Tải bản đầy đủ

Những điều cần biết khi chăm Trẻ Sơ Sinh.

Đổ mồ hôi nhiều ở trẻ sơ sinh
Nếu trẻ toát mồ hôi mà không kèm theo dấu hiệu bệnh lý như sốt cao,
rối loạn hô hấp hay amidan phì đại thì không cần lo lắng. Đó là
hiện tượng sinh lý tự nhiên, bé ra mồ hôi để làm mát cơ thể.
Có nhiều trường hợp trẻ ra mồ hôi sau khi bú mẹ hoặc bú bình. Chính nhiệt
độ của bình đã khiến cơ thể bé phản ứng lại. Một số em có thể nằm
mơ, hoảng hốt rồi đổ mồ hôi vào ban đêm, nếu ban ngày bị "stress".
Tuy nhiên, những biểu hiện này cho thấy bé phát triển bình thường.
Có thể hạn chế hiện tượng toát mồ hôi ở trẻ như sau:
- Nếu bé không sốt thì nên để ý nhiệt độ nơi ngủ, xem bé có mặc quá nhiều quần
áo hay đắp thừa chăn hay không.
- Không nên đặt bé nằm ngủ trực tiếp trên chất liệu nhựa mà nên lót vải để tránh bị
nóng lưng.
- Chú ý cho bé uống nước thường xuyên, kể cả khi cơ thể không thiếu nước. Đặc
biệt cung cấp đủ lượng nước bị mất khi trẻ mửa, tiêu chảy hoặc sốt cao.
Nôn trớ ở trẻ sơ sinh
Không ít bà mẹ, nhất là những người lần đầu nuôi con, đã bỏ qua hiện tượng nôn
trớ của trẻ. Thực chất đây là một bệnh lý, nếu không xem xét kỹ thì có thể sẽ gây
nguy hiểm cho bé.
Nôn là hiện tượng đẩy ngược các chất trong dạ dày qua miệng do các
động tác gắng sức của cơ thể. Trớ xảy ra mỗi khi trẻ ăn no, sau mỗi lần

rướn người hoặc thay đổi tư thế đột ngột. Hiện tượng nôn trớ là một
biểu hiện bất thường ở trẻ khi bú, hậu quả là thức ăn trào ngược từ dạ dày
qua miệng.
Khi bú, sữa xuống dạ dày qua tâm vị (còn gọi là van tâm vị một chiều).
Trong dạ dày, sữa được hấp thụ một phần, phần còn lại xuống ruột qua
môn vị (còn gọi là van môn vị một chiều). Bình thường vài giờ sau sinh,
trẻ bú có thể nôn trớ chất nhầy đơn thuần hay lẫn chút máu, bởi niêm mạc
dạ dày bị kích thích do nuốt phải một số chất như nước ối, dịch âm đạo...
Khi thai sổ, trẻ sơ sinh đều trớ ít nhiều. Trẻ mập trớ nhiều hơn do hệ giao
cảm hưng phấn, trương lực dạ dày cao hơn và ăn nhiều hơn.
Nôn trớ sinh lý còn gọi là trào ngược dạ dày - thực quản. Sức khỏe của trẻ
trong thời gian này vẫn bình thường, ăn ngủ và vui chơi tốt. Sau 7-8 tháng
tuổi, trớ sinh lý không còn nữa. Ở trẻ sơ sinh, các cơ van tâm vị còn yếu
và xốp. Nếu tư thế trẻ bú không đúng sẽ làm cho không khí trong dạ dày
dâng lên cùng với một ít sữa, qua tâm vị trào ngược lên thực quản và ra
ngoài. Nôn trớ có thể do thay đổi thức ăn đột ngột (chuyển sang bột đặc
mà bỏ qua giai đoạn loãng), ăn toàn bột từ sữa bò trong khi cơ thể bé
không chịu được loại thực phẩm này.
Để hạn chế nôn trớ sinh lý ở trẻ, cần phối hợp các biện pháp sau:
Chế độ ăn: Bú làm nhiều lần trong ngày, mỗi lần bú không no quá,
chuyển chế độ ăn từ từ...
Tư thế lúc bú: Bú bên vú trái trước, sau đó là vú phải. Không để trẻ khóc
khi bú để tránh nuốt hơi gây căng dạ dày.
Nếu bú bình, để đầu núm vú bình sữa luôn đầy sữa, không để bình sữa
nằm nghiêng. Khi bú xong, bế trẻ cao đầu trong 15-20 phút, vỗ lưng cho
bé ợ hơi, sau đó đặt nằm nghiêng bên trái và kê gối hơi cao. Không để trẻ
bú nằm dễ bị sặc, trớ sữa và không tâng bé lên xuống sau khi bú.
Dùng thuốc: Biện pháp này chỉ sử dụng khi việc điều chỉnh chế độ ăn và
tư thế bú không có kết quả. Các thuốc tăng cường co thắt phần cuối thực
quản, chống trào ngược và mở rộng cơ môn vị để thức ăn tống khỏi dạ
dày như cisapride (propulsid), primpépan, bethanecol...
Qua thời kỳ nôn trớ mà trẻ vẫn không hết thì cần lưu ý một số bệnh sau:
- Nếu nôn trớ cấp tính kèm theo sốt thì cẩn thận với các bệnh đường tiêu
hóa như nhiễm trùng dạ dày, ruột; ngộ độc thức ăn, viêm mũi, tai, viêm
màng não, viêm ruột thừa, nhiễm vi khuẩn, virus...
- Nôn trớ không kèm theo sốt có thể do chế độ ăn sai lầm, hẹp môn vị,
lồng ruột, thoát vị nghẹt, không dung nạp một số chất, rối loạn vận động
dạ dày, thực quản... Trong trường hợp này, một số bác sĩ còn xếp nôn trớ
bệnh lý theo các nguyên nhân như dị tật đường tiêu hóa, bệnh đường hô
hấp trên, não và màng não hoặc ăn thức ăn nhiễm khuẩn.


Chăm sóc trẻ ngay sau sinh
Tỷ lệ bệnh tật và tử vong của trẻ phụ thuộc phần lớn vào cách được chăm sóc và
nuôi dưỡng trong 30 phút đầu tiên. Dưới đây là một số thao tác quan trọng ngay
khi trẻ chào đời.
Không để trẻ bị lạnh. Khi còn trong bụng mẹ, trẻ được bao bọc trong
môi trong nước ối có nhiệt độ 37 độ C. Khi ra ngoài, thân trẻ dính
nước ối cộng với tác động của nhiệt độ không khí thấp hơn, dễ dẫn
đến tình trạng hạ thân nhiệt. Vì thế, cần lau khô ngay cho bé bằng vải khô
sạch từ đầu đến chân và giữ ấm cho trẻ.
Làm sạch đường hô hấp. Nếu trẻ được đẻ thường sẽ không phải hút sâu
do nước ối trong. Chỉ cần đặt trẻ nằm nghiêng, đầu thấp là dịch bẩn từ
miệng sẽ tự chảy ra. Lúc này, nên dùng miếng gạc vô trùng lau sạch
miệng và mũi cho trẻ. Các thao tác lau khô và làm sạch đường hô hấp phải
rất nhanh, bất luận trẻ được sinh trong bệnh viện, nhà hộ sinh, trạm y tế
hay gia đình.
Đánh giá tình trạng của trẻ. Ngay sau khi sinh, trẻ cần được xác định
giới tính và phát hiện những bất thường bên ngoài. Đặc biệt là xem trẻ có
hậu môn, phản xạ và trương lực cơ tốt không... Dùng các chỉ số Apgar
hoặc Sigtuna để đánh giá vào các thời điểm 1; 5; 10 phút sau sinh.
Thời điểm cặp rốn cho trẻ thích hợp nhất là 1 phút sau đẻ. Nếu cặp
rốn quá muộn, trẻ sẽ phải nhận thừa một lượng hồng cầu, máu dễ quánh
và dẫn đến tình trạng khó thở, tăng thể tích của tim (chứng tim to). Còn
nếu cặp rốn quá sớm, trẻ dễ bị thiếu hồng cầu và sau vài tháng có thể xuất
hiện chứng thiếu máu. Nên dùng chỉ không đàn hồi đã khử trùng để buộc
rốn. Dụng cụ cắt rốn phải được hấp tiệt trùng hoặc luộc sôi tối thiểu 20
phút. Đoạn rốn còn lại cần để dài khoảng 1-1,5 cm, được sát trùng cẩn
thận bằng cồn iốt, rồi dùng gạc vô khuẩn bọc lại, cuối cùng dùng băng vô
khuẩn băng quanh vòng bụng.
Cân, đo và cho trẻ uống vitamin K. Do đặc điểm sinh lý nên trẻ mới đẻ,
nhất là trẻ sinh non có nhiều nguy cơ chảy máu ở ruột, dạ dày, phổi, não...
Vì thế, cần cho tất cả trẻ mới sinh uống 2 mg vitamin K hoặc tiêm bắp1
mg để phòng chảy máu.
Nhỏ mắt phòng bệnh lậu. Mắt trẻ dễ tiếp xúc với chất bẩn khi đi qua
đường sinh dục của mẹ, nhất là khi người mẹ bị viêm âm đạo. Nên dùng
miếng gạc sạch thấm nước muối sinh lý để rửa mắt cho bé. Rửa mỗi mắt 1
miếng gạc riêng, sau đó nhỏ mỗi mắt 1 giọt argyrol 1% để phòng lậu mắt.
Đặt trẻ lên bụng mẹ. Trẻ được sớm tiếp xúc và bú mẹ sẽ giúp mẹ co hồi
tử cung tốt, tránh chảy máu sau sổ rau. Trẻ bú sớm sẽ nhận được sữa non
quý giá, đồng thời kích thích cơ thể mẹ xuống sữa nhanh hơn. Theo Tổ
chức Y tế Thế giới, tốt nhất người mẹ nên cho con bú trong vòng 30 phút
đến 1 giờ sau sinh.
Những nguy cơ thường gặp ở trẻ sinh non
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, trẻ ra đời trước 37 tuần thai tính từ ngày đầu của kỳ
kinh cuối cùng là sinh non. Các em thường rất yếu ớt, tỷ lệ bệnh tật và tử vong
cao, đặc biệt là những trẻ không quá 32 tuần thai và nặng dưới 2.000g lúc chào
đời.
Tỷ lệ trẻ sinh non ở Việt Nam hằng năm là 10% (khoảng 150.000 em).
Việc chăm sóc và nuôi dưỡng các em gặp rất nhiều khó khăn do các cơ
quan trong cơ thể chưa phát triển chín muồi.
Trẻ sinh thiếu tháng rất dễ bị hạ thân nhiệt, ngay cả khi thời tiết nóng.
Nguyên nhân là lớp mỡ dưới da của trẻ quá mỏng, khả năng sản sinh nhiệt
kém, trong khi sự mất nhiệt do bức xạ và bốc hơi lại rất lớn. Trung tâm
điều hóa thân nhiệt của trẻ hoạt động yếu. Nhiệt độ môi trường dễ khiến
trẻ bị lạnh và phù cứng, vì lớp mỡ dưới da chứa nhiều axit béo no nên rất
mau đông cứng. Việc sưởi ấm cho trẻ sinh non cực kỳ quan trọng và cách
hiệu quả nhất là người mẹ ôm trẻ vào lòng.
Bé sinh non có nguy cơ hạ đường huyết và canxi huyết rất cao do
năng lượng dự trữ thiếu và ăn uống quá ít. Để khắc phục tình trạng này,
trẻ cần được cho ăn sớm và nhiều lần trong ngày. Nếu trẻ chưa tự dung
nạp thức ăn qua đường tiêu hóa thì nên tiến hành nuôi bằng đường tĩnh
mạch trong những ngày đầu (việc này chỉ thực hiện được trong bệnh
viện). Khi bắt đầu ăn được qua đường miệng, trẻ cần ăn sữa mẹ ngay. Sữa
mẹ rất cần cho trẻ sơ sinh, đặc biệt là trẻ đẻ non vì nó chứa nhiều protein,
đặc biệt là protein kháng khuẩn. Protein giúp trẻ sinh non phát triển
nhanh, còn protein kháng khuẩn giúp bảo vệ cơ thể yếu ớt của trẻ chống
lại các bệnh truyền nhiễm.
Trẻ sinh non thường bị suy hô hấp. Tuổi thai càng thấp thì tỷ lệ suy
càng cao, dễ dẫn đến tử vong do bị xẹp phổi và hội chứng màng trong.
Những trường hợp này cần được điều trị tích cực tại bệnh viện.
Ngoài ra, những trường hợp sinh thiếu tháng có nguy cơ xuất huyết
cao, nhất là xuất huyết màng não và phổi. Tình trạng xuất huyết sẽ
càng trầm trọng nếu trẻ bị thiếu oxy hoặc hạ thân nhiệt.
Để giảm tỷ lệ trẻ sinh non, thai phụ cần được chăm sóc tốt, nhất là trong
thời kỳ thai nghén. Chị em cần đi khám thường xuyên để sớm phát hiện
dấu hiệu sinh non và có biện pháp xử lý kịp thời.
Phụ nữ uống rượu dễ mang thai hơn
Những phụ nữ uống đều đặn một lượng rượu vang nhất định sẽ có thai dễ dàng
hơn là những người kiêng rượu hay chỉ uống bia. Đó là kết quả nghiên cứu do nhà
khoa học Mette Juhl và cộng sự tại viện Statens Serum, Đan Mạch, thực hiện.
Cuộc khảo sát trên 30.000 phụ nữ cho thấy, những người chọn một cốc
rượu vang thay vì bia hoặc rượu mạnh có khả năng thụ thai cao hơn.
Người ít có khả năng mang thai nhất là những người không uống một chút
chất cồn nào.
"Chúng ta biết rằng, người uống chút rượu vang thì ăn ngon hơn. Vì vậy,
cũng có khả năng rượu chứa những chất liệu có lợi cho khả năng sinh
sản", Jul nhận xét.
Những sai lầm trong việc sơ cứu rắn cắn
Bước đầu tiên trong việc giải quyết vấn đề rắn cắn là sơ cứu. Tuy
nhiên, theo bác sĩ Trịnh Xuân Kiếm, giảng viên Đại học Y dược
TP HCM, hầu hết các phương pháp sơ cứu phổ biến trong dân
gian đều được chứng minh là không có tác dụng, trái lại còn gây
nguy hiểm cho người bệnh.
Ông Kiếm, một chuyên gia nghiên cứu huyết thanh kháng nọc rắn, cho
biết, ở Việt Nam ước tính có 30.000 bệnh nhân bị rắn cắn/năm, hầu hết do
giẫm phải chúng. Đôi khi rắn vào nhà tìm mồi (thằn lằn, ếch nhái, chuột),
có khi người đang ngủ trên nền nhà ôm cả con rắn mà không biết, và cũng
không phải mọi trường hợp rắn cắn đều xảy ra ở nông thôn.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×