Tải bản đầy đủ

Đặc điểm cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa của tục ngữ dân tộc tàyđặc điểm cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa của tục ngữ dân tộc tày

1.

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ
PHẠM

---------------------------

HÀ HUYỀN NGA

ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC HÌNH THỨC VÀ
NGỮ NGHĨA CỦA TỤC NGỮ DÂN TỘC TÀY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÔN NGỮ

THÁI NGUYÊN - 2009


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
-----------------------------


HÀ HUYỀN NGA

ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC HÌNH THỨC
VÀ NGỮ NGHĨA CỦA TỤC NGỮ DÂN TỘC TÀY

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÔN NGỮ

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. PHẠM HÙNG VIỆT

THÁI NGUYÊN – 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tâm của các
thầy cô giáo, đồng nghiệp, người thân.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS, TS Phạm Hùng Việt, người
thầy đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, các thầy cô
trong tổ Ngôn ngữ, phòng Sau Đại học, Thư viện, của trường ĐHSP Thái
Nguyên đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS. TS Tạ Văn Thông, nhà nghiên
cứu Văn hoá Dân gian Hoàng Triều Ân,, đã cung cấp tư liệu và nhiệt tình giúp
đỡ tôi trong qúa trình nghiên cứu.
Sau cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, đồng nghiệp, đã động viên
và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập.

Thái Nguyên, ngày 21 tháng 9 năm 2009
Tác giả
Hà Huyền Nga


MỤC LỤC


PHẦN MỞ ĐẦU
1.

Lí do chọn đề tài…………………………………………………….

1

2.

Lịch sử vấn đề………………………………………………………. 2

3.

Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu………………………….. 7

4.

Nhiệm vụ nghiên cứu……………………………………………….. 8

5.

Phƣơng pháp nghiên cứu…………………………………………… 8

6.

Đóng góp của luận văn……………………………………………... 9

7.

Bố cục luận văn…………………………………………………….. 9

PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lí thuyết………………………………... 10
1.1.

Tục ngữ trong quan niệm của các nhà ngôn ngữ học…………… 10

1.1.1.

Quan niệm của Nguyễn VănTu và Đái Xuân Ninh………………… 10

1.1.2.

Quan niệm của Cù Đình Tú………………………………………… 11

1.1.3.

Quan niệm của Nguyễn Đức Dân…………………………………... 11

1.1.4.

Quan niệm của Đỗ Hữu Châu………………………………………. 12

1.1.5.

Quan niệm của Hoàng Văn Hành…………………………………... 13

1.2.

Tục ngữ trong sự phân biệt với thành ngữ và ca dao…………… 14

1.2.1.

Phân biệt tục ngữ với thành ngữ……………………………………. 14

1.2.2.

Phân biệt tục ngữ với ca dao………………………………………... 17

1.3.

Tục ngữ dân tộc Tày………………………………………………

1.3.1.

Tục ngữ Tày trong môi trƣờng tự nhiên, lịch sử, văn hoá……… 19

1.3.2

Tục ngữ Tày và ngôn ngữ Tày……………………………………… 24

1.4.

Một số quy ƣớc khi sử dụng ngôn liệu tục ngữ Tày…………….. 27

19

Tiểu kết chƣơng 1…………………………………………………. 27

Chương 2: Cấu trúc hình thức của tục ngữ dân tộc Tày

29

2.1.

Vần, nhịp, của câu tục ngữ dân tộc Tày………………………….

29

2.1.1.

Vần và đặc điểm của vần trong tục ngữ Tày……………………….

29

2.1.2.

Nhịp và đặc điểm của nhịp trong tục ngữ Tày……………………… 33


2.2.

Cấu trúc câu tục ngữ dân tộc Tày………………………………... 38

2.2.1.

Tính chất, đặc điểm của cấu trúc câu tục ngữ Tày………………….. 38

2.2.2.

Các kiểu cấu trúc câu tục ngữ Tày………………………………….. 41

2.3.

Những phƣơng thức xây dựng hình tƣợng trong cấu trúc hình

44

thức của tục ngữ Tày……………………………………………..
2.3.1.

Cấu trúc so sánh……………………………………………………

44

2.3.2.

Cấu trúc ẩn dụ ……………………………………………………… 50

2.3.3. Cấu trúc ngoa dụ …………………………………………………… 55
Tiểu kết chƣơng 2…………………………………………………. 58

Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của tục ngữ dân tộc Tày
60
3.1.

Tính đơn nghĩa của tục ngữ dân tộc Tày………………………… 60

3.1.1.

Tục ngữ Tày tổng kết kinh nghiệm làm ăn, lao động sản xuất……..

3.1.2.

Tục ngữ Tày tổng kết kinh nghiệm dự đoán thời tiết, thời gian……. 68

3.2

Tính hàm nghĩa của tục ngữ dân tộc Tày………………………... 73

3.2.1.

Kinh nghiệm chọn con dâu, con rể…………………………………. 74

3.2.2.

Các mối quan hệ trong gia đình…………………………………….. 77

3.3.

Biểu trƣng động vật trong tục ngữ Tày………………………….. 85

3.3.1.

Biểu trƣng trong tục ngữ……………………………………………. 85

3.3.2.

Động vật và nghĩa biểu trƣng của động vật trong tục ngữ Tày…….. 86

61

Tiểu kết chƣơng 3…………………………………………………. 92

KẾT LUẬN

94


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề
tài

1.1. Ngƣời Tày (còn có tên gọi khác là Thổ, cùng
nhóm địa phƣơng với Ngạn, Phén, Thu Lao, Pa
Dí) là một trong 54 dân tộc ở Việt Nam, có số dân
vào khoảng 1,5 triệu ngƣời - số dân lớn thứ 2 sau
ngƣời Kinh. Địa vực cƣ trú của ngƣời Tày
thƣờng tập trung chủ yếu ở vùng Đông Bắc của
Tổ quốc nhƣ Cao Bằng,

Lạng Sơn,

Thái

Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Kạn...Đây là một
trong những dân tộc có bản sắc văn hoá riêng
trong cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam.
Ngôn ngữ của ngƣời Tày nói chung và tục ngữ nói
riêng là một phần quan trọng trong nền văn hoá
này. Vì vậy việc nghiên cứu tục ngữ dân tộc Tày
trƣớc hết là để hiểu rõ hơn về văn hoá Tày, góp
phần giới thiệu và tôn vinh nền văn hoá của dân
tộc Tày.
1.2. Tục ngữ Tày có thể coi là bộ bách khoa thƣ về
cuộc sống muôn màu muôn vẻ của cộng đồng
dân tộc Tày, là bộ phận quan trọng của nền văn
hoá Tày. Vì thế tục ngữ Tày nói riêng cũng nhƣ
tục ngữ nói chung đã trở thành đối tƣợng nghiên
cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, đặc
biệt là các ngành khoa học xã hội nhƣ: văn hoá,
dân tộc học, lịch sử, văn học, ngôn ngữ học...Cho
đến nay việc nghiên tục ngữ đã đạt đƣợc nhiều
thành tựu lớn. Tuy nhiên các công trình nghiên
cứu về tục ngữ của các dân tộc thiểu số, trong đó
có dân tộc Tày còn ít. Cụ thể, chƣa có công trình
khoa học nào nghiên cứu tục ngữ Tày ở góc độ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1

http://www.lrc-tnu.edu.vn


ngon

ngữ

học

về

phƣơng diện cấu trúc

tác giả luận văn cũng hi vọng rằng, kết quả nghiên
cứu về tục ngữ Tày sẽ giúp

và ngữ nghĩa. Vì vậy
có thể cho rằng, việc
tìm hiểu về cấu trúc và
ngữ nghĩa của tục ngữ
Tày là góp phần khai
thác vốn văn hoá của
dân tộc Tày ở một bình
diện mới, làm rõ thêm
nét đặc sắc của nền văn
hoá dân tộc Tày.
1.3.Là ngƣời con của dân
tộc

Tày,

đang

sinh

sống và làm việc nơi
mảnh đất mà đa phần
là ngƣời Tày đang sinh
sống và học tập, tác giả
luận văn thiết tha với
tiếng nói và văn hoá
của

dân

tộc

mình,

muốn bày tỏ tình yêu
dân tộc và tiếng mẹ đẻ
của mình bằng việc tìm
hiểu, nghiên cứu về tục
ngữ

Tày,

nơi

chứa

đựng nhiều giá trị độc
đáo mang đậm bản sắc
văn hoá tộc ngƣời. Bên
cạnh đó,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1

http://www.lrc-tnu.edu.vn


cho giáo viên và học sinh ở các tỉnh miền núi hiểu rõ hơn về ngôn ngữ của dân
tộc Tày, đồng thời có thể vận dụng, học tập cách tƣ duy, cách diễn đạt mang bản
sắc riêng của ngƣời Tày.
Trên đây là những lí do thúc đẩy chúng tôi lựa chọn đề tài "Cấu trúc hình
thức và ngữ nghĩa của tục ngữ dân tộc Tày"
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Việc sƣu tầm, biên soạn, nghiên cứu tục ngữ nói chung
Ở nƣớc ta, trƣớc thế kỉ XIX, các tác phẩm văn học chữ Hán và chữ Nôm
đã có ít nhiều dấu vết của các tƣ tƣởng dân gian vốn là nội dung của các câu
tục ngữ. Nguyễn Trãi là một trong những ngƣời đầu tiên sử dụng một cách phổ
biến tục ngữ dân gian vào sáng tác của mình. Bài thơ số 21 trong tập "Bảo kính
cảnh giới" là một bài thơ tiêu biểu: "Ở bầu thì dáng ắt nên tròn, xấu tốt đều
thì rắp khuôn... ở đấng thấp thì nên dáng thấp, đen gần mực, đỏ gần son".
Mấy chục năm sau đó phải kể đến các sáng tác chữ Nôm nhƣ "Hồng Đức quốc
âm thi tập" của Lê Thánh Tông (TK XV), "Bạch vân quốc ngữ thi tập" của
Nguyễn Bỉnh Khiêm (TKXVI), "Truyện Kiều" của Nguyễn Du, hay "Lục Vân
Tiên" của Nguyễn Đình Chiểu...(TKXVIII,XIX). Trong các tác tác phẩm này, các
tác giả đã sử dụng khá nhiều câu tục ngữ. Trong điều kiện chƣa phát hiện đƣợc
một công trình sƣu tầm tục ngữ nào thì các sáng tác của các tác giả kể trên
đƣợc các nhà nghiên cứu tục ngữ đặc biệt coi trọng.
Từ thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX đã xuất hiện các công trình nghiên cứu về
tục ngữ nhƣ: cuốn "Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn" xuất bản năm 1897 của Huỳnh
Tịnh Của, "Tục ngữ và cách ngôn" (1920) của Hàn Thái Dƣơng, "An Nam tục
ngữ" (1933) của Vũ Nhƣ Lâm và Nguyễn Đa Gia, "Phong giao, cao dao,
phƣơng ngôn, tục ngữ" (1936) của Nguyễn Văn Chiểu, "Ngạn ngữ phong
dao" (1941) của Nguyễn Can Mộng...Bên cạnh đó còn có những cuốn tục ngữ
Việt Nam dịch sang tiếng Pháp của ngƣời Pháp nhƣ: Bài viết "Croyanceset
dictosn populaires de la vallée Nguon Sơn, Quang Binh" (Tín ngưỡng và tục
ngữ dân gian ở thung lũng Nguồn Sơn, Quảng Binh) của linh mục L.Cadiere,
hay sƣu tập "Pro verbes
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2

http://www.lrc-tnu.edu.vn


nanamites" (tục ngữ An Nam) của V. Barbier [14; 18]. Nhìn chung nội dung của các

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2

http://www.lrc-tnu.edu.vn


công trình trên chủ yếu sƣu tầm tổng hợp gồm cả ca dao, phong dao, thành
ngữ, bƣớc đầu đã có cả sự phân tích và bình luận.
Cùng thời kì này phải kể đến công trình "Tục ngữ phong dao" của Nguyễn
Văn Ngọc, xuất bản năm 1928 đã tổng hợp và giới thiệu 6.500 câu tục ngữ và
thành ngữ. Cho đến nay công trình này vẫn đƣợc đáng giá rất cao trong việc sƣu
tầm tục ngữ Việt Nam. Tuy nhiên, đây vẫn chỉ là một công trình sƣu tầm, chƣa
có sự nghiên cứu sâu về tục ngữ.
Sau Cách mạng tháng tám (1945), có sự xuất hiện khá nhiều các công trình
nghiên cứu về tục ngữ Việt Nam. Cuốn "Tục ngữ và dân ca" của tác giả Vũ
Ngọc Phan, xuất bản lần đầu vào năm 1956, sau đó tái bản và bổ sung vào năm
1971, 1972. Công trình này đã biên soạn và trình bày tách biệt phần tục ngữ và
ca dao, đây là điểm mới so với các cách trình bày trƣớc đây. Ở cuốn sách này,
tác giả Vũ Ngọc Phan đã cố gắng đi đến việc đƣa ra những tiêu chí để phân biệt
giữa thành ngữ với tục ngữ, ông đã viết nhƣ sau: "Tục ngữ là một câu, tự nó
diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiêm...,còn thành ngữ là một
phần câu có sẵn, là một bộ phận của câu mà nhiều người quen dùng, nhưng tự
nó không diễn đạt được một ý trọn vẹn" 47; 31]. Có thế thấy đây là những nhận
định khá mới mẻ so với những công trình trƣớc đó, tuy những nhận định này
còn mang tính khái quát, chƣa cụ thể. Vì thế, các nhà ngôn ngữ học trong quá
trình nghiên cứu về tục ngữ đã chú trọng đi sâu tìm hiểu, đƣa ra những tiêu chí
phân định giữa thành ngữ và tục ngữ (phần này sẽ đƣợc phân tích rõ hơn ở
chƣơng 1 của luận văn).
Cuốn "Tục ngữ Việt Nam" của nhóm tác giả (Chu Xuân Diên, Lƣơng Văn
Đang, Phƣơng Tri), là công trình nghiên cứu công phu về tục ngữ Việt Nam. Ở
công trình này, tác giả đã đƣa ra quan điểm nghiểm nghiên cứu về tục ngữ trên
hai bình diện, đó là nghiên cứu tục ngữ về mặt xã hội học, tức là nghiên cứu tục
ngữ với tƣ cách là một hiện tƣợng ý thức xã hội và nghiên cứu tục ngữ ở bình
diện là một hiện tƣợng ngôn ngữ, tức nghiên cứu tục ngữ với tƣ cách là một đơn
vị thông báo có tính nghệ thuật. Từ đó tác giả khẳng định kho tàng tục ngữ Việt
Nam "là một văn liệu quí giá do nhân dân lao động sáng tạo và tích luỹ từ hàng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3

http://www.lrc-tnu.edu.vn


nghìn năm nay, trong đó kết tinh được những đặc điểm cơ bản nhất của lối nói
dân gian, lối nói dân tộc" [16; 41]
Những năm 90 trở về đây, xuất hiện nhiều cuốn tục ngữ của các tác giả
nhƣ: Mã Giang Lân, Châu Nhiên Khanh, hay nhóm tác giả Nguyễn Cừ, Nguyễn
Thị Huế, Trần Thị An... Các công trình của các tác giả này chủ yếu là sƣu tầm,
biên soạn, tổng hợp và giới thiệu các đơn vị tục ngữ Việt Nam. Bên cạnh đó, có
sự xuất hiện rất nhiều bài viết, luận văn, luận án nghiên cứu về tục ngữ Việt về
nhiều bình diện khác nhau, rất phong phú và đa dạng, đạt đƣợc nhiều thành tựu
rất đáng kể. Đây chính là cơ sở lí luận, là nguồn tƣ liệu quí giá, là tiền đề khoa
học cho việc nghiên cƣú tục ngữ các dân tộc khác trên đất nƣớc Việt Nam,
trong đó có tục ngữ dân tộc Tày.
2.2. Việc sƣu tầm, nghiên cứu tục ngữ dân tộc Tày
Tục ngữ Tày đã thể hiện đƣợc lối nói của ngƣời dân Tày, đây là lối nói có
hình ảnh, có hình tƣợng, gắn liền với tƣ duy của ngƣời Tày và là văn hoá của
ngƣời Tày. Đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến giá trị của tục ngữ
Tày.
Đầu tiên phải kể đến cuốn "Tục ngữ Tày - Nùng" (1972), (nhiều tác giả)
đã liệt kê đƣợc một số các đơn vị tục ngữ Tày - Nùng đáng kể. Đến năm 1984,
các tác giả Hà Văn Thƣ, Nguyễn Văn Lô, viết cuốn "Văn hoá Tày - N ùng".
Trong công trình này, các tác giả đã sƣu tầm, tổng hợp và giới thiệu 34 câu tục
ngữ về ứng xử của ngƣời Tày với môi trƣờng tự nhiên và xã hội. Trong cuốn
"Văn hoá dân gian Cao Bằng" (1993), nhóm nghiên cứu, Hội văn nghệ Cao
Bằng, ở trang 13 bài viết về "Bình diện Folklore vùng Cao Bằng" tác giả Hoàng
Triều Ân có đề cập đến tục ngữ Tày với mục đích giới thiệu chung và dẫn 06
câu tục ngữ Tày về các khía cạnh khác nhau. Nói về bài học đạo lí làm ngƣời có
câu "Giú ngay kin bấu lẹo, gổt ghẹo kin bấu đo" (Ngay thẳng ăn chẳng hết, dối
trá ăn chẳng no); "Tua nẩu ấu tằng khương " (Một con cá ƣơn thối cả giỏ), hay
những nhận xét sơ khai của vật lí học về sự dẫn nhiệt "Toong kheo tèo tằng bản"
(Lót lá xanh chạy quanh làng bản), nhận thức rõ về sức lao động của hai bàn tay
"Cúa tin mừng nặm bó, cúa vỏ mẻ nặm noòng" (Của bàn tay nƣớc nguồn, của bố
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4

http://www.lrc-tnu.edu.vn


mẹ nƣớc lũ). Năm 1996, tác giả Triều Ân, Hoàng Quyết viết cuốn "Từ điển
thành ngữ- tục ngữ dân tộc Tày", Nxb Văn hoá Dân tộc. Có thể thấy rằng, cuốn
sách này là nguồn tƣ liệu vô cùng quý giá, giúp cho ngƣời nghiên cứu muốn
nghiên cứu về thành ngữ, tục ngữ dân tộc Tày. Vì đây là cuốn từ điển nên tác giả
chủ yếu tổng hợp đƣa ra cách giải nghĩa tục ngữ, thành ngữ dân tộc Tày với số
lƣợng các đơn vị tục ngữ Tày khá phong phú. Cuốn "Địa chí Cao Bằng" (2000),
Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng, Nxb Chính trị Quốc gia, ở chƣơng V phần văn
học dân gian (trang 593) có trích 29 câu tục ngữ Tày trong mảng văn học dân
gian Tày. Cuốn "Văn hoá dân gian Tày" (2002), Hoàng Ngọc La (chủ biên), Sở
Văn hóa thông tin Thái Nguyên, có nhắc đến tục ngữ Tày với một thể loại trung
gian nằm trong hệ thống văn học dân gian của dân tộc Tày. Mới đây nhất là
cuốn "Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam" tập 1 xuất bản
năm 2007 và tập 2, xuất bản năm (2008), Viện Nghiên cứu văn hóa, NXB khoa
học xã hội, Hà Nội. Cuốn sách đã tổng hợp đƣợc số lƣợng rất phong phú về tục
ngữ các dân tộc nói chung trong đó có khoảng hơn 2.000 câu tục ngữ Tày. Đây
thực sự là nguồn tƣ liệu vô cùng quý giá, và mới mẻ giúp cho ngƣời nghiên cứu
có nhiều điều kiện để đi sâu nghiên cứu mọi mặt của tục ngữ Tày.
Luận văn tốt ngiệp của thạc sĩ Hà Ngọc Tân về đề tài” Văn hóa ứng xử của
người Tày qua tục ngữ về quan hệ gia đình xã hội, (2007, Đại học Sƣ phạm
Thái Nguyên) đã có những nghiên cứu khá sâu về tục ngữ Tày, nhƣng do mục
đích của luận văn nên công trình chỉ đi sâu nghiên cứu về văn hóa ứng xử của
ngƣời Tày trong quan hệ gia đình và xã hội.
Điểm lại quá trình nghiên cứu, sƣu tầm tục ngữ Tày từ những năm 70 của
thế kỉ trƣớc trở về đây, chúng tôi nhận thấy một số vấn đề đáng chú ý sau:
M ột là : Tục ngữ Tày với tƣ cách là đơn vị của ngôn ngữ Tày, là một
loại hình trong kho tàng văn chƣơng truyền khẩu của ngƣời Tày. Đã từ lâu, tục
ngữ Tày đã trở thành mối quan tâm của các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian.
Đã có những công trình nghiên cứu về tục ngữ Tày đƣợc công bố. Đây là tài
sản có giá trị của một cộng đồng dân tộc, là nguồn tƣ liệu vô cùng quý hiếm,
rất hữu ích
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên12

http://www.lrc-tnu.edu.vn


cho việc nghiên cứu tiếp theo về tục ngữ Tày.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên13

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Hai là: Những công trình nghiên cứu trên phần lớn tập trung sƣu tầm, giới
thiệu về các đơn vị tục ngữ Tày, trong đó đã có công trình nghiên cứu tục ngữ
Tày về khía cạnh văn hoá ứng xử của ngƣời Tày trong quan hệ gia đình và xã
hội. Tuy nhiên, hầu nhƣ chƣa có công trình nào nghiên cứu tục ngữ Tày về
phƣơng diện ngôn ngữ.
Ba là: Dù đã đƣợc nhiều tác giả quan tâm, nhƣng bình diện cấu tạo và ngữ
nghĩa của tục ngữ Tày vẫn chƣa đƣợc chú ý một cách thích đáng. Tìm hiểu,
nghiên cứu về cấu tạo và ngữ nghĩa của tục ngữ Tày chính là để khám phá và
giới thiệu về tục ngữ dân tộc Tày một cách toàn diện hơn, để mọi ngƣời thấy rõ
tục ngữ Tày là nơi tinh tuý, đúc kết kinh nghiệm và khả năng sáng tạo trong tƣ
duy của ngƣời Tày, đồng thời thấy đƣợc tài năng của các tác giả dân gian trong
quá trình sáng tác kho tàng văn hoá phi vật thể này.
Chính vì thế đề tài “Cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa của tục ngữ Tày”
không chỉ có ý nghĩa trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ của dân tộc thiểu số
mà còn có ý nghĩa thiết thực cho việc giới thiệu và góp phần bảo tồn, gìn giữ và
phát triển kho tàng về văn hoá vô giá của ngƣời Tày.
3. Mục đích, đối tƣợng, tƣ liệu, phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn đƣợc thực hiện nhằm đạt tới mục đích sau:
Tìm hiểu tục ngữ Tày và mô tả các đặc điểm về cấu trúc và ngữ nghĩa của
tục ngữ Tày để làm sáng tỏ đặc trƣng ngôn ngữ độc đáo của dân tộc Tày, góp
một phần nhỏ vào việc bảo tồn và phát huy vốn ngôn ngữ của dân tộc Tày và
làm đa dạng, phong phú hơn cho văn hóa các dân tộc thiểu số trên đất nƣớc Việt
Nam.
3.2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Đối tượng khảo sát
- Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là tục ngữ của dân tộc Tày.
- Tƣ liệu phục vụ cho nghiên cứu trong luận văn đƣợc thống kê chủ yếu dựa vào
cuốn “Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam" (2008),


Viện nghiên cứu văn hóa, Hà Nội và cuốn “Từ điển thành ngữ, tục ngữ dân tộc
Tày” (1996) của tác giả Triều Ân, Hoàng Quyết.
Ngoài ra, chúng tôi còn thống kê tục ngữ Tày qua việc điền dã ở một số địa
phƣơng và một số gia đình trong tỉnh Cao Bằng
Luận văn khảo sát và tổng hợp đƣợc 2089 câu tục ngữ dân tộc Tày.

3.2.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ, chúng tôi chú trọng vào việc tìm
hiểu và phân tích đặc điểm về cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa của tục ngữ Tày,
nghĩa là tập trung nghiên cứu tục ngữ Tày ở phƣơng diện ngôn ngữ học.
3.4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Để miêu tả, phân tích cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa của tục ngữ Tày một
cách chính xác, trƣớc hết, luận văn cần phải xác định đƣợc cơ sở lí luận của tục
ngữ.
- Đối chiếu phần dịch nghĩa tiếng Việt với nghĩa trong ngôn ngữ dân tộc Tày
của các câu tục ngữ đã sƣu tầm, tổng hợp đƣợc, để dạt tới cách hiểu nghĩa của
các đơn vị tục ngữ Tày một cách chân thực và chuẩn xác nhất.
- Khảo sát, thống kê, phân tích và phân loại các câu tục ngữ để chỉ ra đƣợc các
đặc điểm về cấu trúc và ngữ nghĩa của tục ngữ Tày.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Lựa chọn phƣơng pháp nghiên cứu là căn cứ vào mục đích và đối tƣợng
nghiên cứu của đề tài. Ở luận văn này, chúng tôi sử dụng những phƣơng pháp sau.
5.1. Phương pháp thống kê phân loại đƣợc sử dụng trong quá trình thống kê và thu
thập tƣ liệu, đó là toàn bộ các đơn vị tục ngữ Tày để phục vụ cho việc nghiên cứu
của đề tài. Luận văn tiến hành thu thập và xử lí 2.089 câu tục ngữ Tày.
5.2. Phương pháp so sánh, đối chiếu đƣợc sử dụng để làm sáng tỏ những đặc
điểm về cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa của tục ngữ Tày có sự so sánh với tục
ngữ Việt


Ngoài ra các thủ pháp phân tích ngữ nghĩa, phƣơng pháp quy nạp, tổng
hợp cũng đƣợc chúng tôi sử dụng để tìm ra các đặc điểm về cấu trúc và ngữ
nghĩa của tục ngữ Tày và rút ra những kết luận cần thiết trong quá trình nghiên
cứu về tục ngữ Tày.
6. Đóng góp của luận văn
6.1. Về mặt lí luận
Luận văn bổ sung cho việc nghiên cứu tục ngữ dân tộc Tày ở bình diện
hình thức và ngữ nghĩa. Đặc biệt luận văn cung cấp những tƣ liệu về tục ngữ
Tày xét từ phƣơng diện ngôn ngữ học, đồng thời góp phần làm nên sự phong
phú, đa dạng hơn cho các công trình nghiên cứu về tục ngữ Tày.
6.2. Về mặt thực tiễn
Luận văn góp phần thúc đẩy việc sƣu tầm và nghiên cứu tục ngữ của dân
tộc Tày trong kho tục ngữ chung của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Bên cạnh
đó luận văn còn là nguồn tƣ liệu tham khảo cho giáo viên, học sinh, những
ngƣời có nhu cầu tìm hiểu tục ngữ Tày và văn hoá Tày.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, phần Nội dung luận văn gồm 3 chƣơng
Chƣơng 1: Cơ sở lí thuyết
Chƣơng 2: Đặc điểm cấu trúc của tục ngữ dân tộc Tày
Chƣơng 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của tục ngữ dân tộc Tày


PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1.Tục ngữ trong quan niệm của các nhà ngôn ngữ học
* Khái quát
Trong nghiên cứu văn học dân gian, các nhà nghiên cứu đã xem tục ngữ
nhƣ một thể loại ra đời vào loại sớm nhất, có số lƣợng phong phú và có sức
sống lâu bền trong "folklore" của các dân tộc trên thế giới. Họ quan niệm tục
ngữ là sự đúc kết trí tuệ và tâm hồn của nhân dân lao động, vì thế mỗi câu
tục ngữ không chỉ là một phán đoán, một triết lí mà còn là một văn bản nghệ
thuật có giá trị. Trong quan niệm của các nhà ngôn ngữ học, tục ngữ đƣợc
xem xét ở một góc độ khác. Có thể khẳng định, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ
học đã kế thừa thành tựu nghiên cứu về tục ngữ của các nhà nghiên cứu văn
học dân gian, đƣa ra những quan điểm riêng về tục ngữ dƣới góc nhìn của
mình. Dƣới đây là một số quan niệm về tục ngữ của các nhà ngôn ngữ học.
1.1.1. Quan niệm của hai nhà ngôn ngữ học Nguyễn Văn Tu và Đái Xuân Ninh
Cả hai nhà ngôn ngữ học Nguyễn Văn Tu và Đái Xuân Ninh đều có
chung quan điểm cho rằng tục ngữ không phải là đơn vị ngôn ngữ mà là lời nói
liên quan đến cụm từ cố định. Trong cuốn "Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại", tác
giả Nguyễn Văn Tu đƣa ra chủ trƣơng: "Trong tiếng Việt, những tục ngữ,
phƣơng ngôn, ngạn ngữ có liên quan đến thành ngữ và quán ngữ. Chúng không
phải là đối tƣợng của từ vựng học mà là đối tượng của văn học dân gian.
Nhƣng chúng là đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ đƣợc dùng đi dùng lại để
trao đổi tƣ tƣởng, cho nên chúng có điểm gần với cụm từ cố định. Thực ra
chúng là những câu hoàn chỉnh chỉ một nội dung đầy đủ, không cần những
thành phần ngữ pháp nào cả" 58; 87]. Tác giả Đái Xuân Ninh trong cuốn
"Hoạt động của từ Tiếng Việt" cũng viết: "Cụm từ tiếng Việt bao gồm cả
thành ngữ lẫn tục ngữ, ngạn ngữ, quán ngữ, cùng là những đơn vị có sẵn trong
tiếng nói" [40; 25].


Có thể thấy hai tác giả Nguyễn Văn Tu và Đái Xuân Ninh chịu ảnh hƣởng của
các nhà nghiên cứu văn học dân gian, đều xem tục ngữ là đơn vị của lời nói chứ


không phải đơn vị của ngôn ngữ. Quan niệm này đã chứng tỏ rằng tục ngữ là
một đơn vị trung gian giữa ngôn ngữ và lời nói, giữa từ vựng học và cú pháp
học. Đây là gợi mở quan trọng cho các nhà nghiên cứu tục ngữ về sau.
1.1.2.

Nhà ngôn ngữ học Cù Đình Tú trong bài báo trao đổi ý kiến với tác giả

Nguyễn Văn Mệnh "Góp ý kiến phân biệt tục ngữ với thành ngữ" [56], quan
niệm rằng, về mặt ngôn ngữ học thì tục ngữ có chức năng khác với thành ngữ,
khác với các sáng tác dân gian ở chỗ tục ngữ là những thông báo ngắn gọn,
thông báo một nhận định, một kết luận về một vấn đề nào đó của hiện thực
khách quan. Do vậy "mỗi tục ngữ đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn
vẹn một ý tưởng". Xét về quan hệ kết cấu và chức năng, tác giả đã chỉ ra điểm
khác biệt giữa thành ngữ và tục ngữ: Thành ngữ thƣờng có kết cấu một trung
tâm với chức năng định danh, còn "tục ngữ có kết cấu hai trung tâm và thường
có chức năng thông báo". Để làm rõ hơn kết cấu của tục ngữ, tác giả còn nhấn
mạnh thêm yếu tố cân đối của tục ngữ: "Tục ngữ triệt để sử dụng các hình thức
cân đối, tỉnh lƣợc, bởi vậy, ở nhiều tục ngữ ta có thể chêm xen thêm các yếu tố
tỉnh lược, nhất là các hư từ". Sử dụng chức năng làm tiêu chí khu biệt giữa
thành ngữ và tục ngữ là một đóng góp quan trọng của tác giả Cù Đình Tú về mặt
kết cấu của tục ngữ. Có thể thấy rằng đây là một cái nhìn mới, những gợi ý mới
mở ra những nghiên cứu mới về tục ngữ .
1.1.3. Tác giả Nguyễn Đức Dân trong bài báo "Ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ"
lại dựa vào tiêu chí ngữ nghĩa để phân biệt thành ngữ với tục ngữ. Tác giả đƣa
ra khái niệm: "Thành ngữ phản ánh các khái niệm, hiện tƣợng, còn tục ngữ
phản ánh các quan niệm, những suy nghĩ, những tri thức và cách tư duy của
một dân tộc về các hiện tượng, các quy luật tự nhiên và xã hội" [10; 1]. Từ sự
khác nhau đó đã dẫn tới sự khác nhau cơ bản trong sự hình thành nghĩa:
"Nghĩa của thành ngữ đƣợc hình thành qua sự biểu trƣng nghĩa của cụm từ.
Nghĩa của tục ngữ được hình thành qua sự biểu trưng nghĩa của một câu và
qua sự biểu trưng các quan hệ, còn các thành ngữ không có thuộc tính này" [10;
5]. Nhƣ vậy, quan niệm về tục ngữ dựa vào mặt ngữ nghĩa của tác giả
Nguyễn Đức Dân đã góp


phần hoàn chỉnh thêm cách nhìn tục ngữ trên lập trƣờng của các nhà ngôn ngữ
học.
1.1.4. GS.TS Đỗ Hữu Châu trong cuốn "Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt" cho rằng
đứng về mặt nghiên cứu, do tính chất cố định nên "tục ngữ cũng có thể và là
một đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học, là một đơn vị nghiên cứu của
ngành cú học (phrasesolorie) là hợp lí" [9; 75]. Tác giả còn chỉ ra sự khác nhau
giữa ngữ cố định và tục ngữ và phƣơng ngôn. Tính chất của ngữ cố định là
tƣơng đƣơng với từ, còn tính chất của tục ngữ lại tương đương với câu, ý nghĩa
của cụm từ cố định tƣơng đƣơng với cả cụm từ tự do, thì ý nghĩa của tục ngữ là
một phán đoán, một sự đánh giá, một sự khẳng định về chân lí, một lẽ thƣờng
đối với một nền văn hoá nào đó, nghĩa là một tƣ tƣởng hoàn chỉnh, do đó tục
ngữ không thuộc phạm vi của từ vựng ngữ nghĩa học mà thuộc phạm vi lớn
hơn là câu. Tác giả cũng chỉ rõ rằng thành ngữ có thể có cấu trúc là ngữ danh
từ, ngữ động từ, ngữ tính từ, lúc đó tục ngữ có cấu trúc câu, hoặc có thể có cấu
trúc đơn phần, ví dụ: vải Quang, húng Láng, ngổ Dầm, cá rô Đầm Sét, sâm cầm
Tây Hồ...hoặc cấu trúc là câu phức, ví dụ: Tôi tớ xét công, vợ chồng xét nhân
nghĩa, con hư tại mẹ, cháu hư tại bà... [dẫn theo 6; 29], tuy nhiên trong quá trình
sử dụng vẫn có lúc đơn vị này dùng nhƣ đơn vị kia, lúc này diễn ra sự thay đổi
trong tính chất cơ bản của các đơn vị vốn khác nhau về nguyên tắc.
1.1.5. Trong cuốn "Thành ngữ học tiếng Việt" (2004), tác giả Hoàng Văn Hành
trong quá trình nghiên cứu về thành ngữ tiếng Việt, đã dựa trên những quan
điểm về tục ngữ của những ngƣời đi trƣớc, đƣa ra những quan điểm khá mới
mẻ về tục ngữ. Tác giả cho rằng, nếu chỉ nói tục ngữ tự thân là một câu hay
những câu cố định, diễn đạt trọn vẹn, một phán đoán... đó chỉ là những căn cứ để
phân biệt với thành ngữ. Song, trong cách nhìn của ngữ nghĩa học có thể nhận
định "tục ngữ là câu - thông điệp nghệ thuật" [23; 32]. Nghĩa là tục ngữ mang
hai tƣ cách: tục ngữ là câu, nhƣng khác với câu thông thƣờng ở chỗ nó có đặc
trƣng là thông điệp nghệ thuật, nhƣng khác với thông điệp nghệ thuật khác ở
chỗ nó có hình thức một câu. Từ hai đặc trƣng này, có thể thấy tục ngữ là một
chỉnh


thể có cấu trúc đa diện. Từ đó khi đi sâu phân tích các đơn vị tục ngữ sẽ cho


thấy cấu trúc và ngữ nghĩa của tục ngữ là một cấu trúc phức tạp nhiều tầng
nghĩa, ở tục ngữ "có sự gặp gỡ giữa chức năng phản ánh và chức năng thông
tin, sự hoà quyện giữa cấu trúc văn học với cấu trúc ngôn ngữ thành một thể
thống nhất không tách rời" [23; 37]. Quan niệm trên đây của tác giả HoàngVăn
Hành là một cái nhìn mới mẻ hơn, hoàn thiện hơn đối với tục ngữ Việt Nam. Nó
phù hợp với việc phân tích, xử lí các đơn vị tục ngữ trong thực tiễn nghiên cứu
văn học và ngôn ngữ học.
Tóm lại, xét về mặt thời gian, các nhà nghiên cứu đã rất quan tâm đến tục
ngữ và đƣa ra cái nhìn ngày càng đầy đủ và trọn vẹn về tục ngữ. Họ đều xem
tục ngữ là một hiện tƣợng ngôn ngữ đặc biệt, nhƣ nhận định của nhà nghiên
cứu ngôn ngữ Nguyễn Thái Hoà "Tục ngữ là đơn vị trung gian nằm ở giao
điểm giữa ngôn ngữ và lời nói, giữa đơn vị ngữ cú và câu, giữa câu và văn bản
và có thể nói là giữa phong cách ngôn ngữ khoa học và phong cách ngôn
ngữ nghệ thuật" [19; 25].

1.2. Tục ngữ trong sự phân biệt với thành ngữ, ca dao
Nhƣ ở phần trình bày bên trên, ta thấy không phải ngay từ đầu khái niệm
tục ngữ đã rõ ràng, mà phải trải qua một quá trình nghiên cứu lâu dài, các nhà
nghiên cứu mới có đƣợc những quan niệm tƣơng đối rõ và cụ thể về tục ngữ.
Để có đƣợc điều đó các nhà nghiên cứu đã đặt tục ngữ trong mối tƣơng quan
với đơn vị thành ngữ, ca dao... Trên thực tế, việc xác định ranh giới giữa các
đơn vị ngôn ngữ này còn có nhiều ý kiến khác nhau.
1.2.1. Phân biệt tục ngữ với thành ngữ
Xét về mặt lịch sử các công trình nghiên cứu về tục ngữ, ta thấy ngƣời
đầu tiên đƣa ra sự phân định giữa tục ngữ và thành ngữ là nhà nghiên cứu
Dƣơng Quảng Hàm. Trong cuốn "Việt Nam văn học sử yếu", xuất bản năm
1943, ông chỉ ra rằng: "Một câu tục ngữ tự nó có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc
khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì, còn thành ngữ chỉ là lời nói có sẵn để ta tiện
dùng nhằm diễn đạt một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè" [21;15]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên12

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Cùng chia sẻ với quan điểm này nhƣng Vũ Ngọc Phan cho rằng định nghĩa nhƣ
vậy chƣa đƣợc rõ ràng, vì thế chƣa thấy đƣợc tác dụng khác nhau giữa thành
ngữ và tục ngữ. Vũ Ngọc Phan đã đƣa ra quan điểm: "Tục ngữ là một câu tự nó
đã diễn đạt một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lí, một công lí, có
khi là một sự phê phán. Còn thành ngữ là một phần câu có sẵn, nó là một bộ
phận câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn đạt được
một ý trọn vẹn" [47; 108]. Điểm khác nhau giữa tục ngữ và thành ngữ mà tác giả
chỉ ra đó là, tục ngữ tự thân nó là một câu, còn thành ngữ là bộ phận của
câu. Ta thấy, tiêu chí phân biệt của Vũ Ngọc Phan là một nội dung có tính kết
cấu ngữ pháp. Những kiến giải của ông đƣợc nhiều ngƣời đồng tình nhƣng
cũng không ít ngƣời còn băn khoăn, bởi thực tế có thành ngữ có kết cấu là
một câu, còn tục ngữ lại có kết cấu chỉ là một cụm từ, nhóm từ (ví dụ: "mèo
mù vớ cá rán", hay “lươn ngắn chê chạch dài” có kết cấu chủ - vị nhƣng lại là
thành ngữ)
Vào khoảng những năm 70 của thế kỉ XX, các nhà Việt ngữ học đã tranh
luận khá sôi nổi về vấn đề này và đã đƣa ra đƣợc những tiêu chí phân định giữa
thành ngữ và tục ngữ khá cụ thể và rõ ràng hơn. Nguyễn Văn Mệnh cho rằng về
nội dung thì tục ngữ mang tính quy luật còn thành ngữ mang tính hiện tượng,
về hình thức ngữ pháp tục ngữ tối thiểu là một câu, còn thành ngữ chỉ là một
cụm từ. Nhƣng tác giả Cù Đình Tú ở bài báo "Góp ý kiến phân biệt tục ngữ với
thành ngữ", đăng trên tạp chí Ngôn ngữ số 2, xuất bản năm 1970 lại không hoàn
toàn thống nhất với những tiêu chí phân định trên của Nguyễn Văn Mệnh vì ông
cho rằng "Nội dung của tục ngữ và thành ngữ đều là đúc kết kinh nghiệm, là kết
tinh trí tuệ của quần chúng, đều từ sự khái quát hoá hiện thực để rút ra bản chất
quy luật mà có" [56; 39]
Tác giả Cù Đình Tú cho rằng khác nhau cơ bản giữa tục ngữ và thành ngữ là về
mặt chức năng, ông cho rằng, tục ngữ có chức năng thông báo nào đó (nhận
định, kết luận) về hiện thực khác quan, còn thành ngữ có chức năng định
danh, vì thế thành ngữ tương đương với từ còn tục ngữ là một câu hoàn chỉnh,
diễn đạt trọn vẹn một ý tƣởng. Xét về mặt kết cấu, tục ngữ có kết cấu hai trung
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên23

http://www.lrc-tnu.edu.vn


tâm, có thể chêm xen các yếu tố khác vào nhƣ các hƣ từ, còn thành ngữ có kết

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên24

http://www.lrc-tnu.edu.vn


cấu một trung tâm, và không thể chêm xen các yếu tố nào khác vào nhƣ tục
ngữ. [56; 41]
Hoàng Văn Hành trong cuốn" Thành ngữ học tiếng Việt", xuất bản năm 2004 lại
đƣa ra một tiêu chí nữa về sự khác nhau giữa tục ngữ và thành ngữ, ông cho
rằng "Thành ngữ là những tổ hợp từ đặc biệt, biểu thị những khái niệm một
cách bóng bẩy, còn tục ngữ là những câu - ngôn bản đặc biệt, biểu thị những
phán đoán một cách nghệ thuật" [23, 31], có nghĩa là xét về mặt nội dung và
cách diễn đạt của những đơn vị thành ngữ và tục ngữ, ta thấy nội dung của thành
ngữ là nội dung của những khái niệm, còn nội dung của tục ngữ là nội dung của
những phán đoán. Quan hệ giữa thành ngữ và tục ngữ và thành ngữ phản ánh
quan hệ giữa các hình thức khái niệm và phán đoán. Ví dụ: Để diễn đạt khái
niệm về sự uổng công, phí công vô ích, đƣợc khái quát qua hàng loạt các hiện
tƣợng có trong các thành ngữ nhƣ "công dã tràng", "nước đổ lá khoai", "nước
đổ đầu vịt"... đây là những hiện tƣợng riêng rẽ đƣợc nhận thức bằng những tri
giác của giác quan. Sự nhận thức ấy nhằm khẳng định một đặc điểm, một thuộc
tính của các hiện tƣợng đó, sự khẳng định ấy đƣợc thể hiện ra bằng bằng những
phán đoán mang tính quy luật "Dã tràng xe cát biển đông, nhọc lòng mà chẳng
nên công cán gì", "Nước đổ đầu vịt thì nước lại trôi đi hết", "Nước đổ lá khoai
thì nước lại trôi đi hết"...
Tuy nhiên trong thực tế sử dụng ta thấy giữa tục ngữ và thành ngữ vẫn có hiện
tƣợng trung gian. Chẳng hạn có những câu có thể dùng làm thành ngữ hay tục
ngữ đều đƣợc bằng cách thêm vào một số từ nào nhƣ: thì, mà, lại, mà lại...
Ví dụ:
- Giòn cười tươi khóc (thành ngữ)-> Giòn cười thì tươi khóc (tục ngữ)
(hiện tƣợng)

(quy luật)

- Trứng chọi đá (thành ngữ) -> Trứng mà lại chọi với đá (tục ngữ)
(hiện tƣợng)
- Khôn nhà dại chợ (thành ngữ)
chợ (tục ngữ) (hiện tƣợng)

(quy luật)
-> Khôn nhà mà dại
(quy luật)


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×