Tải bản đầy đủ

Bài thu hoạch module quản lý bệnh viện và module kinh tế y tế giáo dục sức khỏe

Khoa Y – ĐHQG TP.HCM
Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA Y

BÀI THU HOẠCH MODULE QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
VÀ MODULE KINH TẾ Y TẾ

HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE

PHAN NGỌC THI
MSSV:125272094

Tp. HCM, 08/2017


Khoa Y – ĐHQG TP.HCM
Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên em xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy, các cô trong bộ

môn Quản lý bệnh viện và bộ mô Kinh tế y tế Khoa Y - Đại học quốc gia TP.Hồ Chí Minh
đã trực tiếp hướng dẫn tận tình chúng em. Các thầy, các cô không chỉ cung cấp những
kiến thức chuyên môn, các vấn đề nổi cộm trong ngành y tế nước nhà mà còn là những
kinh nghiệm giải quyết những khó khăn thường gặp khi hành nghề sau này. Từ đó chúng
em có được được cái nhìn tổng quan về ngành y tế hiện tại.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Thế Dũng, người thầy đã
dành thời gian, công sức để giảng dạy, hướng dẫn chúng em, từ những vấn đề to lớn đến
những chi tiết nhất, cũng như cuộc đời hành nghề y,qua đó truyền lửa để chúng em tiếp
tục học tập, phấn đấu với con đường mình đã chọn.
Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới đã tạo điều
kiện, hỗ trợ cho chúng em học tập, hoàn thành tốt các mục tiêu của bộ môn.
Cuối cùng em xin gửi lời cám ơn đến Ban Chủ nhiệm Khoa Y - Đại học quốc gia
TP.Hồ Chí Minh và Ban điều phối module đã thiết kế chương trình, môn học này. Bởi lẽ
những kiến thức chúng em học được từ đây là hành trang quý báu trong suốt cuộc đời
hành nghề y của mình.
Với điều kiện thời gian và kinh nghiệm bản thân còn hạn chế nên khó tránh khỏi
những thiếu sót. Kính mong nhận được sự cảm thông cùng những ý kiến đóng góp quý
báu từ các thầy, các cô.
Trân trọng.
TP.Hồ Chí Minh, ngày 04 tháng 08 năm 2017
Sinh viên

2


Khoa Y – ĐHQG TP.HCM
Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế
TÓM TẮT
Qua module Quản lý bệnh viện và module Kinh tế y tế có rất nhiều vấn đề được đặt ra.
Tuy nhiên với nội dung cho phép của bài thu hoạch em xin được trình bày về vấn đề Hoạt
động giáo dục sức khỏe. Bởi lẽ nó có một vai trò vô cùng quan trọng trong việc nâng cao
kiến thức, thay đổi hành vi lành mạnh, qua đó nâng cao hiệu quả điều trị, hạn chế biến
chứng, tránh tái phát, và phòng bệnh,.
Trong bài viết em sẽ nêu ra những khái niệm, định nghĩa,các nguyên tắc cơ bản, một số
văn bản qui định liên quan, đồng thời làm nổi bật vai trò to lớn của giáo dục sức khỏe
bằng dẫn chứng cụ thể các hoạt động giáo dục sức khỏe trên thế giới và tại Việt Nam.

3



Khoa Y – ĐHQG TP.HCM
Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế
MỤC LỤC

Contents

4


Khoa Y – ĐHQG TP.HCM
Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế
DANH SÁCH HÌNH VẼ

Danh sách hình
Tên hình
Hình ảnh 01

Trang
8

Hình ảnh 03

Hoạt động giáo dục sức khỏe về hành vi có lợi cho sức
khỏe dành cho thanh thiếu niên của WHO.
Hoạt động giáo dục sức khỏe về tác hại của việc ngồi
lâu.
Hoạt động giáo dục sức khỏe về tác hại của béo phì.

Hình ảnh 04

Hoạt động Shokuiku ở Nhật Bản.

10

Hình ảnh 05

Chương trình phòng bệnh do virus ZIKA của sở y tế
tỉnh Quảng Ninh.
Chương trình chống sốt xuất huyết của cục y tế dự
phòng.
Hướng dẫn Sơ cấp cứu tai nạn trên facebook của bệnh
viện Nhi Đồng Thành Phố.
Các bài báo về dịch sốt xuất huyết 2017

11

Hình ảnh 02

Hình ảnh 06
Hình ảnh 07
Hình ảnh 08

5

9
9

11
12
13


Khoa Y – ĐHQG TP.HCM
Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế
DANH SÁCH BẢNG BIỂU

Danh sách bảng biểu
Tên bảng
Bảng 01

Tình hình dịch Sởi từ 10/04/2014 đến 30/05/2014

DANH SÁCH CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
WHO: World Health Organization - Tổ chức Y tế thế giới.
GDSK: Giáo dục sức khỏe.
6

Trang
14


Khoa Y – ĐHQG TP.HCM
Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế
BYT: Bộ Y tế.

7


Khoa Y – ĐHQG TP.HCM
Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU
Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII) nêu rõ: Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con
người, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Mục tiêu của
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng như tất cả các thành viên khác là:“Sức khỏe cho mọi
người” (Health for People) [9], mục tiêu này chỉ có thể đạt được khi tất cả mọi thành viên
trong cộng đồng cùng tham gia tích cực vào việc thực hành các hành vi sức khỏe lành
mạnh và cải thiện môi trường sức khỏe tốt cho cộng đồng.
Với định nghĩa sức khỏe của Tổ chức Y tế thế giới: “Sức khỏe là trạng thái thoải
mái toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không phải chỉ bao gồm tình trạng
không có bệnh hay thương tật” [10]. Từ định nghĩa trên, chúng ta nhận thấy rằng có rất
nhiều yếu tố tác động đến sức khỏe con người bao gồm: xã hội, văn hóa, kinh tế, chính trị,
môi trường và sinh học. Giáo dục sức khỏe được dùng những phương pháp và kỹ thuật
học thích hợp để bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho mọi người thông qua một loạt quá trình
được sử dụng để thay đổi những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe.
Nhu cầu được chăm sóc sức khỏe của người dân là nhu cầu thiết yếu hàng đầu hiện
nay nhưng để đạt được hiểu quả cao nhất cần có sự đồng lòng, phối hợp tốt giữa đội ngũ y
tế và người dân trong điều trị, theo dõi, dự phòng.
Về phía bản thân đã trải qua một thời gian thực tập lâm sàng tại một số bệnh viện,
có thể thấy được rất nhiều bệnh nhân, thân nhân không biết phải phòng bệnh, khi nào
cần nhập viện, tái khám, chế độ ăn uống, nghỉ ngơi,… hay thậm chí đọc nhiều thông
tin sai lệch dẫn đến hậu quả đáng tiếc. Mà với thực trạng quá tải hiện nay, khó có nhân
viên y tế nào đủ thời gian giải thích cặn kẽ, cụ thể đến từng người. Vì vậy các hoạt
động giáo dục sức khỏe là một giải pháp hiệu quả. Qua đó phổ biến những kiến thức
đúng đắn, quan trọng đến với người dân.

8


Khoa Y – ĐHQG TP.HCM
Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
2.1/Sơ lược về giáo dục sức khỏe [1], [2]:
2.1.1/ Giáo dục sức khỏe là gì?
Giáo dục sức khỏe giống như giáo dục chung, là quá trình tác động có mục đích,
có kế hoạch đến suy nghĩ và tình cảm con người, nhằm nâng cao kiến thức, thay
đổi thái độ và hành vi lành mạnh để bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho cá nhân,
gia đình và cộng đồng.
Giáo dục sức khỏe nói chung tác động vào 3 lĩnh vực: kiến thức của con người
về sức khỏe, thái độ của con người đối với sức khỏe, thực hành hay các ứng xử
của con người đối với bảo vệ và nâng cao sức khỏe.
Ở Việt Nam từ trước đến nay hoạt động giáo dục sức khỏe đã được thực hiện
dưới nhiều tên gọi khác nhau như: tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh, tuyên truyền
giáo dục sức khỏe, giáo dục vệ sinh phòng bệnh,… Hiện nay thống nhất tên gọi
chung là giáo dục sức khỏe.

-

-

-

2.1.2/ Bản chất của giáo dục sức khỏe:
Giáo dục sức khỏe làm thay đổi hành vi sức khỏe: thay đổi hành vi sức khỏe, tạo
lập hành vi có lợi cho sức khỏe là bản chất quyết định trong GDSK.
Giáo dục sức khỏe là một quá trình truyền thông: giáo dục sức khỏe là một quá
trình truyền thông, bao gồm những tác động tương hỗ thông tin hai chiều giữa
người GDSK và đối tượng được GDSK. Quá trình truyền thông khác với quá
trình thông tin sức khỏe. Thông tin sứckhỏe chỉ đơn thuần là quá trình thông tin
một chiều.Điểm khác nhau cơ bản giữa quá trình truyền thông và quá trình
thông tin sức khỏe là việc thu thập các thông tin phản hồi. Công việc này cho
biết các đáp ứng thực tế của đối tượng GDSK (tức là hiệu quả của giáo dục). Nó
cũng giúp cho người làm GDSK kịp thời điều chỉnh mục tiêu, nội dung và
phương pháp GDSK cho thích hợp hơn với từng đối tượng nhằm làm thay đổi
hành vi sức khỏe cũ có hại để hình thành hành vi sức khỏe mới có lợi cho sức
khỏe. Đây là điều mong muốn của người làm GDSK
Giáo dục sức khỏe là một quá trinh tác động tâm lý.

-

-

2.1.3/ Mục tiêu của giáo dục sức khỏe:
Giáo dục sức khỏe góp phần thực hiện quyền được chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của
con người. Mục tiêu cơ bản của giáo dục sức khỏe là giúp cho mọi người:
-

Xác định những vấn đề và nhu cầu sức khỏe của họ.

9


Khoa Y – ĐHQG TP.HCM
Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế
-

Hiểu rõ những điều gì họ có thể làm được để giải quyết những vấn đề sức khỏe,
bảo vệ và tăng cường sức khỏe bằng những khả năng của chính họ cũng như sự
giúp đỡ bên ngoài.

-

Quyết định những hành động thích hợp nhất để tăng cường cuốc sống khỏe
mạnh.

2.1.4/ Vị trí của giáo dục sức khỏe:
-

-

Trong những năm gần đây, giáo dục sức khỏe ngày càng có vai trò quan trọng
trong chăm sóc sức khỏe ban đầu.Chăm sóc sức khỏe ban đầu đáp ứng những
nhu cầu sức khỏe thiết yếu của đại đa số nhân dân với giá thành thấp nhất có
thể chấp nhận được. Thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu là trách nhiệm của
các cán bộ y tế, của các cơ sở y tế và cũng là trách nhiệm của mỗi cá nhân, mỗi
gia đình và cộng đồng.
Trong chăm sóc sức khỏe ban đầu , Giáo dục sức khỏe giữ vị trí quan trọng bậc
nhất, bởi vì nó tạo điều kiện để chuẩn bị, thực hiện và củng cố kết quả các nội
dung chăm sóc sức khỏe ban đầu khác.

2.1.5/ Tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe:
-

Là một bộ phận công tác y tế quan trọng làm thay đổi hành vi sức khỏe.
Góp phần tạo ra, bảo vệ và nâng cao sức khỏe con người.
Nếu giáo dục sức khỏe đạt kết quả tốt sẽ giúp làm giảm tỉ lệ mắc bệnh, tỉ lệ tử
vong, tàn phế nhất là ở các nước đang phát triển.
Tăng cường hiệu quả các dịch vụ Y tế.

2.1.6/ Những nguyên tắc trong giáo dục sức khỏe:


Nguyên tắc tính khoa học: Là xác định các nội dung giáo dục sức khỏe, lựa chọn
phương tiện, phương pháp một cách khoa học, làm cho các nội dung này phù hợp
với từng đối tượng giáo dục, từng cộng đồng.
- Giáo dục sức khỏe có tính khoa học vì nó dựa trên cơ sở khoa học sau:
1. Những cơ sở khoa học hành vi.
2. Những cơ sở tâm lý học giáo dục.
3. Những cơ sở tâm lý học xã hội.
4. Những cơ sở tâm lý học nhận thức.
5. Lý thuyết phổ biến sự đổi mới.
-

Nguyên tắc tính khoa học còn được thể hiện trong việc xác định nội dung Giáo
dục sức khỏe dựa trên cơ sở điều tra nghiên cứu toàn diện về xã hội, tâm lý,
dịch tể, kinh tế chính trị của mỗi cộng đồng để xác định và lựa chọn vấn đề ưu
10


Khoa Y – ĐHQG TP.HCM
Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế
tiên cần giáo dục. Những nội dung Giáo dục sức khỏe cũng phải thực sự khoa
học, đã được chứng minh bằng khoa học và thực tiễn. Trong khi tiến hành Giáo
dục sức khỏe không nên đưa những nội dung mà các nhà khoa học còn đang
bàn cãi, chưa rõ ràng, chưa được kiểm nghiệm trong thực tiễn.
- Nguyên tắc tính khoa học được thể hiện trong việc lựa chọn những phương
pháp, hình thức, phương tiện giáo dục sức khỏe khoa học, hiện đại song phải
phù hợp với từng đối tượng, từng cộng đồng, từng giai đoạn, và từng hoàn cảnh
kinh tế - xã hội nhất định.
• Nguyên tắc tính đại chúng:
- Giáo dục sức khỏe không những được tiến hành cho mọi người và vì lợi ích của
mọi người trong cộng đồng xã hội, mà còn được mọi người tham gia thực hiện.
Mọi người vừa là đối tượng của giáo dục sức khỏe vừa là người tiến hành giáo
dục sức khỏe.
- Đối tượng của giáo dục sức khỏe rất đa dạng, không thể cùng một lúc chúng ta
có thể làm thay đổi hành vi sức khỏe của tất cả mọi người với mọi vấn đề về sức
khỏe.
- Việc nghiên cứu đối tượng trong một đợt hoặc một nội dung là việc làm hết sức
quan trọng cho phép chúng ta đạt được mục tiêu và hiệu quả của giáo dục sức
khỏe. Khi nghiên cứu đối tượng giáo dục sức khỏe chúng ta cần chú ý những
đặc điểm văn hóa, địa lý, xã hội, kinh tế, tôn giáo, trình độ học vấn và yếu tố
dân tộc. Nội dung, phương pháp, phương tiện giáo dục phải mang tính phổ cập
phù hợp với từng loại đối tượng.
• Nguyên tắc tính trực quan:
- Sử dụng các phương tiện trực quan trong giáo dục sức khỏe sẽ gây được ấn
tượng mạnh với đối tượng giáo dục làm cho đối tượng dễ tập trung và dễ nhớ.
Để gây được ấn tượng sâu sắc cho mọi người, nội dung giáo dục sức khỏe phải
được minh họa hết sức cụ thể bằng những hình tượng sinh động, các phương
tiện trực quan cần sử dụng trong giáo dục sức khỏe là các tranh ảnh, mô hình,
vật thật.
-

Sử dụng phương tiện trực quan phải nhằm tạo thuận lợi cho đối tượng suy nghĩ
và hành động để đạt được những mục tiêu đã định. Tuy nhiên, cần tránh lạm
dụng bất cứ nội dung gì cũng phải có phương tiện trực quan.

-

Bản thân người cán bộ y tế và cơ sở y tế với toàn bộ những hoạt động của mình
phải là những mẫu hình trực quan sinh động có tác dụng giáo dục mạnh mẽ nhất
đối với nhân dân. Tấm gương người cán bộ y tế và cơ sở y tế thông qua các hoạt
động có thể phản chiếu thành hai mặt tích cực và tiêu cực cho sự hình thành hay
thay đổi hành vi sức khỏe nhân dân.
Nguyên tắc tính thực tiễn:


-

Mỗi lý luận khoa học về giáo dục sức khỏe đều phải góp phần tích cực giải
quyết được các vấn đề sức khỏe một cách thiết thực, mang lại hiệu quả một cách
cụ thể thì mới có sức thuyết phục cao.
11


Khoa Y – ĐHQG TP.HCM
Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế
-

Chính nhân dân phải thực sự bắt tay vào làm những công việc nhằm biến đổi
hiện thực chất lượng cuộc sống, trong đó có sức khỏe của họ.

-

Lấy thực tiễn của các kết quả hành động đó để giáo dục, đánh giá và cải tiến
toàn bộ hệ thống giáo dục sức khỏe.
Nguyên tắc lồng ghép:





-

Lồng ghép trong giáo dục sức khỏe là nhằm phát huy mọi nguồn lực sẵn có để
đạt hiệu quả cao hơn trong quá trình giáo dục sức khỏe, tránh được những trùng
lắp không cần thiết hoặc bỏ sót công việc, tiết kiệm nguồn lực, tránh lãng phí và
nâng cao chất lượng công tác giáo dục sức khỏe.

-

Lồng ghép trong giáo dục sức khỏe là sự phối hợp các mặt hoạt động trong quá
trình giáo dục sức khỏe.

-

Phối hợp một số hoạt động của các chương trình giáo dục sức khỏe có tính chất
giống nhau hoặc có liên quan mật thiết với nhau nhằm tạo điều kiện hỗ trợ và
tăng cường lẫn nhau để đạt hiệu quả chung tốt hơn.

-

Phối hợp các hoạt động của giáo dục sức khỏe với các lĩnh vực hoạt động khác
của ngành y tế và các ngành khác, các giới, các đoàn thể nhân dân thành một
quá trình chung nhằm tạo được những hành vi sức khỏe lành mạnh, từ bỏ được
hành vi sức khỏe lạc hậu, có hại cho sức khỏe của mọi người.
Nguyên tắc tính vừa sức và vững chắc:


Nội dung và phương pháp giáo dục sức khỏe phải thích hợp với đặc điểm tâm
sinh lý của từng loại đối tượng sao cho họ có thể tiếp thu được.



Phải lặp đi lặp lại nhiều lần dưới nhiều hình thức và bằng nhiều biện pháp
khác nhau.

Nguyên tắc đối xử cá biệt và tính tập thể: Phải tìm cách tiếp cận và tác động khác
nhau đối với từng cá nhân và từng nhóm, từng tập thể khác nhau.
• Nguyên tắc phát huy cao độ tích cực: phát huy hết các điểm mạnh trong hoạt động
giáo dục sức khỏe.


2.1.7/ Các bước lập kế hoạch Giáo dục sức khỏe:
-

Bước 1: Thu thập thông tin, xác định vấn đề.
Bước 2: Chọn vấn đề sức khỏe ưu tiên.
Bước 3: Xác định mục tiêu và đối tượng giáo dục sức khỏe.
Bước 4: Soạn thảo nội dung.
Bước 5: Xác định nguồn lực, lựa chọn các phương pháp và phương tiện truyền
thông.
Bước 6:Thử nghiệm các phương pháp và phương tiện.
Bước 7: Xây dựng chương trình hoạt động cụ thể.
12


Khoa Y – ĐHQG TP.HCM
Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế
-

Bước 8: Lập kế hoạch đánh giá chương trình giáo dục sức khỏe.

2.2/ Một số văn bản pháp quy liên quan:


Ngày 06/10/2004, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ra Quyết định số 3526/2004/QĐ-BYT[3]
phê duyệt Chương trình Hành động Truyền thông giáo dục sức khoẻ đến năm
2010. Chương trình Hành động này là định hướng quan trọng về tổ chức và hoạt
động truyền thông giáo dục sức khỏe của cả nước với các mục tiêu chung là: Nâng
cao nhận thức và thực hành của tổ chức Đảng và chính quyền các cấp, các tổ chức
Chính trị- xã hội, cộng đồng và mỗi người dân về công tác chăm sóc, bảo vệ và
nâng cao sức khoẻ nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi Chiến lược Chăm sóc và
bảo vệ sức khoẻ nhân dân giai đoạn 2001- 2010. Trong đó các mục tiêu cụ thể:
1. Làm cho tổ chức Đảng và chính quyền các cấp và mọi người dân hiểu biết
các chính sách của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ.
2. Nâng cao nhận thức của người dân để họ tự thay đổi hành vi không có lợi
cho sức khoẻ bằng hành vi có lợi cho sức khoẻ, chủ động phòng chống dịch
bệnh, tự bảo vệ sức khoẻ cho bản thân và tích cực tham gia công tác chăm
sóc sức khoẻ cho cộng đồng.
3. Đẩy mạnh xã hội hoá và đa dạng hoá công tác truyền thông GDSK, tạo môi
trường thuận lợi để người dân tự chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ
thông qua các mô hình: Làng Văn hoá- Sức khoẻ tạo ra phong trào toàn dân
vì sức khoẻ, Phòng chống tai nạn thương tích xây dựng cộng đồng an toàn...
4. Nâng cao năng lực của hệ thống truyền thông GDSK từ trung ương đến cơ
sở.
5. Đảm bảo tài chính, cơ sở làm việc và trang thiết bị cho hoạt động truyền
thông GDSK từ trung ương đến cơ sở.


Ngày 07/06/2011, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ký Quyết định số 1827/QĐ-BYT[4]
phê duyệt “Chương trình hành động Truyền thông giáo dục sức khỏe giai đoạn
2011-2015” với mục tiêu chung: Giúp người dân được tiếp cận đầy đủ và sử
dụng hiệu quả các dịch vụ truyền thông giáo dục sức khỏe để nâng cao nhận
thức và thay đổi hành vi bảo vệ sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng
đồng.Trong đó các mục tiêu cụ thể:
1. Tăng cường vai trò chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác truyền thông

GDSK của tổ chức Đảng, chính quyền và đoàn thể các cấp thông qua chỉ
đạo và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách và chương trình về
bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
2. Nâng cao kiến thức, thực hành đúng của người dân trong phòng bệnh,

chữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng.
3. Đẩy mạnh xã hội hóa và đa dạng hóa các hoạt động truyền thông GDSK

và huy động hiệu quả sự tham gia của cộng đồng.
4. Nâng cao năng lực của hệ truyền thông GDSK.
13


Khoa Y – ĐHQG TP.HCM
Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế
Ngày 5/11/2013, Quyết định 4445/QĐ-BYT[5] ban hành quy chế phát ngôn
và cung cấp thông tin cho báo chí của bộ y tế gồm 3 chương là: quy định
chung, phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, và tổ chức thực hiện.
Gồm 10 điều:
- Điều 1: Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng.
- Điều 2. Người phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của Bộ Y tế.
- Điều 3. Phát ngôn và cung cấp thông tin định kỳ.
- Điều 4. Phát ngôn và cung cấp thông tin trong trường hợp đột xuất, bất
thường.
- Điều 5. Phát ngôn và cung cấp thông tin tại các hội nghị, hội thảo, cuộc
họp, tập huấn.
- Điều 6. Quyền và trách nhiệm của Người phát ngôn, Người được ủy
quyền phát ngôn.
- Điều 7. Trách nhiệm của các đơn vị.
- Điều 8. Xử lý vi phạm trong thực hiện Quy chế.
- Điều 9. Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ Y tế có trách nhiệm.
- Điều 10. Giám sát thực hiện.
• Chỉ thị 07/CT-BYT[6] ngày 19/6/2014 về việc tăng cường công tác truyền
thông, cung cấp thông tin y tế:
- 4.3. Các bệnh viện, viện, trường, học viện và các đơn vị trực thuộc Bộ Y
tế có trách nhiệm
 Phân công 01 Lãnh đạo đơn vị là Người phát ngôn chịu trách nhiệm
cung cấp thông tin cho báo chí. Phân công khoa/phòng/tổ và cán bộ
thực hiện công tác truyền thông, cung cấp thông tin về các hoạt động
theo chức năng, nhiệm vụ của đơn vị.
 Chủ động tổ chức cung cấp thông tin thường xuyên và đột xuất về hoạt
động của đơn vị cho các cơ quan báo chí.”


Thông tư 43/2015/TT-BYT[7] ngày 26/11/2015 quy định về nhiệm vụ và hình
thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội của bệnh viện
Điều 2. Nhiệm vụ công tác xã hội của bệnh viện
1. Hỗ trợ, tư vấn giải quyết các vấn đề về công tác xã hội cho người bệnh
và người nhà người bệnh trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh.
2. Thông tin, truyền thông và phổ biến, giáo dục pháp luật.
3. Vận động tiếp nhận tài trợ
4. Hỗ trợ nhân viên y tế
5. Đào tạo, bồi dưỡng
6. Tổ chức đội ngũ cộng tác viên làm công tác xã hội của bệnh viện
7. Tổ chức các hoạt động từ thiện, công tác xã hội của bệnh viện tại cộng
đồng (nếu có).


-

14


Khoa Y – ĐHQG TP.HCM
Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG
3.1/ Một vài hoạt động giáo dục sức khỏe trong và ngoài nước:
3.1.1/Từ Tây:

Hình ảnh 01: Hoạt động giáo dục sức khỏe về hành vi có lợi sức khỏe dành cho thanh
thiếu niên của WHO
“nguồn https://nacchocommunique.com/category/obesity/”.

15


Khoa Y – ĐHQG TP.HCM
Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế
Hình ảnh 02: Hoạt động giáo dục

sức khỏe về tác hại của việc ngồi lâu.

“nguồn

http://www.top10homeremedies.com/news-facts/sitting-long-dangerous-health.html”

Hình ảnh 03: Hoạt động giáo dục sức khỏe về tác hại của béo phì
“nguồn https://www.quantumbooks.com/health/top-ten-aspects-of-obesity/”

16


Khoa Y – ĐHQG TP.HCM
Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế

Hình
ảnh
04:
Hoạt động Shokuiku ở Nhật Bản[11].
Shokuiku (Kanji: 食食) là Nhật ngữ
phẩm giáo dục". Pháp luật
nghĩa nó là "thu nhận
về thực phẩm và

cho "thực
định
kiến thức
dinh
dưỡng, cũng như khả
năng thực hiện các quyết
định thích hợp thông qua

kinh nghiệm thực tế với thực phẩm, với mục đích phát triển khả năng sống trên một
người dân khỏe mạnh chế độ ăn uống".
Nó được khởi xướng bởi SAGEN Ishizuka, một bác sĩ quân đội nổi tiếng và tiên phong
của chế độ ăn chay. Sau sự ra đời của phương Tây thức ăn nhanh trong những năm cuối
thế kỷ 20, chính phủ Nhật Bản bắt buộc giáo dục về dinh dưỡng và thực phẩm nguồn gốc,
bắt đầu với các Luật cơ bản của Shokuiku vào năm 2005, và theo sau với Luật Sức khỏe
trường trong năm 2008. Các trường Đại học đã thành lập các chương trình giảng dạy
shokuiku trong các trường công lập, cũng như điều tra hiệu quả của nó thông qua các
nghiên cứu học thuật.
Mối quan tâm lớn đã dẫn đến sự phát triển của pháp luật shokuiku bao gồm:


Học sinh bỏ bữa sáng.



Trẻ em mua những bữa ăn tại một cửa hàng tiện lợi thay vì ăn với cha mẹ của họ.



Các gia đình không ăn bữa ăn cùng nhau.



Lớp học trong shokuiku sẽ nghiên cứu các quá trình làm thực phẩm, chẳng hạn
như canh hoặc lên men; như thế nào phụ gia tạo hương vị; và nơi thực phẩm đến.

3.1.2/Đến ta:

17


Khoa Y – ĐHQG TP.HCM
Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế

Hình ảnh 05: Chương trình phòng bệnh do virus ZIKA của sở y tế tỉnh Quảng Ninh.
“nguồn http://suckhoequangninh.org.vn/content/3343-Phong-chong-benh-Zika-.aspx”

Hình ảnh 06: chương trình chống sốt xuất huyết của cục y tế dự phòng
“nguồn http://vinhthanh.edu.vn/content/tintuc/detail/_18045665666927054985.html”
18


Khoa Y – ĐHQG TP.HCM
Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế

Hình ảnh 07: Hướng dẫn Sơ cấp cứu tai nạn trên facebook của bệnh viện Nhi Đồng
Thành Phố. “nguồn facebook”
Như vậy ta có thể thấy GDSK hiện nay tác động đến sức khỏe thông qua mọi mặt của
cuộc sống, từ lối suy nghĩ đến cách thức hành động, nó được tổ chức cả trong khuôn khổ
bệnh viện để hướng đến người bệnh và thực hiện trong cộng đồng để hướng đến các đối
tượng khác hướng đến nâng cao sức khỏe phòng bệnh.
Với sự phát triển nhanh chóng của internet, giáo dục sức khỏe online đang trở thành xu
hướng mới, điển hình thông qua facebook, instagram, các trang báo mạng,…quy mô của
các hoạt động sức khỏe được nhân rộng, đồng thời người đọc cũng dễ tiếp cận hơn các
phương thức khác.

19


Khoa Y – ĐHQG TP.HCM
Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế
3.2/ Những khó khăn hiện nay của GDSK:
Việc tổ chức một hoạt động GDSK cần rất nhiều đòi hỏi về nhân lực, tiền bạc, thời
gian. Bởi lẽ đó hiện nay GDSK ở các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa gặp nhiều
khó khăn, nhân lực không có và không được đào tạo bài bản, kinh phí không đủ.
- Ngoài ra GDSK còn phụ thuộc nhiều vào kiến thức và khả năng tiếp cận, mong muốn
thay đổi của người dân. Nếu như vẫn giữ cái suy nghĩ khi ôm đau bệnh tật mới quan tâm
hay “ nước đến chân mới nhảy” của rất nhiều bộ phân người dân hiện nay thì GDSK khó
có thể phát huy được các lợi ích của nó.
- Lấy ví dụ trong những năm qua mặc dù được rất nhiều sự quan tâm nhưng dịch sốt xuất
huyết luôn xảy ra, số lượng ca mắc và tử vong lên đến những con số không tưởng. Ta có
thể thấy được qua nhiều năm chống dịch, không biết bao nhiêu hoạt động GDSK tuyên
truyền kiến thức diệt muỗi, tránh muỗi, cách li người bệnh, phương thức phòng bệnh,…
nhưng cách mà người dân hiểu được là làm được theo các chương trình đó dường như là
quá kém. Chưa kể còn truyền miệng nhiều kiến thức sai lệch như nên cao gió, xông hơi
khi bị sốt xuất huyết, sốt xuất huyết bị một lần rồi sẽ không bị lại,… những điều đó góp
phần tạo nên những trận dịch quy mô lớn mỗi năm vào mùa mưa ở nước ta .
-

Hình ảnh 08: các bài báo về dịch sốt xuất huyết 2017
“nguồn http://news.zing.vn/dich-sot-xuat-huyet-2017-tieu-diem.html”
-

Một ví dụ khác là vụ việc “anti vắc-xin”. Chương trình tiêm chủng mở rộng ở nước
ta đến nay đã thực hiện trên 30 năm, một chương trình hoàn toàn miễn phí của nhà
nước hướng đến người dân, và lợi ích mang lại là vô cùng to lớn, nhiều bệnh tật
nguy hiểm được phòng tránh, gánh nặng bệnh tật xã hội giảm xuống,… Nhưng chỉ
với một hai bài viết trên facebook hay trang mạng xã hội khác của những người có
thể cho là không có kiến thức chuyên môn về y khoa đưa ra nhưng kiến thức sai
20


Khoa Y – ĐHQG TP.HCM
Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế
lệch hoàn toàn ,ví dụ như “sự nguy hại khi chích vắc-xin”, “không chích vắc-xin
vẫn sống khỏe”,…. Ấy vậy mà lượt xem lên đến hàng triệu, lượt chia sẻ lên đến
hàng trăm ngàn, tác động xấu đến suy nghĩ, hành động của nhiều bà mẹ, ông bố,…
đáng thương hơn là người nhận hậu quả lại chính là những đứa trẻ ngây thơ vô tội.
Điển hình là dịch sởi năm 2014 với số lượng ca mắc 4.602 ca xác định sởi, 21.639
trường hợp phát ban nghi sởi và 142 trường hợp tử vong chỉ trong vòng gần 2
tháng [8] , hay số lượng viêm não Nhật Bản, gia tăng đột biến trong năm qua,....

Ngày báo cáo
10/04/2014
17/04/2014
18/04/2014
30/05/2014

Trương hợp nhiễm bệnh và tử vong (ca)
Nhiễm bệnh
7000
8500
21.639

Bảng 01: Tình hình dịch Sởi từ 10/04/2014 đến 30/05/2014 [8]

CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

21

Tử vong
25
110
114
142


Khoa Y – ĐHQG TP.HCM
Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế
4.1/ Kết luận:
GDSK nhằm giúp mọi người biết loại trừ và hạn chế các yếu tố tác hại đến sức khỏe và
tạo nên cá yếu tố nhằm bảo vệ và tăng cường sức khỏe. Như vậy nội dung của GDSK rất
rộng, nó bao gồm các vấn đề liên quan đến sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần và sức
khỏe xã hội. GDSK không chỉ bao gồm giáo dục về phòng bệnh, phát hiện bệnh, điều trị
bệnh, phục hồi sức khỏe mà còn nhằm nâng cao sức khỏe. GDSK không phải chỉ cho các
cá nhân mà cho cả tập thể cộng đồng, cho cả người ốm và người khỏe. Hiện nay một số
nội dung đang được ưu tiên:







Giáo dục bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em
Giáo dục dinh dưỡng
Giáo dục sức khỏe ở trường học
Giáo dục vệ sinh và bảo vệ môi trường
Giáo dục vệ sinh lao động phòng chống tai nạn và bệnh nghề nghiệp
Giáo dục phòng chống bệnh tật nói chung

4.2/ Kiến nghị:
Hoạt động GDSK là những việc làm mang đến đến nhiều lợi ích, cả ở người truyền đạt
và người được truyền đạt. Vì vậy hoạt động GDSK cần sự đa dạng, đầu tư cả ở cộng
đồng và bệnh viện để hướng đến nhiều đối tượng, qua đó phát huy hết vai trò của
GDSK, sau đây là một số hoạt động kiến nghị:
-

Tổ chức các hội, nhóm, câu lạc bộ: hội bệnh nhân đái tháo đường, hội tăng huyết
áp,…
Các buổi chuyên đề, giải đáp thắc mắc của bệnh nhân do khoa phòng, bệnh viện tổ
chức hướng đến bệnh nhân.
Các bảng thông tin dễ hiểu, ngắn gọn, xúc tích ở các nơi bệnh nhân dễ tiếp cận
Các hội thi về kiến thức sức khỏe.
Các câu biểu ngữ, infographic, sologan hay, dễ nhớ, dễ hiểu truyền đạt GDSK.
Các video ngắn GDSK trình chiếu ở các khu bệnh nhân chờ.
Các website của các bệnh viện có mục giải đáp thắc mắc, trang thông tin.
Các ứng dụng trên điện thoại di động để người dân dễ dàng tiếp cận.
Các buổi tập huấn, hội thảo về GDSK dành cho nhân viên y tế.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
[1] Bộ Y Tế (2006), Khoa học Hành vi và Giáo dục sức khỏe,nhà xuất bản y học Hà Nội.
[2] Trường Đại học Y khoa Thái Nguyên (2007), Giáo dục và Nâng cao sức khỏe, nhà
xuất bản y học Hà nội
22


Khoa Y – ĐHQG TP.HCM
Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế
[3] Bộ Y tế, Quyết định số 3526/2004/QĐ-BYT (2010), quyết định về việc phê duyệt
chương trình hành động truyền thông giáo dục sức khoẻ đên năm 2010,truy cập tại
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/The-thao-Y-te/Quyet-dinh-3526-2004-QD-BYT-pheduyet-chuong-trinh-hanh-dong-truyen-thong-giao-duc-suc-khoe-den-2010-5507.aspx,
ngày truy cập 07/08/2017.
[4] Bộ Y tế, Quyết định số 1827/QĐ-BYT (2011), quyết định về việc phê duyệt “chương
trình hành động truyền thông giáo dục sức khỏe giai đoạn 2011-2015, truy cập tại
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/The-thao-Y-te/Quyet-dinh-1827-QD-BYT-nam-2011Truyen-thong-giao-duc-suc-khoe-giai-doan-2011-2015-219492.aspx, ngày truy cập
07/08/2017.
[5]Bộ Y tế, Quyết định 4445/QĐ-BYT (2013), quyết định ban hành quy chế phát ngôn và
cung cấp thông tin cho báo chí của bộ y tế, truy cập tại https://thuvienphapluat.vn/vanban/Cong-nghe-thong-tin/Quyet-dinh-4445-QD-BYT-nam-2013-Quy-che-phat-ngoncung-cap-thong-tin-bao-chi-Bo-Y-te-213778.aspx, ngày truy cập 07/08/2017.
[6] Bộ Y tế, chỉ thị số 07/CT-BYT (2014), chỉ thị về việc tăng cường công tác truyền
thông, cung cấp thông tin y tế, truy cập tại https://thuvienphapluat.vn/van-ban/The-thaoY-te/Chi-thi-07-CT-BYT-2014-truyen-thong-cung-cap-thong-tin-y-te-236886.aspx, ngày
truy cập 07/08/2017.
[7] Bộ Y tế, thông tư số 43/2015/TT-BYT (2015), quy định về nhiệm vụ và hình thức tổ
chức thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội của bệnh viện, truy cập tại
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/The-thao-Y-te/Thong-tu-43-2015-TT-BYT-hinh-thucto-chuc-thuc-hien-nhiem-vu-cong-tac-xa-hoi-cua-Benh-vien-296470.aspx, ngày truy cập
07/08/2017.
[8] Wikipedia(2014), Dịch sởi Việt Nam 2014, truy cập tại https://vi.wikipedia.org/wiki/D
%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%9Fi_Vi%E1%BB%87t_Nam_2014, ngày truy cập
09/08/2017.
Tiếng Anh
[9]: WHO (2016), Definition of health.
[10]: WHO (2000), Constitution of the World Health Organization: Principles, truy cập
tại http://www.who.int/about/mission/en/, ngày truy cập 07/08/2017.
[11] En.wikipedia (2015), Shokuiku, truy cập tại https://en.wikipedia.org/wiki/Shokuiku,
ngày truy cập 09/08/2017.

23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×