Tải bản đầy đủ

Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền và hỗ trợ NNT tại Chi Cục thuế Quận Hà Đông trong cơ chế tự khai, tự nộp.doc

LuËn v¨n tèt nghiÖp
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội, ngành thuế Việt Nam đã
có những bước tiến vượt bậc. Thuế thực sự là nguồn thu chủ yếu của ngân
sách quốc gia, góp phần thực hiện các mục đích khác như định hướng sản
xuất, tiêu dùng; điều tiết thu nhập… Hệ thống chính sách thuế dần được
hoàn thiện, cơ chế quản lý thuế đang được từng bước được cải cách cho phù
hợp với quá trình phát triển đất nước và thông lệ quốc tế.
Hiện nay, trước yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường, số lượng
doanh nghiệp tăng lên nhanh chóng, đồng thời qui mô, hình thức, cách thức
hoạt động của các doanh nghiệp cũng đa dạng và phức tạp hơn. Do đó cơ chế
quản lý cũ đã không còn phù hợp, đòi hỏi phải chuyển sang cơ chế quản lý
mới, tiên tiến hơn mà đa số các nước trên thế giới đã áp dụng, đó là cơ chế
người nộp thuế tự khai, tự nộp thuế.
Để thực hiện mô hình quản lý theo chức năng thì nhiệm vụ hỗ trợ,
tuyên truyền chính sách thuế cho người nộp thuế là một trong những công
tác được coi là chìa khoá tăng thu. Trong quá trình kiện toàn tổ chức ngành
Thuế, Bộ Tài Chính và Tổng Cục Thuế luôn xác định công tác tuyên truyền
và hỗ trợ NNT là nhiệm vụ quan trọng để thực hiện có hiệu quả công tác
quản lý và thu thuế của ngành thuế trong giai đoạn hiện nay và những năm

tới.
Việc tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế đã có những bước phát
triển nhất định, thu được một số kết quả khả quan và có tác dụng tích cực đối
với cơ chế quản lý thuế hiện đại. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đó
thì vẫn còn nhiều vấn đề bất cập. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cần phải
nghiên cứu, từ đó có biện pháp khắc phục, hoàn thiện công tác tuyên truyền
và hỗ trợ NNT trong điều kiện hiện nay của Việt Nam.
Sinh viªn: Phan ThÞ Trang Líp: CQ45/02.02
1
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Xuất phát từ những lý do trên, em đã chọn đề tài “ Giải pháp nâng cao
hiệu quả công tác tuyên truyền và hỗ trợ NNT tại Chi Cục thuế Quận
Hà Đông trong cơ chế tự khai, tự nộp ” làm đề tài luận văn của mình.
2 . Mục đích nghiên cứu của đề tài :
- Đề tài đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về công tác tuyên truyền
và hỗ trợ NNT trong cơ chế tự khai, tự nộp.
- Đề tài đánh giá thực trạng của công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT ở
Việt Nam trong thời gian qua. Từ đó đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả công tác tuyên truyền và hỗ trợ NNT trong cơ chế tự khai, tự nộp thuế ở
Việt Nam.
3. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu :
Đề tài được giới hạn phạm vi và đối tượng nghiên cứu về công tác
tuyên truyền, hỗ trợ NNT trong cơ chế tự khai, tự nộp, đưa ra những giải
pháp khả thi để nâng cao hiệu quả thu thuế, sao cho thu đúng thu đủ số thuế
cần thu, đồng thời đảm bảo công bằng giữa NNT.
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận và những quan
điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, quan điểm phát triển kinh tế của
Đảng, kết hợp vận dụng với các biện pháp như tổng hợp về lý luận, phân tích
thực trạng nhằm đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác tuyên
truyền và hỗ trợ NNT.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài nghiên cứu
Những nghiên cứu của đề tài góp phần hoàn thiện những lý luận chung,
những khó khăn thử thách trong công tác tuyên truyền và hỗ trợ NNT. Từ
đó, giúp cán bộ thuế biết rõ những vấn đề mà doanh nghiệp thường gặp phải
cần được hỗ trợ từ cơ quan thuế. Đồng thời, đề xuất những giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả của công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT hiện nay .
Với điều kiện thời gian có hạn cũng như kiến thức của bản thân còn
hạn chế nên đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận
được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy, cô cùng toàn thể các bạn để
Sinh viªn: Phan ThÞ Trang Líp: CQ45/02.02


2
LuËn v¨n tèt nghiÖp
em có điều kiện bổ sung, nâng cao hiểu biết, nhằm phục vụ cho công tác của
mình sau này. Em xin trân trọng cảm ơn!
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục viết tắt, Danh mục tài liệu
tham khảo, đề tài được kết cấu theo 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về công tác tuyên truyền và hỗ trợ NNT
trong cơ chế tự khai, tự nộp
Chương 2: Thực trạng công tác tuyên truyền và hỗ trợ NNT tại chi cục
thuế Quận Hà Đông trong cơ chế tự khai, tự nộp
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền và hỗ trợ
NNT trên địa bàn Quận Hà Đông trong thời gian tới

Sinh viªn: Phan ThÞ Trang Líp: CQ45/02.02
3
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Chương 1:
Những vấn đề chung về công tác tuyên truyền và hỗ
trợ NNT trong cơ chế tự khai, tự nộp
1.1 Một số nhận thức cơ bản về cơ chế tự khai, tự nộp
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm về cơ chế tự khai, tự nộp
Cơ chế tự khai, tự nộp thuế là một cơ chế quản lý thuế hiện đại, phù
hợp với hệ thống thuế của nền kinh tế thị trường.
Tự khai – tự nộp thuế ( theo nghĩa rộng ) là cơ chế quản lý thuế được
thực hiện trên nền tảng sự tuân thủ tự giác về nghĩa vụ thuế của NNT. NNT
căn cứ vào các qui định của pháp luật thuế để xác định nghĩa vụ thuế của
mình, tự kê khai thuế, nộp tờ khai đúng hạn và nộp thuế theo số thuế đã tính.
Cơ chế tự khai, tự nộp thuế là một phương thức quản lý thuế được xây
dựng dựa trên nền tảng là sự tuân thủ tự nguyện của NNT, quản lý thuế dựa
trên kỹ thuật quản lý rủi ro.
Theo cơ chế này, cơ quan thuế không can thiệp vào quá trình kê khai,
nộp thuế của tổ chức, cá nhân kinh doanh nhưng cơ quan thuế sẽ tiến hành
thanh tra, kiểm tra và áp dụng các biện pháp xử phạt, cưỡng chế theo luật
định đối với những trường hợp có hành vi vi phạm pháp luật về thuế như
không nộp thuế, trốn thuế, gian lận thuế…
Áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp, cơ quan Thuế phải tăng cường công tác
tuyên truyền, phổ biến và giải đáp các vướng mắc về chính sách, chế độ, thủ
tục về thuế mà các tổ chức, cá nhân thường gặp trong quá trình kê khai, nộp
thuế để NNT thực hiện tốt nghĩa vụ thuế của mình đối với Nhà nước.
Cơ chế tự khai, tự nộp thuế là cơ chế quản lý hiện đại, hiệu quả, được
hầu hết các nước trên thế giới áp dụng, nó cho phép các cơ quan thuế phân
bổ nguồn lực theo hướng chuyên môn hóa, chuyên sâu trong quản lý, cải tiến
Sinh viªn: Phan ThÞ Trang Líp: CQ45/02.02
4
LuËn v¨n tèt nghiÖp
các quy trình quản lý rõ ràng, làm tăng sự minh bạch trong quản lý thuế,
đồng thời giảm bớt chi phí quản lý, thúc đẩy cải cách hành chính thuế.
1.1.2 Nội dung của cơ chế tự khai, tự nộp
Trong bất cứ chế độ xã hội nào, thuế luôn là công cụ để huy động
nguồn thu đáp ứng nhu cầu chi tiêu vào các mục tiêu kinh tế, xã hội và chi
tiêu cho bộ máy nhà nước. NNT có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế với
Nhà nước theo pháp luật quy định, còn cơ quan thuế được giao trách nhiệm
quản lý Nhà nước trong việc thực hiện pháp luật thuế đảm bảo số thu cho
ngân sách nhà nước. Trên cơ sở này hình thành mối quan hệ quản lý, trong
đó, trách nhiệm và quyền hạn của NNT luôn có mối liên hệ hết sức chặt chẽ
dựa trên các cách thức tổ chức thực hiện các hoạt động này gọi là cơ chế
quản lý thuế.
Cơ chế quản lý cũ đòi hỏi cán bộ thuế phải kiểm tra tất cả các tờ khai
thuế, các khoản phải thu dựa trên những số liệu mà cơ quan thuế có được để
xác định số thuế chính thức phải nộp và ra thông báo thuế cho người nộp
thuế. Cơ chế này thể hiện sự không tin tưởng hoặc ít tin tưởng của cơ quan
thuế đối với NNT, cách thức quản lý mang tính áp đặt, nặng về sử dụng
quyền lực của cơ quan thuế đối với NNT. Việc cơ quan thuế tính thuế
thường gây ra nhiều tranh cãi, bất đồng giữa cơ quan quản lý và NNT về
cách thức xác định số thuế phải nộp. NNT phải chờ đợi cơ quan thuế tính và
ra thông báo mới có thể nộp thuế, làm ảnh hưởng đến tiến độ thu thuế. Việc
xác định số thuế phải nộp trở thành trách nhiệm pháp lý của cơ quan thuế, do
đó, không khuyến khích NNT tự giác tuân thủ. Hơn nữa, với sự gia tăng số
lượng của NNT ngày càng nhanh chóng, cơ chế cơ quan thuế tính thuế đòi
hỏi nguồn nhân lực của cơ quan thuế phải tăng lên tương ứng, dẫn đến chi
phí quản lý thuế rất cao.
Do đó, đến nay hầu hết hệ thống thuế ở các quốc gia trên thế giới
không còn áp dụng cơ chế thông báo thuế, mà chuyển sang cơ chế TKTN.
NNT có trách nhiệm lưu giữ chứng từ, sổ sách kế toán để chứng minh các số
Sinh viªn: Phan ThÞ Trang Líp: CQ45/02.02
5
LuËn v¨n tèt nghiÖp
liệu đã kê khai. Cơ quan thuế có nhiệm vụ hỗ trợ, hướng dẫn để NNT hiểu rõ
chính sách thuế, các thủ tục về thuế, từ đó thực hiện nghĩa vụ thuế của mình.
Cơ quan thuế không can thiệp vào việc thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT nếu
NNT tự giác tuân thủ nghĩa vụ thuế. Cơ quan thuế tập trung nguồn lực để
giám sát chặt chẽ việc tuân thủ nghĩa vụ thuế của NNT, thông qua công tác
kiểm tra, thanh tra để phát hiện, xử lý kịp thời, đúng đắn những hành vi gian
lận, trốn thuế của NNT. Việc kiểm tra, thanh tra của cơ quan thuế đối với
NNT được thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, đánh giá những rủi ro để
lựa chọn chính xác những trường hợp cần thanh tra, kiểm tra. Điều này sẽ
giúp khắc phục được việc thanh tra, kiểm tra tràn lan, gây lãng phí nguồn lực
cho cơ quan thuế và phiền hà cho NNT.
Cơ quan thuế có nhiệm vụ hỗ trợ, hướng dẫn để NNT hiểu rõ chính
sách thuế, các thủ tục về thuế, từ đó thực hiện nghĩa vụ thuế của mình. Cơ
quan thuế không can thiệp vào việc thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT nếu
NNT tự giác tuân thủ nghĩa vụ thuế. Cơ quan thuế tập trung nguồn lực để
giám sát chặt chẽ việc tuân thủ nghĩa vụ thuế của NNT, thông qua công tác
kiểm tra, thanh tra để phát hiện, xử lý kịp thời, đúng đắn những hành vi gian
lận, trốn thuế của NNT.
Cơ chế này giúp tạo được sự cân bằng giữa hai chức năng chủ yếu của
cơ quan thuế là chức năng phục vụ và chức năng giám sát, kiểm tra hoạt
động tuân thủ nghĩa vụ thuế đối với NNT. Nói cách khác, cơ chế này tạo nên
sự kết hợp hài hoà vai trò của cơ quan thuế như một cơ quan công quyền
thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về thuế với vai trò một cơ quan cung
cấp dịch vụ thuế cho cộng đồng doanh nghiệp và xã hội.
Sơ đồ dưới đây mô tả khái quát về mối quan hệ trách nhiệm, nghĩa vụ
của cơ quan thuế và NNT để thực hiện pháp luật về thuế. NNT có nghĩa vụ
kê khai, nộp thuế và cơ quan thuế có trách nhiệm hỗ trợ NNT thực hiện
nghĩa vụ này, đồng thời thực hiện thanh tra, kiểm tra có lựa chọn trên cơ sở
của quản lý rủi ro.
Sinh viªn: Phan ThÞ Trang Líp: CQ45/02.02
6
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Sơ đồ 1.1: Hệ thống tự kê khai, tự nộp thuế
HỆ THỐNG TỰ KÊ KHAI, TỰ NỘP THUẾ
1.1.3 Sự cần thiết thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế
Cơ chế tự khai, tự nộp thuế là cơ chế quản lý thuế tiên tiến, hiện đại,
dựa trên ý chí tuân thủ tự giác của NNT. Với việc áp dụng cơ chế tự khai, tự
nộp thì cơ quan thuế sẽ không phải can thiệp vào việc thực hiện nghĩa vụ của
doanh nghiệp mà tập trung nguồn lực cho công tác tuyên truyền, hỗ trợ,
hướng dẫn để NNT có đủ năng lực thực hiện nghĩa vụ ngân sách nhà nước,
đồng thời cũng tăng cường các biện pháp theo dõi, giám sát, kiểm tra để kịp
thời phát hiện, chấn chỉnh các hành vi vi phạm pháp luật thuế, tránh gây thất
thu ngân sách nhà nước. Sự cần thiết thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp xuất
phát từ các lý do chủ yếu sau:
Thứ nhất, Xuất phát từ yêu cầu khắc phục những hạn chế trong quản
lý thuế hiện nay trước sự phát triển nhanh chóng của NNT
Sinh viªn: Phan ThÞ Trang Líp: CQ45/02.02
Nhiệm vụ
cơ quan
thuế, các
tổ chức
cung cấp
dịch vụ
thuế.
Hỗ trợ,
hướng
dẫn NNT.
NNT lưu giữ sổ sách kế toán.
NNT tính thuế.
NNT lập tờ khai thuế.
NNT nộp tờ khai đúng hạn.
NNT nộp thuế theo mức dự tính.
Kiểm tra đơn giản.
Thanh tra thuế đối với một số
trường hợp chọn lọc.
Nhiệm vụ
của NNT.
Nhiệm vụ
của cơ
quan thuế
7
Luận văn tốt nghiệp
Vi s phỏt trin nhanh chúng ca NNT c v s lng v v qui mụ,
phm vi kinh doanh, hỡnh thc, phng thc kinh doanh, t chc qun lý ca
ngnh thu ó bc l nhiu im bt cp:
+ V t chc b mỏy: T chc v trỡnh qun lý thu ca c quan
thu cha theo kp vi s phỏt trin nhanh chúng c v s lng, phm vi,
qui mụ hot ng kinh doanh cng nh s phc tp ca cỏc hỡnh thc,
phng thc kinh doanh ca NNT.
+ V phng thc qun lý: Doanh nghip ngy cng phỏt trin, cỏch
thc hot ng hin i hn. Vỡ vy, vic qun lý ca c quan thu cn khoa
hc, hp lý, cn cú s chia s ca doanh nghip trong quỏ trỡnh khai v np
thu.
+ V cụng c qun lý: Vi yờu cu ca phng thc qun lý theo ri
ro, da trờn thụng tin v NNT thỡ ỏp dng tin hc trong qun lý l mt yờu
cu bt buộc, bởi không thể xây dựng thu thập, xử lý và quản lý hệ thống
thông tin đồ sộ nh vậy bằng thủ công. Hin nay, ngnh thu ó thc hin tin
hc hoỏ c khong 70% cụng vic qun lý thu. Tuy nhiờn, cỏc ng dng
tin hc hin nay c vn hnh theo tng ng dng n l v trờn c s cỏc
thụng tin v NNT cũn ang c lu phõn tỏn theo tng h s, tng sc
thu, tng Chi cc, Cc thu m cha tớch hp c trờn phm vi ton
quc cng nh cha tng hp c thụng tin ton din v tng NNT. ỏp
dng c ch t khai, t np thu mt cỏch hiu qu, ũi hi c s vt cht
ca ngnh thu phi c hin i húa, c bit l h thng c s vt cht
phc v cho cụng tỏc thụng tin, liờn lc sao cho vic kim tra, i chiu s
liu cú th phc v nhanh chúng v chớnh xỏc.
+ V trỡnh cỏn b: Trong nhng nm va qua, ngnh thu ó cú
nhng tin b ỏng k trong vic o to trỡnh i hc, trung cp cho cỏn
b. Tuy cú bng cp nhng trỡnh qun lý thu ca cỏn b cũn thp, cha
ng u, cha c chỳ ý o to v k nng qun lý thu, k nng lm
vic mt cỏch chuyờn nghip. Cỏn b ch yu vn lm vic theo kinh
Sinh viên: Phan Thị Trang Lớp: CQ45/02.02
8
LuËn v¨n tèt nghiÖp
nghiệm, theo thói quen cá nhân, thể hiện văn hoá khi tiếp xúc với NNT còn
có nhiều hạn chế. Vì vậy, khi thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp đòi hỏi cán bộ
thuế phải có một cách nhìn nhận khác về phương thức quản lý này, yêu cầu
về trình độ hiểu biết, thái độ ứng xử với NNT phải chuyên nghiệp, tạo điều
kiện áp dụng tốt cơ chế tự khai, tự nộp thuế.
Thực hiện áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thuế có điều kiện để cải tiến
cơ cấu tổ chức nhằm sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực hiện có, công tác
quản lý thu thuế được tổ chức theo hướng ngày càng hiện đại và chuyên môn
hóa. Nhờ việc không mất thời gian tính toán lại số thuế phải nộp của NNT và
phát hành thông báo thuế mà cán bộ thuế có điều kiện tập trung thời gian và
công sức cho các công việc quản lý khác như: công tác tuyên truyền, hỗ trợ,
công tác thanh tra, kiểm tra, công tác đôn đốc thu nộp và cưỡng chế thuế đối
với tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, giúp họ hiểu và tự giác thực hiện
nghĩa vụ thuế của mình đối với ngân sách nhà nước, … Triển khai thực hiện
cơ chế này sẽ tạo điều kiện cho ngành thuế đẩy mạnh hiện đại hóa công tác
quản lý mà cụ thể là đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ tin học trong công
tác quản lý thu thuế. Đó là tiền đề nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu
thuế.
Thứ hai, Xuất phát từ yêu cầu hội nhập quốc tế, đưa ngành thuế Việt
Nam ngang tầm với các nước trong khu vực.
Xu thế hội nhập, liên kết kinh tế trong khu vực tiến tới toàn cầu hoá
kinh tế là tất yếu khách quan. Hội nhập quốc tế về thuế ngày càng rộng và
càng sâu, nhằm khuyến khích đầu tư, tự do hoá thương mại trong khu vực và
trên toàn thế giới. Do đó, ngoài việc phải xây dựng hệ thống chính sách thuế
tương thích, công tác quản lý thuế phải được cải cách và hiện đại hoá theo
các chuẩn mực quản lý thuế quốc tế nhằm thu hút mạnh mẽ đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam và khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước
ngoài, tạo môi trường thuận lợi, đồng nhất về thuế để phát triển kinh tế.
Sinh viªn: Phan ThÞ Trang Líp: CQ45/02.02
9
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Quản lý theo cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế là phương thức quản lý
thuế hiện đại. Để quản lý thuế theo cơ chế này, ngành thuế phải đổi mới,
hiện đại hoá toàn diện các lĩnh vực trong quản lý thuế, sử dụng kỹ thuật quản
lý thuế hiện đại và ứng dụng tin học trong quản lý. Do đó, việc áp dụng cơ
chế này sẽ giúp ngành thuế khắc phục những tồn tại, yếu kém trong công tác
quản lý thuế hiện hành, tạo điều kiện để công tác quản lý thuế Việt Nam
ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Thứ ba, Xuất phát từ yêu cầu cải cách quản lý hành chính Nhà nước.
Việc chuyển sang thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp là phù hợp với xu
thế cải cách quản lý hành chính của nhà nước theo hướng tôn trọng, phát huy
tính tự giác, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật của người nộp thuế. Khi áp
dụng cơ chế tự khai, tự nộp thì NNT phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính
trung thực của số liệu kê khai và tính chính xác của việc tính toán số thuế
phải nộp. Tức là, NNT được nâng cao trách nhiệm pháp lý trong việc kê khai
thuế với Nhà nước, tăng sự tự giác, được chủ động trong việc thực hiện
nghĩa vụ của mình.
Việc áp dụng cơ chế TKTN tạo nên sự kết hợp hài hoà vai trò của cơ
quan thuế như một cơ quan công quyền thực hiện chức năng quản lý Nhà
nước về thuế với vai trò một cơ quan cung cấp dịch vụ thuế cho cộng đồng
doanh nghiệp và xã hội.
1.2 Một số nét về công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT
1.2.1 Khái niệm
Mục tiêu của quản lý thuế trong xã hội hiện đại là tăng tính tuân thủ tự
nguyện của NNT chứ không phải đưa ra những hình thức xử phạt các đối
tượng trốn và tránh thuế. Để thực hiện mục tiêu này, cơ quan thuế không chỉ
có nhiệm vụ theo dõi, giám sát, kiểm tra, đôn đốc NNT thực hiện nghĩa vụ
thuế, mà còn có trách nhiệm tạo ra những điều kiện tốt nhất để NNT tự giác,
chủ động thực hiện nghĩa vụ thuế của mình.
Sinh viªn: Phan ThÞ Trang Líp: CQ45/02.02
10
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Xét trên góc độ là một trong những biện pháp mà Chính phủ sử dụng
nhằm đạt được mục tiêu trong quản lý, có thể hiểu dịch vụ hỗ trợ NNT và
tuyên truyền pháp luật thuế là toàn bộ các hoạt động trợ giúp của cơ quan
thuế cho các tổ chức, cá nhân để họ hiểu về chính sách, pháp luật thuế và tự
nguyện tuân thủ pháp luật thuế. Vì vậy, hoạt động tuyên truyền pháp luật về
thuế được xem là việc cơ quan thuế sử dụng các hình thức, phương tiện để
cung cấp, truyền bá thông tin về pháp luật thuế đến với mọi người dân nhằm
giúp cho họ hiểu rõ được bản chất và ý nghĩa của việc nộp thuế; quyền và
nghĩa vụ của mình trong việc nộp thuế. Trong khi đó, dịch vụ hỗ trợ NNT là
loại dịch vụ công do cơ quan thuế cung cấp để hỗ trợ người nộp thuế thực
hiện nghĩa vụ nộp thuế, bao gồm các dịch vụ giải thích pháp luật, tư vấn và
hỗ trợ việc chuẩn bị kê khai, tính thuế và xác định nghĩa vụ thuế.
Với khái niệm nêu trên, hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ pháp luật về thuế
được xem là việc cơ quan thuế sử dụng các hình thức, phương tiện để cung
cấp, truyền bá thông tin về pháp luật thuế đến với mọi người dân nhằm giúp
cho họ hiểu rõ được bản chất và ý nghĩa của việc nộp thuế; quyền và nghĩa
vụ của mình trong việc nộp thuế.
1.2.2 Nội dung công tác tuyên truyền và hỗ trợ NNT
1.2.2.1 Nội dung hoạt động tuyên truyền về thuế
Hoạt động tuyên truyền giáo dục pháp luật về thuế là nhiệm vụ của
cán bộ thuế, bằng nhiều hình thức và phương pháp phù hợp để tuyên truyền
về chính sách thuế một cách hiệu quả đến NNT và các tầng lớp dân cư. Hoạt
động tuyên truyền về thuế bao gồm các nội dung tuyên truyền từ bản chất
của thuế, lợi ích xã hội từ việc nộp thuế cho đến các biện pháp xử lý đối với
các hành vi vi phạm pháp luật thuế …nhằm tạo điều kiện cho người dân
hiểu và có ý thức chấp hành pháp luật thuế. Các biện pháp tuyên truyền kịp
thời còn giúp người nộp thuế có thể cập nhật thường xuyên thông tin về thuế
khi có những sửa đổi, bổ sung về chính sách để có những điều chỉnh cho phù
hợp trong sản xuất kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ của mình. Ngôn ngữ
Sinh viªn: Phan ThÞ Trang Líp: CQ45/02.02
11
LuËn v¨n tèt nghiÖp
tuyên truyền cần đơn giản, dễ hiểu để phù hợp với nhiều NNT khác nhau
trong các tầng lớp dân cư khác nhau.
Nội dung hoạt động tuyên truyền về thuế có thể bao gồm các vấn đề
sau:
- Tuyên truyền giải thích về bản chất, vai trò của thuế, các lợi ích xã
hội có được từ việc sử dụng tiền thuế.
- Tuyên truyền phổ biến nội dung các chính sách, pháp luật về thuế.
- Phổ biến các vấn đề liên quan đến nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ
quan thuế, của người nộp thuế và các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội,
trong việc cung cấp thông tin và phối hợp trong việc thực hiện các luật thuế.
- Phổ biến các thủ tục về thuế, quy định về việc xử lý các vi phạm pháp
luật thuế .
- Tuyên dương khen thưởng NNT chấp hành tốt pháp luật về thuế.
1.2.2.2 Nội dung dịch vụ hỗ trợ NNT
Hỗ trợ NNT tức là việc hướng dẫn, giải thích, tư vấn cho NNT hiểu rõ
các vấn đề liên quan đến chính sách, chế độ thuế đã được quy định. Nếu như
hoạt động tuyên truyền thuế thường được thực hiện theo ý muốn chủ quan
của cơ quan thuế thì các dịch vụ hỗ trợ NNT thường được thực hiện theo
nguyện vọng và yêu cầu từ phía NNT. Khi người nộp thuế có vướng mắc
trong quá trình kê khai, tính thuế, quyết toán thuế hoặc các vấn đề có liên
quan khác, họ có thể đề nghị cán bộ thuế tư vấn.
Hoạt động hỗ trợ NNT có thể bao gồm các nội dung sau đây :
- Hướng dẫn, tư vấn các nội dung về chính sách, chế độ thuế.
- Hướng dẫn, tư vấn các thủ tục, quy trình chấp hành nghĩa vụ thuế như
thủ tục đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế, xin miễn giảm thuế …
- Hướng dẫn tư vấn cách lập các mẫu biểu báo cáo về thuế
- Tư vấn các vấn đề liên quan đến thuế như kế toán, cách sử dụng, quản
lý hóa đơn, chứng từ…
Sinh viªn: Phan ThÞ Trang Líp: CQ45/02.02
12
LuËn v¨n tèt nghiÖp
- Hướng dẫn và cung cấp các thông tin cảnh báo về các trường hợp trốn
thuế, gian lận thuế, các chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm pháp luật
thuế.
- Giải đáp các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện nghĩa vụ
thuế của NNT
1.2.3 Hình thức tuyên truyền, hỗ trợ NNT
Hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ pháp luật thuế là các hoạt động do cơ
quan thuế chủ động xây dựng nội dung và cung cấp cho người nộp thuế theo
các mục tiêu, chương trình đã được xác định. Có hai hình thức tuyên truyền
chủ yếu sau:
1.2.3.1. Tuyên truyền, hỗ trợ gián tiếp:
- Tuyên truyền qua hệ thống phương tiện thông tin đại chúng như các
báo, đài phát thanh, đài truyền hình. Đây được xem là hình thức phổ biến và
hiệu quả nhất khi thực hiện hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ pháp luật thuế.
Mục tiêu chủ yếu là cung cấp, giới thiệu, phổ biến pháp luật với các ưu điểm
cơ bản là cách thức thực hiện hấp dẫn, đa dạng, mọi đối tượng nộp thuế có
nhu cầu đều có thể tiếp cận do sự linh hoạt về thời gian về hình thức thể
hiện, đòi hỏi có sự phối hợp của nhiều tổ chức cá nhân có liên quan…Các
dạng hình thức cụ thể của hình thức tuyên truyền trên các phương tiện thông
tin đại chúng là:
+ Các bản phụ trương về thuế, các chuyên mục thuế trên báo, tạp chí
+ Các trung tâm sản xuất chương trình truyền hình về thuế
+ Bản tin hệ thống thông tin tài chính
+ Băng, video, đĩa hình
- Sử dụng hệ thống điện thoại tự động: tự động lưu lại các thắc mắc về
thuế và giải đáp các vấn đề về thuế mà NNT còn mắc phải, cài đặt sẵn những
thông tin cơ bản về các sắc thuế.
- Phát hành rộng rãi các văn bản pháp quy, các văn bản hướng dẫn liên
quan đến thuế, các loại tờ rơi, tờ bướm, các cuốn sổ tay luật thuế để phát
Sinh viªn: Phan ThÞ Trang Líp: CQ45/02.02
13
LuËn v¨n tèt nghiÖp
miễn phí cho NNT. Để có hiệu quả các ấn phẩm này cần được soạn thảo
ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu... Nội dung các ấn phẩm này thường là tóm tắt
các quy định pháp luật về NNT, căn cứ tính thuế, trách nhiệm, quyền hạn
của NNT …
- Cán bộ thuế trả lời trực tiếp qua điện thoại: cung cấp số điện thoại tư
vấn cho NNT, cán bộ trực sẽ nghe những vướng mắc của NNT và trả lời
ngay cho NNT nếu có thể và nằm trong phạm vi cho phép của họ. Tuy nhiên
hình thức cung cấp này cần phải đảm bảo tính chính xác và cập nhật trong
cung cấp thông tin, đồng thời cần phải đảm bảo được tính lịch sự, nhã nhặn
trong giao tiếp của người cung cấp với NNT.
- Cung cấp thông tin về thuế qua mạng internet: thông qua các trang
web, các diễn đàn, các báo điện tử về thuế. Trong đó gồm các thông tin về
các văn bản quy phạm về thuế, các sắc thuế, các hướng dẫn của cơ quan thuế
trong việc kê khai, tính nộp thuế cho NNT. Ngoài ra NNT có thể gửi trực
tiếp thắc mắc của mình cho cơ quan thuế qua hệ thống thư điện tử.
- Hướng dẫn, giải đáp cho NNT bằng văn bản: NNT gửi cho cơ quan
thuế công văn, trong đó nêu ra những vấn đề thắc mắc yêu cầu cơ quan thuế
giải đáp. Sau khi tiếp nhận công văn của NNT, cơ quan thuế xem xét kỹ vấn
đề mà NNT thắc mắc sau đó trả lời cho NNT cũng bằng công văn.
1.2.3.2. Tuyên truyền, hỗ trợ trực tiếp:
- Tổ chức tiếp và trả lời các câu hỏi của NNT tại trụ sở cơ quan thuế.
Cơ quan thuế bố trí một số cán bộ thích hợp, có đủ trình độ và hiểu
biết về thuế, có phẩm chất đạo đức tốt để tiếp xúc với NNT, trả lời các
vướng mắc, hướng dẫn NNT thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước.
Thực hiện công việc này, khối lượng công việc của bộ phận hỗ trợ sẽ
rất lớn, đặc biệt là khi NNT tăng lên.
Hình thức hỗ trợ bằng việc trực tiếp tiếp xúc với NNT, trả lời các
vướng mắc, hướng dẫn NNT các thủ tục liên quan đến thuế có tác dụng là có
thể đáp ứng được mọi yêu cầu NNT một cách nhanh nhất.
Sinh viªn: Phan ThÞ Trang Líp: CQ45/02.02
14
LuËn v¨n tèt nghiÖp
- Tổ chức các buổi hội thảo, toạ đàm với các doanh nghiệp.
Thông qua các cuộc hội thảo, cơ quan thuế phổ biến chính sách thuế
mới, nắm bắt được những vướng mắc, khó khăn của cơ sở kinh doanh trong
việc chấp hành luật thuế, tìm biện pháp tháo gỡ khó khăn cho NNT, nghiên
cứu, sửa đổi, hoàn thiện chính sách thuế.
Trong các buổi hội thảo, toạ đàm với NNT, cần lưu ý các cơ sở mới
thành lập, có quy mô lớn,...
- Tổ chức tập huấn về thuế, về các vấn đề liên quan đến thuế cho NNT
nhất là các vấn đề mới.
Để luật thuế được thực thi tốt, cùng với việc tập huấn, bồi dưỡng cho
cán bộ thuế, cần phải tập huấn thuế và các vấn đề liên quan cho NNT. Công
tác này cần được coi trọng và trở thành công việc thường xuyên của cơ quan
thuế.
1.2.4 Nhân tố ảnh hưởng đến công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT
Hiệu quả của công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT chịu ảnh hưởng của
rất nhiều yếu tố, trong đó có 4 yếu tố cơ bản sau:
Thứ nhất, các quy định của pháp luật thuế. Chính sách thuế ổn định sẽ
làm cho nội dung, tài liệu tuyên truyền, hỗ trợ không phải thay đổi thường
xuyên, vừa tiết kiệm chi phí vừa tạo tâm lý yên tâm cho NNT. Hệ thống
pháp luật thuế chặt chẽ, rõ ràng và có sự thống nhất giữa thông tư, nghị định
với luật, giữa các sắc thuế với nhau sẽ giúp cán bộ thuế trả lời vướng mắc
của NNT được nhanh chóng, thuận tiện, nhất quán, hạn chế tình trạng trả lời
bằng công văn riêng của cấp trên.
Thứ hai, cán bộ làm công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT. Trong bất cứ
hoạt động nào thì nhân tố con người đều đóng vai trò quan trọng, nó ảnh
hưởng không ít đến vấn đề tuyên truyền và hỗ trợ NNT. Họ chính là người
hướng dẫn và thay mặt cho toàn thể cán bộ thuế trong đơn vị đưa ra những ý
kiến đúng đắn hướng dẫn cho doanh nghiệp. Khi người cán bộ đảm nhận
việc tuyên truyền, hỗ trợ NNT mà có trình độ chuyên môn vững, kinh
Sinh viªn: Phan ThÞ Trang Líp: CQ45/02.02
15
LuËn v¨n tèt nghiÖp
nghiệm, có tinh thần nhiệt huyết, khả năng truyền đạt tốt, thái độ ứng xử nhẹ
nhàng... thì hiệu quả công việc sẽ tăng và ngược lại.
Thứ ba, thái độ quan tâm, trình độ, ý thức của NNT. Thuế là một lĩnh
vực có phạm vi ảnh hưởng rộng, tác động trực tiếp đến từng cá nhân, tổ chức
trong xã hội, là một lĩnh vực nhạy cảm với vấn đề dân chủ của nhân dân.
Ngày nay, xã hội càng phát triển, trình độ dân trí càng cao, mọi người càng
quan tâm hơn về lĩnh vực thuế, vì vậy đây cũng là một thách thức của cả
ngành thuế nói chung và bộ phận tuyên truyền, hỗ trợ nói riêng. Mặt khác ý
thức của người dân, trình độ dân trí càng cao, thì việc tuyên truyền, hỗ trợ
càng nhanh chóng, thời gian để hướng dẫn có thể được rút ngắn hơn, nội
dung tuyên truyền và hỗ trợ chỉ tập trung vào những cái còn gặp nhiều
vướng mắc.
Thứ tư, sự quan tâm của xã hội. Hoạt động HTNNT tuy là của ngành
thuế nhưng rất cần sự phối hợp của các cơ quan ban ngành khác như đài
truyền hình, đài phát thanh, báo chí… Chính vì thế, sự quan tâm, ủng hộ của
cấp lãnh đạo, của các ban ngành có liên quan, sự chú ý của công chúng là
chất xúc tác quan trọng đảm bảo thực hiện và thực hiện có hiệu quả công tác
tuyên truyền, hỗ trợ NNT.
Thứ năm, trình độ khoa học công nghệ. Hiện nay, việc ứng dụng khoa
học công nghệ đã trở nên phổ biến trên mọi ngành nghề lĩnh vực.Thuế cũng
như bất kỳ mọi lĩnh vực khác, đặc biệt hơn nữa, đây là một ngành hết sức
phức tạp, số liệu và thông tin nhiều, cần phải xây dựng một hệ thống thống
nhất, xử lý số liệu nhanh chóng, chính xác. Bộ phận tuyên truyền và hỗ trợ là
bộ phận hết sức quan trọng, nó được coi là bộ mặt của ngành thuế, vì nó trực
tiếp nói chuyện, giải đáp những vướng mắc của NNT...Việc thu nhận, tính
toán, xử lý nhanh, chính xác, là một vấn đề hết sức quan trọng của bộ phận
này, vậy để đáp ứng vấn đề đó được hay không, là do sự phát triển công
nghệ thông tin trong ngành.
Sinh viªn: Phan ThÞ Trang Líp: CQ45/02.02
16
LuËn v¨n tèt nghiÖp
1.3 Sự cần thiết thực hiện công tác tuyên truyền và hỗ trợ NNT trong cơ
chế tự khai, tự nộp thuế
1.3.1 Ý nghĩa của công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT
Làm tốt công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT có ý nghĩa quan trọng đối
với NNT, cơ quan thuế và xã hội. Cụ thể:
- Tuyên truyền làm cho NNT và mọi người dân hiểu được bản chất của
thuế, mục đích sử dụng tiền thuế, lợi ích từ tiền thuế mà mỗi người dân được
hưởng, lợi ích chung của toàn xã hội, từ đó NNT và mỗi người dân nhận
thức được quyền lợi và nghĩa vụ trong việc đóng thuế cho Nhà nước, tự
nguyện chấp hành pháp luật thuế đồng thời phối hợp, hỗ trợ tích cực cho
ngành thuế trong việc tuyên truyền, phổ biến về thuế.
- Cung cấp, hướng dẫn cho NNT các thông tin, hiểu biết về nội dung
các chính sách thuế, các quy trình nghiệp vụ, các thủ tục về thuế... làm cho
NNT hiểu rõ và có cơ sở chấp hành các nghĩa vụ về thuế một cách chính xác,
đầy đủ.
- Mang lại lợi ích kinh tế cho cả NNT và cơ quan thuế. Một trong
những tiêu thức để đánh giá một hệ thống thuế tốt là tính hiệu quả của hệ
thống đó mà thể hiện rõ nét là tính tự giác tuân thủ tự nguyện cao trong việc
chấp hành nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước của NNT. Trên cơ sở các thông
tin và dịch vụ hỗ trợ do cơ quan thuế cung cấp, NNT tiết kiệm được chi phí,
thời gian, công sức dành cho việc nghiên cứu, tìm hiểu và chấp hành luật
thuế, giảm dần những sai phạm không cố ý trong quá trình thực hiện nghĩa
vụ thuế với Nhà nước. Từ đó sẽ làm giảm chi phí quản lý của cơ quan thuế
như chi phí cho công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, truy thu, cưỡng chế,
tiết kiệm chi phí cho Nhà nước đồng thời giảm tỉ lệ thất thu cho NSNN.
- Tạo lập mối quan hệ bình đẳng, thân thiện giữa cơ quan quản lý thuế
và NNT theo hướng NNT là người được phục vụ, là khách hàng của cơ quan
thuế và cơ quan thuế là người phục vụ đáng tin cậy nhất của NNT. Cơ quan
Sinh viªn: Phan ThÞ Trang Líp: CQ45/02.02
17
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Thuế và NNT là người bạn đồng hành trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối
với Nhà nước.
- Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT là nhằm đáp ứng yêu
cầu thực hiện cải cách hành chính của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình
chuyển từ nền hành chính mang nặng tính cai trị sang nền hành chính phục
vụ người dân. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong nền kinh tế thị
trường khi mà tính cạnh tranh trong nước và quốc tế đang trở nên khốc liệt
hơn bao giờ hết.
1.3.2 Sự cần thiết thực hiện công tác tuyên truyền và hỗ trợ NNT trong cơ
chế tự khai, tự nộp thuế
Đứng trước những yêu cầu trên, ngành thuế cần phải đẩy mạnh công
tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế cho toàn dân, triển khai mạnh mẽ
công tác hỗ trợ, phục vụ các tổ chức cá nhân nộp thuế, đưa công tác tuyên
truyền, hỗ trợ NNT thành một trong những khâu trọng tâm của ngành trong
công tác quản lý thu thuế.
Thứ nhất, tuyên truyền về thuế là một nhiệm vụ của cơ quan thuế.
Nguyên tắc pháp chế trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà
nước đòi hỏi mọi cơ quan Nhà nước, mọi tổ chức của Nhà nước, mọi công
dân phải theo đúng qui định của pháp luật. Muốn vậy, phải đẩy mạnh tuyên
truyền, giáo dục, giám sát kiểm tra việc tuân thủ pháp luật của cơ quan Nhà
nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân. Đây cũng là một chức năng quan
trọng của các cơ quan quản lý Nhà nước.
Pháp luật về thuế là một bộ phận của hệ thống pháp luật Nhà nước mà
mọi người dân nói chung và người nộp thuế nói riêng phải chấp hành. Đồng
thời, trong hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước, cơ quan thuế đại diện cho
Nhà nước trong việc quản lý và thực thi pháp luật về thuế. Vì vậy, cơ quan
thuế phải tuyên truyền, giải thích, giáo dục pháp luật thuế cho NNT và toàn
Sinh viªn: Phan ThÞ Trang Líp: CQ45/02.02
18
LuËn v¨n tèt nghiÖp
dân để họ hiểu biết về thuế, pháp luật thuế, về nghĩa vụ và quyền lợi của
người nộp thuế, từ đó thực hiện tốt nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước.
Xét về khía cạnh khác, trước kia NNT được coi là “đối tượng bị quản
lý” do đó cơ quan thuế sử dụng phương pháp quản lý thắt chặt bằng thanh
tra, kiểm tra. Nhưng thực tế cho thấy, do khó khăn về nhân lực, thời gian và
nguồn tài chính nên công tác thanh tra, kiểm tra không thể thực hiện được
với tất cả NNT. Hơn nữa, khi cơ quan thuế tăng cường các biện pháp thắt
chặt quản lý sẽ gây ra tâm lý chây ỳ, đối phó từ phía NNT. Chính vì vậy,
ngành thuế đã áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp, cơ chế này đòi hỏi NNT phải
am hiểu và nắm rõ luật thuế để có thể thực hiện đúng nghĩa vụ nộp thuế của
mình. Từ khi cơ chế tự khai, tự nộp được áp dụng rộng rãi thì công tác tuyên
truyền và hỗ trợ NNT càng phải quyết liệt và tích cực hơn nữa, tránh tình
trạng NNT vi phạm do không nắm rõ thủ tục và luật thuế.
Thứ hai, cần nâng cao nhận thức của người dân về nghĩa vụ thuế.
Hiện nay, tình trạng trốn thuế, tránh thuế và các sai phạm về thuế còn
khá phổ biến. Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là do hiểu
biết của người dân nói chung và người nộp thuế nói riêng về thuế còn hạn
chế. Một mặt, họ chưa thấy được vai trò, ý nghĩa của tiền thuế, quyền lợi của
người nộp thuế. Mặt khác, quan trọng hơn, họ chưa nhận thức được tính
pháp lý của nghĩa vụ thuế. Nghĩa vụ thuế được quy định trong pháp luật,
không thực hiện hoặc thực hiện sai nghĩa vụ thuế tức là vi phạm pháp luật.
Đặc biệt hiện này, cơ chế tự khai, tự nộp là một cơ chế mà cơ quan
thuế có nhiệm vụ hỗ trợ, hướng dẫn để NNT hiểu rõ chính sách thuế, các thủ
tục về thuế, từ đó thực hiện nghĩa vụ thuế của mình. Cơ quan thuế không can
thiệp vào việc thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT nếu NNT tự giác tuân thủ
nghĩa vụ thuế. Điều đó cho thấy, nâng cao nhận thức của người dân về nghĩa
vụ thuế là cần thiết và cấp bách.
Sinh viªn: Phan ThÞ Trang Líp: CQ45/02.02
19
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Thứ ba, tính chất phức tạp của các quy định về nghiệp vụ thuế vì các
luật, nghị định, thông tư về thuế có nhiều từ chuyên môn. Các văn bản pháp
quy sử dụng từ chuyên môn là tất yếu. Nhưng với các thuật ngữ như: đối
tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, căn cứ tính thuế, giá tính thuế, chi phí
hợp lý… thì không phải bất cứ người nào cũng hiểu được chính xác. Mặt
khác, trong một số thông tư, nghị định vẫn còn có những quy định không rõ
ràng, nhất quán gây khó hiểu cho cả những người trong ngành. Vì vậy, nhiều
NNT không nắm rõ phạm vi, đối tượng… của các sắc thuế cũng là điều dễ
hiểu. Do đó, không phải cứ cầm luật thuế trong tay là NNT có thể làm đúng
luật thuế.
Việc thực hiện luật thuế mang nặng yếu tố kỹ thuật. Có thể dẫn chứng
việc thực hiện hai sắc thuế thường gặp nhất là Thuế giá trị gia tăng và Thuế
thu nhập doanh nghiệp: Tờ Quyết toán thuế giá trị gia tăng có 45 chỉ tiêu, Tờ
khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp có 83 chỉ tiêu kèm theo 11 phụ
lục… Để điền đúng, đủ tất cả các chỉ tiêu này không phải là việc đơn giản.
Đó là chưa kể đến việc xác định thu nhập nào phải chịu thuế, chi phí nào
được coi là hợp lý. Đối với sắc thuế khác như Thuế tiêu thụ đặc biệt, Thuế
xuất khẩu, Thuế nhập khẩu thì việc xác định giá tính thuế, thuế suất còn
phức tạp hơn nhiều. Vì vậy, rất khó khăn cho NNT khi kê khai, tính thuế,
trong cơ chế NNT tự khai, tự nộp thuế.
Hiện nay, ngành thuế đã áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thuế trên toàn
quốc. Tự khai, tự nộp thuế là cơ chế quản lý thuế trong đó NNT tự thực hiện
các nghĩa vụ mà Luật qui định; cơ quan thuế được tổ chức và thực hiện các
biện pháp quản lý thuế phù hợp với nguyên tắc NNT tự thực hiện các nghĩa
vụ thuế. Tuy nhiên, với tính chất phức tạp của các quy định về nghiệp vụ
thuế như phân tích ở trên thì khi áp dụng cơ chế này, NNT sẽ gặp rất nhiều
khó khăn. Vì vậy, để đảm bảo hiệu quả của cơ chế hành thu mới này thì
Sinh viªn: Phan ThÞ Trang Líp: CQ45/02.02
20
LuËn v¨n tèt nghiÖp
NNT cần nhận được sự hướng dẫn, tư vấn một cách chu đáo từ phía cơ quan
thuế.
Trong cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế, cơ quan thuế sẽ phải chuyển đổi
từ việc chủ yếu dùng quyền lực để quản lý sang hỗ trợ, phục vụ NNT. Đây là
chức năng chính của cơ quan thuế. Cơ quan thuế thực hiện tốt việc tuyên
truyền, hướng dẫn cho NNT hiểu rõ và tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế, đồng
thời giám sát chặt chẽ việc tuân thủ nghĩa vụ thuế của NNT, thông qua công
tác kiểm tra, thanh tra để phát hiện, xử lý kịp thời những hành vi gian lận,
trốn thuế của NNT. Về phía NNT, nhờ có sự hướng dẫn, tư vấn mà họ sẽ
hiểu chính sách thuế, xác định mình được nộp thuế thay vì phải nộp thuế như
trước đây. Từ đó, họ sẽ chủ động thực hiện nghĩa vụ thuế tốt hơn.
Thứ tư, Kiến thức, trình độ của các cán bộ quản lý ở các cơ sở sản
xuất kinh doanh còn hạn chế
Hiện nay, trên phạm vi cả nước có một khối lượng lớn NNT do cơ
quan thuế quản lý. Hơn nữa, do điều kiện thành lập doanh nghiệp rất đơn
giản nên hằng ngày có rất nhiều công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty tư
nhân… ra đời. Tuy nhiên, kiến thức, trình độ của các cán bộ quản lý các
doanh nghiệp này còn hạn chế, đặc biệt là ở các doanh nghiệp nhỏ. Họ chưa
nhận thức được ý nghĩa của tiền thuế, chưa hiểu được quyền lợi và nghĩa vụ
nộp thuế cho Nhà nước. Đồng thời, họ cũng chưa thực sự hiểu và làm đúng
luật thuế. Do hạn chế về kiến thức và ít kinh nghiệm thực tế kéo theo hạn
chế về trình độ. Rất nhiều cán bộ quản lý chưa thành thạo hoặc thậm chí
không biết cách kê khai thuế, tính thuế, xử lý hoá đơn chứng từ… Từ đó có
thể dẫn tới trốn thuế một cách vô ý. Vì vậy, để góp phần giảm tình trạng trốn
thuế, tăng nguồn thu từ thuế, ngành thuế cần phải nâng cao kiến thức, trình
độ về thuế cho những người quản lý doanh nghiệp bằng cách đẩy mạnh
tuyên truyền, hướng dẫn chính sách thuế.
Sinh viªn: Phan ThÞ Trang Líp: CQ45/02.02
21
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Chương 2:
Thực trạng công tác tuyên truyền và hỗ trợ NNT tại Chi cục
Thuế Quận Hà Đông trong cơ chế tự khai, tự nộp

2.1. Bối cảnh kinh tế – xã hội Quận Hà Đông và kết quả thu thuế ở Chi
cục Thuế Quận Hà Đông:
2.1.1. Bối cảnh kinh tế – xã hội Quận Hà Đông:
Quận Hà Đông nằm phía Tây Nam của thủ đô Hà Nội, Đường Tô Hiệu,
Phường Hạ Cầu, Quận Hà Đông, TP Hà Nội, là chi cục thuế trực thuộc cục
thuế Hà Nội, có nhiều quốc lộ đi qua như 6A,…Tổng diện tích tự nhiên là
47,96 km
2
với dân số khoảng 8 vạn người.
- Đặc điểm về điều kiện tự nhiên:
Quận thuộc khu vực đang trên đà phát triển, lợi thế để thúc đẩy nhanh
sự phát triển kinh tế – xã hội. Trên địa bàn quận có:
+ Có 17 đơn vị hành chính phường
+ Phía bắc giáp : Quận Thanh Xuân, Huyện Từ Liêm
+ Phía nam giáp : Huyện Thanh Oai
+ Phía đông giáp : Huyện Thanh Trì
+ Phía tây giáp : Huyện Hoài Đức và Chương Mỹ
+ Có nhiều trường đại học, cao đẳng đóng trên địa bàn như Đại Học
Kiến Trúc, Học Viện Bưu Chính Viễn Thông, Học Viện Quân Y
+ Có các bệnh viện lớn như : Viện bỏng quốc gia, Quân y viện 103,
Bệnh viện đa khoa Hà Đông.
- Đặc điểm kinh tế xã hội
+ Nhân lực:
Sinh viªn: Phan ThÞ Trang Líp: CQ45/02.02
22
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Do là quận ven đô đang trong quá trình phát triển đô thị và xây dựng
nên dân số có xu hướng tăng nhanh. Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế đã
có chuyển biến tích cực phù hợp với quá trình đô thị hoá toàn quận.
Hiện tại tỷ lệ lao động của quận chưa được đào tạo chiếm tỷ lệ thấp so với
mức bình quân của Thành phố và giảm đáng kể qua từng năm. Lao động có
trình độ công nhân kỹ thuật, trung học chuyên nghiệp chiếm tỷ lệ khá cao; tỷ
lệ lao động có trình độ đại học và trên đại học chiếm một tỷ lệ cao, đây là
một lợi thế rất lớn của quận.
Tuy nhiên do những điều kiện khách quan của một quận mới gia nhập
vào thành phố Hà Nội hiện vẫn còn số lượng tương đối lớn lao động không
có việc làm, còn số lượng không nhỏ học sinh phổ thông, sinh viên các
trường đại học, cao đẳng, trung học... đã tốt nghiệp nhưng chưa có việc làm
ổn định. Đây là trở ngại không nhỏ cho sự phát triển kinh tế, đặt ra những
vấn đề về quản lý nguồn lao động đang có xu hướng tăng nhanh dưới tác
động của quá trình đô thị hoá.
+ Về công nghiệp:
Cơ cấu kinh tế trên địa bàn Quận đang được chuyển dịch theo hướng
công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp. Quận Hà Đông có các khu công
nghiệp tương đối phát triển so với các quận khác trong đó:
Dự án khu đô thị mới Văn Quán - Yên Phúc, dự án khu đô thị Mỗ Nao,
Văn Phú, Na Khê và Dương Nội, cụm công nghiệp Yên Nghĩa.
Số lượng doanh nghiệp của Quận ngày một gia tăng thể hiện qua bảng
sau:
Sinh viªn: Phan ThÞ Trang Líp: CQ45/02.02
23
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp số lượng doanh nghiệp và hộ kê khai
( Nguồn : Chi cục Thuế Hà Đông)
Năm 2008 2009 2010
Doanh nghiệp 1.337 1.870 2.187
Hộ kê khai 300 464 748

+ Dịch vụ: các hoạt động dịch vụ đang phát triển. Trên địa bàn có các
loại hình dịch vụ cao cấp (tài chính, bảo hiểm, tư vấn, du lịch...) đang dần
phát triển.
+ Nông nghiệp: sản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm.
+ Văn hoá xã hội:
Các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, văn hoá, y tế, thể thao đã có nhiều
tiến bộ nhưng chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển. Tình trạng lao động
không có việc làm và thiếu việc làm, tệ nạn xã hội còn bức xúc. Các điều
kiện chăm sóc và vui chơi giải trí cho trẻ em, người cao tuổi, phục vụ yêu
cầu khám chữa bệnh cho nhân dân càng ngày càng được cải thiện nhưng
chưa đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của người dân.
2.1.2. Kết quả thu thuế tại địa bàn trong điều kiện thực hiện cơ chế tự khai,
tự nộp
Năm 2009 là năm có nhiều thay đổi ảnh hưởng đến tình hình quản lý
thu ngân sách, ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, những biến
động về giá xăng dầu, vàng, ngoại tệ…đã tác động đến hoạt động sản xuất
kinh doanh trong nước cũng như trên địa bàn quận Hà Đông. Tiếp tục thực
hiện Nghị quyết Đại hội đảng toàn quốc lần thứ X, Nghị quyết đảng bộ Hà
Đông lần thứ 18. Năm 2009 là năm Quận ủy, HĐND, UBND quận đề ra
nhiều chủ trương, chuyên đề về phát triển kinh tế - xã hội của Quận. Những
chủ trương về xây dựng bằng nguồn nội lực trong đó việc triển khai đấu giá
Sinh viªn: Phan ThÞ Trang Líp: CQ45/02.02
24
LuËn v¨n tèt nghiÖp
quyền sử dụng đất để tạo nguồn vốn xây dựng, kiến thiết hạ tầng, việc thu
hút đầu tư, trong đó tập trung vào các dự án xây dựng các khu đô thị, chung
cư đã kích thích sự tăng trưởng kinh tế trên địa bàn quận Hà Đông. Với 17
đơn vị hành chính phường, số cán bộ chi cục tại thời điểm tháng 12/2009 là
166 cán bộ, được tổ chức thành 13 đội thuế trong đó có 5 đội thuế quản lý
thu tại các phường và chợ Hà Đông, còn lại các đội thuế hoạt động tại chi
cục thuế.
Năm 2009, Chi Cục Thuế Hà Đông được Cục thuế Hà Nội giao chỉ tiêu
thu ngân sách trên địa bàn với dự toán pháp lệnh là: 2.258.900 triệu đồng, so
với thực hiện năm 2008 tăng 135%. Trong đó thu tiền sử dụng đất, đấu giá
đất 2.015.000 triệu đồng chiếm tỷ trọng 89%; lệ phí trước bạ : 115.700 triệu
đồng chiếm tỷ trọng 5,1%, thuế CTN – DV - NQD là 100.000 triệu đồng
chiếm tỷ trọng 4%, các khoản thu khác chiếm tỷ trọng 1,9%. Dự toán phấn
đấu 2.372.205 triệu đồng .
Tổng thu cả năm toàn Quận thu đạt : 5.676.479 triệu đồng, đạt 251% dự
toán pháp lệnh, so với dự toán phấn đấu đạt 239%, so với thực hiện năm
2008 bằng 301%.
Năm 2009, có 9/9 chỉ tiêu được giao hoàn thành và hoàn thành vượt
mức dự toán (Thu từ xí nghiệp quốc doanh, thuế chuyển quyền SD đất, thuế
SD đất nông nghiệp, thu tiền thuê, bán nhà dự toán không giao ), nhiều chỉ
tiêu so với dự toán pháp lệnh đạt tỷ lệ cao như: thu khác ngân sách 627%;
thu cố định tại xã, phường đạt 551% dự toán; thuế TNCN đạt 536% dự toán;
thuế đất ở đạt 287% dự toán; thu tiền sử dụng đất, đấu giá đất đạt 260% dự
toán; thuế đất ở đạt 287% dự toán; thu tiền sử dụng đất, đấu giá đất đạt 260%
dự toán, phí, lệ phí thu đạt 230% dự toán, lệ phí trước bạ thu đạt 199% dự
toán, thuế CTN-DV-NQD thu đạt 125% dự toán (thuế môn bài đạt 135% dự
toán cả năm ).
Sinh viªn: Phan ThÞ Trang Líp: CQ45/02.02
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×