Tải bản đầy đủ

luận văn thạc sĩ Biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên khoa Ngoại Ngữ - ĐHTN

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ
PHẠM
----------***------------

LÊ THÀNH THẾ

BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ
HỌC CHO SINH VIÊN KHOA NGOẠI NGỮ ĐHTN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thái Nguyên 2009


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ
PHẠM
----------***------------

LÊ THÀNH THẾ


BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ
HỌC CHO SINH VIÊN KHOA NGOẠI NGỮ ĐHTN
Chuyên ngành: Giáo dục học
Mã số: 60.14.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
GS.TSKH: NGUYỄN VĂN HỘ


PHẦN MỘT: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1. Tính cấp thiết của đề tài
Để nâng cao chất lượng dạy học, thực hiện phương châm “dạy học lấy
người học làm trung tâm” cần phải tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên và
coi đó là một hình thức tổ chức dạy học ở Đại học. Tuy nhiên trong thực tế
việc nâng cao năng lực tự học cho sinh viên chưa được quan tâm đúng mức.
Vì thế việc tìm ra các biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên đã trở
thành một yêu cầu cấp bách trong các trường đại học nói chung và khoa
Ngoại ngữ nói riêng. Trong những năm qua có nhiều công trình nghiên cứu đã
xác định các phương hướng, những biện pháp đổi mới phương pháp dạy học
khác nhau, các tư tưởng tập trung vào việc phát huy năng lực tự học, tự rèn
luyện của người học, chuyển dần từ hệ phương pháp “tập trung vào người
dạy” sang hệ phương pháp “tập trung vào người học”, chuyển dần từ phương
pháp dạy học sang phương pháp nghiên cứu. Tổ chức hoạt động tự học cho
sinh viên trở thành một nội dung đổi mới trong nhà trường sư phạm, nếu được
thực hiện tốt sẽ góp phần đổi mới phương pháp dạy học ở đại học hiện nay.
Vì vậy, trong quá trình học tập đòi hỏi sinh viên phải tự giác, tích cực, chủ
động, năng động sáng tạo để có thể lĩnh hội được hệ thống những tri thức
khoa học qua đó rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo tương ứng. Để đạt được những yêu
cầu đó đòi hỏi sinh viên phải có khả năng tự học, tự rèn luyện cao.
Thực tế việc dạy học trong các trường sư phạm nói chung và khoa Ngoại
ngữ nói riêng còn nhiều điểm tồn tại, việc dạy học chủ yếu nhằm cung cấp
một khối lượng kiến thức xác định trong các giờ lên lớp, chưa có sự quan tâm
đúng mức đến việc tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên, chưa thực sự quan
tâm đến việc rèn luyện hệ thống kĩ năng sư phạm cho sinh viên.
Trong lý luận dạy học, tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên được coi là
một hình thức tổ chức dạy học ở đại học, việc tìm kiếm các biện pháp tổ chức


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1

http://www.Lrc-tnu.edu.vn


hoạt động tự học cho sinh viên đã trở thành một yêu cầu cấp bách trong các
trường đại học nói chung và trường sư phạm nói riêng.
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi chọn đề tài
nghiên cứu: “Biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên khoa Ngoại
Ngữ - ĐHTN”
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng các biện pháp hướng dẫn, tổ chức hoạt động tự học cho sinh
viên khoa Ngoại Ngữ - ĐHTN, nhằm nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên
trong quá trình đào tạo.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu:
Hoạt động dạy và học của giảng viên và sinh viên khoa Ngoại Ngữ ĐHTN.
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp tổ chức hoạt động tự học, các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tự
học của sinh viên khoa Ngoại Ngữ - ĐHTN.
4. Gỉa thuyết khoa học
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả dạy - học ở các trường sư phạm nói
chung và khoa Ngoại Ngữ nói riêng, một trong những nguyên nhân đó là do
hoạt động tự học của sinh viên chưa được tổ chức một cách hợp lý. Nếu đề ra
được các biện pháp tổ chức hoạt động tự học ở trên lớp, kết hợp với hoạt động
tự học ở nhà và hoạt động ngoại khoá cho sinh viên theo hướng tích cực hoá
hoạt động người học, thì sẽ góp phần vào việc nâng cao hiệu quả tự học cho
sinh viên khoa Ngoại Ngữ nói riêng và chất lượng đào tạo nói chung.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề tự học và tổ chức
hoạt động tự học cho sinh viên khoa Ngoại ngữ - ĐHTN.


5.2. Xây dựng hệ thống các biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên
khoa Ngoại Ngữ và tiến hành thực nghiệm các biện pháp (áp dụng trên phần
Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm).
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngoại Ngữ
trong mối quan hệ với hoạt động dạy học.
- Phương pháp điều tra bằng ankét về thực trạng tự học của sinh viên khoa
Ngoại Ngữ trong giai đoạn hiện nay.
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến góp ý của các chuyên gia về cách
xử lý kết quả điều tra, các biện pháp tổ chức, cách thực nghiệm…
- Phương pháp thực nghiệm khoa học: Tiến hành thực nghiệm các biện
pháp tổ chức hoạt động tự học môn Tâm lý học ở trên lớp cho sinh viên khoa
Ngoại Ngữ.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá các tài liệu
lý luận về tự học.
Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu lịch sử của vấn đề nghiên cứu, phát hiện
và khai thác những khía cạnh mà các công trình nghiên cứu trước đây đã đề
cập tới vấn đề về tự học và tổ chức tự học, làm cơ sở cho việc tiến hành các
hoạt động nghiên cứu tiếp theo.
6.3. Phương pháp toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học nhằm để xử lý số liệu về thực
trạng tự học của sinh viên khoa Ngoại Ngữ.
7. Phạm vi giới hạn của đề tài
Nghiên cứu hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngoại Ngữ và tiến hành
thực nghiệm một số biện pháp tổ chức hoạt động tự học (áp dụng trên phần


Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học dạy học) cho sinh viên khoa Ngoại Ngữ ĐHTN.
8. Những luận điểm mang tính chất phƣơng pháp luận của đề tài
Nghiên cứu vấn đề tự học trong sự hình thành và phát triển nhân cách
sinh viên một cách toàn diện.
Nghiên cứu vấn đề tự học trong mối quan hệ với các hoạt động khác:
hoạt động chính khoá, hoạt động ngoại khoá, các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Nghiên cứu hoạt động tự học trong mối quan hệ thống nhất biện chứng
với hoạt động dạy học.
Nghiên cứu hoạt động tự học theo quan điểm tiếp cận tâm lý học hoạt
động. Nghiên cứu hoạt động tự học trên quan điểm tiếp cận công nghệ dạy
học.
Nghiên cứu hoạt động tự học trên quan điểm phát triển dựa vào yếu tố
nội lực là cơ bản (yếu tố người học giữ vai trò quyết định).


PHẦN HAI: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ TỔ
CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CHO SINH VIÊN KHOA NGOẠI NGỮ
- ĐHTN
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Vấn đề tự học và tổ chức tự học trong các nghiên cứu ở nước ngoài.
Tìm hiểu các tư tưởng trên thế giới nghiên cứu về tự học và tổ chức hoạt
động tự học, chúng tôi có một số nhận xét sau: Tự học, tổ chức hoạt động tự
học không phải là mảnh đất mới chưa được “cày xới” mà tự học là một vấn đề
đã được nhiều nhà giáo dục học trên thế giới quan tâm đến dưới các góc độ
khác nhau: phát huy tính tích cực, tính độc lập, tính tự giác, tính sáng tạo của
người học như các nhà khoa học giáo dục Xôcơrat, Khổng Tử, Cômenxki,
Đixtecvec, Usinxki.
Ngay từ những năm công nguyên, XôCơRát (469 – 339 TCN) đã đưa ra
quan niệm rất nổi tiếng: Giáo dục phải giúp con người tự khẳng định chính
mình. Vận dụng quan điểm đó vào dạy học, ông cho rằng cần phải để cho
người học tự suy nghĩ, tự tìm tòi, cần giúp người học tự phát hiện thấy sai lầm
của mình và tự khắc phục những sai lầm đó.
Đến thế kỉ 17 J.A.Cômenxki (1592-1670) đã tìm ra phương pháp cho phép
giáo viên giảng viên giảng ít hơn, học sinh học nhiều hơn. Ông đề ra một số
nguyên tắc dạy học mà cho đến nay vẫn còn nguyên tác dụng nhằm phát huy
tính tích cực học tập của học sinh: Nguyên tắc đảm bảo tính trực quan trong
dạy học, nguyên tắc đi từ cái chung đến cái riêng, nguyên tắc tôn trọng đặc
điểm đối tượng.
Đến thế kỉ thứ XIX Conxtantin Đmitrêvic Usinxki (1824-1870) đã nghiên
cứu về tính tích cực, tính độc lập của học sinh. Theo ông tính tích cực, tính
độc lập là cơ sở duy nhất để cho sự học có hiệu quả. Ông cho rằng cần giáo
dục cho học sinh biết định hướng trong môi trường xung quanh, biết hành


động một cách sáng tạo, biết tự mình nâng cao vốn học vấn và tự phát triển
bản thân. Trong dạy học không nên dồn tất cả tính tích cực vào công tác dạy
của người giáo viên, còn học sinh thì lại thụ động mà cần phải làm sao cho
học sinh tích cực ở mức độ cao nhất.
Đầu thế kỉ XX những thành tựu về lý luận dạy học của nhà nước Xô Viết ra
đời gắn liền với tên tuổi của một số nhà giáo dục học nổi tiếng như:
V.V.Đavưdov,

L.V.Zankov[41],

I.Ia.lecne[47],

Iu.K.Babanski[13],

R.A.Nhizamov [51]. Khi nghiên cứu về lý luận dạy học ở đại học, các tác giả
đã vạch rõ sự khác biệt giữa dạy học ở đại học với dạy học ở phổ thông: Các
tác giả cho rằng dạy học ở đại học không phải chỉ trả lời câu hỏi dạy như thế
nào? Mà còn phải trả lời câu hỏi: sinh viên độc lập học tập như thế nào? Độc
lập nghiên cứu khoa học ra sao? Tìm tòi sáng tạo như thế nào?... Có thể nói
ngay từ đầu thế kỉ XX, vấn đề tự học ở đại học đã được rất nhiều các tác giả
quan tâm dưới góc độ phương pháp dạy và phương pháp học. Vấn đề này cho
đến nay vẫn tiếp tục được nghiên cứu.
Còn I.F. Kharlamop đã nghiên cứu tự học dưới góc độ tìm ra những biện
pháp để phát huy tính tích cực học tập của học sinh bằng cách: Tăng cường
việc nghiên cứu làm việc với sách giáo khoa, với tài liệu học tập, dạy học nêu
vấn đề, cải tiến công tác tự lực học tập, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh
giá…
Cùng với xu thế phát triển của thời đại I.U.K.Babanxki nghiên cứu tự
học gắn liền với việc tìm ra các biện pháp tối ưu hoá việc học theo hai
hướng: Phát huy tính tích cực, tính tự giác của học sinh trong học tập dưới
sự hướng dẫn, điều khiển trực tiếp của thầy, kết hợp với quản lý và tự
quản lý hoạt động học tập của học sinh. Với ý tưởng trên trong dạy học
người ta đã đề ra các phương pháp dạy học mới, đó là phương pháp dạy
học chương trình hoá.
Đáp ứng với xu thế phát triển của thời đại, đáp ứng với những yêu cầu đổi
mới của các quốc gia trên thế giới, các nhà giáo dục học ở các nước phát triển


đã đi sâu nghiên cứu để tối ưu hoá việc học, hình thành, phát triển năng lực tự
học để người học có thể học thường xuyên, học suốt đời. Makiguchi [70],
B.P.Exipov [24], khi nghiên cứu bản chất tự học của sinh viên. Các tác giả đã
chỉ ra rằng: bản chất tự học của sinh viên là hoạt động nhận thức bằng hành
động tìm tòi, nghiên cứu, khám phá. Đây chính là cơ sở lý luận của vấn đề tổ
chức hoạt động tự học cho sinh viên.
Cuối thế kỉ XX ảnh hưởng của sự phát triển khoa học kĩ thuật, đặc biệt là
ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghệ, phần lớn các nhà giáo dục học đã
nghiên cứu tự học theo hai hướng chính: Hướng thứ nhất nghiên cứu áp dụng
công nghệ dạy học, nhằm thay đổi vị trí của thầy và trò trong quá trình dạy
học, từ chuyên gia về việc dạy, giáo viên phải chuyển sang chuyên gia về việc
học của người học; Hướng thứ hai là dạy học phân hoá, dạy học tiến hành
theo nhịp độ cá nhân người học để đạt tới năng suất và hiệu quả cao nhất
trong việc học, dạy học cần phải được tổ chức hướng vào người học. Tiêu
biểu cho các hướng nghiên cứu trên là Raja Roy Singh. Ông đã nghiên cứu
vai trò của năng lực tự học trong việc học tập thường xuyên và học tập suốt
đời, đề cao vai trò chuyên gia cố vấn của người thầy trong việc học tập
thường xuyên, học tập suốt đời, trong việc hình thành phát triển năng lực tự
học của người học.
Năm 1986 Sharma và R. Ahmed [63] đã nghiên cứu hoạt động tự học như
là một hình thức tổ chức dạy học bằng cách dạy phương pháp cho người học.
Theo tác giả, người ta có thể dạy phương pháp cho sinh viên bằng nhiều hình
thức khác nhau tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh, tuỳ theo tính chất đặc thù môn
học và nội dung yêu cầu của bài học. Nhưng theo ông dù tuân theo hình thức
nào thì cũng phải thực hiện theo các giai đoạn sau:
- Giai đoạn 1: Giáo viên thiết kế bài tập và cung cấp nguồn tài liệu cần
thiết cho bài tập và chỉ dẫn cụ thể những gì sinh viên phải làm để hoàn thành
bài tập.


- Giai đoạn 2: Giáo viên tổ chức cho sinh viên tự nghiên cứu, tự làm bài
tập với sự hỗ trợ của những thông tin có sẵn.
- Giai đoạn 3: Giáo viên làm việc với sinh viên trên lớp theo hình thức cá
nhân hay tập thể thông qua những hình thức khác nhau: Thảo luận, xêmina,
củng cố ôn tập, xây dựng bài giảng, kiểm tra đánh giá, tự kiểm tra, tự đánh giá.
Đây là lí thuyết mới về tổ chức tự học dưới góc độ nhìn nhận tự học như là
một phương pháp dạy học.
Tóm lại, qua nghiên cứu các tư tưởng, quan điểm, bàn về dạy học và tự học,
tổ chức hoạt động tự học của các tác giả trên thế giới, chúng tôi có một số nhận
xét sau: Tự học là cần thiết đối với tất cả mọi người, vấn đề tự học của học
sinh nói chung và của sinh viên đại học nói riêng được các tác giả trên thế giới
quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau như phát huy tính tích cực học tập của
người học, tối ưu hoá việc học bằng dạy học chương trình hoá, áp dụng
công nghệ dạy học, tổ chức dạy học phân hoá, dạy học theo nhịp độ cá nhân,
dạy phương pháp học cho người học để đạt được hiệu quả cao nhất ở người
học.
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam về tự học và tổ chức tự học
Thấm nhuần lời dạy của Hồ Chủ Tịch: Học phải suốt đời ngay cả khi đã đi
làm việc [101]. Với phương châm “Về cách học phải lấy tự học làm gốc”;
“Về cách dạy thì phải tránh lối dạy nhồi sọ… Về học tập tránh lối học vẹt”
[33 – tr 444,319]
Đáp ứng yêu cầu cấp bách của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước,
các nhà giáo dục học Việt Nam quan tâm đến vấn đề tự học, tổ chức hoạt
động tự học và đã đi sâu nghiên cứu tự học dưới nhiều góc độ. Tự học là một
hoạt động độc lập diễn ra không hoặc ít có sự điều khiển của thầy (Tác gả
Nguyễn Cảnh Toàn [55] và một số nhóm tác giả khác nữa). Tự học là hoạt
động tích cực, chủ động, tự giác của người học dưới vai trò chủ đạo (tổ chức,
hướng dẫn, điều khiển) của thầy (Các tác giả: Nguyễn Ngọc Quang [53] [56]
Đặng Vũ Hoạt [29], Nguyễn Ngọc Bảo [10]. Trịnh Quang Từ [71],…).


Hướng thứ ba nghiên cứu tự học như là một hình thức tổ chức ngoài giờ lên
lớp, phối hợp các hình thức tổ chức dạy học khác (Phạm Hồng Quang [57] và
một số luận văn thạc sỹ khác…)
Hầu hết các công trình nghiên cứu đều khẳng định tự học có một ý nghĩa và
vai trò rất quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi
người, là nhân tố trọng yếu nâng cao chất lượng dạy và học, là yếu tố cơ bản
để người học lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và hình thành thái độ mới.
Trong một số công trình nghiên cứu về tự học và tổ chức hoạt động tự học
thì tính tích cực, tính độc lập, động cơ học tập của người học giữ một vai trò
rất quan trọng đối với chất lượng và hiệu quả của hoạt động tự học (Nguyễn
Ngọc Bảo, Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức). Kiểm tra đánh giá là khâu then chốt
nhằm giúp người thầy điều chỉnh, điều khiển hoạt động dạy của mình, điều
khiển, điều chỉnh hoạt động học của trò, đồng thời giúp người học tự điều
khiển, tự điều chỉnh hoạt động học tập nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả
của hoạt động dạy học. Bên cạnh đó, kiểm tra đánh giá còn là một nhân tố
phát huy tính tích cực của người học trong quá trình tự học và hình thành kĩ
năng tự đánh giá ở sinh viên.
Kĩ năng tự học được các tác giả xem xét như là nhân tố bên trong, rất quan
trọng để người học hoàn thành nhiệm vụ học tập. Kĩ năng tự học của sinh
viên được hình thành thông qua hoạt động học tập, rèn luyện, qua phương
pháp dạy của thày và phương pháp học của trò. Những tư tưởng này được
phản ánh qua các công trình nghiên cứu của các tác giả Trịnh Quang Từ, Trần
Văn Hiếu: Tác giả Trần Văn Hiếu đã nghiên cứu về các kỹ năng đọc sách của
sinh viên và đã xây dựng thành công quy trình đọc sách cho sinh viên.
1.2. Lý luận về tự học
1.2.1. Đặc điểm và bản chất của hoạt động tự học


Trong thực tế, người ta có thể có nhiều cách học khác nhau: Học một cách
ngẫu nhiên. Qua kiểu học này, nó đưa lại cho người học những tri thức tiền
khoa học, những năng lực thực tiễn trực tiếp, do kinh nghiệm hàng ngày mang
lại.
Cách học thứ hai là học có chủ định, là việc học diễn ra theo phương thức
đặc thù ở nhà trường, qua đó hình thành ở người học những tri thức khoa học,
những năng lực mới phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn nghĩa là nhằm lĩnh hội
các tri thức mới, kĩ năng, kĩ xảo mới trong nhà trường.
Như vậy, hoạt động học là hoạt động của người học nhằm tổ chức các điều
kiện bên trong và bên ngoài đảm bảo cho việc lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ
xảo có hiệu quả.
Nghiên cứu hoạt động tự học với tư cách là một hình thức tổ chức dạy học ở
đại học dựa trên quan điểm tiếp cận công nghệ dạy học và tiếp cận hoạt động,
theo Lê Khánh Bằng: Học - về bản chất là quá trình tiếp thu và xử lý thông tin
bằng các hành động trí tuệ và chân tay, dựa vào vốn sinh học và vốn đạt được
của cá nhân, từ đó mà có được tri thức, kĩ năng, thái độ mới [6 - tr8].
Từ quan niệm trên chúng tôi có thể đi đến khái niệm về học tập như sau:
Học là quá trình người học tự giác, tích cực, độc lập tiếp thu tri thức, kinh
nghiệm từ môi trường xung quanh bằng các thao tác trí tuệ và chân tay
nhằm hình thành cấu trúc tâm lý mới để biến đổi nhân cách của mình theo
hướng ngày càng hoàn thiện, và dù trong tình huống nào thì trong bản
thân sự học cũng hàm chứa sự tự học.
Tự học là học với sự tự giác và tích cực ở mức độ cao. Khi quan niệm về tự
học, có rất nhiều quan niệm khác nhau. Đứng dưới góc độ nghiên cứu hoạt
động tự học như là hoạt động nghiên cứu, với sự giúp đỡ gián tiếp của giáo
viên, thực nghiệm trên mô hình đào tạo giáo viên, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn
cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ
(quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử
dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình rồi cả động cơ, tình cảm, cả


nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, ý chí tiến thủ
không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học…) để
chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó”. [66-tr59,60].
Nghiên cứu hoạt động tự học như là một hình thức tổ chức hoạt động dạy
học ở đại học, tác giả Lưu Xuân Mới cho rằng: “Tự học là hình thức hoạt
động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do
chính sinh viên tiến hành ở trên lớp, ở ngoài lớp theo hoặc không theo chương
trình và sách giáo khoa đã được quy định. Tự học là một hình thức tổ chức
dạy học cơ bản ở đại học có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá
nhân nhưng có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học [48-tr276].
Nhìn chung, các tác giả đều quan niệm rằng tự học là học với sự độc lập và
tích cực, tự giác ở mức độ cao, tự học là quá trình mà trong đó, chủ thể người
học tự biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng các thao tác trí
tuệ hoặc chân tay nhờ cả ý chí, nghị lực và sự say mê học tập của cá nhân. Tự
học có thể diễn ra ở trên lớp hoặc ngoài giờ lên lớp, chẳng hạn như giải bài
tập trên lớp, nảy sinh những thắc mắc khi nghe giáo viên giảng bài, tự sắp xếp
những lời giảng của giáo viên để ghi vào vở, tự phân tích, nhận xét câu trả lời
của bạn trong quá trình thảo luận…
Theo chúng tôi, tự học là một quá trình, trong đó dưới vai trò chủ đạo của
giáo viên, người học tự mình chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo thông
qua các hoạt động trí tuệ (quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh,phán
đoán…) và cả các hoạt động thực hành (khi phải sử dụng các thiết bị đồ
dùng học tập). Tự học gắn liền với động cơ, tình cảm và ý chí… của người
học để vượt qua chướng ngại vật hay vật cản trong học tập nhằm tích luỹ
kiến thức cho bản thân người học từ kho tàng tri thức của nhân loại, biến
những kinh nghiệm này thành kinh nghiệm và vốn sống của cá nhân
người học.


- Giữa học và tự học có mối quan hệ với nhau, học chỉ có hiệu quả khi có
sự tự học, tự học là kết quả cuối cùng của học.
- Tự học có thể diễn ra dưới sự chỉ đạo trực tiếp của giáo viên và ngay cả
khi không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên. Tự học được thực hiện qua
nhiều bước khác nhau: tiếp nhận thông tin từ nhiều kênh thông tin khác nhau,
xử lý thông tin dựa vào vốn kinh nghiệm hiểu biết của mình, tự kiểm tra, tự
đánh giá những thông tin đã thu được, vận dụng thông tin để giải quyết vấn
đề do nhiệm vụ nhận thức và thực tiễn đặt ra…
Tự học có thể hiểu là quá trình người học tự tìm ra ý nghĩa của việc học,
làm chủ các hành động học tập của mình, tạo ra các cầu nối nhận thức trong
tình huống học.
Bản chất của tự học là quá trình chủ thể người học cá nhân hoá việc học
nhằm thoả mãn các nhu cầu học tập, tự giác tiến hành các hành động học tập
(nhận thức, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, các hoạt động giao
tiếp, các hoạt động thực hành, các hoạt động kiểm tra, đánh giá...) để thực
hiện có hiệu quả mục đích và nhiệm vụ học tập đề ra. Hay nói một cách khác
là tự học là học với sự tự giác cao và tích cực ở mức độ cao.
- Tự học chỉ thực sự có hiệu quả khi:
+ Người học phải thực sự có nhu cầu muốn học
+ Tự học chỉ diễn ra khi người học tiến hành giải quyết vấn đề, giải quyết
tình huống, giải quyết các nhiệm vụ học tập
+ Tự học chỉ được thực hiện thông qua làm việc nghĩa là người học phải có
được những cơ hội để thể nghiệm những gì mà họ đã tiếp thu được trước đó.
+ Tự học của sinh viên là một mặt hoạt động trong quá trình dạy học nó
không thể tách rời với hoạt động dạy của GV, vì vậy tự học chỉ có thể đạt


hiệu quả cao khi nó được diễn ra trong mối quan hệ thống nhất biện chứng
với hoạt động dạy của thầy. Nghĩa là, tự học có hiệu quả cao khi có sự hướng
dẫn tổ chức của thầy.
Vì vậy, muốn nâng cao hiệu quả của hoạt động tự học của SV đòi hỏi
người thầy giáo ngoài chức năng tổ chức, hướng dẫn, truyền đạt... cần phải
dạy cách thao tác với đối tượng, cách chiếm lĩnh đối tượng cho SV, hay nói
cách khác là hướng dẫn phương pháp học, cách học cho SV.
+ Tự học có hiệu quả cao khi tạo được môi trường học tập cho người học,
khi người học không ngừng rèn luyện cho mình một hệ thống kĩ năng tự học.
Muốn tự học có kết quả cao đòi hỏi chủ thể tự học phải có động cơ và
thái độ học tập đúng đắn, phải có nhu cầu và hứng thú học tập, phải có sự say
mê khoa học, phải nhận thức rõ được mục đích của hoạt động học tập và ý
thức một cách đầy đủ về việc học của mình. Để hoàn thành nội dung học tập
đòi hỏi chủ thể tự học phải có ý chí vượt khó để vượt qua vật cản hay chướng
ngại vật trong quá trình tự học nhằm đạt được các mục tiêu học tập đã đề ra.
Bên cạnh đó, hoạt động tự học của SV được thực hiện bởi hệ thống kĩ
năng, kĩ xảo nhất định vì vậy muốn hoạt động tự học đạt hiệu quả cao đòi hỏi
người học phải có hệ thống kĩ năng tự học, cụ thể: Kĩ năng sắp xếp thời gian
tự học, kĩ năng đọc sách, kỹ năng nghe và ghi chép bài trên lớp, kĩ năng
nghiên cứu khoa học... và kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập.
+ Tự học chỉ thực sự có hiệu quả khi người học có đầy đủ các phương
tiện hỗ trợ cho hoạt động tự học, phương tiện đầu tiên phải kể đến là tài liệu
giáo trình, các tài liệu hướng dẫn tự học và các tài liệu tham khảo khác. Ngoài
ra còn các phương tiện hỗ trợ như đèn chiếu, băng hình, máy vi tính, các
phương tiện nghe nhìn khác...


Phải có địa điểm để tự học với các điều kiện cần thiết về vệ sinh học
đường để hoạt động tự học của SV có hiệu quả.
Phải có đủ điều kiện về cơ sở vật chất cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày
của SV.
1.3. Tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên
1.3.1. Tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên
Trong hoạt động dạy, tổ chức hoạt động là một công việc cần thiết ảnh
hưởng tới chất lượng và hiệu quả của hoạt động dạy - học. Khi quan niệm về tổ
chức quá trình dạy học, có rất nhiều quan niệm khác nhau, số đông các tác giả
đều cho rằng tổ chức dạy học là sự sắp xếp các thao tác, các hành động dạy học.
Khi nghiên cứu các quan điểm đó để vận dụng vào việc tổ chức hoạt
động tự học cho SV chúng tôi cho rằng: Tổ chức hoạt động tự học cho SV là
quá trình thiết kế, sắp xếp các biện pháp tổ chức giảng dạy của thầy nhằm
tiến hành hướng dẫn điều khiển, chỉ đạo cách tự thiết kế, tự sắp xếp các
biện pháp hoạt động tự học, tự nghiên cứu của SV, giúp SV phát huy tới
mức cao nhất năng lực tự học, tự nghiên cứu của mình, thực hiện tốt mục
đích và nhiệm vụ học tập đề ra.
Bản chất của việc tổ chức hoạt động tự học cho SV là sắp xếp và tiến
hành các biện pháp dạy học sao cho phát huy được tính tích cực, tính tự giác
của người học ở mức độ cao nhất. Vì vậy có thể nói rằng tổ chức hoạt động tự
học cho SV là quá trình tiến hành các biện pháp nhằm tích cực hoá hoạt động
học tập của SV trong quá trình lĩnh hội tri thức ở trên lớp, ở nhà và trong hoạt
động thực hành, ngoại khoá.
Biện pháp dạy học là cách thức sử dụng hay áp dụng riêng biệt hoặc phối
hợp các yếu tố trong quá trình dạy học như phương pháp, phương tiện, tài
liệu, tình huống, môi trường, thời gian, công nghệ, giáo viên, SV... để tiến
hành hoạt động dạy học nhằm giải quyết có hiệu quả mục đích, nhiệm vụ dạy


học đề ra. Như vậy, biện pháp tổ chức dạy học là quá trình thiết kế, sắp xếp
các biện pháp giảng dạy của giáo viên nhằm tiến hành tổ chức điều khiển các
biện pháp tự học của sinh viên để thực hiện một cách có hiệu quả mục đích,
nhiệm vụ dạy học đề ra.
1.3.2. Hoạt động của giảng viên và sinh viên trong tổ chức hoạt động tự học
Hoạt động của giảng viên là hoạt động dạy, dạy sao cho người học biết
cách tự học vì vậy đòi hỏi người thầy giáo phải dạy tốt. Để dạy tốt ở bậc đại
học đòi hỏi người cán bộ giảng dạy cùng một lúc phải thực hiện tốt ba nhiệm
vụ của dạy học:
- Dạy nghề cho SV: Thông qua nội dung tri thức bài giảng và phương
pháp giảng dạy của thầy, giúp SV nắm vững hệ thống những tri thức khoa học
cơ bản trên cơ sở đó hình thành ở họ hệ thống kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp
tương ứng, để sau khi ra trường họ có khả năng lập nghiệp.
- Dạy phương pháp tự học cho SV: Thông qua các biện pháp tổ chức hoạt
động giảng dạy của thầy nhằm phát triển các năng lực và phẩm chất hoạt
động trí tuệ của SV, giúp SV hình thành phương pháp tự học, tự nghiên cứu.
- Dạy thái độ cho SV: Thông qua phương pháp dạy của thầy, thông qua
các biện pháp tổ chức hoạt động dạy học của thầy, nhằm bồi dưỡng cho SV ý
thức cá nhân đối với nghề nghiệp tương lai, đồng thời hình thành ở họ niềm
tin cách mạng và niềm tin sư phạm, giáo dục cho SV những phẩm chất nhân
cách của người giáo viên. Đó là lòng yêu nước, yêu nghề, mến trẻ, có tình
cảm trong sáng và cao thượng, phấn đấu hết mình vì học sinh thân yếu, vì sự
nghiệp giáo dục chung của đất nước...
Tuy nhiên nếu chỉ thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ nêu trên trong quá trình
dạy học thì chưa đủ, để dạy tốt giảng viên cần phải thực hiện sao cho với sự
chi phí ít nhất về thời gian, kinh phí, sức lực của giáo viên, SV, của nhà
trường và cha mẹ SV nhưng lại đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi do nghề


nghiệp và xã hội đặt ra ở mức độ cao. Muốn giải quyết được vấn đề trên, việc
giảng dạy cần phải được tiến hành theo các phương hướng sau:
- Giảng viên cần tiến hành các biện pháp dạy học nhằm phát huy cao độ
tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập sáng tạo của SV, phát huy tới mức cao
nhất năng lực tự học, tự nghiên cứu của SV.
- Tăng cường rèn luyện kỹ năng thực hành, kỹ năng nghề nghiệp cho SV
bằng việc giải các bài tập tình huống, bài tập thực hành, đi thực tế phổ thông
và tổ chức hoạt động ngoại khoá cho SV.
- Chuyển từ phương pháp học tập sang phương pháp tự học, tự nghiên cứu.
- Chuyển dần từ phương pháp diễn giảng ở đại học sang phương pháp
dạy học nêu vấn đề, kết hợp với làm việc theo nhóm, hoặc tổ chức thảo
luận xêmina. Tận dụng tới mức cao nhất vốn tri thức, vốn kinh nghiệm mà
SV đã tích luỹ được để giải quyết các nhiệm vụ học tập
- Đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá theo hướng khách quan hoá,
công khai hoá và hình thành năng lực tự đánh giá cho SV.
- Đổi mới cơ sở vật chất và các phương tiện kĩ thuật dạy học theo hướng
sử dụng công nghệ thông tin. Xây dựng các giáo án điện tử để giảng dạy cho
SV hoặc sử dụng trình chiếu trong dạy học...
Bên cạnh đó, để giảng dạy tốt ở bậc đại học người giảng viên cần phải
thiết kế quá trình dạy học theo các công đoạn sau:
* Xác định mục tiêu môn học (Xác định mục tiêu chung và mục tiêu cụ
thể của từng chương học, từng bài học) gồm: Mục tiêu về tri thức, mục tiêu về
kĩ năng, mục tiêu thái độ mà SV cần phải đạt được.
* Giảng viên cần nắm vững trình độ hiện có của SV. Nghĩa là phải nắm
được trình độ tối thiểu đã có ở SV để tiếp thu bài học mới, so sánh đối chiếu
với mục tiêu môn học, chương học, bài học cần phải thực hiện. Trên cơ sở đó,
GV có thể lựa chọn nội dung và phương pháp giảng dạy cho phù hợp với đối
tượng.


* Giảng viên cần khai thác động lực bên ngoài và động lực bên trong của
quá trình dạy học nhằm thúc đẩy quá trình học tập của SV:
Khai thác động lực bên ngoài của quá trình dạy học là tạo ra những ảnh
hưởng tốt của các phương tiện kĩ thuật dạy học, của môi trường lớp học và
toàn bộ cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động học tập của SV như những ảnh
hưởng của GV, những ảnh hưởng của SV khác trong lớp, những ảnh hưởng
của môi trường kinh tế, chính trị xã hội...
Khai thác động lực bên trong của quá trình dạy học bằng cách tạo ra
những mâu thuẫn nhận thức trong bản thân SV khi tiến hành chiếm lĩnh nội
dung tri thức, thông qua việc xây dựng những tình huống có vấn đề, các bài
tập nhận thức ở nhiều mức độ khác nhau.
* Giảng viên cần thủ tiêu hoặc hạn chế các tác nhân gây nhiễu tác động
đến SV và quá trình học tập của SV, GV cần nắm vững bản chất của quá trình
dạy học để có thể hướng dẫn SV học tập bằng nhiều cách khác nhau theo con
đường algôrit và ơritstic.
* Giảng viên cần thường xuyên thông tin phản hồi nhanh kết quả học tập
của SV để thu mối liên hệ ngược trên cơ sở đó điều chỉnh hoạt động dạy của
mình và điều khiển hoạt động học của SV.
* Giảng viên cần phải vận dụng quy trình công nghệ trong giảng dạy ở
bậc đại học.


Chƣơng 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA
SINH VIÊN KHOA NGOẠI NGỮ - ĐHTN
2.1. Thực trạng tự học của sinh viên khoa Ngoại ngữ - ĐHTN
2.1.1. Thực trạng tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên khoa Ngoại ngữ
- ĐHTN
Để đánh giá một cách khách quan thực trạng tổ chức hoạt động tự học cho
SV khoa Ngoại ngữ - ĐHTN, chúng tôi đã tiến hành điều tra bằng ankét, quan
sát các giờ học, tự học của sinh viên và trao đổi trực tiếp với SV, giáo viên
giảng dạy bộ môn và cán bộ quản lý của khoa Ngoại ngữ - ĐHTN. Mục đích
khảo sát nhằm đánh giá đúng về nhận thức của SV khoa Ngoại ngữ đối với
vấn đề tự học, cách thức tổ chức hoạt động tự học của giảng viên và SV,
những yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động dạy và tự học của giảng viên và SV.
Trên cơ sở đó, tìm ra những biện pháp tổ chức có hiệu quả hoạt động tự học
cho SV.
Trước khi tiến hành khảo sát chúng tôi đã nghiên cứu nắm đặc điểm tình
hình của SV, cơ sở vật chất của khoa Ngoại ngữ - ĐHTN và hoạt động giảng
dạy của giáo viên. Trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành thiết kế hai mẫu phiếu
A1 và A2. Mẫu phiếu A1 dành cho SV và mẫu phiếu A2 dành cho cán bộ
giảng dạy. Chúng tôi tiến hành việc điều tra được thực hiện trên 118 SV năm
thứ nhất và 3 giảng viên giảng dạy bộ môn Tâm lý học của khoa Ngoại ngữ ĐHTN kết hợp với trò chuyện, phỏng vấn, đàm thoại với giảng viên, cán bộ
quản lý, sinh viên và thu được các kết quả sau:
2.1.2. Thực trạng nhận thức của sinh viên khoa Ngoại ngữ - ĐHTN về
vấn đề tự học.
Để đánh giá thực trạng nhận thức của SV khoa Ngoại ngữ, chúng tôi sử
dụng câu hỏi sau: Bạn đánh giá thế nào về vai trò của hoạt động tự học:
a) Rất quan trọng


b) Quan trọng
c) Bình thường
d) Không quan trọng
Chúng tôi thu được kết quả ở bảng sau:
Bảng 1.1: Thực trạng nhận thức của SV khoa Ngoại ngữ về tự học
STT

Vai trò của hoạt động tự học

Ý kiến của SV

1

Rất quan trọng

79,7 %

2

Quan trọng

19,5 %

3

Bình thường

0,8%

4

Không quan trọng

0%

Qua kết quả thu được ở bảng trên chúng tôi nhận thấy rằng đa số SV đều
có nhận thức đúng về vai trò của hoạt động tự học. Cụ thể: Có 94 SV chiếm
79,7% cho rằng hoạt động tự học có vai trò rất quan trọng; 23 SV chiếm
19,5% cho rằng hoạt động tự học có vai trò quan trọng và chỉ có 1 SV chiếm
0,8% là bình thường; 0% là không quan trọng.
Để đánh giá về thực trạng nhận thức của SV khoa Ngoại ngữ - ĐHTN về
vấn đề tự học chúng tôi còn sử dụng câu hỏi: Theo bạn tự học có ý nghĩa như
thế nào?
a) Giúp người học tiếp thu tri thức
b) Tự học giúp người học vận dụng những tri thức đã học vào những tình
huống cụ thể
c) Tự học giúp người học có thêm tri thức để hình thành và phát triển
nhân cách của bản thân
d) Tự học là để kiểm tra và thi có kết quả cao
e) Tự học là để làm phong phú thêm hiểu biết của
mình Kết quả thu được như sau:


- Tự học là để người học tiếp thu tri thức 45,8%
- Tự học giúp người học vận dụng những tri thức đã học vào những tình
huống cụ thể 6,8%
- Tự học giúp người học có thêm tri thức để hình thành và phát triển nhân
cách của bản thân 33,9%
- Tự học là để kiểm tra và thi có kết quả cao 12,7%
- Tự học là để làm phong phú thêm hiểu biết của mình 0,8%
Qua kết quả trên chúng tôi thấy: Số đông SV đã có nhận thức một cách
khá đầy đủ, sâu sắc về ý nghĩa của hoạt động tự học (có 45,8% số đông SV
cho rằng tự học là để người học tiếp thu tri thức; 33,9% có quan niệm cho
rằng tự học giúp người học có thêm tri thức để hình thành và phát triển nhân
cách của bản thân). Tuy nhiên, nhận thức về tự học của SV giữa các chuyên
ngành cũng có sự khác nhau. Nguyên nhân dẫn tới sự khác nhau đó có thể do
rất nhiều nguyên nhân tạo thành, như:
- Do trình độ SV được tuyển đầu vào khác nhau
- Do điều kiện học tập và môi trường học tập khác nhau
- Do phương pháp giảng dạy và cách thức tổ chức hoạt động dạy học
khác nhau của giảng viên.
2.1.2.1 Thực trạng sử dụng các biện pháp tổ chức hoạt động tự học của
sinh viên khoa Ngoại ngữ - ĐHTN
* Thực trạng về việc sử dụng thời gian tự học thường xuyên của SV khoa
Ngoại ngữ
Khi được hỏi: Bạn tự học như thế nào? Kết quả thu được như sau:
- Chỉ khi giáo viên yêu cầu: 29,66%
- Khi chuẩn bị thi và kiểm tra: 53,38%
- Thường xuyên vào các buổi hàng ngày: 16,96%


Qua kết quả trên chúng tôi nhận thấy rằng ý thức tự giác, tích cực tự học
của SV là chưa cao (tự học thường xuyên vào các buổi hàng ngày chỉ chiếm
16,96%).
Chính vì lí do này mà kết quả chọc tập của một số SV chưa đạt yêu cầu
trong quá trình đào tạo.
Để tìm hiểu thực trạng hoạt động tự học của SV chúng tôi sử dụng câu
hỏi số 4: Khi tự học bạn thường sử dụng những biện pháp nào sau đây?
Với câu hỏi trên chúng tôi thu được những kết quả rất khác nhau, cụ thể:
- Đọc qua bài cũ: 19,5%
- Đọc kĩ và tái hiện lại tri thức đã học bằng ngôn ngữ nói và viết: 16,9%
- Đọc và nghiên cứu bài mới trước khi nghe giảng: 10,1%
- Nghiên cứu bài mới trước khi nghe giảng và xây dựng đề cương nghiên
cứu: 15%
- Tổ chức trao đổi về nội dung nghiên cứu: 1,7%
- So sánh đối chiếu về kết quả nhận thức của mình với bài giảng của thầy: 5%
- Vận dụng tri thức để giải quyết các vấn đề khác nhau: 6,7%
Ngoài ra kết quả điều tra cho thấy SV còn sử dụng phối hợp nhiều biện
pháp tự học khác nhau như:
- Đọc qua bài cũ, đọc kĩ và tái hiện lại tri thức đã học bằng ngôn ngữ nói
và viết: 3,3%
- Đọc qua bài cũ, đọc và nghiên cứu bài mới trước khi nghe giảng với tổ
chức trao đổi về nội dung nghiên cứu: 1,7%


- Đọc qua bài cũ, đọc kĩ và tái hiện lại tri thức đã học bằng ngôn ngữ nói
và viết với nghiên cứu bài mới trước khi nghe giảng và xây dựng đề cương
nghiên cứu: 7,5%
- Vận dụng phối hợp các biện pháp nói trên: 10,9%
Bảng 1.2: Các biện pháp tự học được sinh viên khoa Ngoại ngữ
áp dụng thường xuyên
STT
1
2
3
4

5

Biện pháp áp dụng thƣờng xuyên

Tỷ lệ %

Đọc qua bài cũ

19,5 %

Đọc kĩ và tái hiện lại tri thức đã học bằng ngôn ngữ nói

16,9%

và viết
Đọc và nghiên cứu bài mới trước khi nghe giảng
Nghiên cứu bài mới trước khi nghe giảng và xây dựng

10,1%
15%

đề cương nghiên cứu
Vận dụng phối hợp tất cả các biện pháp nói trên

10,9%

Qua kết quả trên chúng tôi thấy biện pháp tổ chức hoạt động tự học được
SV khoa Ngoại ngữ áp dụng thường xuyên nhất đó là học bài cũ, tái hiện lại
tri thức đã nghe giảng, nghiên cứu bài mới trước khi nghe giảng và xây dựng
đề cương nghiên cứu. Điều này là hoàn toàn phù hợp với nhận thức của SV về
vấn đề tự học. Biện pháp tổ chức hoạt động tự học ít được SV áp dụng nhất
đó là các biện pháp so sánh đối chiếu về kết quả nhận thức của mình với bài
giảng của thầy, tổ chức trao đổi, thảo luận nội dung tự nghiên cứu với bạn,
với thầy...


* Thực trạng sử dụng các biện pháp tổ chức hoạt động tự học ở trên lớp
cho sinh viên khoa Ngoại ngữ
Bảng 1.3: Biện pháp tổ chức hoạt động tự học ở trên lớp cho SV:
Thƣờn
Không Không
Mức độ
g
thƣờng áp dụng
STT Biện pháp
xuyên
xuyên
Thông báo trước nội dung sắp học cho
1
2
3
4
5
6
7

SV trước một tuần
Cho SV nghiên cứu trước nội dung bài
giảng trước khi nghe giảng
Hướng dẫn SV nội dung cần đọc, cần
nghiên cứu
Hướng dẫn cách đọc, cách tự nghiên
cứu cho SV
Tổ chức thảo luận nhóm về vấn đề tự
nghiên cứu

66,67%

33,33%

66,67%

33,33%

66,67%

33,33%

33,33%

66,67%

100%

Sử dụng mô hình, sơ đồ để hệ thống

100%

hoá tri thức bài học cho sv
Tổ chức sv làm việc theo nhóm, thảo
luận các vấn đề đã nghiên cứu

100%

Tổ chức thông tin phản hồi nhanh,
8

hướng dẫn sv cách tự kiểm tra, tự đánh

33,33%

66,67%

66,67%

33,33%

giá kết quả tự nghiên cứu
9

Hướng dẫn sv giải các bài tập thực
hành của chuyên ngành đào tạo

10 Tổ chức câu lạc bộ môn học cho sv

66,67%

33,33%

Kết quả thu được ở trên là kết quả thu được qua điều tra đối với 3 giáo
viên dạy bộ môn Tâm lý học. Ngoài ra chúng tôi còn tiến hành trò chuyện đối


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×