Tải bản đầy đủ

Kinh nghiệm rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG XƯƠNG

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

KINH NGHIỆM RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN MIÊU TẢ
CHO HỌC SINH LỚP 4

Người thực hiện: Trần Trịnh Vân Cơ
Chức vụ:
Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường tiểu học Quảng Trường
SKKN thuộc môn: Tiếng Việt


THANH HÓA, NĂM 2016

MỤC LỤC
Nội dung

Trang


1. MỞ ĐẦU

1

1.1. Lý do chọn đề tài

1

1.2. Mục đích nghiên cứu

2

1.3. Đối tượng nghiên cứu

2

1.4. Phương pháp nghiên cứu

2

2. NỘI DUNG

3

2.1. Cơ sở lý luận.
2.2. Thực trạng dạy học văn miêu tả lớp 4

3
4

2.3. Một số biện pháp dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4

7

2.4. Kết quả của việc vận dụng các biện pháp rèn kĩ năng viết
văn miêu tả cho học sinh lớp 4

16

3. KẾT LUẬN
3.1. Kết luận

17

3.2. Đề xuất, kiến nghị

17

Tài liệu tham khảo

19



1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài.
+ Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, chất lượng
giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào kết quả giáo dục ở Tiểu học. Mục tiêu giáo dục là
đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện về đạo đức, trí thức, sức khỏe, thẩm
mỹ, nghề nghiệp và hình thành nhân cách, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần
vào sự hình thành, phát triển nhân cách con người lao động mới.
+ Phân môn Tập làm văn (TLV) rèn cho học sinh các kĩ năng sản sinh ngôn
bản. Hoạt động lời nói gồm hai bình diện: sản sinh và tiếp nhận văn bản. Nó có vị trí
đặc biệt trong quá trình dạy học tiếng mẹ đẻ bởi vì: phân môn TLV sử dụng và hoàn
thiện một cách tổng hợp các kiến thức và kĩ năng tiếng Việt mà các phân môn Tiếng
Việt khác đã hình thành; rèn cho học sinh kĩ năng sản sinh ngôn bản, nhờ đó tiếng
Việt không chỉ được xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn và trở thành
một công cụ tổng hợp để giao tiếp. Do vậy, phân môn TLV đã thực hiện mục tiêu cuối
cùng, quan trọng nhất của dạy học tiếng mẹ đẻ là dạy học sinh sử dụng được tiếng
Việt để giao tiếp, tư duy, học tập. Trường Tiểu học là nơi đầu tiên trẻ em được học tập
tiếng Việt, chữ viết với phương pháp nhà trường, phương pháp học tập tiếng mẹ đẻ
một cách khoa học. Học sinh tiểu học chỉ có thể học tập các môn học khác khi có kiến
thức tiếng Việt. Bởi đối với người Việt, tiếng Việt là phương tiện giao tiếp, là công cụ
trao đổi thông tin và chiếm lĩnh tri thức.
+ Môn Tiếng Việt trong chương trình Tiểu học có nhiệm vụ hoàn thành năng
lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện
trong 4 dạng hoạt động, tương ứng với bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết. Từ đó, các
em có thể học tập và giao tiếp trong môi trường học tập lứa tuổi, giúp học sinh có cơ
sở để tiếp thu kiến thức ở lớp trên. Trong môn Tiếng Việt có nhiều phân môn( Học
vần, Tập viết, Chính tả, Tập đọc, Luyện từ và câu), mỗi phân môn chứa đựng một bộ
phận kiến thức nhất định, chúng bổ trợ cho nhau để người học học tốt Tiếng Việt.
Trong đó, TLV là phân môn mang tính chất tổng hợp, sáng tạo, thực hành, thể hiện
đậm nét dấu ấn cá nhân. Tập làm văn, viết văn, hành văn là cái đích cuối cùng cao
nhất của việc học tiếng Việt ở tiểu học. Đối với học sinh tiểu học, biết nói đúng, viết
đúng, diễn đạt mạch lạc đã là khó; để nói, viết hay, có cảm xúc, giàu hình ảnh lại khó
hơn nhiều. Cái khó ấy chính là cái đích mà phân môn TLV đòi hỏi người học cần dần
đạt tới. Từ đó, các em được mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy, bồi dưỡng tâm hồn,
cảm xúc thẩm mỹ, hình thành nhân cách. Chương trình TLV ở tiểu học chủ yếu là dạy
văn miêu tả. Ngay từ lớp 2, 3, các em đã được làm quen với văn miêu tả khi được
tập quan sát và trả lời câu hỏi. Lên lớp 4, các em phải hiểu thế nào là văn miêu tả, biết
cách quan sát, tìm ý, lập dàn ý, viết đoạn văn và liên kết đoạn văn thành một bài văn
miêu tả đồ vật, cây cối hoặc con vật - những đối tượng gần gũi và thân thiết của các
em. Để hoàn thành bài văn miêu tả đối với học sinh lớp 4 thường rất khó khăn. Do
đặc điểm tâm lí, học sinh tiểu học còn ham chơi, khả năng tập trung chú ý quan sát
chưa tinh tế, năng lực sử dụng ngôn ngữ chưa phát triển tốt, dẫn đến khi viết văn miêu


tả, học sinh còn thiếu vốn hiểu biết về đối tượng miêu tả, hoặc không biết cách diễn
đạt điều muốn tả. Đã không ít những trường hợp giáo viên cười “ra nước mắt” khi đọc
những câu văn miêu tả sự vật của học trò vì chuyện các em dùng từ sai, diễn đạt lộn
xộn, so sánh khập khiễng… Đối với giáo viên, đây cũng là loại bài khó dạy. Giáo
viên còn thiếu linh hoạt trong vận dụng phương pháp và chưa sáng tạo trong việc tổ
chức các hoạt động học tập của học sinh. Vì vậy, không phải giờ dạy văn miêu tả nào
cũng đạt hiệu quả mong muốn, và không phải người giáo viên nào cũng dạy tốt văn
miêu tả. Việc tìm tòi phương pháp để hướng dẫn học sinh quan sát, tìm ý, lập dàn ý,
tưởng tượng,…còn nhiều hạn chế.
+ Trong giai đoạn hiện tại, mục tiêu giáo dục xã hội đang đặt ra những yêu cầu
cấp thiết cần phải giải quyết. Mặc dù trong rất nhiều các tài liệu có đề cập hoặc
nghiên cứu vấn đề này, song trong thực tế dạy học, đây là một trong những vấn đề còn
tồn tại song chưa thực sự được nhiều giáo viên quan tâm, giải quyết, khắc phục. Vì
những lí do đó, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho
học sinh lớp 4” với hi vọng góp phần nâng cao năng lực của bản thân, nâng cao chất
lượng dạy- học văn miêu tả cho học sinh lớp 4.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu đề tài nhằm:
+ Tìm hiểu thực trạng dạy và học viết văn miêu tả lớp 4 ở trường tiểu học.
+ Nhìn nhận lại sâu sắc hơn việc dạy văn miêu tả cho học sinh lớp 4 để vận dụng
phương pháp, biện pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách linh hoạt.
+ Đề xuất một số biện pháp dạy học TLV nói chung và trong dạy học sinh viết văn
miêu tả nói riêng.
+ Nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
+ Các dạng văn miêu tả ở lớp 4: Miêu tả đồ vật, miêu tả cây cối, miêu tả con vật.
+ Thực trạng dạy- học viết văn miêu tả của học sinh lớp 4 trường tôi công tác.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
+ Phương pháp nghiên cứu lí luận
+ Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
+ Phương pháp thống kê, xử lí số liệu
+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm


2. Nội dung
2.1. Cơ sở lí luận.
2.1.1. Mục tiêu của dạy viết văn miêu tả lớp 4
Yêu cầu kiến thức: Thể loại văn miêu tả :Học sinh phải hiểu thế nào là miêu tả?
- Miêu tả đồ vật: Biết cách quan sát, tìm ý, lập dàn ý bài văn miêu tả đồ vật.
- Miêu tả cây cối: Biết cách quan sát, tìm ý, lập dàn ý bài văn miêu tả cây cối.
- Miêu tả con vật : Biết cách quan sát, tìm ý, lập dàn ý bài văn miêu tả con vật.
Yêu cầu kỹ năng: Chương trình TLV miêu tả nhằm trang bị cho học sinh những kĩ
năng sản sinh ngôn bản, cụ thể:
- Kĩ năng định hướng hoạt động giao tiếp: Nhận diện đặc điểm văn bản; phân
tích đề bài, xác định yêu cầu.
- Kĩ năng lập chương trình hoạt động giao tiếp: Xác định dàn ý của bài văn đã
cho; quan sát đối tượng tìm ý và sắp xếp ý thành dàn ý trong bài văn miêu tả
- Kĩ năng thực hiện hoá hoạt động giao tiếp: Đối chiếu văn bản nói, viết của
bản thân với mục đích giao tiếp và yêu cầu diễn đạt; sửa lỗi về nội dung và hình thức
diễn đạt.
2.1.2. Nội dung chương trình TLV miêu tả lớp 4
- Hệ thống phân môn Tập làm văn lớp 4 tổng cộng 62 tiết/ năm. Trong đó, văn miêu
tả gồm có 30 tiết được phân bố như sau
Tuần 14
-Thế nào là văn miêu tả
- Cấu tạo bài văn miêu tả đồ vật
Tuần 15
- Luyện tập miêu tả đồ vật
Tuần 17
- Đoạn văn trong bài văn miêu tả đồ vật.
LTxây dựng đoạn văn miêu tả đồ vật
Tuần 19
- LT xây dựng mở bài trong bài văn miêu tả đồ vật
LT xây dựng kết bài trong bài văn miêu tả đồ vật
Tuần 20
- Miêu tả đồ vật( Kiểm tra viết)
Tuần 21
- Trả bài văn miêu tả đồ vật . Cấu tạo bài văn miêu tả cây cối
Tuần 22
- Luyện tập qua sát cây cối . LT miêu tả các bộ phận của cây cối
Tuần 23
- LT miêu tả các bộ phận của cây cối
- Đoạn văn trong bài văn miêu tả cây cối
Tuần 24
- LT xây dựng đoạn văn miêu tả cây cối
Tuần 26
- LT xây dựng mở bài trong bài văn
Tuần 27
- Miêu tả cây cối (Kiểm tra viết)
- Trả bài văn miêu tả cây cối
Tuần 29
- Cấu tạo của bài văn miêu tả con vật
Tuần 30
- Luyện tập quan sát con vật
Tuần 31
- LT miêu tả các bộ phận của con vật
- LT xây dựng đoạn văn miêu tả con vật
Tuần 32
- LT xây dựng đoạn văn miêu tả con vật


2.2. Thực trạng dạy học văn miêu tả lớp 4.
2.2.1. Thuận lợi:
Nhà trường luôn quan tâm, chỉ đạo thực hiện công tác chuyên môn có hiệu quả,
nâng cao tay nghề cho giáo viên. Tổ chuyên môn đã tổ chức chuyên đề dạy học TLV
lớp 4 + 5. Giáo viên đều được trang bị đầy đủ sách giáo khoa, sách giáo viên, sách
tham khảo, các phương tiện dạy học như máy chiếu , các loại tranh ảnh…Đội ngũ
giáo viên có năng lực, yêu nghề đã áp dụng phương pháp dạy học phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của học sinh linh hoạt và hiệu quả. Từ lớp 2, 3 học sinh được
tập quan sát và trả lời câu hỏi để làm quen với văn miêu tả, đã biết cách luyện tập
dưới sự hướng dẫn của giáo viên để tự chiếm lĩnh tri thức. Đối tượng miêu tả khá gần
gũi với học sinh nông thôn( cây bàng, con gà,…). Đặc điểm tâm lí học sinh tiểu học
có tâm hồn trong sáng, thơ ngây, giàu cảm xúc và sức sáng tạo. Thế giới của các em là
thế giới cổ tích. Những đồ vật, con vật, cây cối là những người bạn thân thiết, gần gũi
mà các em có thể tâm tư, chia sẻ tình cảm của mình. Đặc điểm tâm lí này rất thuận lợi
cho việc khơi gợi ở các em những cảm xúc miêu tả bất ngờ, thú vị.
2.2.2. Khó khăn:
Như ta đã biết, sản phẩm của TLV là ngôn bản ở các dạng nói, dạng viết theo
các dạng lời nói, kiểu bài văn do chương trình quy định. Sản phẩm của việc học văn
miêu tả thường ở dạng viết. Năng lực viết chứng tỏ trình độ văn hoá, văn minh của
một người; đối với học sinh, chứng tỏ tư duy logic, tư duy hình tượng đã phát triển ở
một mức độ nhất định. Mỗi bài văn miêu tả hay lại đòi hỏi khả năng tưởng tượng và
sử dụng ngôn ngữ diễn đạt thật sinh động. Mỗi bài văn miêu tả là sự kết tinh của
những nhận xét tinh tế, là sự đúc kết việc tiếp thu và vận dụng những kiến thức đã
học. Song thực tế cho thấy,việc dạy học phân môn TLV ở lớp 4 chưa đạt kết quả cao,
cụ thể như sau :
* Về phía học sinh:
- Đa số HSTH nói chung, HS lớp 4 nói riêng, tâm lí các em rất sợ học phân môn TLV
vì khi học môn này đòi hỏi HS phải tư duy trừu tượng,logic, sắp xếp ý hệ thống mới
làm được bài.
- HS làm bài văn mang tính đối phó, không chịu suy nghĩ, viết cho xong bài với nội
dung sơ sài.
- HS chưa phát huy tất cả các giác quan để quan sát; viết câu không dùng dấu câu, có
khi cả bài văn chỉ có vài dấu câu, câu không đủ các bộ phận.
- Đa số HS biết dùng hình ảnh so sánh, nhân hóa khi miêu tả nhưng chưa sát với đối
tượng ; ví dụ: Đôi mắt chú mèo tròn to như hai quả trứng gà.
- Một số ít HS chưa biết cách trình bày bài văn cho rõ bố cục 3 phần.
* Về phía giáo viên:
- Gv thực sự chậm đổi mới phương pháp dạy học phân môn này, ngại vận dụng các
PPDH tích cực thường xuyên.
- Gv chưa chú trọng khơi gợi sự thích thú, say mê khi học phân môn TLV.
- Tiết trả bài TLV, GV thường dành thời gian rất ít để sửa lỗi cho HS, hiệu quả tiết học
chưa cao.


- Nội dung văn miêu tả trong chương trình hiện tại sắp xếp không liền mạch. Khi học
văn miêu tả, HS chưa nắm chắc cách làm đã chuyển sang thể loại khác.
- Trong những đợt thao giảng GV giỏi cấp trường, nếu để tự Gv đăng kí, GV ít khi và
hầu như không chọn phân môn TLV để dạy.
Điều tra chất lượng viết văn miêu tả của học sinh lớp 4 cuối HKI và nửa đầu HK
II năm học này có số liệu cụ thể như sau:
Lớp
4A (25em)
4B (23em)
4C (23em)
Cả khối (71)

Hoàn thành
Số lượng
Tỉ lệ
22
88%
18
78%
19
82%
59
83%

Chưa hoàn thành
Số lượng
Tỉ lệ
3
12%
5
22%
4
18%
12
17%

Từ những số liệu trên ta thấy, tỉ lệ học học sinh hoàn thành còn thấp so với môn
Toán, kĩ năng dùng từ đặt câu, viết câu văn có hình ảnh để miêu tả sự vật còn hạn chế.
2.2.3 Thực trạng bài văn miêu tả của học sinh lớp 4
Một số lỗi thường gặp trong bài văn của học sinh:
- Trong phần cơ sở thực tiễn tôi đã đề cập những vấn đề chung thường gặp ở bài văn
miêu tả của học sinh lớp 4: bài văn ngắn, câu cụt, kể lể, ít hình ảnh,…
Ví dụ: Học sinh thường viết là:
Cái cặp của em nhiều màu. Mặt trước có siêu nhân rất đẹp. Nó có ba ngăn.
Một ngăn em để bút, một ngăn em để vở, một ngăn để sách.
Cây bàng cao đến mái nhà. Thân nó to, xù xì. Cây bàng có nhiều cành, tán
rộng. Lá màu xanh. Quả ăn có vị chát.
Đoạn văn như vậy được coi là tạm được vì đúng ý. Câu văn rõ nghĩa. Nhưng
miêu tả như vậy chỉ cần vài câu là tả xong một đồ vật, một cây. Và nó cũng rất chung
chung, không làm nổi bật được nét riêng của đồ vật đó, cây đó.
- Đọc bài văn miêu tả của các em, ta còn thấy sự khô khan, nghèo cảm xúc, sự liệt kê
lan man, dài dòng, lủng củng, lộn xộn, không lột tả được đối tượng miêu tả, đôi khi
còn bịa đặt. Nhiều em muốn bắt chước cho bài văn hay hơn đã sử dụng biện pháp so
sánh, nhân hoá một cách tuỳ tiện.
Ví dụ: Quả bàng to như con lợn con.
- Hình thức câu lặp lại nhiều lần:
VD: Mắt của nó màu đen. Râu của nó dài. Lông thì đen…
- Chưa liên kết chặt chẽ giữa các câu trong đoạn, trong dài.
- Chưa biết sử dụng dấu câu nhằm nâng cao hiệu quả diễn đạt.
Ví dụ: Cún con mới dễ thương làm sao. (!)
* Bài văn miêu tả của học sinh lớp 4 hầu hết mắc những lỗi: Lỗi chính tả, lỗi dấu câu,
lỗi diễn đạt, lỗi chủ đề.


+ Lỗi chính tả: Học sinh chủ yếu vẫn thường sai phụ âm đầu l/n( chủ yếu), s/x, d/r/gi.
Ở đây, tôi sẽ không đề cập sâu vấn đề này.
+ Lỗi dấu câu: + Không dùng dấu câu: Xảy ra nhiều với học sinh chưa hoàn thành.
Các em không sử dụng hoặc ít sử dụng dấu chấm, dấu phẩy trong một câu hoặc trong
một bài văn.
+ Sử dụng dấu câu sai. VD: Cây bàng cao thân cây. Xù xì.
Lỗi diễn đạt: + Lỗi dùng từ không phù hợp. VD: Con mèo có bộ lông trắng tinh.
+ Câu không đủ thành phần. VD: Có nhiều cành, nhiều lá rậm rạp.
+ Câu thừa thành phần( lặp lại thành phần một cách không cần thiết).
VD: Em rất yêu quý con mèo nhà em.
+ Câu có nội dung trùng lặp với câu khác trong bài văn.
VD: Con gà trống dậy rất sớm. Nó dậy sớm để báo thức mọi người.
+ Câu không phân định được thành phần.
VD: Em phải giữ gìn chiếc đồng hồ để trên mặt tủ.
+ Câu sai nghĩa. VD: Con mèo nặng khoảng 2 tạ.
+ Câu không rõ nghĩa. VD: Con mèo lông trắng mắt nó em yêu chú lắm.
+ Câu không có sự tương hợp về nghĩa giữa các thành phần câu, giữa các vế câu.
VD: Chiếc cặp của em màu đỏ giúp em học giỏi.
+Các câu trong bài mâu thuẫn nhau.
VD:Cây bàng to, mập mạp.Thân cây khẳng khiu.
- Lỗi lạc chủ đề.
VD: Ngăn ngoài của cặp em đựng bút. Chiếc bút màu đỏ rất đẹp.
Như vậy, ta thấy bài văn miêu tả của học sinh lớp 4 mắc rất nhiều lỗi. Tuỳ theo mức
độ, học sinh năng khiếu có hạn chế hơn một số lỗi cơ bản.
2.2.4. Nguyên nhân
- Giáo viên chưa khơi gợi được sự ham học, yêu thích miêu tả đồ vật, con vật, cây cối
xung quanh, chưa tạo được động cơ học văn miêu tả ở các em. Các em chưa thực sự
cảm thấy yêu môn học.
- Các em chưa hiểu rõ đặc điểm cơ bản của văn miêu tả, chưa phân biệt được sự khác
biệt giữa văn bản miêu tả với các kiểu bài văn khác.
- Khả năng quan sát và lựa chọn hình ảnh để quan sát và miêu tả chưa tinh tế.
- Vốn từ miêu tả còn nghèo nàn. Chưa có thói quen tích luỹ các từ ngữ gợi tả.
- Kĩ năng lựa chọn từ ngữ, dùng từ, đặt câu, viết đoạn văn, kĩ năng diễn đạt,…còn hạn
chế. Các em chưa biết cách sắp xếp ý khi viết bài, bố cục thiếu rõ ràng, chưa khoa
học.
- Không có thói quen sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hoá khi viết văn.
- Khả năng giao cảm với đối tượng miêu tả còn hạn chế; cảm xúc, tình cảm không tự
nhiên, có sự gượng ép.
- Trong tiết trả bài, học sinh chưa được sửa lỗi và tự sửa lỗi kĩ càng, đầy đủ; các em
cảm thấy nặng nề, thất vọng về bài viết của mình.


2.3. Một số biện pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4.
Sau khi tìm hiểu, phân tích một số nguyên nhân và thực trạng học văn miêu tả của học
sinh, tôi đã tích cực vận dụng số biện pháp dạy học và tổng hợp một số kinh nghiệm,
biện pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho HS lớp 4, cụ thể như sau:
2.3.1. Tạo động cơ học văn miêu tả ở học sinh:
Công việc đầu tiên của dạy học TLV- sản sinh lời nói- là tạo ra được động cơ,
nhu cầu nói năng, kích thích học sinh tham gia vào cuộc giao tiếp (nói, viết). Sản
phẩm của phân môn Tập làm văn là các bài văn nói hoặc viết theo các kiểu bài do
chương trình qui định. Để sản sinh các bài văn này, học sinh phải có thêm nhiều kỹ
năng khác ngoài các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt, kỹ năng dùng từ đặt câu.
Đó là các kỹ năng phân tích đề, tìm ý và lựa chọn ý, kỹ năng lập dàn ý, viết đoạn và
liên kết đoạn. Nhiệm vụ của phân môn TLV bậc tiểu học là mở rộng vốn sống, rèn
luyện tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình thành nhân cách cho học
sinh. Trong đó, học văn miêu tả góp phần phát triển tư duy hình tượng, khả năng ngôn
ngữ của trẻ được rèn luyện phát triển nhờ các biện pháp so sánh, nhân hoá,…khi miêu
tả. Nhưng làm thế nào để thực hiện được nhiệm vụ trên mà không biến các em thành
những “thợ” viết văn? Vậy ta cần kích thích các em yêu văn và có nhu cầu viết văn.
Mỗi GV phải làm sao cho HS không cảm thấy sợ học môn này mà ngược lại.
- Trước hết, hãy tạo tình huống khiến các em háo hức khám phá điều thú vị trong đối
tượng miêu tả.
Ví dụ : Giáo viên cho học sinh quan sát bức tranh cây hoa phượng đang ra hoa
đỏ rực và hỏi: Quan sát tranh, em thấy cây hoa có đặc điểm gì mà nhà văn Xuân Diệu
đã ví “như muôn ngàn con bướm thắm đậu khít nhau”? Học sinh sẽ phân tích tìm ra
đặc điểm tương đồng của bộ phận nào đó của cây hoa với muôn ngàn con bướm đậu
khít nhau. Qua đây cũng rèn cho các em óc quan sát tinh tế, sự liên tưởng và tư duy
phân tích, kích thích các em suy luận.
- Dạy học sinh viết văn miêu tả phải gắn liền với việc hình thành những kĩ năng sống
khác. Như dạy các em biết giữ gìn đồ vật, tổ chức cho học sinh trồng, chăm sóc và
bảo vệ cây…Học sinh được trau dồi vốn sống, biết suy nghĩ, có những cảm xúc, tình
cảm. Từ đó, mới dạy các em cách thể hiện suy nghĩ, tình cảm bằng ngôn ngữ nói, viết.
- Khi ra đề TLV, giáo viên nên chú ý đề bài yêu cầu viết về những gì gần gũi, thân
thiết với học sinh, tạo ra được động cơ nói năng, kích thích các em muốn nói, viết về
nội dung mà đề bài đã yêu cầu. Trong tiết Kiểm tra viết (sách TV 4 tập 2- trang 92) có
4 đề bài gợi ý. Giáo viên nên dựa vào đó ra đề khác nhằm gợi cảm xúc cho các em
trước khi viết bài.
VD: Đề 1: Hãy tả một cây ở trường gắn với nhiều kỉ niệm của em.
Đề 2: Hãy tả một cây do chính tay em vun trồng.
Đề 3: Em thích loài hoa nào nhất? Hãy tả loài hoa đó.
- Khi học sinh đã có hứng thú học văn miêu tả, ta tiếp tục duy trì điều đó trong suốt
quá trình học tập và tích cực rèn các kĩ năng khác theo yêu cầu khi viết văn. Ngoài ra,
bên cạnh yêu cầu duy trì chủ đề, để đạt mục đích giao tiếp, bài văn phải có sự phát
triển, chủ đề phải được triển khai. Giáo viên cần chỉ ra các hướng cho học sinh viết


bài: viết theo trình tự thời gian, không gian hay từ toàn thể đến bộ phận… Các bài văn
miêu tả của học sinh phải thể hiện được tình cảm, cảm xúc. Điều này chi phối kĩ thuật
viết đồng thời đòi hỏi dạy viết văn miêu tả phải được bắt đầu từ việc hình thành tình
cảm đối với đối tượng được miêu tả.
2.3.2. Giúp học sinh hiểu rõ đặc điểm cơ bản của văn miêu tả:
Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) định nghĩa “Miêu tả” là dùng ngôn
ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người khác có thể hình dung
được cụ thể sự vật, sự việc hoặc thế giới nội tâm của con người. Nhà văn Phạm Hổ:
“ Miêu tả là khi đọc những gì chúng ta biết, người đọc như thấy cái đó hiện ra trước
mắt mình: một con người, con vật, một dòng sông, người đọc còn có thể nghe được
cả tiếng nói, tiếng kêu, tiếng nước chảy, thậm chí còn ngửi thấy mùi hôi, mùi sữa, mùi
hương hoa hay mùi rêu, mùi ẩm mốc,…nhưng đó mới chỉ là miêu tả bên ngoài, còn
sự miêu tả bên trong nữa là miêu tả tâm trạng vui, buồn, yêu, ghét của con người, con
vật và cả cây cỏ.”(Viết văn miêu tả và văn kể chuyện).
Như vậy, miêu tả là thể loại văn dùng lời nói có hình ảnh và có cảm xúc làm
cho người nghe, người đọc hình dung một cách rõ nét, cụ thể về người, vật, cảnh vật,
sự việc như nó vốn có trong đời sống. Một bài văn miêu tả hay không những phải thể
hiện rõ nét, chính xác, sinh động đối tượng miêu tả mà còn thể hiện được trí tưởng
tượng, cảm xúc và đánh giá của người viết với đối tượng được miêu tả. Bởi vì trong
thực tế không ai tả mà để tả, mà thường tả để gửi gắm suy nghĩ, cảm xúc, sự đánh giá,
những tình cảm yêu ghét cụ thể của mình. Các bài văn miêu tả ở tiểu học chỉ yêu cầu
tả những đối tượng mà học sinh yêu mến, thích thú. Vì vậy, qua bài làm của mình, các
em phải gửi gắm tình yêu thương với những gì mình miêu tả. Đối tượng của văn miêu
tả trong chương trình lớp 4 gồm có miêu tả đồ vật, cây cối, con vật.
Tả đồ vật: Đối tượng của văn miêu tả đồ vật ở lớp 4 là những vật học sinh
thường thấy trong đời sống hàng ngày gần gũi với các em, vì vậy cũng dễ trở thành
gần gũi với các em. Đó có thể là cái trống, cái bút, quyển vở, cặp sách, cái đồng hồ
báo thức,…Chúng là những đồ vật vô tri, vô giác nhưng gần gũi và có ích đối với học
sinh. Mỗi đồ vật đều có một hình dáng, màu sắc, kích thước, chất liệu cụ thể. Học
sinh miêu tả những đặc điểm này trong bài văn của mình. Với những đồ vật có nhiều
bộ phận, các em cần tập trung tả những bộ phận quan trọng nhất. Đó chính là những
nét tiêu biểu để phân biệt đồ vật này với đồ vật khác. Đồ vật lại thường gắn liền với
cuộc sống con người nên khi miêu tả phải nói tới công dụng, lợi ích của đồ vật cũng
như tình cảm của con người đối với nó. Có như vậy, đồ vật mới hiện lên một cách
sinh động và có hồn.
Tả cây cối: Đối tượng của văn miêu tả cây cối là những cây trồng xung quanh
học sinh. Đó có thể là một cây hoa, cây ăn quả hay cây cho bóng mát, những cây có
ích và gần gũi với các em. Mỗi loại cây có một hình dáng, đặc điểm, lợi ích nhất định.
Vì vậy, khi miêu tả chúng, học sinh phải làm nổi bật những đặc điểm này. Tả cây ăn
quả cần tập trung miêu tả hình dáng của cây, mùi vị của qủa; tả cây lấy hoa cần tả
hương sắc của hoa; tả cây cho bóng mát phải làm rõ dáng cây, tán lá,… Cây cối luôn
sống trong thiên nhiên. Khi miêu tả, cần gắn chúng với miêu tả sơ lược khung cảnh


xung quanh như mặt trời, đám mây, chim chóc, ao hồ và cả con người. Ta cũng cần
chú ý tới lợi ích của chúng và tình cảm yêu mến gắn bó của người tả đối với cây.
Tả loài vật: Đối tượng của văn miêu tả loài vật là những con vật quen thuộc
gần gũi với học sinh. Đó là những con gà mái, gà trống, cún con, chú mèo,…Mỗi con
vật đều có đặc điểm về hình dáng, đặc tính giống nòi riêng. Khi miêu tả, ta miêu tả cái
chung, và cả những nét tiêu biểu của loài vật như màu sắc, vóc dáng, tính nết. Những
con vật miêu tả là những con vật gần gũi thân thiết và có nhiều lợi ích nên bài văn
phải thể hiện được sự chăm sóc, tình cảm yêu mến của học sinh đối với chúng. Ở Tiểu
học, phân môn TLV có nhiệm vụ rèn kĩ năng nói theo nghi thức lời nói; nói, viết các
ngôn bản thông thường, viết một số văn bản nghệ thuật như miêu tả. Viết văn miêu tả,
học sinh phải có kĩ năng đặc thù là quan sát, diễn đạt một cách có hình ảnh. TLV cũng
góp phần rèn luyện tư duy hình tượng, từ óc quan sát đến trí tưởng tượng, từ khả năng
tái hiện các chi tiết đã quan sát được. Khả năng tư duy logic của học sinh cũng được
phát triển trong quá trình phân tích đề, lập dàn ý viết đoạn …. Trong quá trình sản
sinh văn bản cũng giúp học sinh có kĩ năng phân tích, tổng hợp, phân loại, lựa chọn.
Thông qua viết văn miêu tả học sinh có sự hiểu biết và tình cảm yêu mến, gắn bó với
đồ vật, cây cỏ, thiên nhiên với con người và vạn vật xung quanh: từ một quyển sách,
đến một cây hoa, một chú gà trống…Từ đây, tâm hồn, nhân cách của các em sẽ được
hình thành và phát triển. Để dạy tốt các bài tập làm văn miêu tả ở Tiểu học, giáo viên
cần vận dụng các tri thức về miêu tả, …hiểu biết về loại thể văn học; cần hiểu rõ tính
đặc thù của kĩ năng viết văn miêu tả. Để “vẽ được bằng lời” phải dạy tìm ý trong văn
miêu tả bằng cách dạy quan sát và ghi chép các nhận xét. Giáo viên cần hướng dẫn
cho học sinh biết cách vận dụng các giác quan để quan sát, biết cách lựa chọn vị trí và
thời gian quan sát, biết cách liên tưởng và tưởng tượng khi nhận xét sự vật và phải
biết diễn đạt điều quan sát được một cách gợi tả, gợi cảm, tức là có hình ảnh và cảm
xúc… Bài văn miêu tả được xây dựng trên cơ sở những hình ảnh, những ấn tượng về
đối tượng mà người viết thu lượm, cảm nhận được thông qua các giác quan trực tiếp
của mình. Bài văn thể loại miêu tả mang tính chất nghệ thuật cao, mang tính sáng tạo,
tính cá thể của người viết. Ngôn ngữ trong văn miêu tả là thứ ngôn ngữ nghệ thuật
giàu sức gợi tả, gợi cảm và là ngôn ngữ của những biện pháp tu từ. Tả là mô phỏng, tô
vẽ lại, là so sánh ví von, nhân hoá bằng hình ảnh…chứ không phải là kể lể. Văn miêu
tả mang tính chất thông báo thẩm mĩ. Dù miêu tả đối tượng nào, dù có bám sát thực tế
đến đâu thì văn miêu tả cũng không bao giờ sao chép, chụp ảnh máy móc những sự
vật hiện tượng mà là kết quả của sự nhận xét, tưởng tượng, đánh giá hết sức phong
phú. Đó là sự miêu tả thể hiện được cái mới, cái riêng biệt của đối tượng thông qua
cảm nhận của mỗi người. Chẳng hạn, Trần Đăng Khoa nhìn trăng bằng con mắt tinh
tế, bằng tình yêu của tâm hồn trẻ thơ, hồn nhiên, trong sáng: Trăng hồng như quả
chín Lửng lơ lên trước nhà… Trăng tròn như mắt cá, Chẳng bao giờ chớp mi…
Trăng bay như quả bong, Bạn nào đá lên trời… Nhà văn Thép Mới lại lấy cảm hứng
của anh chiến sĩ đang mơ về tương lai của đất nước khi ngắm trăng trong đêm Trung
thu độc lập đầu tiên: Trăng sáng mùa thu vằng vặc chiếu khắp thành phố, làng mạc,
núi rừng,… Cùng là vầng trăng, hay một sự vật nhưng mỗi người cảm nhận theo cách


riêng của mình, mà những người khác không phát hiện được hoặc chưa phát hiện
được. Với mỗi học sinh, mỗi bài tập làm văn là một sản phẩm của từng cá nhân các
em trước một đề tài. Sản phẩm này ít nhiều in dấu ấn riêng của từng em trong cách
suy nghĩ, cách tả, cách diễn đạt,…Giáo viên cần có thái độ tôn trọng sự độc lập suy
nghĩ sáng tạo nếu nó không biểu lộ những lệch lạc. Văn miêu tả không hạn chế sự
tưởng tượng, không ngăn cản sự sáng tạo của người viết, nhưng không có nghĩa là
cho phép người viết “bịa” một cách tuỳ ý. Để tả hay, tả đúng thì phải tả chân thật.
Giáo viên cần uốn nắn để học sinh tránh thái độ giả tạo, sáo rỗng.
2.3.3. Hướng dẫn học sinh cách quan sát đối tượng miêu tả, cách lựa chọn
hình ảnh, nội dung miêu tả.
Quan sát đối tượng miêu tả cần chú ý:
- Quan sát tổng thể đối tượng; chú ý cả trạng thái động và tĩnh; quan sát bằng tất
cả các giác quan thính giác, thị giác, xúc giác,…
- Lựa chọn điểm đặc trưng, đặc biệt, tiêu biểu của đối tượng để quan sát thật kĩ.
- Quan sát và so sánh điểm giống và khác nhau với các đối tượng khác có ở
xung quanh bằng sự liên tưởng hay quan sát trước đó.
- Quan sát hình ảnh, hoạt động và những tác động của đối tượng đến các sự vật
xung quanh.
- Ghi chép cẩn thận, đầy đủ khi quan sát.
Lựa chọn hình ảnh miêu tả và nội dung miêu tả :
- Căn cứ vào hình ảnh đã lựa chọn khi quan sát.
- Căn cứ vào nội dung đã ghi chép.
- Chọn lọc những hình ảnh, chi tiết, hoạt động đặc sắc, đặc trưng riêng, đẹp và
khác biệt của đối tượng để miêu tả chi tiết.
- Lựa chọn hình ảnh, hoạt động khác của đối tượng để tả khái quát, bổ trợ tạo
nên hình ảnh tổng thể về đối tượng; có thể lồng ghép các hình ảnh, sự việc gắn bó mật
thiết với đối tượng.
Sắp xếp ý, đoạn:
- Căn cứ vào nội dung đã lựa chọn để sắp xếp từng ý( theo một thứ tự nào đó: từ
ngoài vào trong, từ trước ra sau, từ xa đến gần, từ trên xuống dưới)
- Sắp xếp các ý theo đoạn với thứ tự đã lựa chọn cho phù hợp. Để viết được bài
văn, học sinh cần tập viết đoạn. Trong chương trình TLV, bài tập viết đoạn chiếm số
lượng nhiều. Đoạn văn được phân loại theo chức năng: đoạn mở bài, đoạn thân bài,
đoạn kết bài. Cách phân loại này chi phối cách xây dựng các kiểu bài viết đoạn mở
bài, viết đoạn thân bài và đoạn kết bài. Mỗi đoạn văn theo chức năng này lại được
phân loạinhỏ hơn: mở bài trực tiếp, mở bài gián tiếp, kết bài mở rộng, kết bài tự
nhiên( không mở rộng).
2.3.4. Giúp học sinh tích luỹ vốn từ miêu tả và làm giàu tưởng tượng
của các em trong làm văn miêu tả:
Muốn lựa chọn từ ngữ để đặt câu, viết thành những câu văn có hình ảnh, học sinh
phải có vốn từ phong phú. Do vậy, giáo viên cần giúp học sinh tích luỹ vốn từ miêu tả
và làm giàu tưởng tượng của các em trong làm văn miêu tả:


Tích luỹ vốn từ:
- Vốn từ được tích luỹ từ nhiều nguồn: giao tiếp hàng ngày; đọc sách, báo; xem, nghe
truyền hình truyền thanh; trao đổi với bạn bè; cô giáo cung cấp;..
- Ghi chép khi được nhận các từ ngữ dùng để miêu tả theo các chủ đề, cụ thể như:
+ Các từ thường dùng trong miêu tả cây cối: xanh mướt, mơn mởn; khẳng khiu;
xum xuê; rực rỡ; đo đỏ;…
+ Các từ thường dùng trong miêu tả đồ vật: tròn xoe, nhỏ nhắn,…
+ Các từ thường dùng trong miêu tả con vật: tinh nhanh, rón rén, oai vệ,…
- Các từ miêu tả đó thường là những từ láy, gợi lên hình ảnh, âm thanh,… để miêu tả
cho sinh động.
Giúp học sinh làm giàu thêm trí tưởng tượng:
Tưởng tượng trong miêu tả rất quan trọng. Có tưởng tượng mới có hình ảnh hoàn
chỉnh về đối tượng miêu tả. Tưởng tượng như một sự hình dung về đối tượng mà ta
nhắm mắt lại thì đối tượng sẽ hiện ra rõ nét hơn, cụ thể hơn, gần gũi hơn. Tưởng
tượng giúp ta thấy được nét đặc sắc của đối tượng, thấy được những điểm tương
đồng với đối tượng khác, thấy được mối quan hệ của đối tượng với sự vật hiện tượng
xung quanh, với những kỉ niệm hay kí ức mang dấu ấn sâu sắc trong lòng người viết.
Từ tưởng tượng, học sinh sẽ cảm nhận được đối tượng miêu tả bằng tình cảm, tình
yêu của chính mình, thấy được tầm quan trọng của đối tượng được tả đối với chính
mình và cả với những người xung quanh. Miêu tả gắn với tưởng tượng là một cách
bộc lộ cảm xúc, tình cảm và khả năng cảm thụ cái đẹp của người viết văn miêu tả.
Tưởng tượng làm cho đối tượng miêu tả hoàn thiện hơn, sống động và gần gũi hơn.
Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tưởng tượng theo cách:
- Không trực tiếp quan sát, tập trung tất cả các giác quan vào đối tượng.
- Nhắm mắt, hình dung về đối tượng: hình ảnh, hoạt động của đối tượng, những
ảnh hưởng, tác động của đối tượng đến sự vật xung quanh.
- So sánh đối tượng được miêu tả với các đối tượng khác tương đồng.
- Phân tích, đánh giá cái hay, cái đẹp có ở đối tượng.
- Nhân hoá hay tự nhiên hoá một vài hình ảnh đặc sắc ở đối tượng.
- Dự đoán trước khả năng và những điều tốt đẹp mà đối tượng có thể vươn tới.
- Liên tưởng với những điều mình đã biết; đã nghe, đọc, cảm nhận được về đối
tượng từ trước tới nay.
- Ghi chép lại những gì mình đã tưởng tượng để lựa chọn, chắt lọc đưa vào bài
viết của mình.
2.3.5. Hướng dẫn xây dựng đoạn văn mở bài, thân bài, kết bài và xây
dựng bố cục bài văn.
Bài tập luyện viết văn miêu tả là những bài tập viết thành đoạn, bài. Khi học sinh
thực hiện viết bài văn miêu tả cần có thời gian suy nghĩ tìm cách diễn đạt( dùng từ,
đặt câu, sử dụng các biện pháp tu từ so sánh, nhân hoá,…). Vì vậy, yêu cầu đặt ra là
lời văn cần rõ ý, miêu tả sinh động, bộc lộ được cảm xúc, bố cục bài văn chặt chẽ,
hợp lí trong từng đoạn, trong toàn bài để tạo ra một “chỉnh thể”. Các bài tập được xây
dựng trên cơ sở quy trình sản sinh ngôn bản và chứa đựng trong nó nhiều bài tập hình


thành những kĩ năng bộ phận( xác định yêu cầu nói, viết và tìm ý, sắp xếp ý thành bài
đến viết đoạn văn, liên kết đoạn văn thành bài,…). Kĩ năng viết của học sinh được rèn
luyện chủ yếu qua các bài tập viết đoạn văn trước khi viết một bài văn hoàn chỉnh. Do
đó, trong quá trình thực hiện các bài tập rèn luyện kĩ năng viết, giáo viên cần giúp học
sinh thực hiện tốt những yêu cầu trong các nhóm bài tập sau:
- Nhóm bài tập tiền sản sinh ngôn bản: gồm các bài tập phân tích đề bài, xác
định nội dung viết, tìm ý, sắp xếp ý để chuẩn bị thực hiện yêu câu viết( miêu tả). Việc
phân tích tìm hiểu đề giúp học sinh xác định được yêu cầu, nội dung, giới hạn của đề
bài. Với mỗi đề bài cụ thể, khi phân tích tìm hiểu đề, các em phải trả lời được câu hỏi:
Viết để làm gì? Viết về cái gì? Viết cho ai? Thái độ cần được bộc lộ trong bài viết như
thế nào? Tình cảm của người viết phải thể hiện được qua cách miêu tả.
- Nhóm bài tập sản sinh ngôn bản gồm bài tập viết đoạn và bài tập viết bài văn:
+ Bài tập viết đoạn văn: rèn cho học sinh kĩ năng tạo lập được đoạn văn đảm bảo sự
liên kết chặt chẽ về ý. Các đoạn văn được luyện viết là đoạn mở bài (trực tiếp, gián
tiếp), đoạn thân bài (mở rộng, không mở rộng). Các đoạn phải có sự liền mạch về ý
(không rời rạc, lộn xộn), các ý trong đoạn được diễn tả theo một trình tự nhất định
nhằm minh hoạ, cụ thể hoá ý chính (có mở đầu, triển khai và kết thúc).
Hướng dẫn học sinh viết các đoạn văn:
- Đoạn văn mở bài: Học sinh được học hai cách mở bài: mở bài trực tiếp và mở
bài gián tiếp. Giáo viên nên để học sinh lựa chọn cách mở bài mà mình cho là hợp lí
nhất và phù hợp với khả năng của từng em. Mở bài gián tiếp có thể xuất phát từ một
vấn đề khác rồi mới dẫn vào vấn đề mình cần nói tới, có thể bắt đầu bằng một sự kiện,
hoàn cảnh xuất hiện vật định miêu tả; hoặc bắt đầu bằng những câu thơ, ca dao…có
liên quan đến yêu cầu của đề bài.
- Thân bài: Có thể gồm một số đoạn văn, là toàn bộ nội dung miêu tả được viết
theo từng phần, từng ý đã được sắp xếp khi quan sát, chuẩn bị viết bài. Trong đó, thể
hiện được hình ảnh về đối tượng miêu tả với ngôn từ và các biện pháp nghệ thuật mà
người viết vận dụng để miêu tả.
- Đoạn văn kết bài: Kết bài tuy chỉ là một phần nhỏ trong một bài văn nhưng lại
rất quan trọng bởi đoạn kết bài thể hiện được nhiều nhất tình cảm của người viết với
đối
tượng miêu tả. Thực tế cho thấy học sinh thường hay liệt kê cảm xúc của mình làm
phần kết bài khô cứng, gò bó, thiếu chân thực. Các em thường làm kết bài không mở
rộng, điều đó khiến bài văn chưa có sự hấp dẫn. Do đó, giáo viên cần hướng dẫn, gợi
ý để học sinh biết cách và viết được phần kết bài mở rộng bằng cảm xúc của mình
một cách tự nhiên. Giáo viên có thể dùng câu hỏi gợi mở để khêu gợi cảm xúc của
học sinh trong quá khứ, hiện tại, tương lai; hoặc trong hoàn cảnh nào đó đối với đối
tượng được tả. VD: Tả cái trống trường: Ngày mới vào lớp 1, khi nghe tiếng trống
trường, em có cảm giác gì? Bây giờ học lớp 4 rồi, ngày nào cũng nghe tiếng trống, em
càng thấy như thế nào?...
+ Bài tập viết bài văn: thường được thực hiện trong cả một tiết học. Chúng luyện cho
học sinh triển khai nhiệm vụ giao tiếp thành một bài. Bài văn phải có bố cục chặt chẽ,


có lời văn phù hợp với yêu cầu nội dung và thể loại, các đoạn văn trong bài phải liên
kết với nhau thành một bài văn hoàn chỉnh, được bố cục chặt chẽ theo ba phần: Mở
bài: Giới thiệu đối tượng miêu tả, thể hiện tình cảm, quan hệ của người miêu tả với
đối tượng miêu tả. Thân bài: Dùng lời văn để tả, tái hiện, sao chụp chân dung của đối
tượng miêu tả ở những góc nhìn nhất định. Có thể sử dụng các biện pháp nghệ thuật
để lột tả hình ảnh một cách sinh động.
Kết luận: Nêu những nhận thức, suy nghĩ, tình cảm, thái độ trực tiếp của người
miêu tả và của mọi người nói chung đối với đối tượng miêu tả. Nhóm bài tập viết
đoạn, bài là những bài tập khó nhất, đòi hỏi sự sáng tạo nhất, yêu cầu học sinh phải
vận dụng một cách tổng hợp sự hiểu biết, cảm xúc về cuộc sống, về các đối tượng
được tả và các kĩ năng ngôn ngữ đã được hình thành trước đó để tạo lập được đoạn,
bài. Đây là một quá trình chuyển từ ý đến lời. Giáo viên phải luyện cho học sinh diễn
đạt đúng những gì muốn tả. Ý có thể được diễn tả thành những lời khác nhau. Học
sinh phải biết lựa chọn cách diễn đạt có hiệu quả nhất. Để rèn luyện kĩ năng viết văn
miêu tả cho học sinh, giáo viên phải giúp học sinh xác định được mục đích của bài
viết, chủ đề của bài viết và duy trì chủ đề này trong suốt bài viết để bài văn không lan
man. Thật khó khi phân định đúng, sai ở một bài văn. Mà ta đánh giá bài văn đó có
hay không, có đặc sắc không? Vì thế, bài văn phải bộc lộ tình cảm chân thành, hồn
nhiên của các em ở từng câu, từng đoạn của bài, và cô đọng lại ở phần kết bài. Do
vậy, giáo viên cần chú ý rèn cho học sinh cách tưởng tượng, bộc lộ cảm xúc trong bài
văn một cách thường xuyên, liên tục; từ tiết đầu tiên của mỗi loại bài đến những tiết
xây dựng đoạn văn, tiết viết bài và cả trong tiết trả bài.
2.3.6. Luyện tập cách sử dụng các biện pháp tu từ, biện pháp nghệ thuật
trong viết văn.
Để bồi dưỡng kĩ năng diễn đạt, học sinh sẽ thực hành một số bài tập luyện viết
như: với các từ cho sẵn, viết thành câu, luyện dùng từ bằng cách sửa lỗi dùng từ; từ ý
đã cho viết thành câu gợi tả, gợi cảm, viết có sử dụng biện pháp tu từ theo yêu cầu,
làm các bài tập mở rộng thành phần câu… để cách diễn đạt được sinh động, gợi tả,
gợi cảm hơn. Giáo viên cần tiến hành theo mức độ tăng dần, bước đầu chỉ yêu cầu học
sinh đặt câu đúng, sau yêu cầu cao hơn là phải đặt câu có sử dụng biện pháp so sánh,
nhân hoá, có dùng những từ láy, từ ngữ gợi tả hình ảnh, âm thanh hay những từ biểu
lộ tình cảm. VD: Một học sinh tả chiếc bàn học: Mỗi lúc học bài mệt em thường gối
má lên mặt bàn để cảm nhận hương thơm dìu dịu của một người bạn thân đã cần
mẫn, miệt mài cùng em giải những bài toán khó. Miêu tả như vậy vừa sinh động, tinh
tế vừa rất tình cảm và sẽ cuốn hút người đọc, người nghe. Tuy nhiên, không phải học
sinh nào cũng biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật khi miêu tả và cũng không phải
tự các em có sẵn tâm hồn văn chương như vậy. Học sinh có thể phát hiện tốt chi tiết
có sử dụng biện pháp nghệ thuật gì nhưng khi viết văn lại khó vận dụng được. Tôi đã
giúp các em bằng cách như sau:
VD: Cho đoạn văn: Mỗi hoa chỉ là một phần tử của cả xã hội thắm tươi; người ta
quên đoá hoa, chỉ nghĩ đến cây, đến hàng, đến những tán lớn xoè ra như muôn ngàn
con bướm thắm đậu khít nhau. (Xuân Diệu)


- Cho học sinh phát hiện biện pháp nghệ thuật trong câu trên.
- Nêu tác dụng của việc so sánh như vậy.
- Giải thích vì sao có thể so sánh hoa phượng với muôn ngàn con bướm thắm( mà
không phải một con).
- Tập vận dụng so sánh tương tự: so sánh hoa phượng với hình ảnh khác theo cảm
nhận của các em, hoặc so sánh loài hoa hay cây khác với hình ảnh nào đó,giúp học
sinh nhận ra những cách so sánh thú vị, giàu sức gợi tả
- Yêu cầu các em ghi chép vào sổ tay những câu văn, thơ có sử dụng hiệu quả biện
pháp nghệ thuật đó.
2.3.7. Thực hiện nghiêm túc tiết trả bài tập làm văn:
Kĩ năng TLV trước hết được chia thành kĩ năng nói, kĩ năng viết. Ở lớp đầu cấp,
khẩu ngữ của các em phát triển hơn còn kĩ năng viết mới được hình thành nên bị ảnh
hưởng của khẩu ngữ, các em nói thế nào, viết thế ấy, mắc các lỗi được tính vào lỗi vi
phạm phong cách. Về sau, kĩ năng viết sẽ phát triển và sẽ ảnh hưởng tích cực trở lại
với khẩu ngữ. Lên lớp 4,5 kĩ năng viết ngày càng phát triển. TLV có vai trò hàng đầu
trong việc phát triển kĩ năng này. Đặc biệt, khi học viết văn miêu tả, học sinh lớp 4
bước đầu được học diễn đạt lưu loát, giàu hình ảnh. Mặt khác, sự liên kết nội dung là
liên kết bên trong khó nhận thấy, nhiều người thường chú ý đến hình thức ngôn từ mà
không coi trọng đến lôgic của các ý trong bài. Trong khi chữa văn cho học sinh, nhiều
giáo viên thường chú ý chữa lỗi chính tả, chữa lời mà không chữa ý. Người giáo viên
cần hiểu rõ mục tiêu của tiết trả bài để thực hiện một cách nghiêm túc, kĩ lưỡng, tránh
làm “lấy lệ”, không thể qua loa, đại khái.
- Chấm bài thật kĩ, thấy rõ ưu, nhược điểm của từng bài viết; chữa lỗi tiêu biểu cần
khắc phục ngay cho các em.
- Ghi lại các lỗi của học sinh theo từng loại: Lỗi chính tả, lỗi dùng từ, lỗi đặt câu, lỗi
diễn đạt,…; Ghi lại các từ, câu, đoạn văn hay.
- Thống kê và phân loại bài theo mức độ. Nhận xét chung về ưu, nhược điểm trong
bài viết của học sinh.
Đây là tiết học thực hiện nhóm bài tập kiểm tra điều chỉnh. Giáo viên yêu cầu
học sinh đọc lại đoạn đã viết, tự kiểm tra đối chiếu với mục đích yêu cầu đặt ra lúc
đầu để tự đánh giá, sửa chữa bài viết của mình. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh
xem xét cả nội dung và hình thức diễn đạt. Có thể phải cho học sinh luyện viết lại
đoạn, bài.
- Học sinh phải thấy được lỗi trong bài văn của mình và của bạn; sửa được lỗi đó và
ghi nhớ nó; hiểu rõ và có nhu cầu học hỏi những từ, câu, đoạn văn hay, giàu hình ảnh
và sức gợi tả. Tôi muốn nhấn mạnh rằng: Trước khi cho học sinh học hỏi những từ,
câu, đoạn văn hay cần lưu ý cho các em đọc lên (thành tiếng và đọc thầm) một cách
diễn cảm thì tất cả các em mới cảm nhận được sự thú vị của cái hay đó. Tuy nhiên, ta
cũng không nên đòi hỏi quá cao ở học sinh. Tuỳ vào đối tượng học sinh mà đặt ra các
em sửa lỗi hay học từ, câu, đoạn hay ở mức độ nào. Giáo viên cần kiên trì, bền bỉ,
không thể nóng vội, kịp thời ghi nhận những tiến bộ của học sinh dù là nhỏ nhất. Từ


đó, các em viết bài dễ dàng hơn, thích thú hơn, có cảm xúc hơn, chất lượng bài viết
được nâng cao.
2.3.8. Thực hiện dạy học theo quan điểm tích hợp và giáo dục bảo vệ môi
trường.
Dạy văn miêu tả đòi hỏi sự nhiệt tình của giáo viên rất cao thì mới thấy được sự
tiến bộ của học sinh, mới khơi gợi được ở các em niềm say mê, thích thú. Không chỉ
trong tiết TLV mới dạy học sinh học viết văn, ta còn hướng dẫn các em trong các tiết
học khác của môn Tiếng Việt như dạy các em cảm thụ trong giờ Tập đọc, dạy dùng từ,
đặt câu trong tiết LTVC, kích thích nhu cầu miêu tả một đồ vật nào đó trong khi tiếp
xúc trò chuyện, hay các giờ ngoại khoá. Trong một lần hướng dẫn các em xếp hàng
vào lớp, bất chợt tôi nhìn thấy cây bằng lăng giữa sân trường nở bông hoa đầu tiên.
Tôi hỏi các em: Sân trường hôm nay có điều gì vừa mới, vừa lạ và rất đẹp? Các em
quan sát nhanh và đều nhận thấy điều tôi muốn hỏi Bông hoa ấy đẹp như thế nào và
cho em cảm xúc gì? Các em rất hào hứng nói lên suy nghĩ của mình. Tôi giáo dục ý
thức bảo vệ cây xanh bằng cách hỏi các em như sau: Bông hoa đẹp thế kia, em có
nên ngắt để tặng một người em yêu quý không? Vì sao? Như vậy, trong một thời điểm
ngắn, tôi đã đạt được nhiều mục đích: Các em xếp hàng nhanh mà không căng thẳng;
Kích thích các em phát triển khả năng quan sát, nhận xét tinh tế, khả năng dùng ngôn
ngữ để diễn đạt…Trong khoảng thời gian sau đó, tôi tin rằng nhiều em còn suy nghĩ
và vận dụng vốn từ của mình để tả về bông hoa đó theo cảm nhận riêng. Bên cạnh đó,
dạy học tích hợp với các môn học khác làm giàu vốn sống, vốn hiểu biết của các em.
VD: Thông qua học về chủ đề “ Thực vật và động vật” của môn Khoa học, học
sinh có thêm hiểu biết về đặc điểm một số loài thực vật, động vật, hiểu được cách
chăm sóc và ích lợi của chúng. Vì vậy, khi làm bài văn miêu tả( cây cối, con vật), các
em sẽ tả cặn kẽ, sinh động và thể hiện tình cảm của mình một cách chân thật hơn.
2.3.9. Khen ngợi, động viên kịp thời
Để kích thích học sinh học tập nói chung, học văn miêu tả nói riêng, Giáo viên
nên dành cho các em những lời khen thích đáng. Các em sẽ phấn khởi, tự tin hơn và
phát huy được khả năng tiềm tàng của bản thân, từ đó loại bỏ được những lo âu, tự ti
cố hữu.
2.3.10. GV mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy học, tích cực đăng kí dạy
thao giảng phân môn Tập làm văn.
Trong quá trình giảng dạy, Gv cần nghiên cứu kĩ nội dung chương trình, mạnh
dạn vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, không sợ kết quả đánh giá giờ dạy
mà chú trọng hơn đến chất lượng học sinh. Tích cực dạy thao giảng cho đồng nghiệp
dự giờ, góp ý sẽ rút được nhiều kinh nghiệm tốt cho việc dạy phân môn này.
Trên đây là một số biện pháp mà tôi đã áp dụng tương đối thành công khi dạy
văn miêu tả cho học sinh lớp 4 do tôi chủ nhiệm trong năm học vừa qua.
2.4. Kết quả của việc vận dụng các biện pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả
cho học sinh lớp 4.
* Mục đích vận dụng sáng kiến kinh nghiệm:
- Trao đổi với đồng nghiệp về biện pháp, phương pháp giảng dạy có hiệu quả.


- Đánh giá kết quả quá trình nghiên cứu, mặt tích cực, hạn chế thông qua việc học một
tiết TLV miêu tả của học sinh.
* Nội dung thực nghiệm Thiết kế bài dạy: LUYỆN TẬP MIÊU TẢ CÂY CỐI
Đề 1: Hãy tả một cây ở trường gắn với nhiều kỉ niệm của em.
Đề 2: Hãy tả một cây do chính tay em vun trồng.
Đề 3: Em thích loài hoa nào nhất? Hãy tả loài hoa đó.
* Kết quả thực nghiệm
- Cuối tiết dạy, tôi thu bài học sinh đã viết để chấm khảo sát. Kết quả thu được: Tổng
số 23 bài của riêng lớp 4C do tôi chủ nhiệm, trong đó : Số học sinh tả theo đúng trình
tự: 20/23; bài viết mạch lạc, rõ ràng: 17/23; viết được mở bài gián tiếp hoặc kết bài
mở rộng: 15/23; bài văn giàu hình ảnh, cảm xúc tốt: 12/23.
- Sau khi tổ chức khảo sát cả khối với chung một đề bài kiểm tra, tôi chấm chữa bài
và nhận được kết quả như sau:
Lớp
4A (25em)
4B (23em)
4C (23em)
Cả khối (71)

Hoàn thành
Số lượng
Tỉ lệ
25
100%
22
95,7%
23
100 %
70
98,6%

Chưa hoàn thành
Số lượng
Tỉ lệ
0
0%
1
4,3%
0
0%
1
1,4%

* Nhận xét: Qua một quá trình nghiên cứu, tìm tòi sáng tạo và thực hiện các biện
pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh một cách bài bản, có kế hoạch, tôi
nhận được một số kết quả như sau:
Mặt mạnh: Tôi nhận thấy ngoài nhiệm vụ chính là biết làm một bài văn, học sinh
được chủ động, tự do thể hiện cái “tôi” của mình một cách rõ ràng bộc bạch cái riêng
của mình một cách trọn vẹn. Dạy Tập làm văn là dạy các em tập suy nghĩ riêng, tập
sáng tạo, tập thể hiện trung thực con người mình qua từng bài học cụ thể. Qua đánh
giá tôi thấy đa số các em làm bài đạt yêu cầu, một em do sai một số lỗi chính tả và
trình bày chưa đúng yêu cầu nên nhận mức chưa hoàn thành.
Mặt hạn chế: Thời gian làm bài không dài( khoảng 20- 25 phút), nên các em khi
viết bài luôn mang tâm trạng vội vàng, sợ hết giờ. Vì vậy, các em chưa có sự chọn
lựa, trau chuốt từ ngữ, câu văn,… nên phần nào hạn chế hiệu quả của bài viết.
3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận
Như vậy, dạy học sinh viết văn miêu tả có một ý nghĩa to lớn vì nó có cả các
nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển. Phân môn Tập làm văn là một phân
môn thực hành và giàu sức sáng tạo cá nhân. Có nhiều cách để viết bài văn miêu tả và
cũng có nhiều biện pháp để dạy văn miêu tả. Trên cơ sở kinh nghiệm của giáo dục,
mỗi giáo viên đều có những cách thức dạy học riêng nhằm thực hiện tốt nội dung


chương trình đã quy định. Tuy nhiên, để thành công khi dạy văn miêu tả, cá nhân tôi
nhận thấy mỗi giáo viên đều phải thực hiện tốt các yêu cầu sau:
- Nắm chắc mục tiêu môn học, bài học.
- Luôn tìm tòi, trau dồi kiến thức và trình độ hiểu biết.
- Linh hoạt trong phương pháp giảng dạy.
- Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
- Luôn thực hiện quan điểm tích hợp trong dạy học.
- Phối hợp với các hoạt động ngoài giờ để tích luỹ vốn hiểu biết và bồi dưỡng tâm hồn
giàu cảm xúc của các em.
- Luôn kiểm tra, đánh giá mức độ và kịp thời ghi nhận sự tiến bộ của học sinh.
- Chuyển sự đánh giá kết quả học tập của giáo viên thành kĩ năng tự đánh giá của học
sinh.
Trên cơ sở thực tế bản thân mình đã vận dụng và đạt được một số kết quả, tôi
nhận thấy việc áp dụng các biện pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh như
đã nêu trong đề tài là việc làm khả quan, có thể thực hiện để đạt hiệu quả tốt.
3.2. Kiến nghị- Đề xuất
Trên cơ sở thực tế thực hiện nhiệm vụ và những vấn đề mà đề tài đề cập tới, tôi
xin có một số ý kiến đề xuất như sau:
*Đối với giáo viên:
- Giáo viên là người quyết định đến hiệu quả của chất lượng dạy học. Vì vậy,
trước hết giáo viên phải là người thầy tâm huyết, yêu thương học sinh và phải thường
xuyên tích luỹ kinh nghiệp dạy học và sáng tạo trong việc lựa chọn hình thức và
phương pháp dạy học.
- Giáo viên cần tham gia đầy đủ và nghiêm túc các lớp học chuyên đề, tự
nghiên cứu, đầu tư thời gian chuẩn bị cho công tác dạy học; căn cứ vào trình độ học
sinh trường, lớp mình để lên kế hoạch cho các hoạt động dạy học phù hợp.
- Một điều theo tôi rất quan trọng đó là chữ “tâm” trong mỗi người thầy. Cho
dù người thầy có kiến thức và phương pháp tối ưu nhưng không có sự nhiệt tình, yêu
thương học sinh như con mình, trăn trở với những bài học và việc nắm bát và vận
dụng kiến thức của học sinh thì kết quả học tập của học sinh cũng sẽ không được như
mong muốn. Vì vậy tôi mong mỗi giáo viên phải đề cao hơn nữa trách nhiệm vinh
quang trồng người của mình.
* Đối với nhà trường:
- Cần đưa nội dung bồi dưỡng dạy học văn miêu tả vào chương trình bồi dưỡng
thường xuyên cho giáo viên.
- Đánh giá giờ dạy và thi đua phải trên cơ sở thực tế hiệu quả giảng dạy có tác dụng
động viên khuyến khích sự sáng tạo của giáo viên. Khuyến khích giáo viên dạy thao
giảng phân môn Tập làm văn.
- Ban giám hiệu nhà trường cần động viên, khuyến khích tinh thần tự giác và khơi dậy
được tình yêu và trách nhiệm nghề nghiệp trong mỗi giáo viên, để mỗi giáo viên thực
sự là nhân tố cho sự thành công của sự nghiệp đổi mới.


Với thời gian ngắn, năng lực của bản thân còn hạn chế nên đề tài đưa ra không
tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong được sự góp ý bổ sung của các thầy, cô giáo,
bạn đồng nghiệp để đề tài hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tôi xin cam đoan đề tài này là do bản thân đã đăng
kí từ đầu năm học và trong năm đã tự nghiên cứu
và viết, không sao chép của ai.
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG

Thanh Hóa, ngày 6 tháng 4 năm 2016
Người viết đề tài
VC
Trần

Trịnh Vân Cơ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×