bộ đồn điền và đất đai của bọn đế quốc và bọn chủ phản cách mạng An Nam chia
cho nôn dân nghèo.
“6. Thực hiện ngày làm 8 giờ .
“7. Hủy bỏ mọi thứ quốc trái và thuế thân, miễn các thứ thuế cho nông dân nghèo.
“8. Đem lại mọi quyền tự do cho nhân dân.
“9. Thực hành giáo dục toàn dân.
“10. Thực hiện nam nữ bình quyền.
Chương trình hành động do Hồ Chí Minh vạch ra thể hiện rõ đường lối chiến lược của cách mạng Việt
Nam và được Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tòan dân thực hiện thắng lợi,mà đỉnh cao là cuộc tổng
khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, cướp chính quyền từ tay phát xít Nhật, xóa bỏ chế độ thực dân và phong
kiến, thiết lập nên nhà nước dân chủ nhân dâ. Và đến lúc này,chỉ khi chính quyền thuộc về nhân dâ, các
quyền của con người mới được xác lập và từng bước thực hiện.
Chính phủ của nước Việt Nam độc lập do chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã bắt tay vào gây dựng một nền
kinh tế tự chủ sáng tạo và độc đáo. Tất cả đều bắt đầu từ con số không và chính quyền non trẻ phải
đương đầu với các lực lượng thù trong giặc ngoài. Nền kinh tế của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tiếp
tục trải qua sóng gió của cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước. Nó vững vàng vượt qua mọi trở ngại và thách thức, không ngừng tăng trưởng phát triển, vừa là
hậu thuẫn vừa là động lực cho toàn dân tiến hành hai cuộc kháng chiến đến thắng lợi huy hoàng, hoàn
thành sứ mệnh của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, nước nhà thống nhất và cả nước tiến lên xây
dựng chủ nghĩa xã hội.
Tư tưởng độc lập ự chủ là nguyên nhân căn bản dẫn đến những thành tựu phát triển nền kinh tế. Tính tự
chủ được Đảng và Chính phủ ta phát huy triệt để trong từng giai đoạn cách mạng khác nhau nên có những
sắc thái riêng, song đều có nền tảng chung là huy động toàn dân hăng hái tăng gia sản xuất và thực hành
tiết kiệm. Trước tình cảnh ghặt nghèo sau khi cướp được chính quyền, Hồ Chủ tịch kêu gọi toàn dân thực
hiện các nhiệm vụ cấp bách, trước tiên là chống giặc đói, tổ chức “Tuần lễ vàng” và “Quỹ Độc lập” để phục
hồi sức người và sức của. Trong cuộc vận động này, Bác Hồ là người gương mẫu mười ngày nhịn ăn một
bữa để góp vào hũ gạo cứu đói cho đồng bào. Người và các thành viên Chính phủ không có lương và tiết
kiệm chi tiêu trong công việc chung và sinh hoạt cá nhân. Trong khi đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định
trợ cấp cho vợ vua Thành Thái và vợ vua Duy Tân, mỗi bà 500 đồng Đông Dương một tháng – một việc
làm cần thiết của chính quyền cách mạng, vừa mang tính nhân văn sâu sắc, rằng cách mạng không hằn
thù, không phân biệt giai cấp, hơn nữa là nhớ tới công lao của hai vị vua hiền yêu nước đã từ bỏ vinh hoa
phú quý để dấn thân cùng nhân dân một lòng chống thực dân xâm lược, chịu cảnh lưu đày biệt xứ. Phát
động “Tuần lễ vàng” và xây dựng “Quỹ Độc lập”, Hồ Chí Minh đã khơi dậy lòng yêu nước, quyền công dân
vừa được xác lập của toàn thể các tầng lớp nhân dân trong cả nước, không phân biệt giai cấp, đáng phái,
tôn giáo, để mọi người, mọi nhà cùng đứng chung vào đội ngũ giải quyết nhưng khó khăn và giữ vững độc
lập nước nhà, nhất là trong tình hình nước sôi lửa bỏng của những ngày đầu mới giành chính quyền, ngân
khố nhà nước chỉ vẻn vẹn có 2 triệu đồng tiền Đông Dương, nạn đối trước cách mạng chưa giải quyết
xong thì nguy cơ nạn đói mới đang rình rập, dân chúng trong cảnh mù chữ, thù trong giặc ngoài hoành
hành, nền độc lập bị đe dọa. Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch và làm theo gương sáng của Người,
toàn dân Việt nam đã thể hiện tấm lòng “quý nền độc lập hơn vàng bạc”, dốc tiền của ủng họ chính quyền
cách mạng. Các nhà hằng tâm hằng sản là những người đóng góp lớn lao. Tổng số tiền thu được từ Quỹ
Độc lập và Tuần lễ vàng là 370 kg vàng và 20 triệu đồng. Đó là những con số rất lớn (tương đương với
tổng số thuế thân và thuế điền thu được tỏng cả nước một năm dưới thời Pháp thuộc và theo thời giá lúc
đó 75 đồng Đông Dương mua được 2 tấn gạo), giúp Chính phủ giải quyết được một phần những khó khăn
về tài chính trng năm đầu sau cách mạng. Tính tự chủ trong nền kinh tế, biểu hiện cụ thể bằng việc huy
động tối đa sức người và sức của với cá chính sách phù hợp, tiếp tục được phát huy hiệu quả trong kháng
chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954). Nói chuyện với các đại biểu thân sỹ trí thức, phú hào tỉnh
Thanh Hóa, năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:
“Thực dân Pháp phá kinh tế của ta, phong tỏa cả trong cả ngoài. Ta phải làm tự cấp tự túc, dù nó có phong
tỏa mười năm, mười lăm năm ta cũng không sợ. Muốn tăng gia sản xuất phải làm thế nào? Không phải
chính phủ bỏ ra 10 – 15 triệu để mở lò máy, làm cái này cái khác. Phải đem hết sức dân, tài dân, của dân
làm cho dân. Trước kia, sức dân, của dân làm lợi cho đế uốc, nay đem làm lợi cho dân”. Vừa kháng chiến
vừa kiến quốc – đó là đường lối, một chủ trương, một biện pháp tích cực đem lại kết quả to lớn. Tư duy ấy
phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể, đảm bảo cho cuộc kháng chiến trường kỳ đi đến thắng lợi
hoàn toàn. Đó là một kiểu tư duy lô gich biện chứng, lấy các nhân tố nội lực làm căn bản, quyết định đến
chiều hướng phát triển cách mạng trong một thời kỳ nhất định. Bởi vì, vào thời điểm đó, nước Việt Nam
độc lập chưa được thế giới công khai thừa nhận, chưa có quan hệ ngoại giao trên trường quốc tế, mọi sự
giúp đỡ bên ngoài hoàn toàn không cóh, chỉ tự xoay sở giữa bề bộn khó khăn và sự thiếu thốn để tiến
hành kháng chiến giữ nền độc lập. vừa kháng chiến vừa kiến quốc và cuối cùng đi đến thắng lợi, là một
thực tiễn sinh động trong việc giải quyết mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và sự tự chủ về kinh tế( cũng
như tự chủ về chính trị và xã hội) của cách mạng Việt Nam. Nó là sự kế thừa và bổ sung vào bề dày truyền
thống xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc của ông cha ta.Nước có độc lập thì dân mới có tự do và hạnh phúc.
Dân giàu thì nước mạnh.
Sự cường thịnh của đất nước phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, nhân tố,nhưng chung quy lại,có tính quyết
định,là ở tính mục đích và các biện pháp tổ chức để đạt được mục đích.Hồ Chí Minh chỉ đau đáu một niềm
“nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta đươc hoàn toàn tư do”.Chủ nghĩa Lênin đã giúp Người tìm ra con
đường thực hiện niềm khát vọng đó – xây dựng một chính đảng và thiết lập một nhà nước kiểu mới, nhà
nước của dân, do dân và vì dân. Chính Đảng và nhà nước dân chủ nhân dân ấy có nhiệm vụ huy động
toàn dân,tổ chức họ phấn đấu không ngừng cho sự phát triển kinh tế và xã hội của đât nước ,để dân càng
giàu nước, càng mạnh. Giải quyết thỏa đáng mối quan hệ Đảng –Nhà nước – nhân dân, Hồ Chí Minh đã
tạo lập nên một thể chế chính trị,kinh tế,xã hội vững vàng ngày sau khi dân tôc giành được độc lập.Sự
vững vàng của thể chế ấy đã làm nên những huyền thoại không chỉ trong lịch sử dân tôc Viêt Nam, mà còn
trong nhân loại ở thế kỷ XX.Viêt Nam đánh thắng hai đế quốc to là Pháp va MỸ, Đánh đổ hoàn toàn chế độ
thực dân cũ và làm phá sản chế độ thực dân kiểu mới,thực sự làm thế giới chấn động.
Trong mỗi giai đoạn cụ thể của cách mạng Viêt Nam,tư tưởng độc lập dân tộc của Hồ Chí Minh được
kmột.Bên trong,đôc lâp phải gắn với quyền lợi của nhân dân; bên ngoài,quyền lợi của dân tộc phải ngôn
của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức”,Hồ Chí Minh viết: “Đoàn kết của chúng ta sẽ làm nên sức
mạnh.Nó đủ để đánh tan bon đế quốc. Muốn vượt qua vòng nô lệ,chúng ta chỉ có thể cậy vào sức của
mình mà thôi. Toàn thể các dân tộc bị áp bức, toàn thể thợ thuyền trên trái đất đang bị cướp công,hãy kết
đoàn với chúng tôi làm cuộc cách mạng tối thượng” (II,438-439).
Để chứng minh cách mạng là phải triệt để,Hồ Chí Minh đã phân tích nguyên nhân thất bại của các cuộc
cách mạng tư sản Pháp và Mỹ. Từ đó Người rút ra kết luận: “ Chúng ta đã hy sinh chúng số nhiều, chớ để
trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được nhất là mưu tự do
hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết
thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”.
Ủy ban nhân dân là ủy ban có nhiệm vụ thực hiện tự do dân chủ cho dân chúng. Nó phải hành động đúng
tinh thần tự do dân chủ đó”.
Độc lập và tự do – là hai mệnh đề cùng tồn tại luôn tồn tại song song với nhau, quan hệ mật thiết và là
động lực thúc đẩy nhau phát triển, là cốt lõi trong tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh. Có giành được độc
lập cho dân tộc thì mới thực hiện được các quyền tự do cho nhân dân. Tự do của nhân dân được đảm bảo
và càng phát triển thì nền độc lập dân tộc càng bền vững. Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc (dĩ bất biến),
dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và chính phủ ta đã vận dụng sáng tạo (ứng vạn biến)
nhiều phương thức, biện pháp để từng bước cải thiện các điều kiện xã hội và nâng cao mức sống cho
nhân dân cả trong thời kỳ kháng chiến và trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Tư tưởng “ không có gì quý hơn độc lập,tự do ”của Hồ Chí Minh phản ánh đúng bản chất tiến trình cách
mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam, đồng thời ảnh hưởng sâu rộng có tính phổ biến đối với phong trào
giải phóng dân tộc thế giới.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×