Tải bản đầy đủ

Thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại công ty cổ phần bình minh huyện mỹ đức thành phố hà nội

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
------------------------

LƢU THỊ NHUNG
Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƢỠNG LỢN NÁI SINH
SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BÌNH MINH,
HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:
Chuyên ngành:
Khoa:
Khóa học:

Chính quy
Chăn nuôi thú y
Chăn nuôi thú y
2013 - 2017


Thái Nguyên, năm 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
------------------------

LƢU THỊ NHUNG
Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƢỠNG LỢN NÁI SINH

SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BÌNH MINH,
HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:
Chuyên ngành:
Lớp:
Khoa:
Khóa học:
Giảng viên hƣớng dẫn:

Chính quy
Chăn nuôi Thú y
K45 - CNTY
Chăn nuôi Thú y
2013 - 2017
ThS. Nguyễn Thu Trang

Thái Nguyên, năm 2017


i

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, để hoàn thành khóa luận
của mình, tôi đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn, sự giúp
đỡ của các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi Thú y và Trại lợn nái ngoại Bình Minh,
Mỹ Đức - Hà Nội. Tôi cũng nhận được sự cộng tác nhiệt tình của các bạn đồng
nghiệp, sự giúp đỡ, cổ vũ, động viên của người thân trong gia đình.
Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo ThS.
Nguyễn Thu Trang đã rất tận tình và trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện thành
công khóa luận này.
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể thày cô giáo
khoa chăn nuôi thú y đã tạo điều kiện thuận lợi và cho phép tôi thực hiện khóa
luận này.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới lãnh đạo Trại lợn nái Bình
Minh, Mỹ Đức - Hà Nội chủ trang trại cùng toàn thể anh chị em công nhân
trong trang trại đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân cùng
bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ động viên tôi trong suốt thời gian hoàn thành
khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Sinh viên

Lƣu Thị Nhung


ii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Tình hình chăn nuôi của trại trong 3 năm (2014 - 2016) ................. 4
Bảng 4.1. Quy định khối lượng thức ăn chuồng bầu ...................................... 33
Bảng 4.2. Quy định khối lượng thức ăn chuồng đẻ ........................................ 34
Bảng 4.3. Tình hình đẻ của đàn lợn nái .......................................................... 35
Bảng 4.4. Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con ............................................... 35
Bảng 4.5. Một số chỉ tiêu về khối lượng lợn con ............................................ 36
Bảng 4.6. Lịch phòng bệnh trại lợn nái ........................................................... 38
Bảng 4.7. Lịch tiêm phòng vaccine trong trại ................................................. 39
Bảng 4.8. Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn con ............................................. 40
Bảng 4.9. Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái ...................... 43
Bảng 4.10. Kết quả phòng và điều trị bệnh trên đàn lợn con ......................... 45
Bảng 4.11. Kết quả thực hiện công tác khác ................................................... 49


iii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

Cs:

Cộng sự

CP:

Charoen Pokphand

G:

Gram

Kg:

Kilogam

Ml:

Mililit

Nxb:

Nhà xuất bản

STT:

Số thứ tự

TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
MMA:

Agalacti - Mastitis - Metritisa

TT:

Thể trọng

ĐVT:

Đơn vị tính


iv

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................ ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT................................................ iii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iv
Phần 1: MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề ........................................................... 1
Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ......................................................... 2
2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập ...................................................................... 2
2.1.1. Quá trình thành lập và phát triển trại chăn nuôi Bình Minh ................... 2
2.1.1.1. Quá trình thành lập ............................................................................... 2
2.1.1.2. Cơ sở vật chất của trang trại................................................................. 2
2.1.1.3. Cơ cấu tổ chức của trang trại ............................................................... 3
2.1.2. Đối tượng và kết quả sản xuất của trại .................................................... 3
2.2. Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong nước và ngoài
nước có liên quan đến nội dung chuyên đề ....................................................... 4
2.2.1. Cơ sở khoa học của chuyên đề ................................................................ 4
2.2.1.1. Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái ................................................................... 4
2.2.1.2. Kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ .................................................. 23
2.2.2. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước ................................... 26
2.2.2.1. Các nghiên cứu trong nước ................................................................ 26
2.2.2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước ...................................................... 28
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH.....30
3.1. Đối tượng ................................................................................................. 30
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... 30


v

3.3. Nội dung tiến hành ................................................................................... 30
3.4. Các chỉ tiêu và phương pháp nghiên cứu ................................................. 30
3.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi .............................................................................. 30
3.4.2. Phương pháp theo dõi ........................................................................... 30
3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu..................................................................... 31
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ........................................................ 32
4.1. Công tác chăm sóc nuôi dưỡng ................................................................ 32
4.2. Tình hình đẻ của đàn lợn nái .................................................................... 34
4.3. Số lượng và khối lượng con của các loại lợn nái ..................................... 35
4.3.1. số lượng lợn con của các loại lợn nái .................................................... 35
4.3.2. Khối lượng lợn con của các loại lợn nái ............................................... 36
4.4. Công tác phòng bệnh ................................................................................ 37
4.4.1. Vệ sinh phòng bệnh ............................................................................... 37
4.4.2. Công tác phòng và trị bệnh bằng vaccine ............................................. 39
4.5. Công tác chẩn đoán và diều trị bệnh cho lợn ........................................... 40
4.5.1. Chẩn đoán và điều trị bệnh gặp trên đàn lợn nái .................................. 40
4.5.1.1. Bệnh viêm tử cung lợn ....................................................................... 40
4.5.1.2. Bệnh viêm vú ..................................................................................... 41
4.5.1.3. Bệnh sót nhau ..................................................................................... 42
4.5.2. Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh ở lợn con ..................................... 44
4.5.2.1. Hội chứng tiêu chảy ở lợn con ........................................................... 44
4.5.2.2. Bệnh viêm phổi .................................................................................. 44
4.6. Công tác khác ........................................................................................... 45
4.6.1. Đỡ lợn đẻ ............................................................................................... 45
4.6.2. Thao tác mài nanh, bấm số tai và tiêm sắt cho lợn con ........................ 46
4.6.3. Thiến lợn đực ........................................................................................ 46
4.6.4. Phát hiện lợn nái động dục và thụ tinh nhân tạo cho lợn nái ................ 47


vi

4.6.4.1. Phát hiện động dục ............................................................................. 47
4.6.4.2. Thụ tinh nhân tạo cho lợn nái ............................................................ 48
4.6.4.3.Quy trình xuất bán lợn ........................................................................ 48
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................. 50
5.1. Kết luận .................................................................................................... 50
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 52
I. Tài liệu tiếng Việt ........................................................................................ 52
II. Tài liệu dịch ................................................................................................ 53
III. Tài liệu tiếng nước ngoài .......................................................................... 53
PHỤ LỤC


1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi gia súc, gia cầm là một ngành có truyền thống lâu đời và phổ
biến ở nước ta, đặc biệt là ngành chăn nuôi lợn đã gắn bó mật thiết với đời
sống bà con nông dân. Ngành chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong
ngành chăn nuôi gia súc trên thế giới cũng như ở Việt Nam, vì đó là nguồn
cung cấp thực phẩm có giá trị với tỷ trọng cao và chất lượng tốt cho con
người, là nguồn cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt, cung cấp nguyên
liệu cho sản xuất khí biogas làm nhiên liệu đốt và là nguồn cung cấp các sản
phẩm phụ như: lông, da, mỡ… cho ngành công nghiệp chế biến.
Để phát triển hơn nữa ngành chăn nuôi lợn ở nước ta, chăn nuôi lợn nái
là một trong những khâu quan trọng góp phần quyết định đến sự thành công.
Nâng cao chất lượng chăn nuôi lợn nái sinh sản để có đàn con nuôi thịt sinh
trưởng và phát triển tốt, cho tỷ lệ nạc cao, đây cũng chính là mắt xích quan
trọng để tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng của đàn lợn.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự phân công của khoa Chăn
Nuôi Thú y, giáo viên hướng dẫn Nguyễn Thu Trang, chúng tôi đã thực hiện
chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái sinh sản
và lợn con theo mẹ tại công ty cổ phần Bình Minh, huyện Mỹ Đức, thành
phố Hà Nội”.
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
- Nắm được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái giai đoạn đẻ và giai
đoạn nuôi con.
- Trau dồi kiến thức thực tế, kinh nghiệm chuyên môn.
- Góp phần giúp cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng chăn nuôi.


2

Phần 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1. Quá trình thành lập và phát triển trại chăn nuôi Bình Minh
2.1.1.1. Quá trình thành lập
Trang trại chăn nuôi lợn Bình Minh nằm trên địa phận xã Phù Lưu Tế,
huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Trại được thành lập năm 2008, là trại lợn
gia công của công ty chăn nuôi CP Việt Nam (Công ty TNHH Charoen
Pokphand Việt Nam). Hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở
vật chất, thuê công nhân, công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán
bộ kỹ thuật. Hiện nay, trang trại do ông Nguyễn Sỹ Bình làm chủ trại, cán bộ
kỹ thuật của công ty chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi
hoạt động của trại.
2.1.1.2. Cơ sở vật chất của trang trại
Trại lợn có khoảng 0,5 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà cho công
nhân, bếp ăn các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác
của trại.
Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng
trại cho 5400 lợn thịt bao gồm: 9 chuồng mỗi chuồng có 9 ô, 8 ô kích thước
7m × 7m/ô, 1 ô khích thức 3m × 7m/ô. Hệ thống chuồng trại cho 1200 nái bao
gồm: 6 chuồng lợn đẻ mỗi chuồng có 56 ô kích thước 2,4m × 1,6m/ô, 2
chuồng nái chửa mỗi chuồng có 560 ô kích thước 2,4m × 0,65m/ô, 3 chuồng
cách ly, 1 chuồng đực giống. Cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn
nuôi như: kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc…


3

Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn. Phía đầu chuồng là hệ
thống giàn mát, cuối chuồng có 6 quạt thông gió. Hai bên tường có dãy cửa sổ
lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,5m², cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau
40cm. Trên trần đươc lắp hệ thống chống nóng.
Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các chuồng, các khu khác đều
được đổ bê tông và có các hố sát trùng.
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan. Nước uống
cho lợn được cấp từ một bể lớn, đầu mỗi chuồng có 1 bể riêng để pha thuốc
cho lợn uống phòng khi lợn ốm. Nước tắm, nước phục vụ cho công tác khác
được bố trí từ bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa
các chuồng.
2.1.1.3. Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:
01 chủ trại.
01 quản lý trại.
03 kỹ thuật.
01 kế toán.
01 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại.
7 công nhân và 19 sinh viên thực tập.
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau ở
các khu nái, khu hậu bị, nhà bếp. Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi,
đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự
phát triển của trại.
2.1.2. Đối tượng và kết quả sản xuất của trại
- Đối tượng: lợn nái, lợn hậu bị, lợn con theo mẹ từ sơ sinh đến cai sữa.
- Trong 3 năm gần đây kết quả sản xuất của trại như sau:


4

Bảng 2.1. Tình hình chăn nuôi của trại trong 3 năm (2014 - 2016)
STT

Loại lợn

Số lƣợng (con)
2014

2015

2016

1

Lợn đực giống

15

21

24

2

Lợn nái hậu bị

59

60

159

3

Lợn nái sinh sản

1149

1150

1163

Tổng đàn

1223

1231

1346

Nhìn vào bảng 2.1 ta có thể thấy số lượng nuôi giữa các loại lợn của
trại là rất khác nhau và có sự chênh lệch rõ rệt. Số lợn con và lợn nái sinh
sản là cao nhất, vì do trang trại chỉ sản xuất lợn giống, do đó cơ cấu của trại
chủ yếu là lợn nái và lợn con theo mẹ. Số lượng lợn nái có xu hướng tăng
lên, đặc biệt lợn nái hậu bị tăng lên số lượng lớn nhằm thay thế cho các lợn
nái sinh sản không đủ tiêu chuẩn và phải loại thải. Từng lợn nái được theo
dõi tỉ mỉ, các số liệu liên quan của từng nái như số tai, ngày phối giống,
ngày đẻ dự kiến,... được ghi trên thẻ gắn tại chuồng nuôi. Số lợn đực giống
cũng tăng từ 15 con ở năm 2014 lên 24 con ở năm 2016 là do số lợn nái tăng
khiến nhu cầu về khai thác tinh dịch để phối giống cho lợn nái tăng, bên
cạnh đó là việc phải loại thải những con đực giống đã kém chất lượng khiến
công ty phải cung cấp thêm lợn đực giống cho trại.
2.2. Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong nƣớc và ngoài
nƣớc có liên quan đến nội dung chuyên đề
2.2.1. Cơ sở khoa học của chuyên đề
2.2.1.1. Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái
 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái chửa
+ Phương pháp phát hiện có chửa:
Phát hiện lợn có chửa có ý nghĩa quan trọng trong sản xuất. Nếu phân
biệt được lợn nái có chửa một cách chính xác, kịp thời ngay sau khi phối


5

giống sẽ tác động biện pháp nuôi dưỡng chăm sóc phù hợp với quy luật phát
triển của bào thai để nâng cao khả năng sinh sản cho đàn lợn nái. Còn nếu
không có chửa thì có kế hoạch phối giống kịp thời.
Thời gian có chửa của nái bình quân là 114 ngày, người ta chia thời gian
chửa thành 2 thời kỳ:
Chửa kỳ 1: là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu tiên
Chửa kỳ 2: là thời gian chửa từ ngày 85 đến khi đẻ
Có nhiều phương pháp phát hiện động dục nhưng trong thực tế thường
dung phương pháp căn cứ vào chu kỳ động dục của lợn nái: tức là sau khi
phối giống cho lợn nái 21 ngày mà lợn nái không động dục lại thì coi như lợn
nái có chửa, tuy nhiên khi chẩn đoán bằng phương pháp này cần kết hợp với
các biểu hiện bên ngoài của lợn nái sau khi phối giống: ở những lợn sau khi
phối giống có biểu hiện mệt mỏi, thích ngủ, từ kém ăn sang phàm ăn, lông da
ngày càng bóng mượt, tính tình thuần hơn, dáng đi nặng nề thì đó là những
lợn nái có chửa. Ngược lại khi quan sát thấy lợn nái sau khi ăn không chịu
nằm, tai cúp, đuôi luôn ve vẩy, âm hộ có biểu hiện hơi xung huyết thì có thể
lợn nái chưa có chửa, cần theo dõi để phối giống kịp thời và cần chú ý các
trường hợp sau xảy ra:
 Hiện tượng động dục giả: là hiện tượng những lợn nái sau khi phối
giống đã đạt kết quả nhưng vẫn có biểu hiện động dục.
 Hiện tượng chửa giả: là hiện tượng những lợn nái sau khi phối giống
không đạt kết quả nhưng không có biểu hiện động dục. Nguyên nhân của
hiện tượng này là do thể vàng buồng trứng tồn tại lâu, kìm hãm tuyến yên
tiết FSH làm cho bao noãn không phát triển và thành thục nên không có biểu
hiện động dục.
+ Quy luật sinh trưởng và phát dục của bào thai:


6

Năm 1954 G.A.Smit đã chia thời kỳ phát triển thai của lợn làm 3 giai
đoạn: giai đoạn phôi thai, tiền thai và thai. Đòng thời trên cơ sở nghiên cứu
của mình, kết hợp với các tài liệu khác Smit đã kết luận sự phát triển của các
cơ quan trong cơ thể lợn trong giai đoạn phôi thai và tiền thai không đều bằng
giai đoạn thai.
Giai đoạn phôi thai (1 - 22 ngày): đặc điểm của giai đoạn này là hợp
tử bắt đầu phân chia nhanh chóng từ một khối tế bào thành các lá phôi. Đồng
thời ở thời kỳ này nhau thai chưa hình thành, nên cơ thể mẹ chưa có sự bảo vệ
hợp tử. Phôi thai chịu tác động rất lớn của điều kiện ngoại cảnh như thức ăn
thối mốc, hư hỏng sẽ làm cho thai trúng độc và chết, hoặc thức ăn có giá trị
dinh dưỡng không đầy đủ, như thiếu một loại vitamin nào đó cũng có thể làm
cho bộ phận trứng đã thụ tinh đình trệ phát triển và chết. Cho nên ở giai đoạn
này phải chú ý khâu chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý đầy đủ, khoa học.
Giai đoạn tiền thai (23 - 38 ngày): ở giai đoạn này bắt đầu hình thành
các cơ quan bộ phận của cơ thể. Từ các lá phôi ngoài hình thành nên ống
thần kinh đầu, lưng, tai, mắt và thần kinh ngoại biên của đầu. Từ các lá phôi
trong entoderma hình thành nên ống tiêu hóa và ruột, những nhánh lồi của
nó tạo thành gan và phổi. Từ các lá phôi giữa mesoderma hình thành thận,
phần lớn bộ xương và cơ quan sinh dục. Thời kỳ này nhau thai đã được hình
thành, nên đã có sự liên hệ giữa cơ thể mẹ và con, lợn mẹ đã có thể bảo vệ
được cho phôi thai.
Giai đoạn thai nhi (ngày thứ 39 - đẻ): đây là giai đoạn bào thai phát
triển nhanh nhất về thể tích và khối lượng, hình thành đầy đủ các cơ quan bộ
phận và hình thành đầy đủ đặc điểm của giống. Theo các công trình nghiên
cứu cho thấy, khối lượng thai nhi lúc sơ sinh lớn gấp 2 lần khối lượng bào
thai lúc 3 tháng. Thành phần hóa học của bào thai lợn cũng có sự thay đổi
đáng kể theo sự tăng lên của tuổi. Tỷ lệ nước có xu hướng giảm dần, trong


7

khi đó các thành phần như lipit, protit và khoáng có xu hướng tăng lên. Vì
vậy nuôi dưỡng lợn nái ở thời kỳ cuối rất quan trọng, nó quyết định khối
lượng sơ sinh.
+ Những biến đổi của cơ thể mẹ trong thời gian có chửa:
Trong quá trình có chửa lợn mẹ không động dục, quá trình đồng hóa
chiếm ưu thế hơn so với quá trình dị hóa.
Quá trình trao đổi nhiệt của cơ thể lợn mẹ trong thời gian mang thai tăng
lên. Đồng thời với quá trình trao đổi nhiệt là sự tích lũy các chất dinh dưỡng
trong cơ thể lợn mẹ tăng dần.
Điều kiện ngoại cảnh có ảnh hưởng rất lớn đến cơ thể lợn nái có chửa
như nhiệt độ, ánh sáng, thời tiết khí hậu, chăm sóc nuôi dưỡng, mức độ dinh
dưỡng... cường độ và thời gian tác động của mỗi yếu tố nêu trên sẽ phản ánh
lên các quá trình diễn ra trên cơ thể mẹ và cơ thể phôi thai trong tất cả các giai
đoạn phát triển của nó.
+ Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn nái có chửa:
Việc chăm sóc lợn nái mang thai rất quan trọng đối với sự thành công
của người chăn nuôi. Cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho lợn nái có chửa
để đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển của bào thai, nhu cầu duy trì của bản
thân lợn mẹ và tích lũy một phần cho sự tiết sữa nuôi con sau này. Riêng đối
với nái hậu bị còn cần thêm dinh dưỡng cho bản thân tiếp tục lớn.
Giai đoạn chửa kỳ 1: thời kỳ này phôi và thai còn nhỏ, sử dụng ít chất
trong máu của mẹ, dưỡng chất còn lại nái dùng để dự trữ tạo sữa sau này.
Thiếu chất dinh dưỡng trong giai đoạn này có ảnh hưởng xấu đến sự phát
triển của phôi thai như: hiện tượng tiêu phôi, nái còn ít thai sống, khi đẻ ra
chứa nhiều phôi thai khô. Thừa chất dinh dưỡng cũng dẫn đến hiện tượng tiêu
phôi và làm nái trở lên mập mỡ. Dùng khẩu phần có tỷ lệ protein là 13 - 14%,
năng lượng trao đổi không dưới 2900 kcal/kg thức ăn hỗn hợp.


8

Giai đoạn chửa kỳ 2: đây là giai đoạn thai lớn sử dụng nhiều dưỡng chất
trong máu mẹ để phát triển, do vậy việc bổ sung dưỡng chất đầy đủ trong giai
đoạn này rất quan trọng. Khác với chửa kỳ 1, thời kỳ này cần cho nái vận
động để có hệ cơ tốt, chân khỏe, khung xương chậu mở rộng (đối với nái đẻ
lứa đầu). Thời kỳ này tầm vóc nái nặng nề nên chuồng trại phải khô, tránh
mưa, gió lùa, mật độ phù hợp, theo dõi kỹ bộ vú và bộ phận sinh dục, chuẩn
bị chuồng đẻ. Khẩu phần của thời kỳ này giống chửa kỳ 1 nhưng mức ăn tăng
lên từ 15 - 20%.
Khi xác định lượng thức ăn cho lợn nái chửa/ngày chúng ta cần chú ý
đến các yếu tố sau: giống và khối lượng cơ thể lợn nái, giai đoạn chửa, tình
trạng sức khỏe lợn nái, nhiệt độ môi trường và chất lượng thức ăn. Ví dụ nái
chửa kỳ 2 cho ăn nhiều hơn nái chửa kỳ 1, lợn nái gầy cho ăn nhiều hơn nái
bình thường, mùa đông khi nhiệt độ xuống dưới 15oC thì cho lợn ăn nhiều
hơn 0,3 - 0,5 kg thức ăn so với nhiệt độ 25 - 30oC để tăng khả năng chống rét
cho lợn.
Đối với lợn nái tơ chửa lần đầu, có thể ăn tăng hơn từ 10 - 15% vì ngoài
cung cấp chất dinh dưỡng để nuôi thai còn cần cho sự phát triển của cơ thể
lợn mẹ.
Thức ăn của lợn nái chửa yêu cầu nhiều thành phần, mùi vị phải thơm
ngon, không bị thối mốc hư hỏng, thức ăn có phẩm chất tốt.
Trước khi lợn nái đẻ cần giảm số lượng thức ăn, nhưng cần duy trì đầy
đủ các chất dinh dưỡng bằng cách cho ăn các loại thức ăn có giá trị dinh
dưỡng cao.
Không cho lợn nái có chửa ăn các loại thức ăn có chất độc, thức ăn bị ôi,
các chất kích thích dễ gây sảy thai.
Không cho lợn nái ăn quá nhiều thức ăn vào 35 ngày đầu sau khi phối
giống có chửa.


9

+ Công tác thú y đối với nái chửa:
Từ 3 - 5 ngày trước ngày đẻ dự kiến, chuồng đẻ cần cọ rửa sạch phun
thuốc sát trùng Crezin 5% hoặc bằng các loại thuốc sát trùng khác nhằm tiêu
độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ.
Trước khi đẻ 10 ngày cần tẩy nội ngoại ký sinh trùng.
Hàng ngày quan sát phát hiện những biểu hiện không bình thường của
lợn, kiểm tra sức khỏe, đo thân nhiệt xem lợn có sốt nóng không.
Công tác tiêm phòng:
Tiêm phòng định kỳ các loại vaccine dịch tả, tụ - dấu, lepto 2 lần/nái/năm.
Chú ý không tiêm phòng cho lợn nái những loại vaccine trên khi lợn nái mang
thai ở giai đoạn sau 60 ngày phối giống (trừ trường hợp có dịch xảy ra).
Cần tiêm vaccine E. coli cho lợn nái chửa vào lúc 6 tuần và 2 tuần trước
khi đẻ, liều lượng: 2 ml/con, tiêm bắp.
- Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn nái đẻ
- Kỹ thuật đỡ đẻ cho lợn:
Công tác chuẩn bị trước khi đỡ đẻ cho lợn:
Căn cứ vào lịch phối giống để dự kiến ngày đẻ của lợn một cách chính
xác, để phân công người trực đẻ, theo dõi đỡ đẻ cho lợn và can thiệp kịp thời
khi cần thiết, tránh những trường hợp đáng tiếc có thể xảy ra.
+ Chuẩn bị chuồng cho lợn nái đẻ:
Trước khi lợn đẻ 10 - 15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ, tẩy rửa vệ
sinh khử trùng toàn bộ chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và
lợn mẹ. Yêu cầu chuồng phải khô ráo, thoáng mát sạch sẽ, có đầy đủ ánh
sáng. Sau khi vệ sinh và tiêu độc để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi cho
lợn nái vào đẻ.
Trước khi đẻ một tuần cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ. Lợn nái được lau rửa
đất hoặc phân dính trên người, dùng khăn thấm nước, xà phòng lau sạch bầu vú


10

và âm hộ. Làm như vậy tránh nguy cơ lợn con mới sinh nhiễm khuẩn do tiếp
xúc trực tiếp với lợn mẹ có chứa vi khuẩn gây bệnh. Sau khi vệ sinh cho lợn
nái chúng ta chuyển lợn nái sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới.
+ Chuẩn bị ô úm lợn con: ô úm có ý nghĩa rất quan trọng đối với lợn
con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết con, đặc biệt là những ngày
mới sinh lợn con còn yếu, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe chưa hồi phục. Ô
úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt thích hợp.
Vào những ngày dự kiến đẻ cần chuẩn bị xong ô úm của lợn con, kích
thước ô úm: 1,2 - 1,5m. Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống
từ 3 - 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh.
+ Chuẩn bị dụng cụ
Cần chuẩn bị đầy đủ các loại dụng cụ sau: dao, kéo, cồn sát trùng, kìm
bấm nanh, kìm bấm số tai, cân để cân khối lượng sơ sinh, khăn mặt hoặc vải
màn, đèn thắp sáng, khay dựng dụng cụ, xô chậu đựng nước, sổ sách, các loại
thuốc như thuốc trợ đẻ, thuốc trợ sức, thuốc kháng sinh...
- Trực và đỡ đẻ cho lợn
Trực đẻ rất cần thiết có thể hỗ trợ lợn nái trong những trường hợp bất
thường. Quan sát sát biểu hiện của lợn nái khi sắp đẻ, để có kế hoạch trực đẻ
và đỡ đẻ cho lợn nái.
Những biểu hiện khi lợn nái sắp đẻ:
Khi lợn nái sắp đẻ bụng đặc biệt to, khi lợn nằm thai cử động nhiều.
Trước khi đẻ 20 ngày, bầu vú to dần, đến lúc sắp đẻ thì bầu vú căng và hướng
ra ngoài có màu đỏ hồng. Trước khi đẻ 3 - 5 ngày bầu vú bắt đầu cứng. Trước
khi đẻ 1 - 2 ngày nếu vắt thấy có sữa, bộ phận sinh dục bên ngoài dãn lỏng, 2
bên gốc đuôi lõm xuống. Khi thấy lợn có biểu hiện bắt đầu cắn ổ, đi lại không
yên, có hiện tượng đái són là lúc lợn sắp đẻ: 10 giờ (đối với lợn chửa lứa đầu)


11

và 5 - 6 giờ đối với lợn đẻ nhiều lứa. Khi lợn tìm chỗ nằm, âm hộ chảy nước
nhờn là lợn bắt đầu đẻ, cần bố trí theo dõi đỡ đẻ kịp thời.
Những biểu hiện khi lợn đẻ:
Khi lợn đẻ toàn thân co bóp, lúc này áp lực bên trong tăng cao đẩy thai
ra ngoài. Khi thai ra rốn tự đứt, lợn là loài đa thai nhưng lợn đẻ từng con một,
cách khoảng 10 - 15 hoặc 20 phút đẻ 1 con. Thời gian đẻ của lợn trung bình
kéo dài từ 1 - 6 giờ, nếu quá 6 giờ mà thai chưa ra thì xem xét tác động ngay.
Khi lợn đẻ, lợn con tự làm rách nhau thai để ra, nhưng cũng có khi cả
màng thai và lợn con ra cùng một lúc, gọi là hiện tượng đẻ bọc, lúc này cần
nhanh chóng xé bọc tách màng thai ra tránh hiện tượng lợn con bị ngạt. Lợn
đẻ ở trạng thái bình thường là đầu ra trước cùng với 2 chân trước úp xuống
hoặc ngửa lên.
Khi lợn nái đẻ hay nằm, nhưng cá biệt có con đứng và đi lại, trong
trường hợp này cần tác động cho lợn nằm xuống như có thể xoa nhẹ vào
mông, bụng để lợn nằm xuống đẻ.
- Kỹ thuật đỡ đẻ và chăm sóc lợn con khi sinh ra
Sau khi đẻ lợn sơ sinh được xách dốc ngược đầu cho nước nhờn trong
xoang miệng và mũi chảy ra ngoài, không chảy ngược vào khí quản gây
nghẽn đường thở. Việc sách dốc ngược cũng giúp máu dồn về não nhờ đó não
không bị liệt. Nên nắm chặt cuống rốn, tránh chảy máu khi cuống rốn đứt rời
cuống nhau, nên quan sát kỹ để phát hiện lợn con bị ngạt như da tím tái, dãn
cơ, heo mền nhũn không cử động. Gặp trường hợp này nhanh chóng dùng
khăn lau móc nhớt trong xoang miệng, mở rộng miệng và dùng tay bóp lồng
ngực 60 lần/phút để tạo sự thông phổi. Có thể tác động như thế trong vòng 15
- 20 phút kết hợp với việc lau.
Khi thấy lợn con bắt đầu cử động tiến hành lau chất nhày toàn thân, cột
rốn cách thành bụng 4cm và cắt rốn cách chỗ buộc 1cm. Chỉ cột rốn và kéo


12

cắt rốn được sát trùng cẩn thận. Sau khi cắt rốn kiểm tra lại xem rốn có bị rỉ
máu vì cột không chặt, nhúng rốn vào dung dịch cồn Iốt 5% để sát trùng. Lợn
sơ sinh được cắt bỏ 8 răng nhằm tránh đau bú mẹ khi bú.
Nên úm lợn con nếu nhiệt độ bên ngoài lạnh nhằm tránh tình trạng lợn
con tiêu hao năng lượng để chống lạnh, nhiệt độ úm khoảng 30 - 33oC, nên
cho lợn con bú ngay khi chúng ủi nhau tìm sữa vì đói.
Lau sạch vú bằng thuốc sát trùng trước khi cho lợn con bú. Làm vệ sinh
chuồng trại kỹ lưỡng khi lợn nái đẻ xong, lợn nái cần giữ cho thoáng mát,
tránh nóng, tránh lạnh, tránh gió lùa mưa tạt.
Phải cho tất cả lợn con được bú sữa đầu vì sữa đầu chỉ sản xuất trong
khoảng 24 giờ sau khi đẻ và lợn con chỉ hấp thu sữa đầu tốt nhất trong 24 giờ
sau sinh.
Cắt đuôi cho lợn con trong vòng 24 giờ sau sinh để giảm stress cho lợn
con. Sử dụng kéo bấm đã được sát trùng để cắt đuôi cho lợn con cách khớp
nối với cơ thể 2,5cm, bôi thuốc sát trùng vào vết thương. Đuôi sẽ lành trong
vòng 7 - 10 ngày, cắt đuôi quá ngắn hay quá đài đều không tốt.
Bấm số tai: là phương pháp thông dụng để đánh dấu trong việc theo dõi
quản lý đàn lợn vĩnh viễn.
Cân khối lượng sơ sinh và ghi chép sổ sách cẩn thận.
 Xử lý những trường hợp những trường hợp bất thường khi lợn nái đẻ:
 Các biện pháp can thiệp khi lợn đẻ khó
Các nguyên nhân đẻ khó có thể do: chuồng chật, lợn mẹ thiếu vận động
hoặc xương chậu của lợn hẹp, lợn mẹ quá béo do ăn quá nhiều tinh bột, thiếu
Ca, P; lợn nái già nên khi đẻ co bóp của cơ yếu, không đủ sức đẩy thai ra.
Cũng có thể là thai quá to ngôi thai không thuận, hoặc thai chết.
Những trường hợp này thường có biểu hiện: nước ối có màu đỏ, sau 2 - 3
giờ rặn đẻ mà thai không ra, thai ra nửa chừng không ra hết vì con to, thai ra 1


13

- 2 con sau đó không ra được vì lợn mẹ yếu, trong trường hợp lợn đẻ lâu tức
là thời gian đẻ dài nên cho lợn mẹ uống nước ấm pha với muối, đồng thời
dùng tay hỗ trợ các động tác đỡ đẻ. Hoặc có thể dùng lợn con đẻ trước cho
vào bú lợn mẹ để kích thích lợn mẹ đẻ.
Nếu can thiệp bằng các biện pháp trên không được thì ta có thể tiêm
oxytocin cho lợn nái, chú ý không tiêm oxytocin khi cổ tử cung chưa mở.
Trong trường hợp quan sát thấy lợn nái rặn nhiều lần kèm theo co chân mà
không đẻ được thì phải can thiệp bằng tay, chú ý phải vệ sinh cẩn thận khi
thao tác.
 Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn nái đẻ
Thức ăn dùng trong giai đoạn này là thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao,
dễ tiêu hóa, không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai
sinh ra đẻ non, đẻ khó hoặc ép thai chết ngạt.
Một tuần trước khi đẻ phải căn cứ vào tình hình sức khỏe của lợn nái để
có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn.
Những ngày lợn nái đẻ phải căn cứ vào tình hình sức khỏe của lợn nái,
sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ nuôi dưỡng hợp lý.
 Xử lý một số trường hợp sau khi lợn nái đẻ
Theo trung tâm Chẩn đoán và cố vấn thú y (2010) [16] hội chứng viêm
tử cung - viêm vú - mất sữa (MMA: Agalacti - Mastitis - Metritisa) là một hội
chứng phức hợp các căn nguyên bệnh trên lợn nái, bệnh thường xảy ra trong
giai đoạn lợn nái trước và sau khi đẻ. Giống tên gọi của nó, hội chứng bao
gồm hiện tượng viêm vú trên lợn nái (trong giai đoạn trước khi đẻ), bệnh
viêm tử cung ở lợn nái (trong giai đoạn sau đẻ khoảng 1 tuần), hiện tượng mất
sữa ở lợn nái (trong giai đoạn lợn nái nuôi con). Hội chứng này nằm trong
nhóm bệnh do quản lý, bởi vậy, ta hoàn toàn có thể khống chế được.


14

triệu chứng lâm sàng và điển hình của lợn nái mắc hội chứng MMA là:
sốt, kém ăn, mệt mỏi, dịch viêm tử cung, không cho con bú, viêm sưng vú...
Số lượng hồng cầu, thể tích hồng cầu, nồng độ huyết sắc tố và huyết sắc tố
trong 1 hồng cầu của lợn mắc hội chứng MMA đều cao hơn các chỉ tiêu ở lợn
bình thường.
- Bệnh viêm tử cung
 Nguyên nhân bệnh viêm tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs. (2002) [6], viêm tử cung là một quá trình
bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ. Quá trình viêm phá huỷ
các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia
súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái.
Theo các tác giả Nguyễn Xuân Bình (2000) [1], Phạm Sỹ Lăng và cs.
2002 [9], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:
+ Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng
phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn
tinh không được vô trùng nên khi phối giống vi khuẩn có thể từ ngoài vào tử
cung lợn nái gây viêm.
+ Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật
hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm
đạo truyền sang cho lợn khoẻ.
+ Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc
tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát.
+ Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm
tử cung.
+ Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sảy thai truyền nhiễm,
Phó thương hàn, bệnh Lao… gây viêm.
+ Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻ


15

không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để
xâm nhập vào gây viêm.
Theo Đoàn Kim Dung và cs. 2002 [5] cho biết, nguyên nhân gây viêm tử
cung là do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), Liên cầu dung huyết
(Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E. coli….
Theo Lê Văn Năm và cs. (1999) [11] cho rằng, có rất nhiều nguyên nhân
từ ngoại cảnh gây bệnh như: do thức ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiệp đỡ đẻ
bằng dụng cụ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuật dẫn đến Muxin của chất nhày
các cơ quan sinh dục bị phá hủy hoặc kết tủa, kết hợp với việc chăm sóc nuôi
dưỡng bất hợp lý và thiếu vận động đã làm chậm quá trình thu teo sinh lý của
dạ con (trong điều kiện cai sữa bình thường dạ con trở về khối lượng kích
thước ban đầu khoảng 3 tuần sau đẻ). Đây là điều kiện tốt để vi khuẩn xâm
nhập vào tử cung gây bệnh. Biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập
vào dạ con gây lên trong thời gian động đực (vì lúc đó tử cung mở) và do thụ
tinh nhân tạo sai kỹ thuật.
Bệnh còn xảy ra do thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý: khẩu phần thiếu
hay thừa protein, trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử cung.
Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột gây đẻ khó, viêm tử cung do xây xát.
Khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng đến viêm tử cung.
 Triệu chứng bệnh viêm tử cung:
Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4 - 5 ngày, cá biệt
tới 6 - 7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sang
vàng hay trắng và trong. Trong trường hợp viêm thì sản dịch có thể có màu
đen hôi thối, mùi tanh rất khó chịu.
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:
+ Thể cấp tính: con vật sốt 41 - 42oC, trong vài ngày đầu âm môn sưng
tấy đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục đôi khi có máu lờ lờ.


16

+ Thể mãn tính: không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch
nhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ chảy
ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần. Lợn nái thường thụ tinh không có kết quả
hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo
tử cung lan sang thai làm chết thai.
 Hậu quả của bệnh viêm tử cung
Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh
dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh
hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển
của lợn con.
Theo Trần Tiến Dũng và cs. (2002) [6], Trần Thị Dân (2004) [3], khi lợn
nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:
+ Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai.
+ Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu.
+ Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong
giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy.
+ Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại.
+ Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi
sinh đẻ.
 Chẩn đoán lâm sàng bệnh viêm tử cung
Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiện
vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động đực, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên
dịch viêm có thể chảy ra ngoài. Số lượng mủ không ổn định, từ vài ml cho tới
200 ml hoặc hơn nữa. Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu
trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu máu cá.
Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính,
viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa. Hiện tượng chảy mủ
ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung.


17

Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy
ra thì có thể là do viêm bàng quang. Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thì có
thể bị nhầm lẫn.
Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối.
Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ
nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục. Mặt
khác nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho
chính xác.
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ
ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái. Để hạn chế tối thiểu
hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viên từ
đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất,
thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất.
- Bệnh viêm vú
 Nguyên nhân gây bệnh viêm vú
Theo Trần Minh Châu (1996) [2] cho biết, khi lợn nái đẻ nếu nuôi không
đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn
đường ruột xâm nhập gây viêm vú. Một trong những nguyên nhân chính gây
ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm
khẩu phần thức ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra
quá nhiều gây tắc sữa. Sau vài ngày đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là
môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập và gây viêm.
+ Do kế phát từ một số bệnh: sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau đẻ,
viêm bàng quang… khi lợn nái bị những bệnh này vi khuẩn theo máu về
tuyến vú cư trú tại đây và gây bệnh.
+ Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết hoặc lợn nái cho con bú một
hàng vú, hàng vú còn lại căng sữa. Lợn con bú làm xây xát bầu vú hoặc lợn


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×