Tải bản đầy đủ

Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế trong điều kiện tự khai, tự nộp thuế trên địa bàn cục thuế Hà Nội.doc

Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
LỜI MỞ ĐẦU
Đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước là nhiệm vụ trọng tâm
của ngành Thuế. Tuy nhiên, làm thế nào để người nộp thuế bỏ ra một đồng
tiền thuế một cách tự nguyện là một công việc hết sức khó khăn. Đặc biệt,
trong thời đại ngày nay khi hội nhập kinh tế thế giới đang là xu hướng của
hầu hết các quốc gia trên thế giới. Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên thứ
150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã kéo theo nhiều tác động đến
nền kinh tế. Số lượng doanh nghiệp tăng lên nhanh chóng, đồng thời quy mô,
hình thức, cách thức hoạt động của các doanh nghiệp cũng đa dạng và phức
tạp hơn trước thì cơ chế quản lý cũ đã không còn phù hợp, đòi hỏi phải
chuyển sang cơ chế quản lý mới, tiên tiến hơn mà đa số các nước trên thế giới
đã áp dụng, đó là cơ chế người nộp thuế tự khai, tự nộp thuế. Do đó, để đảm
bảo hiệu quả của cơ chế tự khai, tự nộp thuế, phục vụ đắc lực cho công cuộc
hiện đại hóa ngành Thuế thì công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế luôn
được ngành Thuế đặt lên hàng đầu.
Tuyên truyền, hỗ trợ không chỉ nhằm giúp cho cộng đồng hiểu được
bản chất tốt đẹp của tiền thuế, hiểu về các chính sách thuế mà còn tạo điều
kiện thuận lợi để người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế của mình, nâng cao
ý thức tuân thủ pháp luật thuế. Có thể nói bộ phận tuyên truyền, hỗ trợ người
nộp thuế chính là bộ mặt của ngành Thuế. Công tác tuyên truyền, hỗ trợ

người nộp thuế theo mô hình quản lý mới là hoạt động khá mới ở Việt Nam,
bởi vậy không thể tránh khỏi những tồn tại, hạn chế.
Trong quá trình thực tập tại Cục thuế Thành phố Hà Nội, nhận thức
được vấn đề trên cùng kiến thức đã học ở trường, sự giúp đỡ tận tình của các
thầy cô giáo và các cán bộ của Cục thuế Thành phố Hà Nội, đặc biệt là các cô
chú, anh chị tại phòng Tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế - Cục thuế Hà
Nội, em đã đi sâu nghiên cứu và lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp góp
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
1
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
phần nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế
trong điều kiện tự khai, tự nộp thuế trên địa bàn cục thuế Hà Nội”.
Mục đích của đề tài là nghiên cứu thực trạng công tác tuyên truyền, hỗ
trợ người nộp thuế ở cục thuế Hà Nội trong giai đoạn từ 2006 - 2010. Từ đó,
đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, hỗ
trợ người nộp thuế trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Bố cục đề tài gồm 3 phần:
Chương 1: Cơ chế tự khai, tự nộp thuế và công tác tuyên truyền, hỗ
trợ người nộp thuế.
Chương 2: Thực trạng công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp
thuế trên địa bàn thành phố Hà Nội trong những năm gần đây.
Chương 3: Một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác
tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Với kiến thức lý luận và thực tiễn còn hạn chế nên trong quá trình
nghiên cứu không tránh khỏi những khiếm khuyết trong nội dung. Em kính
mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo, các cán bộ thuế và
bạn đọc để bài viết được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các cô, chú, anh, chị đang
công tác tại Phòng tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế - Cục Thuế Hà Nội
và sự tận tình chỉ bảo của cô giáo, Ths Nguyễn Thị Minh Hằng tạo điều
kiện thuận lợi cho em hoàn thành bài luận văn này.
Hà Nội, tháng 04 năm 2011
Sinh viên
Nguyễn Hải Linh
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
2
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
Chương 1:
CƠ CHẾ TỰ KHAI, TỰ NỘP THUẾ VÀ CÔNG TÁC
TUYÊN TRUYỀN HỖ TRỢ NGƯỜI NỘP THUẾ
1.1. Những vấn đề cơ bản về cơ chế tự khai, tự nộp thuế
1.1.1. Khái niệm về cơ chế tự khai, tự nộp thuế
Trong bất cứ xã hội nào thuế luôn là công cụ quan trọng để đáp ứng
nhu cầu chi tiêu vào các mục đích kinh tế - xã hội và chi tiêu cho bộ máy Nhà
nước. NNT có trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước theo
các quy định của pháp luật, còn cơ quan thuế có trách nhiệm thu tiền thuế vào
NSNN. Trên cơ sở này đã hình thành mối quan hệ quản lý, trong đó trách
nhiệm, quyền hạn giữa NNT và cơ quan thuế luôn có mối liên hệ chặt chẽ dựa
trên cách thức tổ chức thực hiện, hoạt động này gọi là cơ chế quản lý thuế.
Trên thế giới có hai cơ chế quản lý thuế chính: cơ chế cơ quan thuế tính
thuế (còn gọi là cơ chế thông báo thuế) và cơ chế NNT tự tính thuế hay còn
gọi là cơ chế TKTN.
Theo cơ chế cơ quan thuế tính thuế, cán bộ thuế phải kiểm tra tất cả các
tờ khai thuế, các khoản thu dựa trên những số liệu mà cơ quan thuế có được
để xác định số thuế chính thức phải nộp và ra thông báo thuế cho NNT. Cơ
chế này thể hiện sự không tin tưởng hoặc ít tin tưởng của cơ quan thuế đối với
NNT. Cách thức quản lý này mang tính áp đặt, nặng về sử dụng quyền lực
của cơ quan thuế đối với NNT. Việc cơ quan thuế tính thuế thường gây ra
nhiều tranh cãi, bất đồng giữa cơ quan quản lý và NNT về cách thức xác định
số thuế phải nộp. NNT phải chờ đợi cơ quan thuế tính thuế và ra thông báo
thuế mới có thể nộp thuế, làm ảnh hưởng đến tiến độ thu thuế. Việc xác định
số thuế phải nộp trở thành trách nhiệm pháp lý của cơ quan thuế. Hơn nữa,
với sự gia tăng số lượng của NNT ngày càng nhanh, việc thực hiện quản lý
theo cơ chế này đòi hỏi nguồn nhân lực của cơ quan thuế phải tăng lên tương
ứng, dẫn đến chi phí quản lý rất cao. Do vậy, hầu hết các nước trên thế giới
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
3
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
không còn áp dụng cơ chế cơ quan thuế tính thuế mà chuyển sang cơ chế
TKTN thuế.
Cơ chế TKTN thuế là cơ chế quản lý trong đó NNT tự giác tuân thủ thực
hiện các nghĩa vụ thuế: NNT căn cứ các quy định tại các Luật thuế để xác định
nghĩa vụ thuế của mình, kê khai chính xác, nộp tờ khai thuế và nộp thuế đúng
thời hạn. Cơ quan thuế không can thiệp vào việc thực hiện nghĩa vụ của NNT
nếu NNT tự giác tuân thủ nghĩa vụ. Cơ quan thuế có trách nhiệm tuyên truyền,
hỗ trợ, hướng dẫn để NNT hiểu rõ và tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế, đồng thời
giám sát chặt chẽ việc tuân thủ nghĩa vụ thuế của NNT và thông qua công tác
thanh tra, kiểm tra chủ yếu dựa trên kỹ thuật quản lý rủi ro để phát hiện, xử lý
kịp thời, đúng đắn các hành vi gian lận, trốn thuế của NNT.
Như vậy, thực hiện cơ chế TKTN thuế không có nghĩa là cơ quan thuế
buông lỏng quản lý, giám sát NNT mà cơ quan thuế thực hiện giám sát chặt
chẽ hơn với phương pháp hiệu quả hơn. Cơ chế này giúp tạo được sự cân bằng
giữa hai chức năng của cơ quan thuế là chức năng phục vụ và chức năng giám
sát, kiểm tra hoạt động tuân thủ nghĩa vụ thuế đối với NNT. Nói cách khác, cơ
chế này giúp tạo nên sự kết hợp hài hoà vai trò của cơ quan thuế như một cơ
quan công quyền thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về thuế với vai trò của
một cơ quan cung cấp dịch vụ thuế cho cộng đồng doanh nghiệp và xã hội.
1.1.2. Các điều kiện cần thiết để thực hiện cơ chế tự khai tự nộp thuế
Cơ chế TKTN thuế là cơ chế quản lý thuế được thực hiện trên nền tảng
sự tuân thủ tự giác về nghĩa vụ thuế của NNT. Nhiệm vụ chủ yếu của cơ quan
thuế lúc này là tập trung nguồn lực để hỗ trợ, hướng dẫn và giám sát NNT
trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế thông qua công tác thanh tra, kiểm tra thuế.
Như vậy, có thể thấy việc chuyển sang áp dụng cơ chế TKTN thuế ở các nước
trên thế giới là đều nhằm mục tiêu quản lý thuế hiệu quả. Tuy nhiên, để có thể
mang lại hiệu quả trong việc thực hiện cơ chế này thì đòi hỏi phải có đầy đủ
và đồng bộ nhiều yếu tố về xã hội, NNT và cơ quan thuế. Trong đó phải kể
đến những điều kiện tiên quyết sau:
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
4
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
* Về phía người nộp thuế
NNT phải có được hiểu biết cơ bản về nghĩa vụ thuế và có ý thức tự
giác tuân thủ nghĩa vụ thuế. Để có thể tự tính thuế, tự thực hiện nghĩa vụ kê
khai và nộp thuế thì trước hết NNT phải nắm được là mình phải nộp những
loại thuế nào, tính toán ra sao, rồi thời hạn kê khai và nộp thuế. Muốn vậy,
NNT phải nắm được các quy định pháp lý về thuế và phải thường xuyên cập
nhật về những thay đổi trong chính sách thuế. Trên cơ sở đó, NNT tự giác
chấp hành các quy định trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của mình và lên án
những hành vi gian lận, trốn thuế góp phần vào thành công của việc thực hiện
cơ chế TKTN.
Bên cạnh đó, các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm
cung cấp đầy đủ, chính xác những thông tin có liên quan đến việc xác định
nghĩa vụ thuế của NNT. Có như thế, cơ quan thuế và NNT mới giảm thiểu
được chi phí trong việc quản lý cũng như trong việc chấp hành nghĩa vụ thuế,
góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội.
* Về phía cơ quan thuế
Cơ quan thuế cùng với các cơ quan chức năng khác sửa đổi, bổ sung và
ban hành các chính sách thuế phải rõ ràng, dễ hiểu và dễ thực hiện như: giảm
bớt mức thuế suất thuế giá trị gia tăng, giảm các trường hợp miễn giảm trong
thuế thu nhập doanh nghiệp, các quy định về kê khai, nộp thuế thuận lợi, phù
hợp với điều kiện kinh doanh của NNT. Đồng thời, đơn giản hoá các thủ tục
về thuế như thủ tục đăng ký thuế, kê khai, nộp thuế, hoàn thuế nhằm mục tiêu
tạo điều kiện thuận lợi tối đa và giảm chi phí tuân thủ cho NNT góp phần
khuyến khích NNT tự giác chấp hành nghĩa vụ thuế.
Việc chuyển sang cơ chế TKTN cũng có nghĩa là phải chuyển đổi bộ
máy quản lý thuế ở các cấp từ việc quản lý theo sắc thuế sang tổ chức tập
trung theo các chức năng: tuyên truyền, hỗ trợ NNT; theo dõi, xử lý tờ khai
thuế; đôn đốc thu nợ và cưỡng chế thuế; kiểm tra, thanh tra thuế. Để có thể
thực hiện tốt cơ chế TKTN thì đòi hỏi từng bộ phận, từng phòng, ban trong cơ
quan thuế các cấp phải thực hiện tốt các chức năng trên.
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
5
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
- Chức năng tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế
Sự thành công của cơ chế TKTN gắn liền với việc NNT nhận được đầy
đủ thông tin cần thiết để thực hiện nghĩa vụ thuế hay hệ thống dịch vụ hỗ trợ
NNT toàn diện, có chất lượng. Do vậy, cơ quan thuế phải thay đổi quan điểm
quản lý, phải coi NNT là khách hàng mà mình phục vụ, chủ động khảo sát
nhu cầu của NNT và chủ động cung cấp thông tin về pháp luật thuế với mục
tiêu để NNT làm đúng ngay từ đầu. Muốn thế, công tác tuyên truyền, hỗ trợ
phải đảm bảo sự thống nhất về nội dung, cách thức hỗ trợ trong cả nước. Việc
cung cấp thông tin cho NNT phải đáp ứng được yêu cầu: chính xác, dễ hiểu,
công bằng, đúng lúc, thuận tiện nhất cho NNT. Cơ quan thuế thực hiện việc
phát miễn phí các tài liệu, sách hướng dẫn về các thủ tục kê khai, nộp thuế
giúp cho NNT có thể tự tính toán, tự kê khai và nộp thuế đúng theo các quy
định trong pháp luật về thuế. Đồng thời, để tăng cường công tác hỗ trợ, cần
phải xây dựng được các tiêu chuẩn phục vụ NNT ví dụ như tiêu chuẩn về thời
gian trả lời điện thoại, thời gian trả lời bằng văn bản.
- Công tác xử lý tờ khai, kế toán thuế
Trong cơ chế TKTN, công tác xử lý tờ khai, chứng từ nộp thuế và kế
toán thuế phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
+ Cơ quan thuế phải tổ chức tiếp nhận và xử lý các tờ khai thuế nhanh
chóng, chính xác với sự trợ giúp hiệu quả của hệ thống công nghệ thông tin,
đảm bảo chi phí nguồn lực thấp nhất, không gây phiền hà cho NNT.
+ Thu thập được dữ liệu để theo dõi tình hình thực hiện và cung cấp
thông tin cho các khâu quản lý tiếp theo: phải theo dõi được tờ khai thuế của
NNT từ tờ khai đầu tiên, qua các tờ khai điều chỉnh (nếu có) đến các tờ khai
cuối cùng, các lỗi NNT đã mắc. Qua đó, cơ quan thuế đưa ra các biện pháp xử
lý phù hợp như: hướng dẫn NNT tránh các lỗi đã mắc trong kê khai nếu việc
mắc lỗi là do chưa hiểu rõ phải kê khai như thế nào; hoặc đó là một dấu hiệu
để xem xét, lựa chọn các trường hợp để thanh tra nếu việc mắc lỗi có tính chất
nghiêm trọng và lặp đi, lặp lại một cách cố ý.
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
6
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
+ Hạch toán đầy đủ, trung thực, chính xác, kịp thời nghĩa vụ thuế của
NNT và theo dõi thanh toán thuế nhằm tăng cường đôn đốc NNT kê khai, nộp
thuế vào NSNN, đảm bảo tính nợ thuế của NNT theo từng khoản phải nộp.
- Chức năng thu nợ và cưỡng chế thuế
Một trong những tiêu thức để đánh giá hiệu quả của bộ máy quản lý là
đánh giá thông qua số nợ thuế thu hồi được. Cơ quan thuế phải được đảm bảo
về cơ sở pháp lý: có đủ thẩm quyền và sự phối hợp của các cơ quan có liên
quan để thực hiện chức năng cưỡng chế thuế và phải có bộ máy chuyên trách
để thực hiện chức năng cưỡng chế thu nợ thuế.
Cơ quan thuế phải luôn theo dõi, nắm sát tình hình nợ thuế của từng
NNT, phân tích nguyên nhân và khả năng thu hồi nợ để áp dụng biện pháp thu
nợ phù hợp, hiệu quả. Các biện pháp thu nợ có thể từ các biện pháp ban đầu
đơn giản như: gọi điện thoại, gửi thông báo nhắc nhở, làm việc trực tiếp với
NNT cho đến các biện pháp cưỡng chế như: khấu trừ từ tiền gửi ngân hàng,
phong toả tài khoản, thông báo yêu cầu các khách hàng hoặc bên thứ ba trích
từ tiền thanh toán cho doanh nghiệp để nộp thuế, yêu cầu cơ quan hải quan
phong toả hàng hoá xuất nhập khẩu, kê biên và bán đấu giá tài sản, truy tố
trước pháp luật…
Để đảm bảo hiệu quả trong công tác thu nợ, tiết kiệm nguồn lực, cơ
quan thuế thực hiện công tác thu nợ trên cơ sở đánh giá rủi ro của các khoản
nợ, các đối tượng nợ thuế, từ đó ưu tiên nguồn lực vào quản lý thu nợ những
trường hợp nợ có mức độ rủi ro cao.
- Chức năng kiểm tra, thanh tra thuế
Trong cơ chế TKTN thuế, bên cạnh trách nhiệm TTHT, hướng dẫn
NNT hiểu rõ nghĩa vụ thuế thì cơ quan còn phải tăng cường giám sát việc
chấp hành nghĩa vụ thuế của NNT thông qua công tác thanh tra, kiểm tra thuế.
Đây là một trong những trọng tâm của quản lý thuế với mục tiêu chính là
kiểm soát việc tuân thủ và chấp hành pháp luật thuế của NNT. Cùng với sự
phát triển của nền kinh tế thủ đô, số lượng NNT ngày càng cao và quy mô,
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
7
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
tính chất sản xuất kinh doanh ngày càng phức tạp, trong khi đó nguồn lực của
cục Thuế luôn có giới hạn và thấp hơn rất nhiều so với mức cần thiết để đảm
bảo mức độ tuân thủ đầy đủ của tất cả NNT khi phát sinh nghĩa vụ thuế. Do
vậy, trong nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra, cơ quan thuế tiến hành thanh tra,
kiểm tra trên cơ sở thu thập được đủ các thông tin cần thiết về NNT để phân
tích, đánh giá rủi ro. Việc áp dụng quản lý thuế theo kỹ thuật quản lý rủi ro là
phương pháp quản lý mới nhưng hiệu quả của nó mang lại là rất lớn. Thông
qua việc thực hiện theo cơ chế quản lý rủi ro, toàn bộ NNT được đánh giá
theo các tiêu thức rủi ro để phân loại thành các cấp độ tuân thủ khác nhau
(nhóm rủi ro cao, vừa, thấp). Trên cơ sở đó, cơ quan thuế tập trung nguồn lực
để thanh tra, kiểm tra có trọng tâm hơn, chuyên sâu hơn đối với nhóm NNT
có mức độ rủi ro cao về không tuân thủ nghĩa vụ thuế.
Bên cạnh đó, để tiết kiệm thời gian và chi phí quản lý cho cơ quan thuế
góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thuế thì việc tin học hoá quy trình quản
lý là việc làm cần thiết. Nhờ sự hỗ trợ của hệ thống tin học mà việc tập hợp,
khai thác và sử dụng thông tin về NNT cũng như việc sử dụng các dịch vụ hỗ
trợ của cơ quan thuế được nhanh chóng và thuận tiện hơn.
Trong các chức năng quản lý thuế, chức năng tuyên truyền, hỗ trợ được
coi là chức năng quan trọng hàng đầu, được cơ quan thuế tập trung nguồn lực
để thực hiện tốt chức năng này, vì nếu làm tốt công tác tuyên truyền, hỗ trợ sẽ
giảm thiểu được các công việc phải làm trong công tác xử lý tờ khai và kế toán
thuế; công tác thu nợ và cưỡng chế thuế; công tác thanh tra, kiểm tra thuế.
1.2. Công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế trong cơ chế tự khai tự
nộp thuế
1.2.1. Khái niệm, các hình thức tuyên truyền, hỗ trợ NNT
1.2.1.1. Khái niệm
Công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT được xem là một trong những nội
dung quan trọng trong chiến lược cải cách và hiện đại hoá ngành Thuế cho
phù hợp với tiến trình hội nhập và phát triển kinh tế. Tuyên truyền thuế là
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
8
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
việc cơ quan thuế sử dụng các hình thức thông tin liên lạc để truyền tải đến
cho NNT và cộng đồng các thông tin về thuế nhằm nâng cao hiểu biết và
trách nhiệm của họ đối với nghĩa vụ thuế với Nhà nước. Hỗ trợ NNT là việc
cơ quan thuế cung cấp các dịch vụ tư vấn, giải đáp các vướng mắc của NNT
để họ có thể hiểu được các quy định về chính sách, pháp luật thuế đối với
trường hợp của mình và các nghĩa vụ mình phải thực hiện. Cùng với quá trình
phát triển, hiện đại hoá ngành Thuế, công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT ngày
càng được coi trọng.
1.2.1.2. Các hình thức tuyên truyền, hỗ trợ NNT
Trên thế giới hiện nay hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ NNT được thực
hiện dưới nhiều hình thức đa dạng và phong phú. Tuỳ theo phương thức tiếp
cận với NNT có thể phân chia công tác TTHT trong cơ quan thuế thành 2
hình thức, đó là: hình thức TTHT gián tiếp và hình thức TTHT trực tiếp.
* Các hình thức TTHT gián tiếp
- Tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài
phát thanh, truyền hình, báo, tạp chí, các gameshow với chủ đề thuế… để đưa
hình ảnh của cơ quan thuế tiếp xúc rộng rãi với công chúng. Tuyên truyền các
khẩu hiệu trên các panô, áp phích được đặt ở các khu trung tâm, đường giao
thông lớn, phát hành các ấn phẩm tuyên truyền, các tài liệu, sách hướng dẫn
về thuế cũng là một trong những hình thức tuyên truyền được áp dụng rộng
rãi. Thông thường các ấn phẩm tuyên truyền này được biên soạn và in ấn dưới
dạng các tờ rơi quảng cáo với những nội dung đơn giản, gần gũi với NNT.
- Một trong những hình thức TTHT tiện ích khá phổ biến hiện nay, đó
là việc cung cấp thông tin qua mạng Internet. Để sử dụng dịch vụ hỗ trợ này
thì NNT cần đăng ký sử dụng với cơ quan thuế để được cấp tên truy cập và
mật khẩu sau đó sẽ phải tự chịu trách nhiệm trong việc giữ gìn tài khoản
thông tin của mình. Qua hình thức hỗ trợ này, những vướng mắc của NNT
liên quan đến tình hình thu nhập, tình hình kê khai, thanh toán nợ… có liên
quan đến bí quyết kinh doanh sẽ được cơ quan bảo đảm bí mật. Ngoài ra,
NNT có thể tra cứu các thông tin hiểu biểu biết chung về chính sách, thủ tục,
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
9
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
các sắc thuế thông qua trang web của Tổng cục Thuế, qua các diễn đàn trên
mạng về thuế.
- Sử dụng hệ thống hộp thư điện thoại trả lời tự động: là hệ thống điện
thoại trong đó đã cài đặt những thông tin cơ bản về các sắc thuế, giải đáp các vấn
đề mà NNT thường mắc phải để khi NNT cần có thể tìm hiểu qua kênh này.
- Cán bộ thuế trực tiếp trả lời điện thoại: bằng việc cung cấp những số
điện thoại tư vấn cho NNT, khi có những vướng mắc về thuế NNT gọi tới
những số đó, tại cơ quan thuế sẽ có cán bộ thuế trực. Cán bộ thuế nghe những
vướng mắc của NNT sau đó trả lời ngay cho NNT nếu có thể và nằm trong
phạm vi cho phép của họ.
- Hướng dẫn, giải đáp cho NNT bằng văn bản: NNT gửi cho cơ quan
thuế công văn, trong đó nêu ra những vấn đề thắc mắc yêu cầu cơ quan thuế
giải đáp. Sau khi tiếp nhận công văn của NNT, cơ quan thuế xem xét kỹ các
vấn đề mà NNT thắc mắc sau đó trả lời NNT cũng bằng công văn.
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, các hình thức thông tin
liên lạc ngày càng phát triển thì các hình thức hỗ trợ NNT sẽ càng đa dạng
hơn và thuận tiện hơn cho NNT.
Tuy nhiên, để có thể thực hiện tốt các hình thức này ngoài yêu cầu cao
về trình độ chuyên môn của cán bộ làm công tác này để hỗ trợ một cách hiệu
quả nhất cho NNT thì cũng yêu cầu về hệ thống trang thiết bị, các ứng dụng
hiện đại để có thể trợ giúp cho cán bộ làm tốt công tác này.
* Các hình thức TTHT trực tiếp
- Tổ chức tiếp và trả lời NNT tại trụ sở của cơ quan thuế : Hình thức này
đòi hỏi cán bộ tiếp và trả lời NNT không những phải vững về chuyên môn mà
còn phải có thái độ phục vụ nhiệt tình, niềm nở. Có như thế NNT mới thấy
thoải mái và có cảm tình hơn với cán bộ thuế, đồng thời cũng có ý thức hơn
trong nghĩa vụ thuế của mình. Theo hình thức hỗ trợ này, tất cả những vướng
mắc về cơ chế chính sách, thủ tục đăng ký, kê khai, khiếu nại, tố cáo… sẽ được
giải đáp (trừ những trường hợp quá phức tạp thì NNT sẽ được hẹn trả lời vào
hôm sau hoặc được cơ quan thuế gửi trả lời bằng văn bản).
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
10
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
- Tổ chức các buổi hội thảo, hội nghị đối thoại giữa cơ quan thuế với
NNT : Tuỳ từng đối tượng khác nhau để tổ chức các buổi hội thảo phù hợp
với những loại hình đối tượng đó nhằm nâng cao chất lượng của các buổi hội
thảo, hội nghị. Thông qua các buổi hội thảo, hội nghị đối thoại không những
NNT hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình đối với nhà nước, hiểu rõ
hơn về việc áp dụng chính sách thuế đối với doanh nghiệp mình; bên cạnh đó
cơ quan thuế có thể nắm bắt được nhu cầu của từng đối tượng khác nhau để
có hình thức hỗ trợ phù hợp.
- Tổ chức tập huấn cho NNT về chính sách thuế, các văn bản pháp luật
thuế, đặc biệt là các văn bản, chính sách mới. Việc tập huấn cho NNT có thể
kết hợp cùng với các buổi hội thảo, hội nghị đối thoại. Thông thường các cơ
quan thuế chủ động tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn khi có chính sách thuế
mới để NNT hiểu các thay đổi về quy định và thủ tục khi thực hiện nghĩa vụ
thuế. Với các doanh nghiệp mới thành lập, cơ quan thuế tổ chức riêng các
buổi tập huấn giới thiệu về chính sách thuế, các quy định về sổ sách kế toán,
hoá đơn chứng từ cho đối tượng này.
1.2.2. Vai trò của công tác TTHT NNT trong cơ chế TKTN thuế
Công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT là một nội dung quan trọng trong
việc tổ chức hoạt động của cơ quan thuế. Nó không chỉ tác động đến việc tổ
chức quản lý nội bộ của cơ quan thuế mà con tác động đến cả lợi ích của NNT
và cả cộng đồng.
* Tác động của công tác TTHT đối với NNT và cộng đồng
Thứ nhất, trong việc cung cấp các dịch vụ TTHT cơ quan thuế đóng vai
trò là người cung cấp, truyền bá thông tin về chính sách, pháp luật thuế của
Nhà nước đến với mọi người dân. Để NNT tuân thủ nghĩa vụ nộp thuế, trước
hết phải chính bản thân họ phải hiểu được tại sao phải nộp thuế; với ngành
nghề kinh doanh hiện tại, thu nhập hiện có thì phải nộp những khoản thuế gì
và thủ tục cần thực hiện ra sao. Giải quyết các câu hỏi trên là nhiệm vụ của bộ
phận TTHT trong cơ quan thuế. Thông qua các phương tiện thông tin đại
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
11
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
chúng, các phương thức liên lạc cá nhân, cơ quan thuế cần phải truyền tải
được những thông tin cần thiết đến đúng đối tượng pháp luật thuế điều chỉnh.
Lúc này, cơ quan thuế đóng vai trò như một cầu nối, một kênh cung cấp thông
tin phổ biến pháp luật của Nhà nước đến với mọi người dân.
Thứ hai, công tác TTHT góp phần giúp cho NNT đơn giản hơn trong
việc thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước. Nhờ việc triển khai ứng dụng các thành
quả phát triển của công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan thuế, NNT
có thể thực hiện các hoạt động đăng ký, kê khai, nộp thuế… mà không cần trực
tiếp đến cơ quan thuế. Tại một số quốc gia việc kê khai thuế có thể thực hiện
qua hệ thống điện thoại đi động. Máy sẽ tự đọc các chỉ tiêu kê khai còn người
sử dụng sẽ bấm phím số điện thoại để kê khai các thông tin và số liệu trên tờ
khai. Xu hướng phát triển phổ biến của các nước trên thế giới là triển khai dịch
vụ thuế điện tử. Qua đó, NNT có thể truy cập vào các tài khoản cá nhân của
mình để thực hiện kê khai, nộp thuế, yêu cầu giải đáp vướng mắc qua mạng
Internet. Nhờ việc triển khai các ứng dụng này, NNT có thể giảm đáng kể chi
phí đi lại cũng như sự phiền hà trong việc tuân thủ nghĩa vụ thuế.
Thứ ba, với các dịch vụ tư vấn cho NNT, cơ quan thuế đã kịp thời giải
quyết các vấn đề khó khăn, vướng mắc của NNT, giúp họ hiểu các quy định
về thuế đối với trường hợp của mình, từ đó có các định hướng, chiến lược
kinh doanh cho phù hợp.
Thứ tư, công tác TTHT trong cơ quan thuế bảo vệ quyền lợi chính đáng
của NNT. Trước hết, cơ quan thuế cần nâng cao hiểu biết của người dân và
các tổ chức, cá nhân nộp thuế về quyền lợi và nghĩa vụ của mình thông qua
các hoạt động tuyên truyền qua báo chí, tờ rơi, sách hướng dẫn… Khi NNT
không hài lòng với các quyết định của cơ quan thuế, họ có thể gửi khiếu nại
đến cơ quan thuế và bộ phận Bảo vệ quyền lợi cho NNT có trách nhiệm tiếp
nhận và giải quyết các khiếu nại của NNT một cách khách quan và công bằng.
Thứ năm, công tác TTHT góp phần ngăn ngừa rủi ro cho NNT. Thông
qua việc công bố công khai các thông tin cảnh báo về các trường hợp NNT đã
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
12
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
bỏ trốn khỏi địa điểm kinh doanh; các doanh nghiệp đã giải thể, phá sản; các
hoá đơn, chứng từ không còn giá trị sử dụng… cơ quan thuế đã giúp các tổ
chức, cá nhân kinh doanh tránh được những rủi ro khi gặp phải các đối tượng
lừa đảo, kinh doanh không trung thực.
Thứ sáu, việc thực hiện tốt công tác TTHT góp phần nâng cao ý thức
tuân thủ pháp luật thuế nói riêng và nâng cao trách nhiệm, ý thức tuân thủ
pháp luật nói chung của cả cộng đồng. Công tác TTHT không chỉ đóng vai trò
cung cấp thông tin về chính sách, pháp luật thuế mà còn đóng vai trò tuyên
truyền về bản chất tốt đẹp của tiền thuế, giáo dục cộng đồng về ý thức, trách
nhiệm đối với NSNN. Qua đó, thúc đẩy cộng đồng lên án, tố giác các hành vi
vi phạm pháp luật thuế, đảm bảo sự công bằng cho mọi NNT.
* Tác động của công tác TTHT đối với cơ quan thuế
Thứ nhất, công tác TTHT trong cơ quan thuế góp phần nâng cao hiệu
quả của hoạt động quản lý thuế của toàn cục Thuế. Để có thể thực hiện tốt
công tác TTHT đáp ứng yêu cầu của NNT, đòi hỏi tất cả các khâu, các bộ
phận trong cơ quan thuế phải thống nhất, đồng bộ. Cụ thể, bộ phận pháp chế -
chính sách cần xây dựng được những chính sách, quy định, thủ tục về thuế rõ
ràng, công bằng, minh bạch, dễ hiểu, dễ áp dụng; bộ phận thanh tra, cưỡng
chế thu nợ cần có các biện pháp, kế hoạch hiệu quả trong việc kiểm tra, truy
thu, xử lý các trường hợp dây dưa, nợ đọng tiền thuế, trốn thuế; bộ phận xử lý
thông tin cần xây dựng được hệ thống các cơ sở dữ liệu đồng bộ, tập trung,
hiện đại, đảm bảo cung cấp thông tin chính xác, kịp thời. Bên cạnh đó, công
tác TTHT giúp cho cơ quan thuế có thể giảm bớt được chi phí cho hoạt động
quản lý và tập trung cho các nhiệm vụ phát triển khác.
Thứ hai, thực hiện tốt công tác TTHT góp phần cải thiện hình ảnh của
cơ quan thuế. Nếu cơ quan thuế khi đặt nhiệm vụ chỉ tập trung vào số thu thì
các chức năng quản lý, cưỡng chế thu nợ, thanh tra, kiểm tra để tận thu tiền
thuế. Và như thế, khoảng cách giữa cơ quan thuế và NNT ngày càng nới
rộng. Khi đó, hình ảnh về cơ quan thuế chỉ còn được nhắc đến với những
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
13
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
công việc mang tính quản lý hành chính mà không cần biết đến quyền lợi
chính đáng của NNT. Tuy nhiên, việc chủ động cung cấp các dịch vụ TTHT
cho NNT, cơ quan thuế sẽ đóng vai trò là người bạn đồng hành, người trợ
giúp cho NNT hiểu về bản chất tốt đẹp của tiền thuế, hiểu về chính sách thuế
và biết làm thế nào để thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước. Qua đó, nâng cao
vai trò, vị thế và cải thiện hình ảnh của cơ quan thuế trong con mắt NNT và
cả cộng đồng.
Thứ ba, công tác TTHT NNT là một trong những phương pháp, công
cụ quan trọng nhất để đạt tới mục đích là sự tuân thủ tự nguyện cao nhất của
NNT. Một trong các biện pháp quản lý thuế hiện đại là căn cứ theo mức độ
tuân thủ, chấp hành pháp luật thuế của NNT để đánh giá, phân chia NNT ra 4
nhóm sau:
- Nhóm NNT có ý thức tự giác tuân thủ : Đây là nhóm chiếm số lượng
lớn nhất trong tổng số NNT. Nhóm này luôn có xu hướng chấp hành nghiêm
chỉnh các quy định, thủ tục về thuế. Do đó, cơ quan thuế cần tạo điều kiện tốt
nhất để NNT thuộc nhóm này hoàn thành nghĩa vụ thuế của mình.
- Nhóm NNT có ý thức tuân thủ nhưng chưa thực hiện đầy đủ các quy
định : Nhóm NNT này cũng có ý thức nghiêm túc trong việc chấp hành pháp
luật thuế nhưng thường mắc các lỗi số học trong kê khai, lỗi không cố ý do
thiếu hiểu biết về các quy định, thủ tục thuế. Vì vậy, cơ quan thuế cần trợ giúp
họ bằng cách cung cấp các thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời và cung cấp
các dịch vụ tư vấn, giải đáp và các dịch vụ tiện ích khác để họ có thể thực
hiện tốt các nghĩa vụ thuế.
- Nhóm NNT chưa có ý thức tuân thủ pháp luật thuế: Đây là nhóm
NNT có hiểu biết về pháp luật thuế nhưng chưa thực sự nghiêm túc chấp
hành. Đôi khi nhóm này có thể lợi dụng các khe hở của pháp luật để thực hiện
các hành vi trốn thuế. Với nhóm này, cơ quan thuế cần phải có biện pháp
tuyên truyền, giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật và có chế độ theo dõi, kiểm
tra để răn đe ngăn chặn các hành vi nợ đọng tiền thuế, trốn thuế.
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
14
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
- Nhóm NNT cố tình không tuân thủ : Đây là nhóm NNT có rủi ro cao
nhất trong quản lý thuế. Nhóm này có xu hướng cố tình thực hiện các hành vi
vi phạm pháp luật thuế để trục lợi như mua, bán hoá đơn giả, làm hồ sơ hoàn
thuế khống, khai báo không trung thực để trốn thuế… Mặc dù nhóm này
chiếm tỷ lệ rất ít trong tổng số NNT nhưng đây lại chính là nhóm mà cơ quan
thuế phải dành nhiều nguồn lực nhất trong việc quản lý. Với nhóm này, cơ
quan thuế cần sử dụng nhiều biện pháp như khuyến cáo, răn đe, cưỡng chế
thu nợ và thường xuyên thanh tra, kiểm tra thậm chí có thể sử dụng các biện
pháp về quản lý để xử phạt và thu hồi tiền thuế cho Nhà nước.
1.2.3. Sự cần thiết của công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT trong cơ chế tự
khai, tự nộp thuế
Nguyên tắc pháp chế trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà
nước đòi hỏi mọi cơ quan Nhà nước, mọi tổ chức của Nhà nước, mọi công
dân phải theo đúng quy định của Pháp luật. Muốn vậy, phải đẩy mạnh việc
tuyên truyền, giáo dục, giám sát, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật của cơ quan
Nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân. Đây cũng là một chức năng
quan trọng của cơ quan quản lý Nhà nước.
Pháp luật về thuế là một bộ phận của hệ thống pháp luật Nhà nước mà
mọi người dân nói chung và NNT nói riêng phải chấp hành. Đồng thời, trong
hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước, cơ quan thuế đại diện cho Nhà nước
trong việc quản lý và thực thi pháp luật về thuế. Vì vậy, cơ quan thuế phải
tuyên truyền, giải thích, giáo dục pháp luật về thuế cho NNT và toàn dân để
mọi công dân và NNT hiểu biết về thuế, pháp luật thuế, về nghĩa vụ và quyền
lợi của NNT, từ đó thực hiện tốt nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước.
Trong bối cảnh hiện nay, tình trạng trốn thuế, tránh thuế và các sai
phạm về thuế còn khá phổ biến. Một trong những nguyên nhân của tình hình
trên là do công tác TTHT NNT chưa được coi trọng đúng mức, chưa tổ chức
thực hiện thường xuyên, chưa có định hướng rõ rệt, hình thức còn nghèo nàn,
lượng thông tin cung cấp còn ít ỏi, chưa đáp ứng được yêu cầu của NNT và xã
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
15
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
hội, làm cho nhận thức và hiểu biết của người dân nói chung và của NNT nói
riêng về thuế còn hạn chế.
Bên cạnh đó, hiện nay, chính sách thuế của nước ta cũng tương đối
phức tạp: một luật thuế ra đời, kèm theo cả nghị định và thông tư, nhiều luật
thuế còn trùng nhau… Một trong những tiêu thức để đánh giá một hệ thống
thuế tốt là tính hiệu quả của hệ thống đó mà thể hiện rõ nét là tính tự giác tuân
thủ tự nguyện cao trong việc chấp hành nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước của
NNT. Trên cơ sở các thông tin và dịch vụ hỗ trợ do cơ quan thuế cung cấp,
NNT tiết kiệm được chi phí, thời gian, công sức dành cho việc nghiên cứu,
tìm hiểu và chấp hành pháp luật thuế, từ đó giảm dần những sai phạm không
cố ý trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước. Sự tự giác
chấp hành nghĩa vụ thuế và chấp hành đúng không những sẽ làm giảm chi phí
quản lý của cơ quan thuế như chi phí cho công tác thanh tra, kiểm tra, giám
sát, truy thu, cưỡng chế mà còn giảm tỷ lệ thất thu cho NSNN.
Mặt khác, sự phát triển của nền kinh tế kéo theo sự gia tăng về số lượng
NNT với quy mô lớn hơn và mức độ sai phạm nghiêm trọng hơn, tinh vi hơn.
Vì vậy, càng cần thiết phải đẩy mạnh công tác TTHT NNT nhằm làm cho các
tổ chức, mọi cá nhân và toàn xã hội kịp thời nắm bắt các quy định về thuế,
hiểu rõ được bản chất tốt đẹp và ý nghĩa quan trọng của việc nộp thuế, đó là
nghĩa vụ thiêng liêng và quyền lợi chính đáng của bản thân NNT. Mọi hành vi
trốn thuế, tránh thuế, gian lận thuế không chỉ là hành vi vi phạm pháp luật mà
còn là hành vi vi phạm đạo đức công dân, dư luận xã hội cần phải lên án,
không khoan nhượng. Từ đó, xây dựng ý thức tự giác chấp hành nghiêm
chỉnh các quy định về pháp luật thuế trong toàn dân, toàn xã hội.
Đứng trước những yêu cầu trên, rõ ràng cục Thuế Hà Nội cần phải đẩy
mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế cho toàn dân, triển khai
mạnh mẽ công tác hỗ trợ, phục vụ các tổ chức và cá nhân nộp thuế, đưa công
tác TTHT NNT thành một trong những khâu trọng tâm trong công tác quản lý
thu thuế.
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
16
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
Chương 2:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, HỖ TRỢ
NGƯỜI NỘP THUẾ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
2.1. Điều kiện kinh tế - xã hội và cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý thuế ở
Thành phố Hà Nội.
2.1.1. Vài nét về đặc điểm kinh tế - xã hội của Thành phố Hà Nội.
Hà Nội là thủ đô và hiện là thành phố có diện tích lớn nhất và đông dân
thứ hai của Việt Nam. Thuộc đồng bằng sông Hồng trù phú, Hà Nội đã sớm
trở thành trung tâm chính trị và tôn giáo ngay từ những buổi đầu của lịch sử
Việt Nam. Trải qua các cuộc chiến tranh, Hà Nội là thủ đô của miền Bắc, rồi
nước Việt Nam thống nhất và giữ vai trò này cho tới ngày nay. Cùng với TP
Hồ Chí Minh, Hà Nội là một trong hai trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục
của cả nước. Sau khi mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, Hà
Nội có diện tích 3.324,92 km
2
, gồm 10 quận, 1 thị xã và 18 huyện.
Năm 2010, tăng trường GDP của thủ đô đạt 11% so với năm 2009
(trong đó ngành công nghiệp tăng 11,6%, các ngành dịch vụ tăng 11,1%,
ngành nông, lâm, thủy sản tăng 7,2 %), và đưa thu nhập bình quân đầu người
năm 2010 đạt khoảng 37 triệu đồng (tương đương 1.900 USD). Kinh tế thủ đô
đã phục hồi và tăng trưởng khá, tăng trưởng cao hơn chỉ tiêu đề ra và gấp 1,64
lần mức tăng chung của cả nước.
Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn năm 2010 tăng 14,4% so
năm 2009. Trong đó, giá trị sản xuất công nghiệp Nhà nước Trung ương tăng
8,9%, giá trị sản xuất công nghiệp Nhà nước địa phương tăng 10,8%, giá trị
sản xuất công nghiệp ngoài Nhà nước tăng 14,9%, giá trị sản xuất công
nghiệp khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 16,8%. Vốn đầu tư phát triển
do địa phương quản lý dự kiến đạt 21.075 tỷ đồng, bằng 87,7% cùng kỳ năm
ngoái.
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
17
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
Huy động vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2010, Hà Nội thu hút
được 278 dự án, với vốn đầu tư đăng ký khoảng 290 triệu USD, bằng 58% so
với năm 2009.
Tổng thu Ngân sách trên địa bàn cả năm 2010 đạt 100.000 tỷ đồng,
vượt 12,7% dự toán năm, tăng 17% so năm 2009, trong đó thu nội địa là
87.560 tỷ đồng. Tổng chi Ngân sách địa phương năm 2010 là 40.037 tỷ đồng,
vượt 14,9% dự toán, giảm 13,2% so năm trước, trong đó chi thường xuyên là
17.905 tỷ đồng; chi xây dựng cơ bản là 16.922 tỷ đồng.
Tuy nhiên, Hà Nội còn phải đối đầu với nhiều vấn đề khó khăn khác.
Năng lực cạnh tranh của nhiều sản phẩm, dịch vụ cũng như sức hấp dẫn môi
trường đầu tư của thành phố còn thấp. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn
chậm, đặc biệt cơ cấu nội ngành công nghiệp, dịch vụ và các sản phẩm chủ
lực mũi nhọn. Chất lượng quy hoạch phát triển các ngành kinh tế ở Hà Nội
không cao và thành phố cũng chưa huy động tốt tiềm năng kinh tế trong dân
cư. Và hiện nay còn có sự chênh lệch lớn về kinh tế giữa vùng trung tâm
thành phố và những vùng ngoại thành.
Trong những năm gần đây số lượng các doanh nghiệp trên địa bàn
thành phố tăng lên nhanh chóng cùng với nhịp độ gia tăng trong cả nước.
Tính đến thời điểm năm 2010, Cục thuế Hà Nội quản lý trên 80.000 doanh
nghiệp, trên 120.000 hộ kinh doanh cá thể.
Sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội
không những góp phần vào việc tăng thu cho NSNN mà còn góp phần giải
quyết một lượng lớn lao động trong cũng như lao động ở ngoài thành phố.
Tuy nhiên, cùng với đó là còn có nhiều doanh nghiệp nợ đọng tiền thuế, chậm
nộp thuế làm ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế, cũng như mục
tiêu thu NSNN của thành phố.
Năm 2011 là một năm hết sức quan trọng, được mở đầu bằng sự kiện
chính trị trọng đại là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Đây
cũng là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp và kế
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
18
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
hoạch 5 năm 2011 - 2015, là năm tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội
đồng nhân dân các cấp. Vì vậy, đồng chí Phạm Quang Nghị - Ủy viên Bộ
Chính trị, Bí thư Thành ủy nhấn mạnh, phải tập trung nâng cao chất lượng,
hiệu quả, sức cạnh tranh, phát triển kinh tế Thủ đô tăng trưởng nhanh và bền
vững. Thành phố tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chỉ số cạnh
tranh (PCI), thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh gắn với chuyển dịch
mạnh cơ cấu kinh tế.
Để đạt được những mục tiêu nêu trên, tổng thu của thành phố Hà Nội
trong năm tới phải đạt ở mức cao hơn. Điều này đòi hỏi công tác quản lý thu
thuế của ngành thuế Hà Nội phải có những bước tiến, những biện pháp thật sự
cụ thể để công tác quản lý thu đạt hiệu quả cao nhất. Do đó, công tác tuyên
truyền hỗ trợ NNT cũng được đặt lên hàng đầu.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý thuế ở Thành phố Hà Nội
Thực hiện nghị quyết của Quốc hội về điều chỉnh địa giới hành chính
TP Hà Nội và các tỉnh liên quan, Bộ Tài chính đã ban hành quyết định
1640/TC-QĐ-TCCB ngày 28/07/2008 thành lập cục thuế TP Hà Nội mới. Vị
trí, chức năng của Cục thuế Hà Nội được quy định cụ thể tại quyết định số
108/2010/QĐ-BTC ngày 14 tháng 1 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Cục thuế TP Hà Nội (sau đây gọi chung là Cục thuế Hà Nội) là tổ chức
trực thuộc Tổng Cục thuế có chức năng tổ chức thực hiện thu thuế, lệ phí và
các khoản thu khác của NSNN (gọi chung là thuế) trên địa bàn TP Hà Nội
theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh nhiệm vụ đảm bảo số thu cho NSNN, Cục thuế Hà Nội còn
phải thực hiện các chương trình, kế hoạch công tác do Tổng cục Thuế giao và
bảo đảm thông tin đáp ứng yêu cầu quản lý, chỉ đạo của Thành uỷ, HĐND,
UBND Thành phố Hà Nội.
Cục thuế Hà Nội hiện nay có 1 cục trưởng và 6 phó cục trưởng giúp
cục trưởng quản lý các công việc chuyên môn. Tổ chức bộ máy của cục thuế
Hà Nội bao gồm 23 Phòng chức năng và 29 Chi cục thuế quận, huyện, thị xã
trực thuộc.
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
19
Hc vin Ti chớnh Lun vn cui khúa
Mụ hinh bụ may tụ chc cuc thuờ Ha Nụi co thờ hinh dung qua s ụ sau:
Chc nng, nhim v ca cỏc phũng ban, n v trc thuc:
* Vn phũng cc:
- Phũng Tuyờn truyn v h tr NNT: Giỳp Cc trng Cc thu t
chc thc hin cụng tỏc tuyờn truyn v chớnh sỏch, phỏp lut thu, h tr
NNT trong vic thc hin phỏp lut thu; B phn tip nhn, gii quyt th
tc hnh chớnh v cung cp dch v v thu (B phn 1 ca) do Phũng Tuyờn
truyn h tr NNT trc tip ph trỏch.
- Phũng Kờ khai v K toỏn thu: Giỳp Cc trng Cc thu t chc
thc hin cụng tỏc ng ký thu, x lý h s khai thu, k toỏn thu, thng kờ
thu trong phm vi Cc Thu qun lý.
- Phũng Qun lý n v cng ch n thu: Giỳp Cc trng Cc thu
t chc thc hin cụng tỏc qun lý n thu, ụn c thu tin thu n v cng
ch thu tin thu n, tin pht trong phm vi qun lý.
- Phũng Kim tra thu (06 phũng Kim tra thu): Giỳp Cc trng Cc
Thu kim tra, giỏm sỏt kờ khai thu; chu trỏch nhim thc hin d toỏn thu
i vi NNT thuc phm vi qun lý trc tip ca Cc Thu.
SV: Nguyn Hi Linh Lp: CQ45/02.01
Cục trưởng
Phó Cục Trư
ởng
Phó Cục
Trưởng
Cục phó
Phòng
Thanh
tra số
1,2,3,4
Phó Cục
Trưởng
Phòng
Kiểm
tra
thuế số
1,2,3,4,
5,6
Phòng
Quản
lý thuế
thu
nhập

nhân
Phòng
Tổng
hợp
Nghiệp
vụ-Dự
toán
Phòng
Pháp
chế
Phòng

khai

kế
toán
thuế
Phòng
Quản
lý nợ
và cư
ỡng
chế nợ
thuế
Phòng
kiểm
tra nội
bộ
Phòng
Tổ
chức
cán bộ
Phòng
Hành
chính-
Lưu
trữ
Phòng
Tuyên
truyền
Hỗ trợ
người
nộp
thuế
Phòng
Quản
trị -
Tài vụ
Phòng
tin
học
Phó Cục
Trưởng
Phó Cục
Trưởng
Phó Cục
Trưởng
Khi Vn
phong cuc
Phòng
quản
lý ấn
chỉ
Phòng
quản lý
các
khoản
thu từ
đất
20
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
- Phòng Thanh tra thuế (04 phòng Thanh tra): Giúp Cục trưởng Cục
thuế triển khai thực hiện công tác thanh tra NNT trong việc chấp hành pháp
luật thuế; giải quyết tố cáo về hành vi trốn lậu thuế, gian lận thuế liên quan
đến NNT thuộc phạm vi Cục Thuế quản lý;
- Phòng Tổng hợp - Nghiệp vụ - Dự toán: Giúp Cục trưởng Cục thuế
trong việc chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ quản lý thuế, chính sách, pháp luật
thuế; xây dựng và thực hiện dự toán thu NSNN thuộc phạm vi Cục Thuế
quản lý;
- Phòng pháp chế: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức thực hiện công
tác pháp chế về thuế thuộc phạm vi quản lý của Cục thuế quản lý.
- Phòng Quản lý thuế thu nhập cá nhân: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ
chức, chỉ đạo triển khai quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với các cá nhân có
thu nhập thuộc diện phải nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp
luật thuộc phạm vi Cục Thuế quản lý.
- Phòng Kiểm tra nội bộ: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức chỉ đạo,
triển khai thực hiện công tác kiểm tra việc tuân thủ pháp luật, tính liêm chính
của cơ quan thuế, công chức thuế; giải quyết khiếu nại (bao gồm cả khiếu nại
các quyết định xử lý về thuế của cơ quan thuế và khiếu nại liên quan trong nội
bộ cơ quan thuế, công chức thuế), tố cáo liên quan đến việc chấp hành công
vụ và bảo vệ sự liêm chính của cơ quan thuế, công chức thuế trong phạm vi
quản lý của Cục trưởng Cục thuế.
- Phòng Tin học: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức quản lý và vận
hành hệ thống trang thiết bị tin học cục Thuế; triển khai các phần mềm ứng
dụng tin học phục vụ công tác quản lý thuế và hỗ trợ hướng dẫn, đào tạo cán
bộ thuế trong việc sử dụng ứng dụng tin học trong công tác quản lý.
- Phòng Tổ chức cán bộ: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức chỉ đạo, triển
khai thực hiện về công tác tổ chức bộ máy, quản lý cán bộ, biên chế, tiền lương,
đào tạo cán bộ và thực hiện công tác thi đua khen thưởng trong nội bộ Cục thuế.
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
21
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
- Phòng Tài vụ - Quản trị: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức chỉ đạo,
triển khai thực hiện các công tác hành chính, văn thư, lưu trữ; công tác quản
lý tài chính, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, quản trị, quản lý ấn chỉ thuế
trong toàn Cục thuế.
- Phòng Hành chính - Lưu trữ: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức chỉ
đạo triển khai thực hiện công tác hành chính, văn thư, lưu trữ, chương trình,
kế hoạch công tác của cục Thuế trong phạm vi toàn cục Thuế.
- Quản lý ấn chỉ: Giúp Cục trưởng Cục Thuế thực hiện các công tác in
ấn chỉ thuế theo phạm vi được phân cấp; thực hiện cấp phát, bán hoá đơn ấn
chỉ thuế cho các đơn vị trong và ngoài cục Thuế và các tổ chức và cá nhân
nộp thuế; quản lý sử dụng hoá đơn ấn chỉ thuế và quản lý hoá đơn tự in của
các tổ chức và cá nhân nộp thuế.
- Quản lý các khoản thu về đất: Giúp cục trưởng Cục thuế tổ chức thực
hiện công tác quản lý các khoản thu từ đất (thuế SDĐNN, thuế nhà đất, thu
tiền sử dụng đất, thu lệ phí trước bạ đất, kể cả tiền bán nhà thuộc sở hữu Nhà
nước) trên địa bàn Cục thuế quản lý.
* Các đơn vị trực thuộc
- Vị trí, chức năng: Các Chi cục thuế quận, huyện, thị xã trực thuộc
thành phố là tổ chức trực thuộc Cục thuế, có chức năng tổ chức thực hiện
công tác quản lý thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của NSNN trên địa
bàn theo quy định của pháp luật.
- Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm: Các chi cục thuế thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm theo quy định của luật Quản lý thuế, các
luật thuế, các quy định pháp luật khác có liên quan.
2.2. Quá trình hình thành và phát triển bộ phận tuyên truyền, hỗ trợ tại
cục thuế Hà Nội
2.2.1. Giai đoạn trước năm 2004
Trong giai đoạn này, bộ máy của cục Thuế được tổ chức theo mô hình
quản lý theo đối tượng. Theo đó, cơ cấu tổ chức của cơ quan thuế được tổ
chức thành các phòng quản lý theo nhóm NNT là doanh nghiệp quốc doanh,
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
22
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hộ
kinh doanh cá thể và người có thu nhập cao. Với mô hình quản lý này, công
tác TTHT NNT không được quan tâm và quy định trách nhiệm thực hiện một
cách rõ ràng. Theo đó, tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng nơi mà công tác
TTHT NNT được quy định và phân công cho các bộ phận khác nhau trong cơ
quan thuế chứ không có một bộ phận chuyên trách về công tác này. Nhiệm vụ
tuyên truyền có thể do phòng Tổ chức cán bộ hoặc phòng hành chính thực
hiện. Nhiệm vụ hỗ trợ, giải đáp các vướng mắc cho NNT thì được thực hiện
rải rác tại phòng quản lý và phòng nghiệp vụ, thanh tra tuỳ theo đối tượng hỏi
và nội dung được hỏi.
Với cách thức hoạt động như trên, công tác TTHT NNT chưa đáp ứng
được yêu cầu ngày càng tăng theo sự phát triển của nền kinh tế và trình độ
của người dân, cũng như sự gia tăng NNT. Các hoạt động tuyên truyền chỉ
mang tính hình thức, chưa có hiệu quả thiết thực tác động đến ý thức của
người dân, chưa cung cấp thông tin về chính sách, thủ tục về thuế đến cho
NNT và cộng đồng một cách đầy đủ và kịp thời. Hoạt động hỗ trợ, giải đáp
vướng mắc cho NNT được thực hiện rải rác tại nhiều bộ phận độc lập và
không có cơ chế kiểm soát chất lượng cũng như quy định tham chiếu, lấy ý
kiến giữa các bộ phận trong cùng cơ quan. Điều này dẫn đến chất lượng các
câu trả lời của cơ quan thuế cho NNT chưa cao, chưa hoàn toàn giải quyết
được vấn đề NNT quan tâm. Trong nhiều trường hợp, các văn bản do cơ quan
thuế ban hành có nội dung hướng dẫn không đồng nhất trong việc giải quyết
cùng một vấn đề, dẫn đến những khó khăn cho NNT trong việc tuân thủ nghĩa
vụ thuế của mình. Bên cạnh đó, do chưa quan tâm đến nhiệm vụ TTHT NNT
nên việc bố trí các trang thiết bị phục vụ công tác này trong Cục thuế còn rất
nghèo nàn, lạc hậu. NNT không có địa điểm cụ thể để đến cơ quan thuế yêu
cầu giải đáp vướng mắc. Cán bộ thuế thiếu trang thiết bị hỗ trợ để thực hiện
nhiêm vụ của mình. Do đó, kết quả hoạt động TTHT NNT trong giai đoạn
này gặp nhiều khó khăn và không đáp ứng được yêu cầu của NNT nói riêng
và của toàn xã hội nói chung.
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
23
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
Có thể nói trong giai đoạn này, nhiệm vụ tuyên truyền và hỗ trợ NNT
rất mờ nhạt, chỉ mang tính hình thức chứ chưa quan tâm đến chất lượng. Các
tài liệu hỗ trợ NNT không có hoặc chỉ là tập hợp các văn bản đóng thành
quyển và bán cho NNT, hay phát tờ rơi, chứ không có tài liệu hướng dẫn cụ
thể, chi tiết. Hơn thế nữa, các văn bản pháp luật thuế còn chồng chéo, thiếu sự
đồng nhất giữa các cấp. Do đó, bộ máy quản lý hoạt động không hiệu quả và
NNT rất mơ hồ về nghĩa vụ thuế của mình, các vụ vi phạm pháp luật thuế còn
khá phổ biến. Đến cuối năm 2004, qua kiểm tra quyết toán thuế 694 doanh
nghiệp truy thu và phạt 19 tỷ đồng. Đây là những con số không nhỏ, nó cho
thấy hệ thống quản lý thuế của nước ta còn rất nhiều bất cập.
2.2.2. Giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2010
Cục Thuế đã nghiên cứu xây dựng và trình Bộ Tài chính trình Chính
phủ phê duyệt “Chiến lược cải cách và hiện đại hóa cục Thuế đến năm 2010”.
Theo Quyết định số 218/QĐ-TTg ngày 28/10/2003 của Thủ tướng Chính phủ
về cơ cấu tổ chức cục Thuế, cục Thuế chuyển đổi sang mô hình tổ chức mới.
Theo đó, hệ thống tuyên truyền và hỗ trợ NNT đã được xây dựng đồng bộ từ
Trung ương đến địa phương.
Tại các cục thuế, Phòng Tuyên truyền và Hỗ trợ NNT vừa xây dựng kế
hoạch vừa trực tiếp thực hiện các hoạt động TTHT NNT thuộc phạm vi, địa
bàn quản lý. Tại các chi cục thuế quận, huyện, Tổ nghiệp vụ - Hỗ trợ NNT
thực hiện các hoạt động thông tin, truyền tin và tư vấn, giải đáp vướng mắc
cho người dân và các hộ kinh doanh, doanh nghiệp được phân cấp quản lý.
Việc tổ chức hệ thống TTHT NNT một cách đồng bộ ở các cấp, cục Thuế đã
cải thiện không chỉ hiệu quả làm việc của cơ quan thuế mà còn mang lại
những lợi ích thiết thực cho NNT.
Thứ nhất, việc tập trung nhiệm vụ giải đáp vướng mắc, yêu cầu của
NNT vào một bộ phận duy nhất trong cơ quan thuế sẽ đảm bảo cho việc trả
lời của cơ quan thuế được thực hiện một cách thống nhất và tăng cường kiểm
soát về mặt nghiệp vụ tư vấn.
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
24
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
Thứ hai, tổ chức một hệ thống TTHT NNT trong ngành sẽ giúp cho
việc đào tạo, bồi dưỡng các kiến thức, kỹ năng chuyên môn cho đội ngũ cán
bộ làm trong hệ thống này được thực hiện một cách bài bản và đúng đối
tượng. Từ đó, góp phần nâng cao hiệu quả làm việc của bộ phận này trong cơ
quan thuế.
Thứ ba, hệ thống TTHT NNT sẽ giúp cho việc nâng cao chất lượng, đa
dạng hóa hình thức hoạt động tuyên truyền, quảng bá thông tin đến với người dân,
đảm bảo tính kịp thời và chính xác trong việc cung cấp dịch vụ tư vấn cho NNT.
Mặc dù còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động
nhưng hệ thống TTHT NNT đã và đang từng bước khắc phục khó khăn, đáp
ứng nhu cầu của NNT và cộng đồng trong việc tìm hiểu thông tin, chính sách
về thuế. Vai trò và mức độ ảnh hưởng của hệ thống này tới các nhiệm vụ quản
lý khác trong cục thuế cũng đã được cục thuế nhận thức rõ và có những sự
đầu tư nhất định về cả nhân lực và trang bị kỹ thuật. Đã có nhiều chi cục thuế
xây dựng tiêu chuẩn và bố trí cho bộ phận TTHT NNT có được những địa
điểm làm việc thuận lợi, các trang thiết bị hiện đại và nhất là xây dựng được
đội ngũ cán bộ chuyên trách vừa có năng lực, vừa có tinh thần trách nhiệm
cao trong công việc.
Trong chương trình cải cách và hiện đại hóa cục Thuế, công tác TTHT
NNT đóng vai trò tiên phong. Do đó, hiện đại hóa công tác TTHT NNT là
một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm thực hiện thành công cuộc cải
cách cơ chế quản lý thuế theo cơ chế TKTN thuế.
2.3. Những kết quả về công tác TTHT NNT của cục thuế Hà Nội giai
đoạn 2006 - 2010
Năm 2010 là năm cuối cùng thực hiện chương trình cải cách hệ thống
thuế đến năm 2010 theo Quyết định 201/2004/QĐ-TTg ngày 06/12/2004 của
Thủ tướng Chính phủ; trong quá trình thực hiện đã có sự thay đổi căn bản về
phương pháp quản lý thuế từ cơ chế chuyên quản sang cơ chế NNT tự tính, tự
khai, tự nộp thuế; NNT từ chỗ là đối tượng quản lý của cơ quan thuế đã trở
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×